Bài viết được chia ra làm bốn phần chính: Lý luận của chủ nghĩa Mác – Lê nin về khủng hoảng kinh tế, cách khắc phục, tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu nổ ra năm 2008 đến kinh tế Việt Nam và giải pháp rút ra để giải quyết tác động của khủng hoảng kinh tế thế giới đến Việt Nam.
Trang 2
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
BÀI TẬP LỚN
Chủ đề: Lý luận của chủ nghĩa Mác – Lê nin về khủng hoảng kinh tế Liên hệ thực
tiễn với Việt Nam
Trang 3
MỤC LỤC
Trang 4Trong nền kinh tế xã hội nói chung và nền kinh tế tư bản nói riêng, không phải lúcnào cũng tiến hành một cách trôi chảy Giữa các ngành mà trong quá trình luôn cạnhtranh khốc liệt với nhau thì trong phạm vi xã hội làm sao đảm bảo được sự cân bằng.Trong những điều kiện như vậy, tỉ lệ chỉ có thể hình thành lên một cách tự phát, qua việcchuyển từ ngành nọ sang ngành kia theo tỷ suất lợi nhuận cho lên hiện tượng tỉ lệ giữacác ngành chỉ là hiện tượng ngẫu nhiên, tạm thời Còn mất tỉ lệ mới là hiện tượng thườngxuyên, mới là quy tắc chung của tái sản xuất tư bản chủ nghĩa Trong đời sống thực tế của
xã hội tư bản, xuất hiện những hiện tượng mất tỷ lệ: khi thì sản phẩm này ứ đọng, khôngbán chạy; khi sản phẩm kia khan hiếm; khi xí nghiệp này đóng cửa vì thiếu nguyên liệu;khi xí nghiệp kia phá sản vì sản xuất quá nhiều… Không phải tái sản xuất tư bản chủnghĩa vấp phải những hiện tượng mất cân đối cục bộ, thường xuyên xảy ra như trên mà
cứ khoảng trên dưới mười năm Giống như có một sức mạnh nào xui khiến toàn bộ sảnxuất tư bản chủ nghĩa lại bỗng nhiên dừng lại: hiệu buôn phá sản, ngân hàng vỡ nợ, nhàmáy đóng cửa, sản xuất thụt lùi… sản xuất hàng hoá quá thừa, hiện tượng đổ vỡ này gọi
là khủng hoảng kinh tế Với tốc độ phát triển của máy móc, của năng suất lao động, hiệnnay khủng hoảng đã trở thành một mối nguy hại, một thứ bệnh dịch có khả năng lây lan
và có thể bùng phát bất cứ lúc nào
Bài viết của em tìm hiểu về các vấn đề xung quanh khủng hoảng kinh tế và liên hệthực tiễn với Việt Nam Bài viết được chia ra làm bốn phần chính: Lý luận của chủ nghĩaMác – Lê nin về khủng hoảng kinh tế, cách khắc phục, tác động của cuộc khủng hoảngkinh tế toàn cầu nổ ra năm 2008 đến kinh tế Việt Nam và giải pháp rút ra để giải quyếttác động của khủng hoảng kinh tế thế giới đến Việt Nam
Trang 5tránh khỏi.” Trích giáo trình Những nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Mác-Lênin
Như vậy, khủng hoàng kinh tế là thuật ngữ đã xuất hiện rất lâu trong công cuộc phát triểnkinh tế Vậy thực chất theo học thuyết kinh tế cùa C Mac thì: Khủng hoảng kinh tế là sự suy giảm các hoạt động kinh tế kéo dài và trầm trọng hơn cả suy thoái trong chu kỳ kinh
tế Ngoài ra trong học thuyết kinh tế chính trị của Mác-Lênin thì khủng hoảng kinh tế ám chỉ thời gian chuyển biến rất nhanh sang giai đoạn suy thoái kinh tế Để hiểu rõ hơn vấn
đề này ta phải đi xem xét thuật ngữ “suy thoái kính tế" Suy thoái kinh tế theo định nghĩa của kinh tế học vĩ mô là sự suy giảm tổng sản phẩm quốc nội thực trong thời gian hai hoặc hơn hai quý liên tiếp trong năm hay nói theo cách khác thì là tốc độ tăng trưởng kinh tế âm liên tiếp trong 2 quý Còn theo cơ quan nghiên cửu kinh tế quốc gia của Hoa
