Lý luận về hàng hóa và hai thuộc tính của hàng hóa 1.1 Khái niệm của hàng hóa Hàng hóa là sản phẩm của lao động, có thể thỏa mãn nhu cầu của con người thông qua trao đổi, mua bán.. - D
Trang 1ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
-*** -
BÀI TẬP LỚN MÔN KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC-LÊNIN
ĐỀ TÀI: Lý luận về giá trị hàng hóa và vận dụng để nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam trong hội nhập kinh tế quốc tế
Họ và tên SV: Chu Thị Thu Hà
Lớp tín chỉ: Kinh tế chính trị Mác-Lênin(121)_08
Mã SV: 11201144
GVHD: PSG.TS Tô Đức Hạnh
HÀ NỘI, NĂM 202
Trang 2I Lý thuyết về hàng hóa
1 Lý luận về hàng hóa và hai thuộc tính của hàng hóa
1.1 Khái niệm của hàng hóa
Hàng hóa là sản phẩm của lao động, có thể thỏa mãn nhu cầu của con người
thông qua trao đổi, mua bán
- Dạng biểu hiện của của hàng hóa:
+ Dạng hàng hóa vật thể: thực phẩm, nguyên nhiên liệu, đồ nội thất,…
+ Dạng hàng hóa phi vật thể: các dịch vụ truyền thông, báo chí hoặc các dịch vụ của bệnh viện, trường học,…
1.2 Hai thuộc tính của hàng hóa
Hàng hóa có hai thuộc tính là giá trị sử dụng và giá trị
1.2.1 Giá trị sử dụng của hàng hóa
- Giá trị sử dụng của hàng hóa là công cụ của sản phẩm, có thể thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người Một vật phẩm có thể có một hoặc nhiều giá trị sử dụng khác nhau
- Nhu cầu đó có thể là nhu cầu vật chất hoặc nhu cầu tinh thần; có thể là nhu cầu cho tiêu dùng cá nhân, có thể là nhu cầu cho sản xuất
- Giá trị sử dụng do thuộc tính tự nhiên (lý, hóa, sinh) của vật quyết định, do vậy, đây là một phạm trù vĩnh viễn Ví dụ: Len là một loại vải được dệt từ sợi lông của động vật, được hình thành chủ yếu từ lông cừu có tính co giãn, mềm nhẹ và giữ ấm rất hiệu quả
- Giá trị sử dụng chỉ được thực hiện trong việc sử dụng hay tiêu dùng Nền sản xuất càng phát triển, khoa học, công nghệ càng hiện đại, càng giúp cho con người phát hiện ra nhiều và phong phú hơn các giá trị sử dụng của sản phẩm Giá trị sử dụng của hàng hóa là giá trị sử dụng nhằm đáp ứng yêu cầu người mua Cho nên, nếu là người sản xuất phải chú ý hoàn thiện giá trị sử dụng của hàng hóa do mình sản xuất ra sao cho ngày càng đáp ứng nhu cầu khắt khe và tinh tế của người mua
1.2.2 Giá trị của hàng hóa:
Để hiểu về giá trị của hàng hóa, ta cần tìm hiểu khái niệm giá trị trao đổi
Trang 3- Giá trị trao đổi: Là quan hệ tỉ lệ trao đổi giữa những hàng hóa có giá trị sử dụng giống nhau
- Để nhận biết được thuộc tính giá trị, ta xét trong một quan hệ trao đổi cụ thể Thí dụ, có một quan hệ trao đổi như sau: 1 cừu = 2 rìu (Tức là một con cừu có thể được trao đổi với hai chiếc rìu) Vậy vấn đề được đặt ra là: Tại sao cừu và rìu có là những hàng hóa có giá trị sử dụng khác nhau lại có thể trao đổi được với nhau, theo những giá trị xác định?
