TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP.HỒ CHÍ MINHKHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ □ ◊□◊□ HCMUTE VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA TRIẾT HỌC VÀ NHẬN THỨC CỦA BẢN THÂN VỀ VAI TRÒ CỦA TRIẾT HỌC TRONG ĐỜI SỐNG Tiểu luận
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP.HỒ CHÍ MINH
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
□ ◊□◊□
HCMUTE VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA TRIẾT HỌC VÀ NHẬN THỨC CỦA BẢN THÂN VỀ VAI TRÒ CỦA TRIẾT HỌC
TRONG ĐỜI SỐNG
Tiểu luận cuối kỳ (Môn học: Triết học Mác - Lênin)
MÃ SỐ LỚP HP: LLCT130105_04 GVHD: TS ĐẶNG THỊ MINH TUẤN NHÓM THỰC HIỆN: NHÓM 4
HỌC KỲ: 2 -NĂM HỌC: 2019-2020
Trang 2Họ tên sinh viên thực hiện đề tài:
1 Nguyễn Thị Huế 19146338
2 Đinh Văn Bình 19146308
4 Trần Kiều Mỹ Nương 19158143
ĐIỂM:
NHẬN XÉT CỦA GV :
GV ký tên
Trang 3MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA TRIẾT HỌC 3
CHƯƠNG 2: NHẬN THỨC CỦA BẢN THÂN VỀ VAI TRÒ CỦA TRIẾT
2.1 Vai trò thế giới quan của Triết học 6 2.2 Vai trò phương pháp luận của Triết học 9
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ngày nay, sự phát triển như vũ bão của khoa học kỹ thuật, sự phát triển về mặt vật chất của đời sống xã hội, cũng không hề làm giảm đi tính chất kì bí và vai trò đối với thực tiễn của Triết học, mà vấn đề là phải có một tư duy lý luận, đúng đắn để không bị lạc lối trong sự phát triển đó, hơn nữa, sự phát triển về mặt xã hội của khoa học kỹ thuật cũng tác động ngược trở lại khoa học Triết học Nền kinh tế của nước ta từ một điểm xuất phát thấp, tiềm lực kinh tế- kĩ thuật yếu, trong quá trình toàn cầu hóa đang là xu thế tất yếu như hiện nay liệu nước ta có thể đạt được những thành công nhất định hay không? Chúng ta phải làm gì để tránh được nguy cơ tụt hậu so với các nước trong khu vực và trên thế giới? Câu hỏi này đặt ra cho chúng ta một vấn đề đó là sự lựa chọn bước đi và trật tự ưu tiên phát triển trong giai đoạn tới Như vậy có nghĩa là chúng ta cần phải có tri thức vì tri thức là khoa học Chúng ta phải không ngừng nâng cao khả năng nhận thức cho mỗi người Tuy nhiên nếu tri thức không biến thành niềm tin và ý chí thì tự nó cũng không có vai trò gì đối với đời sống hiện thực cả Chỉ chú trọng đến tri thức mà bỏ qua công tác văn hóa- tư tưởng thì sẽ không phát huy được thế mạnh truyền thống của dân tộc Trước thời cơ và thách thức đan xen, việc tìm hiểu nhằm nâng cao nhận thức về khoa học Triết học là việc làm mang tính cấp thiết, có tầm quan trọng đặc biệt đối với nhận thức và hành động của mỗi chúng ta trong giai đoạn hiện nay để có những biện pháp đúng đắn tạo điều kiện cho sự phát triển toàn diện của xã hội Đó cũng
chính là lí do nhóm chúng em chọn đề tài "Vân đề cơ bản của Triết học và
nhận thức của bản thân về vai trò của Triết học trong đời sống” làm đề tài
tiểu luận của mình
2 Mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài
Trang 5Mục tiêu của bài tiểu luận này là tìm hiểu vấn đề cơ bản của Triết học từ đó nêu lên nhận thức của bản thân về vai trò của Triết học trong đời sống
Để đạt được mục tìêu này, tìểu luận tập trung vào các nhiệm vụ sau:
- Tìm hiểu về vấn đề cơ bản của Triết học
- Nhận thức của bản thân về vai trò của Triết học trong đời sống