Kỳ thì suy thoái kinh tế là sự tụt giảm hoạt động kinh tế trên cả nước, kéo dài nhiều tháng Từ đó, ta thấy được rằng suy thoái kinh tế là sự sụt giảm của tất cả các hoạt động kinh tế bao gổm cả việc làm, đầu tư, lợi nhuận doanh nghiệp và khủng khoảng kinh tế thì còn trầm trọng và kéo dài hơn
Từ đầu thế kỷ XIX, sự ra đời của đại công nghiệp cơ khí đã làm cho quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa bị gián đoạn bởi những cuộc khủng hoảng có tính chu kỳ Hình thức đầu tiên và phổ biến trong nền sản xuất tư bản chủ nghĩa là khủng hoảng sản xuất "thừa" Sản xuất "thừa" ở đây chỉ có ý nghĩa tương đối, nghĩa là "thừa" so với mức eo hẹp tiêu dùng
có khả năng thanh toán của quần chúng, không phải "thừa" so với nhu cầu thực tế của xã hội Khi khủng hoảng nổ ra, hàng hóa không tiêu thụ được, sản xuất bị thu hẹp, nhiều doanh nghiệp bị vỡ nợ, phá sản, thợ thuyền bị thất nghiệp, thị trường bị rối loạn Trong lúc khủng hoảng thừa đang nổ ra, hàng hóa đang bị phá hủy thì hàng triệu người lao độnglại lâm vào tình trạng đói khổ vì họ không có khả năng thanh toán
2 Nguyên nhân
Nguyên nhân của khủng hoảng kinh tế không đâu xa mà ngay trong lòng chính các xã hội
tư bản chủ nghĩa, ngay từ khi ra đời nó đã mang theo những mâu thuẫn đối kháng trong
Trang 6
mình Đó là mâu thuẫn giữa trình độ xã hội hóa cao của lực lượng sản xuất với chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội Mâu thuẫn này biểu hiện ra thành ba nguyên nhân cụ thể hơn
Nguyên nhân trước hết có thể nhắc đến là mâu thuẫn giữa tính tổ chức, tính kế hoạch
trong từng xí nghiệp rất chặt chẽ và khoa học với khuynh hướng tự phát vô chính phủ trong toàn xã hội.
Trong từng xí nghiệp, lao động của công nhân được tổ chức và phục tùng ý chí duy nhất của nhà tư bản Còn trong xã hội, do dựa trên chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất, trạng thái vô chính phủ bao trùm tất cả Các nhà tư bản tiến hành sản xuất mà không nắm được nhu cầu của xã hội, quan hệ giữa cung và cầu bị rối loạn, quan hệ tỷ lệ giữa các ngành sản xuất bị phá hoại nghiêm trọng đến một mức độ nào đó thì nổ ra khủnghoảng kinh tế
Thời kì đầu con người chỉ sản xuất ra một lượng hàng hóa đủ để thỏa mãn cho nhu cầu của bản thân, sản xuất để trao đổi chưa phát triển, vì vậy mà trao đối hạn chế, thị trường hạn chế, phương thức sản xuất ổn định, sự đóng cứu có tính chất địa phương đối với thế giới bên ngoài, sự thống nhất có tính chất địa phương ở trong nước, phường hội ở thành thị Nhưng cùng với sự mở rộng của sán xuất hàng hóa và nhất là cùng với sự xuất hiện của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa thì những quy luật trước đó bị phá hủy Tình trạng vô chính phủ trong sản xuất xã hội bộc lộ ra bên ngoài và ngày càng bị đẩy đến chỗ cùng cực Nhưng công cụ chủ yếu nhất mà phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa dùng