- Câu trả lời là sở dĩ các hàng hóa có thể trao đổi được với nhau là vì giữa chúng
có một điểm chung Điểm chung đó không thể là giá trị sử dụng của hàng hóa vì giá trị sử dụng của cừu là lấy lông làm len và làm thịt còn rìu thì được dùng để đốn, chặt Mà điểm chung thì phải được tìm thấy trong cả hai loại hàng hóa này Nếu gạt giá trị sử dụng hay tính có ích của hàng hóa thì chúng có điểm chung là: đều là sản phẩm của lao động; một lượng lao động bằng nhau đã hao phí để tạo
ra số lượng các giá trị sử dụng trong quan hệ trao đổi đó
- Trong trường hợp trao đổi đã xem xét ở trên, lượng lao động đã hao phí để nuôi một con cừu (đến lúc có thể bán) đúng bằng lượng lao động đã hao phí để làm ra hai chiếc rìu Đó là cơ sở để các hàng hóa có giá trị sử dụng khác nhau có thể được trao đổi với nhau theo một giá trị nhất định
- Giá trị của hàng hóa: Là lao động xã hội của người sản xuất hàng hóa kết tinh trong hàng hóa
- Giá trị hàng hóa biểu hiện mối quan hệ kinh tế giữa những người sản xuất, trao đổi hàng hóa và là phạm trù có tính lịch sử Khi nào có sản xuất và trao đổi hàng hóa, khi đó có phạm trù giá trị hàng hóa Vậy nên, giá trị hàng hóa là nội dung,
là cơ sở quyết định giá trị trao đổi Còn giá trị trao đổi được nhắc ở trên là hình thức biểu hiện của giá trị hàng hóa trong trao đổi Thực chất, khi trao đổi hàng hóa, người ta đã ngầm trao đổi lao động hao phí ẩn dấu trong hàng hóa, tức là trao đổi giá trị với nhau
- Trong thực hiện sản xuất hàng hóa, để thu được hao phí lao động đã kết tinh, người sản xuất phải chú ý hoàn thiện giá trị sử dụng để được thị trường chấp nhận Hàng hóa phải được bán đi
Trang 41.3 Mối quan hệ giữa hai thuộc tính của hàng hóa
Giữa hai thuộc tính của hàng hóa luôn có mối quan hệ ràng buộc lẫn nhau, nó vừa mâu thuẫn vừa thống nhất với nhau
- Mặt mặt thống nhất thể hiện ở chỗ: hai thuộc tính này cùng đồng thời tồn tại
bên trong hàng hóa, một vật phải có đầy đủ cả hai thuộc tính trên mới được coi
là hàng hóa, nếu thiếu một trong hai thì sẽ không phải là hàng hóa Cụ thể, nếu một vật có giá trị sử dụng nhưng không có giá trị (tức là không có hao phí lao động kết tinh trong sản phẩm) ví dụ như: không khí, nước trong tự nhiên,… Và ngược lại
- Mặt mâu thuẫn thể hiện ở chỗ:
+ Xét về mặt là giá trị sử dụng thì các hàng hóa có khác biệt về chất Nhưng xét theo về mặt giá trị thì các hàng hóa lại có sự đồng nhất về chất vì đều có sự hao phí lao động kết tinh trong sản phẩm
+ Quá trình thực hiện của hai thuộc tính này cũng tách rời nhau về cả mặt không gian và thời gian Giá trị được thực hiện trước, trong lưu thông lĩnh vực lưu thông còn giá trị sử dụng được thực hiện sau, trong tiêu dùng
Đối với người sản xuất, họ tạo ra giá trị sử dụng, nhưng mục đích cuối cùng của
họ lại là giá trị, việc nhà tư bản đến quan tâm tới giá trị sử dụng cũng là vì để đạt được giá trị mà thôi Ngược lại, đối với tiêu dùng, cái mà họ quan tâm là giá trị
sử dụng điều thoả mãn nhu cầu của họ về tiêu dùng Song, muốn được vậy
người mua phải trả giá trị cho nhà tư bản sản xuất nó Vậy nên, rõ ràng giá trị phải được thực hiện trước giá trị sử dụng
1 Lượng giá trị hàng hóa và các vấn đề ảnh hưởng đến giá trị hàng hóa 2.1 Khái niệm
- Lượng giá trị của hàng hóa là do lao động xã hội trừu tượng của người sản xuất