3 Phương pháp thực hiện đề tài
Tiểu luận được thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, kết hợp với một số phương pháp cụ thể như: lịch sử - logic, phân tích - tổng hợp, quy nạp - diễn dịch
Trang 6PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA TRIẾT HỌC 1.1 Khái niệm Triết học
Triết học xuất hiện cả ở phương Đông và phương Tây vào khoảng thế kỷ thứ VIII đến thế kỷ thứ III (TCN)
- Ở phương Đông:
+ Trung Quốc: Người Trung quốc cổ đại quan niệm “ Triết” chính là “ trí”, là
cách thức và nghệ thuật diễn giải, bắt bẻ có tính lý luận trong học thuật nhằm đạt tới chân lý tối cao
+ Theo người Ấn Độ: Triết học được đọc là darshana, có nghĩa là chiêm ngưỡng nhưng mang hàm ý là tri thức dựa trên lý trí, là con đường suy ngẫm để dẫn dắt con người đến với lẽ phải
- Ở phương Tây, thuật ngữ Triết học xuất hiện ở Hy lạp được la tình hoá là Philôsôphia -nghĩa là yêu mến, ngưỡng mộ sự thông thái Như vậy Philôsôphia vừa mang tính định hướng, vừa nhấn mạnh đến khát vọng tìm kiếm chân lý của con người
Tóm lại: Dù ở phương Đông hay phương Tây, Triết học được xem là hình thái cao nhất của tri thức, nhà Triết học là nhà thông thái có khả năng tìếp cận chân lý, nghĩa là có thể làm sáng tỏ bản chất của mọi vật
Có nhiều cách định nghĩa khác nhau, nhưng bao hàm những nội dung giống nhau, đó là: Triết học nghiên cứu thế giới một cách chỉnh thể, tìm ra những quy luật chung nhất chi phối sự vận động của chỉnh thể đó nói chung, của xã hội loài người, của con người trong cuộc sống cộng đồng nói riêng và thể hiện nó một cách có hệ thống dưới dạng duy lý
Trang 7Khái quát lại ta có thể hiểu: Triết học là hệ thống tri thức lý luận chung
nhát của con người về thế' giới; về vị trí vai trò của con người trong thế' giới đó.
1.2 Nội dung cơ bản của Triết học
Vấn đề cơ bản của Triết học là vấn đề về mối quan hệ giữa tồn tại và tư duy, giữa vật chất và ý thức Nó là vấn đề cơ bản vì việc giải quyết nó sẽ quyết định cơ sở để giải quyết những vấn đề khác của Triết học, điều đó đã được chứng minh trong lịch sử phát triển lâu dài và phức tạp của Triết học
Vấn đề cơ bản của Triết học gồm hai mặt:
+ Mặt thứ nhất trả lời câu hỏi: Giữa vật chất và ý thức cái nào có trước, cái nào
có sau, cái nào quyết định cái nào? Nói cách khác, giữa vật chất và ý thức cái nào là tính thứ nhất, cái nào là tính thứ hai Có hai cách trả lời khác nhau dẫn đến hình thành hai khuynh hướng Triết học đối lập nhau:
Những quan điểm Triết học cho vật chất là tính thứ nhất, ý thức là tính thứ hai hợp thành chủ nghĩa duy vật Trong lịch sử tư tưởng Triết học có ba hình thức cơ bản của chủ nghĩa duy vật: Chủ nghĩa duy vật chất phác, ngây thơ
cổ đại; Chủ nghĩa duy vật máy móc, siêu hình thế kỷ XVII - XVIII; Chủ nghĩa duy vật biện chứng
Ngược lại, những quan điểm Triết học cho ý thức là tính thứ nhất, vật chất là tính thứ hai, hợp thành chủ nghĩa duy tâm Chủ nghĩa duy tâm lại được thể hiện qua hai trào lưu chính: Chủ nghĩa duy tâm khách quan (Platon, Hêghen ) và chủ nghĩa duy tâm chủ quan (Beccli, Hium )
+ Mặt thứ hai trả lời cho câu hỏi: Con người có khả năng nhận thức được thế giới hay không? (Ý thức có thể phản ánh được vật chất hay không, tư duy có
Trang 8thể phản ánh được tồn tại hay không?) Mặt này còn được gọi là mặt nhận thức.