để làm tăng thêm tình trạng vô chính phủ ấy trong sản xuất xã hội, chính là cái đối lập trực tiếp với tình trạng vô chinh phủ; đó là sự tổ chức ngày càng chặt chẽ và khoa học ở trong từng xí nghiệp sản xuất cá biệt Chính là nhờ cái đòn bẩy ấy mà phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã chấm dứt tình trạng ổn định hòa bình trước kia Đấu tranh không phải chỉ nổ ra giữa những người sản xuất có thể trong từng địa phương; những cuộc đấu tranh địa phương đến lượt chúng, lại phát triển thành những cuộc đấu tranh giữacác nước, thành những cuộc chiến tranh thương nghiệp trong thế kỷ XVII và XVIII Cuốicùng đại công nghiệp và sự tạo ra thi trường thế giới đã làm cho cuộc đấu tranh lan rộng khắp nơi và đồng thời đem lại cho nó một tính chất kịch liệt chưa từng thấy Giữa những nhà tự bản cá biệt cũng như giữa cả những ngành sản xuất và giữa cả các nước, sự thuận lợi của những điều kiện tự nhiên hoặc nhân tạo của sản xuất quyết đinh sự sống còn của
họ Kẻ thất bại bị loại trừ thẳng tay Chính điều đó đã buộc các nhà tư bản cải tiến máy móc, công nghệ sản xuất, phương thức tổ chức, quản lí để truy câu gia trị thặng dư và tồn tại Việc này vô hình chung đã góp phần thúc đẩy thêm mâu thuẫn thứ hai
Nguyên nhân thứ hai không thể không đề cập tới, đó chính là mâu thuẫn giữa khuynh hướng tích lũy, mở rộng không có giới hạn của tư bản với sức mua ngày càng eo hẹp của quần chúng do bị bần cùng hóa
Trang 7
Các nhà tư bản luôn theo đuổi giá trị thặng dư không có giới hạn, đó là quy luật tuyệt đối trong chủ nghĩa tư bản Với mục đích đi lên để kiếm tiền, nhà tư bản đã dẫm đạp lên cuộcsống của người lao động – những người đã tạo ra của cải vật chất cho họ Tích lũy, mở rộng sản xuất, cải tiến kĩ thuật tất cả đã ngày càng bần cùng hóa một cách tương đối quần chúng lao động, ngày càng tạo nên vực sâu ngăn cách về mức sống giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản Trong khi hàng hóa sản xuất ra với tốc độ chóng mặt thì sức mua của người lao động lại chỉ nhích lên từng tí một rất chậm chạp Đó là điều tất yếu để xảy
ra khủng hoảng: hàng hóa thì nhiều nhưng người tiêu dùng lại không đủ khả năng mua hàng Thừa hàng hóa – đó là hiện tượng khơi mào để khủng hoảng xảy ra: các xí nghiệp buộc phải hạ giá hàng, chịu lỗ vốn và có khi là mất trắng Từng bước một như vậy sản xuất bị thu hẹp dần, các xí nghiệp đóng cửa, công nhân thất nghiệp
Nguyên nhân cuối cùng cũng là mâu thuẫn đối kháng giữa giai cấp tư bản và giai
cấp lao động làm thuê
Đặc điểm của chủ nghĩa tư bản là hai yếu tố của sản xuất tách rời nhau: tư liệu sản xuất tách rời người trực tiếp sản xuất Sự tách rời đó biểu hiện rõ nhất trong khủng hoảng kinh tế Trong khi tư liệu sản xuất bị xếp lại, han rỉ, mục nát thì người lao động lại không
có việc làm Một khi tư liệu sản xuất và sức lao động không kết hợp được với nhau thì guồng máy sản xuất tư bản chủ nghĩa tất nhiên bị tê liệt
Cùng với việc giai cấp vô sản trên thế giới ngày càng lớn mạnh, người lao động ngàycàng được khai sáng, các cuộc bãi công đòi tăng lương, giảm giờ làm ngày càng nhiều Tuy nhiên nhà tư bản luôn luôn đặt lợi ích của mình lên hàng đầu cho nên mâu thuẫn khó
có thể được giải quyết và ngày càng trở nên gay gắt, người lao động và nhà tư bản không thể tìm được tiếng nói chung Và mâu thuẫn khi lên đến đỉnh điểm sẽ tạo ra những sự xáotrộn cả về kinh tế, xã hội, chính trị
3 Hậu quả
Khủng hoảng kinh tế xảy ra là lúc mâu thuẫn bùng nổ, lực lượng sản xuất nổi dậy chống lại quân hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa Tuy nhiên khủng hoảng chỉ giải quyết mâu thuẫn tạm thời bởi nó chỉ có tác dụng cân bằng sản xuất trong phạm vi giới hạn của nó,
và mặt khác nó cũng chưa đủ mạnh mẽ để giải quyết tận gốc mâu thuẫn đã ngấm sâu vào máu thịt chủ nghĩa tư bản Khủng hoảng chỉ như con sóng ập đến làm lắng đọng mâu thuẫn tạm thời rồi từ từ ra xa và lặng lẽ chờ một cơ hội khác lại ập đến
“Cơn sóng” khủng hoảng mỗi lần rút ra xa lại để lại những hậu quả to lớn của nó với nềnsản xuất tư bản chủ nghĩa nói riêng và thế giới nói chung Hậu quả luôn được nhắc tới đầu tiên có thể tận mắt thấy được và không thiếu trong bất cứ cuộc khủng hoảng nào, đó
là việc năng lực sản xuất của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa bị phá hoại dữ dội; hàng lọat xínghiệp bị đóng cửa, quy mô sản xuất bị thu hẹp; nhiều ngân hàng không hoạt động; thị trường chứng khoán bị rối loạn, giá cổ phiếu hạ thấp Mỗi khi khủng hoảng kinh tế đi qua
Trang 8
người ta lại đưa ra những con số thống kê về sự tàn phá kinh hoàng của nó Khủng hoảng năm 1929 – 1933 là một ví dụ rõ nét nhất mà mỗi lần nhắc tới lại thấy kinh hoàng và sợ hãi: 13 vạn công ty phá sản, sản lượng thép sụt 76%, sản lượng sắt sụt 19.4%, sản lượng
ô tô sụt 80% Trong khi nhân dân lao động đang thiếu thốn nghèo đói, các chủ tư bản đã phá hủy một khối lượng khổng lồ các phương tiện sản xuất và hàng hóa tiêu dùng Năm
1931, ở Mĩ người ta đã phá hủy những lò cao có thể sản xuất ra 1 triệu tấn thép trong 1 năm, đánh đắm 124 tàu biển, phá bỏ 1/4 diện tích trồng bông, giết và không sử dụng 6,4 triệu con lợn Còn ở Braxin năm 1933: 22 triệu bao cà phê bị liệng xuống biển… Hậu quả thứ hai của khủng hoảng gây ra là đẩy nhanh quá trình tích tụ và tập trung tưbản, là điều kiện dẫn tới độc quyền Khủng hoảng cùng sự phá sản của các nhà tư bản nhỏ là sự lớn mạnh của các công ty khổng lồ Với khả năng tài chính vững vàng và cánh tay quyền lực vượn xa, các nhà tư bản lớn đã chiếm được nhiều món lợi trong thời kỳ này Việc phá sản và sát nhập của các liên doanh, tập đoàn, công ty đã làm cho sự tập trung tư bản ngày càng cao Nếu như trước khủng hoảng 1929-1933, Mĩ chỉ có 49 xí nghiệp có qui mô từ một vạn người trở lên thì sau khủng hoảng con số này đã lên tới 343.Cũng ở Mĩ, đầu thế kỉ 20 chỉ có một công ty có số vốn 1 tỷ USD thì đến đầu 1950 là 2 công ty, năm 1974 có 24 trong số 49 công ty quốc tế có số vốn 59 tỷ Lợi nhuận của 500
tổ chức siêu độc quyền của Mĩ năm 1972 là 27,8 tỷ USD, năm 1973 là 38,7 tỷ USD còn năm 1974 là năm khủng hoảng thì đã lên tới 43,6 tỷ USD Tỷ suất lợi nhuận 12 công ty toàn cầu của Mĩ tăng từ 11% năm 1970 đến sau khủng hoảng là 41% ( năm 1975) Tuy nhiên cùng với quá trình tích tụ và tập trung tư bản là việc gia tăng khoảng cách giàu nghèo ngày càng lớn và mâu thuẫn giữa tư bản và người lao động ngày càng tăng Đó là hậu quả thứ ba của khủng hoảng Trong khi một khối lượng khổng lồ của cải