Các nhà Triết học duy vật cho rằng, con người có khả năng nhận thức thế giới Song, do mặt thứ nhất quy định, nên sự nhận thức đó là sự phản ánh thế giới vật chất vào óc con người
Một số nhà Triết học duy tâm cũng thừa nhận con người có khả năng nhận thức thế giới, nhưng sự nhận thức đó là sự tự nhận thức của tình thần, tư duy
Một số nhà Triết học duy tâm khác như Hium, Can-tơ lại phủ nhận khả năng nhận thức thế giới của con người Đây là những người theo “Bất khả tri luận” (Thuyết không thể biết) Khuynh hướng này không thừa nhận vai trò của nhận thức khoa học trong đời sống xã hội
Đối với các hệ thống Triết học, vấn đề cơ bản của Triết học không chủ được thể hiện trong các quan niệm có tính chất bản thể luận, mà còn được thể hiện trong các quan niệm chính trị - xã hội, đạo đức và tôn giáo, tất nhiên có thể là nhất quán hoặc là không nhất quán
Cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm xuyên suốt lịch sử phát triển của tư tưởng Triết học và thể hiện tính đảng trong Triết học Hai mặt vấn đề cơ bản của Triết học này tác động qua lại lẫn nhau
Trang 9CHƯƠNG 2: NHẬN THỨC CỦA BẢN THÂN VỀ VAI TRÒ CỦA
TRIẾT HỌC TRONG ĐỜI SỐNG 2.1 Vai trò thế giới quan của Triết học
Để tồn tại, con người phải có quan hệ với thế giới xung quanh, phải thích nghi với giới tự nhiên Tuy nhiên con người không thích nghi với thế giới xung quanh một cách thụ động như con vật, mà luôn tìm cách biến đổi thế giới đó theo yêu cầu cuộc sống của mình Chẳng hạn, con người biết tạo ra lửa và dùng lửa để sưởi ấm, nấu chín thức ăn, nung đất làm đồ gốm và gạch ngói làm vật liệu xây dựng; con người biết xây nhà tránh nắng mưa, tránh thú dữ; con người biết chế tạo ra công cụ lao động ngày càng tìện lợi và tình xảo để sản xuất ra của cải vật chất v.v Con vật chỉ bằng cách di cư từ nơi này sang nơi khác, hoặc thay đổi sinh lý (như mọc lông dầy hơn, tìết ra các kháng thế) để thích nghi với
sự thay đổi khí hậu, thời tiết Những thay đổi đó rất chậm chạp và hạn chế, thường không thích ứng kịp với những thay đổi của tự nhiên, vì vậy động vật thường bị huỷ diệt, khi điều kiện sống thay đổi Muốn biến đổi tự nhiên theo yêu cầu của mình, con người phải hiểu biết thế giới xung quanh và bản thân mình Trong quá trình cải tạo, tìm hiểu, nhận thức thế giới xung quanh, con người bắt gặp hàng loạt vấn đề cần lý giải như: Thế giới xung quanh ta là gì? Nó
từ đâu đến? Cái gì chi phối sự tồn tại và biến đổi của các sự vật, hiện tượng trong thế giới xung quanh? Nguồn gốc của con người từ đâu? Nó được sinh ra như thế nào? Nó có quan hệ như thế nào với thế giới xung quanh? Vì sao có người giàu, người nghèo, người tốt, người xấu? Con người có nhận thức và cải tạo được thế giới không? Ý nghĩa cuộc sống của con người là ở chỗ nào? v.v Quá trình tìm tòi và giải đáp những câu hỏi trên đây làm hình thành ở con người những quan niệm nhất định về thế giới, trong đó những yếu tố cảm xúc
và trí tuệ, tri thức và niềm tìn đã hoà quyện vào nhau thành một khối thống nhất Đó chính là thế giới quan
Trang 10Vậy thế giới quan là hệ thống những quan niệm, quan điếm của con người vế thế giới, về vị trí của con người trong thế giới đó, về chính bản thân và cuộc sống của con người nhằm giải đáp những vấn đề về mục đích, ý nghĩa cuộc sổng của con người
Khái niệm thế giới quan trên đây là rất khái quát, bao hàm cả nhân sinh quan, tức là toàn bộ những quan niệm, quan điểm về cuộc sống của con người
và loài người Quan niệm đó là kết quả của quá trình nhận thức về sự tác động giữa con người - chủ thể hoạt động, với thế giới xung quanh Vì vậy, nói đến thế giới quan là nói đến quan hệ giữa chủ thể và khách thể, nói đến quan hệ giữa con người, xã hội loài người và thế giới xung quanh Chủ thể của thế giới quan có thể là cá nhân hoặc cộng đồng xã hội
Thế giới quan có vai trò quan trọng trong đời sống của mỗi con người, mỗi giai cấp, mỗi cộng đồng và trong đời sống của xã hội nói chung Hoạt động của con người luôn bị chi phối bởi một thế giới quan nhất định Những yếu tố cấu thành thế giới quan như tri thức, niềm tin, lý tri, tình cảm luôn thống nhất với nhau và thống nhất trong các hoạt động của con người, cả hoạt động nhận thức, cả hoạt động thực tìễn để chi phối các hoạt động đó
Thế giới quan có thể hướng dẫn con người nhận thức đúng hoặc không đúng sự vật Nếu được hướng dẫn bởi thế giới quan khoa học, con người sẽ xác định đúng mối quan hệ giữa con người và đối tượng, trên cơ sở đó nhận thức đúng quy luật vận động của đối tượng, từ đó có thể xác định đúng phương hướng, mục tìêu và cách thức hoạt động của con người Ngược lại, nếu được hướng dẫn bởi một thế giới quan không khoa học, con người không xác định đúng mối quan hệ giữa con người và đối tượng, không nhận thức đúng quy luật của đối tượng, con người sẽ không xác định đúng mục tìêu, phương hướng và cách thức hoạt động, từ đỏ hoạt động không đạt kết quả như mong muốn Thí
Trang 11dụ, nếu dựa trên thế giới quan tôn giáo, thừa nhận có lực lượng siêu
con người hoàn toàn phải phục tùng, con người không có vai trò gì đối với đời
sống xã hội, điều đó sẽ làm cho con người không tích cực hoạt động, không phát huy tính chủ động sáng tạo của mình Vậy, có thể coi thế giới quan đóng
vai trò như là “lăng kính”, qua đó con người xem xét, nhìn nhận thế giới và chỉ
đạo hoạt động thực tiễn để cải tạo thế giới.
Ban đầu, mỗi cá nhân phát triển tinh thần đến một mức độ nào đó đều tìm cách trả lời các câu hỏi Triết lý riêng của mình một cách tự phát, nghiệp dư Đó
là dấu hiệu “Triết gia” ở mức độ nào đó (thậm chí họ không biết cả đến từ “Triết học” hay “thế giới quan”) Dần dần, do động chạm đến những vấn đề quan tâm nhất của con người, xã hội, nhân loại mà xuất hiện nhiều người có phẩm chất vĩ đại, say mê sáng tạo những học thuyết và hệ thống thế giới quan đồ sộ, sâu sắc, độc đáo và phổ quát một cách thức hết sức chuyên nghiệp Họ được gọi là Triết gia hay là những người theo đuổi sự khôn ngoan Họ là những người để lại những quan điểm mang dấu ấn lớn, đánh thức sợi dây tâm hồn của nhiều thế hệ tiếp theo
Tuy nhiên, việc chuyên môn hóa xây dựng thế giới quan cũng có nhược điểm Nó làm gia tăng khoảng cách giữa nhà chuyên môn - Triết gia với người bình thường Do vậy, do sự biến đổi nhanh và thay đổi mặt bằng Triết lý chung, công chúng đã bị cách Triết gia gạt khỏi đối tượng truyền đạt dẫn tới có sự xa cách, khó hiểu cho đại chúng Vì vậy, xã hội và mỗi người cần quan tâm xây dựng và phổ biến một thế giới quan đúng đắn Điều này sẽ mang một ý nghĩa vô cùng quan trọng giúp cho mỗi người trở thành thực thể tự do và sáng tạo thực
sự, nhân văn thực sự.