bị tiêu huỷ thì hàng triệu người lao động lâm vào tình cảnh đói khổ Hàng triệu người lao động làm thuê bị mất việc làm Lợi dụng tình hình thất nghiệp gia tăng, các nhà tư bản tăng cường bóc lột công nhân bằng cách hạ thấp tiền công, tăng cường độ, thời gian lao động Không những công nhân chính quốc bị bóc lột mà công nhân ở các nước thuộc địa cũng chịu chung cảnh Một khi mà tư liệu sản xuất tập trung hết vào tay các ông chủ tư bản thì việc bóc lột và bần cùng hóa công nhân càng diễn ra mạnh mẽ hơn Theo một nghiên cứu mới nhất năm 2019, tổng giá trị tài sản của các triệu phú USD đã lên tới 158,3 nghìn tỉ USD, tương đương 43,9% tài sản toàn cầu Trong khi có hàng nghìn ngườiđang chịu cảnh đói rét thì các ông chủ tư bản lại có thể chi cho những khoản ăn chơi tốn kém không có mục đích với chi phí lên tới hàng triệu USD Thực tế ở các nước tư bản lớn cho thấy trung bình một ngày nhà tư bản có thể kiếm được trên dưới 1 triệu USD thì công nhân nghèo chỉ có thể kiếm được xấp xỉ 2 USD Khoảng cách chênh lệch quá lớn ấydường như không thể xóa và nó tạo điều kiện mạnh mẽ cho hậu quả cuối cùng của các cuộc khủng hoảng diễn ra nhanh chóng hơn
Trang 9
Hậu quả cuối cùng là làm cho mâu thuẫn cơ bản của tư bản chủ nghĩa ngày càng gay gắt hơn Trong khi lực lượng sản xuất ngày càng mang tính xã hội thì quan hệ sản xuất vẫn không thay đổi, vẫn là quan hệ chiếm hữu tư liệu sản xuất Khi khủng hoảng xảy ra, đông đảo quần chúng nhân dân lao động càng điêu đứng, càng có ý thức đấu tranh để thoát nghèo khổ và đó là tiêu diệt chế độ tư bản Còn giai cấp tư bản và nhà nước tư bản thì lại bất lực trước những tai họa mà do mình tạo ra Vì vậy khủng hoảng làm cho đấu tranh giai cấp diễn ra mạnh mẽ hơn Mặt khác khủng hoảng lại đem đến sự tập trung tư liệu sản xuất vào tay tư bản càng cao nên càng tăng thêm sự đối lập lợi ích Chủ tư bản cócàng nhiều thì quần chúng có càng ít, càng làm lên chênh lệch to lớn trong xã hội
4 Tính chu kỳ của khủng hoảng kinh tế trong chủ nghĩa tư bản
Trong các hình thái xã hội tiền tư bản chủ nghĩa, việc sản xuất bị giảm mạnh
thường gắn với các tai họa thiên nhiên, hoặc chiến tranh và các tàn phá sau đó bởi
nó Chỉ có chủ nghĩa tư bản mới sinh ra các cuộc khủng hoảng thường xuyên,
biến chúng thành người bạn đường không thể tránh khỏi của sự tăng trưởng kinh
tế của chủ nghĩa tư bản nhằm giải quyết trong một thời gian có hạn các mâu thuẫn
gay gắt của tái sản xuất tư bản xã hội Khủng hoảng kinh tế xuất hiện làm cho quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa tư bản mang tính chu kỳ Trong giai đoạn tự do cạnh tranh của chủ nghĩa tư bản, cứ khoảng từ tám đến mười hai năm, nền kinh tế tư bản chủ nghĩa lại phải trải qua một cuộc khủng hoảng kinh tế Chu kỳ kinh tế của chủ nghĩa tư bản là khoảng thời gian nền kinh tế tư bản chủ nghĩa vận động từ đầu cuộc khủng hoảng này đến đầu cuộc khủng hoảng sau Chu kỳ kinh tế gồm bốn giai đoạn: khủng hoảng, tiêu điều, phục hồi và hưng thịnh
- Khủng hoảng: là giai đoạn khởi điểm của chu kỳ kinh tế mới, ở giai đoạn này, hàng hoá
ế thừa, ứ đọng, giá cả giảm mạnh, sản xuất đình trệ, xí nghiệp đóng cửa, công nhân thất nghiệp hàng loạt, tiền công hạ xuống Tư bản mất khả năng thanh toán các khoản nợ, phá sản, lực lượng sản xuất bị phá hoại nghiêm trọng Đây là giai đoạn mà các mâu thuẫn biểu hiện dưới hình thức xung đột dữ dội
- Tiêu điều: đặc điểm ở giai đoạn này là sản xuất ở trạng thái trì trệ, không còn tiếp tục đi
xuống nhưng cũng không tăng lên, thương nghiệp vẫn đình đốn, hàng hóa được đem bán
hạ giá, tư bản để rỗi nhiều vì không có nơi đầu cơ Trong giai đoạn này, để thoát khỏi tình trạng bế tắc, các nhà tư bản còn trụ lại được tìm cách giảm chi phí bằng cách hạ thấp tiền công, tăng cường độ và thời gian lao động của công nhân, đổi mới tư bản cố định làm cho sản xuất vẫn còn có lời trong tình hình hạ giá Việc đổi mới tư bản cố định làm tăng nhu cầu về tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng, tạo điều kiện cho sự phục hồi chung của nền kinh tế
Trang 10
- Phục hồi: là giai đoạn mà các xí nghiệp được khôi phục và mở rộng sản xuất Công
nhân lại được thu hút vào làm việc; mức sản xuất đạt đến quy mô cũ, vật giá tăng lên, lợi nhuận của tư bản do đó cũng tăng lên
- Hưng thịnh: là giai đoạn phát triển cao nhất của một chu kỳ kinh tế Sản xuất mở rộng
và phát triển vượt mức cao nhất của chu kỳ trước Nhu cầu và khả năng tiêu thụ hàng hóatăng, giá cả hàng hóa tăng lên, số người lao động và tiền lương đều tăng lên Nhu cầu tín dụng tăng lên làm tỷ suất lợi tức tăng lên Guồng máy kinh tế dường như hoạt động hết công suất Điều kiện của một cuộc khủng hoảng mới cũng dần chín muồi
Khủng hoảng kinh tế không chỉ diễn ra trong công nghiệp mà trong cả nông nghiệp Nhưng khủng hoảng trong nông nghiệp thường kéo dài hơn khủng hoảng trong công nghiệp Sở dĩ như vậy là do chế độ độc quyền tư hữu vì ruộng đất đã cản trở việc đổi mới
tư bản cố định để thoát khỏi khủng hoảng Mặt khác, trong nông nghiệp vẫn còn một bộ phận không nhỏ những người tiểu nông, điều kiện sống duy nhất của họ là tạo ra nông phẩm hàng hóa trên đất canh tác của mình Vì vậy, họ phải duy trì sản xuất ngay cả trong thời kỳ khủng hoảng
Trong giai đoạn hiện nay của chủ nghĩa tư bản, do sự can thiệp của nhà
nước tư sản, mặc dù không xoá bỏ được khủng hoảng kinh tế, nhưng làm cho nó có đặc điểm mới như:
- Mức độ suy sụp của sản xuất và tác động phá hoại của khủng hoảng bị hạn
chế, thời gian tồn tại và độ dài của thời kỳ suy sụp rút ngắn
Từ cuộc khủng hoảng năm 1825, sau khi nền đại công nghiệp vừa mới thoát khỏi thời kỳ
ấu trĩ thì sự tuần hoàn có tính chất chu kỳ mới bắt đầu Tính trung bình thuở ban đầu là mười năm, vì thời gian sử dụng tư bản cố định cũng vào khoảng mười năm Tư bản cố định là cơ sở vật chất cho những cuộc khủng hoảng chu kỳ, vì khủng hoảng bao giờ cũng cấu thành khối điểm cho những khoản đầu tư mới và lớn của tư bản Do đó, đứng về toàn thể xã hội mà xét thì khủng hoảng ít nhiều đều tạo một cơ sở vật chất mới cho chu kỳ chuchuyển sau đó Tiến bộ khoa học, công nghệ lại làm cho cuộc đời của tư bản cố định bị rút ngắn do những biến thiên không ngừng trong các tư liệu sản xuất Phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa càng phát triển thì những biến thiên này càng xảy ra thường xuyên hơn Gắn với tình hình này là sự thay thế tư bản cố định sớm hơn do hao mòn vô hình, trước khi những tư liệu sản xuất ấy sống trọn đời sống thể chất của chúng Do đó chu kỳ khủng hoảng được rút ngắn lại