Vai trò của thế giới quan trong đời sống của con người có thể được thể hiện trên các mặt sau:
Trang 12Một là, nhờ xác định được những mối liên hệ chung của thế giới và vị trí
của con người trong thế giới nên thế giới quan giúp con người xác định mục tiêu, phương hướng hoạt động của mình Nói cách khác, thế giới quan giúp con người có thể định hướng cho cuộc sống của mình bằng việc xác định mục tiêu, phương hướng hoạt động của mình
Hai là, nhờ các tri thức chung về thế giới và về bản thân con người, cùng
với niềm tin và tình cảm được củng cố trong thế giới quan, nên thế giới quan có thể chi phối hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người ở mức
độ khá sâu sắc Thí dụ, nếu hiểu đúng ý nghĩa cuộc sống, sẽ giúp con người có ý chí và quyết tâm tích cực hoạt động vì sự tiến bộ của xã hội và của bản thân Ngược lại, nếu hiểu không đúng ý nghĩa cuộc sống sẽ làm giảm ý chí, cản trở tính chủ động, tích cực trong nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người, thậm chí còn dẫn con người đến các hoạt động phá hoại, thiếu trách nhiệm đối với cộng đồng, xã hội Điều đó cản trở sự tiến bộ xã hội trong thời đại ngày nay khi các mối quan hệ xã hội đã trở nên hêt sức phức tạp, tính chủ động của con người, của chủ thể ngày càng được tôn trọng, được tự do phát triển, thì vai ừò của thế giới quan cũng càng lớn hơn Hình thành và phát triển thế giới quan khoa học là một đòi hỏi tất yếu, đồng thời là một trong những chỉ tiêu quan trọng của quá trình hình thành nhân cách con người hiện nay Dưới đây sẽ đề cập đến mối quan hệ giữa chủ nghĩa duy vật biện chứng và thế giới quan khoa học
2.2 Vai trò phương pháp luận của Triết học
Trên thực tế, để giải quyết một công việc đã định người ta có thể dùng nhiều phương pháp khác nhau Sẽ có phương pháp thích hợp đưa lại hiệu quả cao, cũng có phương pháp không thích hợp đưa lại hiệu quả thấp Làm thế nào
để chọn được một phương pháp thích họp nhất trong số rất nhiều phương
Trang 13pháp có thế sử dụng? Trả lời cho vấn đề này làm nảy sinh nhu cầu tri
phương pháp Từ nhu cầu tri thức về phương pháp đưa đến sự ra đời khoa học
và lý luận về phương pháp Đó chính là phương pháp luận Và để hiểu rằng nó
có vai trò gì trước hết chúng ta cần hiểu phương pháp luận là gì? Phân loại phương pháp luận ? Mục đích của những vấn đề lý luận trên là xác định được
những quan điểm, nguyên tắc cơ bản nhất để trên cơ sở của những nguyên tắc
đó con người có thể lựa chọn được những phương pháp hoạt động thực tiễn
và nhận thức thích hợp.
Phương pháp là một hệ thống những nguyên tắc được rút ra từ những tri thức từ các quy luật khách quan Thường dùng để điều chỉnh các hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn nhằm thực hiện mục tiêu đã định sẵn Phương pháp luận không có định nghĩa chính xác tuy nhiên chúng ta có thể hiểu theo cách phổ biến nhất Phương pháp luận là hệ thống các nguyên lý, các quan điểm là cơ sở Có tác dụng chỉ đạo, xây dựng các phương pháp, xác định phạm vi, khả năng áp dụng các phương pháp và định hướng cho việc nghiên cứu tìm tòi cũng như lựa chọn, vận dụng phương pháp Hay có thể hiểu phương pháp luận là lý luận về phương pháp Bao hàm hệ thống các phương pháp, thế giới quan của con người Sử dụng các phương pháp, nguyên tắc để giải quyết vấn đề đã đặt ra để có hiệu quả cao
Phân loại phương pháp luận: được chia làm 3 cấp độ chính là:
+ Phương pháp luận ngành: là phương pháp luận cho các ngành khoa học cụ thể