- Xuất hiện những hình thức khủng hoảng mới như khủng hoảng cơ cấu (như
các cuộc khủng hoảng dầu mỏ năm 1973), khủng hoảng tài chính, tiền tệ (điển
hình là khủng hoảng tài chính - tiền tệ giữa năm 1997 ở ASEAN rồi lan sang Hàn
Trang 11
Quốc, Nhật Bản), khủng hoảng môi trường, …
II Cách khắc phục khủng hoảng kinh tế
Trình độ phát triển nhất định của lực lượng sản xuất quyết định tính chất của quan
hệ sản xuất Quan hệ sản xuất tác động ngược trở lại lực lượng sản xuất, khi nó phù hợp với tính chất của lực lượng sản xuất thì nó giúp cho lực lượng sản xuất phát triển mạnh
mẽ, khi nó không phù hợp thì nó biến thành trở ngại của lực lượng sản xuất Trong quá trình sản xuất con người không ngừng thu thêm kinh nghiệm sản xuất, không ngừng cải tiến công cụ, cải tiến kĩ thuật Lực lượng sản xuất phát triển đến một trình độ nào đó vượt
ra ngoài khuôn khổ của quan hệ sản xuất cho nên quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất lượng sản xuất
Quan hệ cung cầu là quan hệ giữa người bán và người mua, những người sản xuất
và những người tiêu dùng là những quan hệ có vai trò quan trọng trong kinh tế hàng hoá Không phải chỉ ở giá cả ảnh hưởng tới cung cầu, mà ảnh hưởng tới việc xác định giá cả trên thị trường Khi cung lớn hơn cầu người bán phải giảm giá cả, giá cả có thể thấp hơn giá trị
Giữa cung và cầu về hàng hóa phải có sự thích ứng cần thiết khách quan về hình thái hiện vật và hình thái giá trị Do vậy quan hệ cung cầu điều tiết được sự chênh lệch giữa giá cả thị trường và giá trị thị trường Sự lên xuống của giá cả thị trường lại điều tiết quan
hệ cung cầu, làm cho nền sản xuất có được những tỉ lệ tương đối.Trước khi đạt tới sự tương đối thì xã hội lãng phí rất nhiều sức lực và của cải.Vì vậy xã hội đòi hỏi phải có sự kiểm tra, điều tiết, định hướng, một cách có ý thức với sự vận động của cơ chế thị trường Các nhà tư bản ra sức tìm lối thoát bằng cách giảm bớt chi phí sản xuất dù có bán hàng hoá với giá thấp vẫn thu được lợi nhuận Họ ra sức tăng cường bóc lột công nhân lợidụng tình hình thất nghiệp để hạ thấp tiền lương, kéo dài ngày lao động nâng cao cường
độ lao động Biện pháp quan trọng là áp dụng kỹ thuật để cải tiến bằng cách đổi mới hàngloạt mày móc thiết bị
III Tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu nổ ra năm 2008 đến nền kinh
tế Việt Nam
1 Tình hình chung của kinh tế Việt Nam trong thời kì khủng hoảng
Việt Nam không xáy ra cuộc khủng hoảng kinh tế chu kì như các nước phát triển trên thế giới Tuy nhiên, do quá trình hội nhập kinh tế sâu rộng và nhận được nhiều sự đầu tư của nước ngoài nên khi khủng hoáng kinh tế nổ ra thì rõ ràng Việt Nam phải chịu ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến nền kinh tế Vào năm 2008, khủng hoảng kinh tế đượcxem là thảm họa kinh tế tồi tệ nhất kể từ thời kỳ Đại khủng hoảng bao gồm sự đổ vỡ hàngloạt hệ thống ngân hàng, tình trạng đói tín dụng, tình trạng sụt giá chứng khoán và mất giá tiền tệ,… bắt nguồn từ Mĩ sau đó lan ra nhiều nước trên thế giới đã tàn phá nền kinh