ra hàng hóa Vậy lượng giá trị của hàng hóa là lượng hao phí lao động tạo ra hàng hóa đó
- Trong sản xuất, cần phải tích cực sáng tạo, đổi mới nhằm giảm thời gian lao động cá biệt xuống mức thấp hơn mức hao phí lao động xã hội trung bình Khi
đó mới có những ưu thế trong cạnh tranh
Trang 52.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến lượng giá trị hàng hóa
2.2.1 Năng suất lao động
- Năng suất lao động là năng lực sản xuất của người lao động, được tính bằng số lượng sản phẩm sản xuất ra trong một đơn vị thời gian, hay số lượng thời gian hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm
- Năng suất lao động tăng lên sẽ làm giảm thời gian lao động hao phí cần thiết trong một đơn vị hàng hóa Tăng năng suất lao động sẽ giảm lượng giá trị trong một đơn vị hàng hóa
- Năng suất lao động phụ thuộc và những yếu tố: trình độ chuyên môn của người lao động, mức độ phát triển của khoa học và trình độ áp dụng khoa học vào quy trình công nghệ, sự kết hợp xã hội của quá trình sản xuất, quy mô và hiệu quả của tư liệu sản xuất, các điều kiện tự nhiên
- Muốn tăng năng suất lao động thì phải có những phương pháp hoàn thiện các yếu tố kể trên Trong đó yếu tố mang tính chất quyết định nhất là mức độ phát triển của khoa học và trình độ áp dụng chúng vào quy trình công nghệ
2.2.2 Cường độ lao động
- Cường độ lao động là mức độ khẩn trương, tích cực của hoạt động lao động trong sản xuất
- Tăng cường độ lao động là tăng mức độ khẩn trương, tích cực của hoạt động lao động Trong một chừng mực, việc tăng cường độ lao động làm tăng số sản phẩm Khiến tổng giá trị tất cả các loại hàng hóa tăng lên Song thời gian lao động xã hội cần thiết một đơn vị sản phẩm lại không thay đổi Do đó, cường độ lao động chỉ nhấn mạnh tính tích cực, khẩn trương của hoạt động lao động thay
vì lười biếng khiến làm cho sản xuất giảm đi
- Trong điều kiện trình độ sản xuất thấp, tăng cường độ lao động cũng góp phần thỏa mãn nhu cầu xã hội Cường độ lao động chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố chính như: sức khỏe, thể chất, tâm lý, độ thành thạo của lao động; công tác tổ chức, kỷ luật quản lý sản xuất; … Nếu giải quyết toàn bộ những vấn đề trên, các quy trình sản xuất sẽ diễn ra trơn tru, thành thạo và nhanh chóng hơn
2.2.3 Tính chất phức tạp của lao động
Trang 6Căn cứ vào độ phức tạp của lao động mà chia lao động thành: lao động giản đơn
và lao động phức tạp
- Lao động giản đơn: Là lao động không đòi hỏi có quá trình đào tạo một cách
hệ thống, chuyên sâu về chuyên môn, kỹ năng, nghiệp vụ cũng có thể thao tác
- Lao động phức tạp: Là những lao động yêu cầu phải trải qua một quá trình đào tạo về chuyên môn, kỹ năng, nghiệp vụ theo theo yêu cầu nhất định của ngành nghề
Trong cùng một đơn vị thời gian lao động như nhau, nhìn chung, lao động phức tạp tạo ra nhiều giá trị hơn lao động giản đơn Đây là một trong những cơ sở lý luận để nhà quản trị xác định mức thù lao phù hợp cho người lao động tham gia vào quá trình lao động sản xuất
* Tổng kết lại:
Từ lý luận về hàng hóa đã đề cập ở trên, tiêu chí hàng đầu của sức cạnh tranh của hàng hóa chính là giá trị sử dụng của hàng hóa Hiển nhiên, mỗi hàng hóa khác nhau, ở những phân khúc thị trường khác nhau thì đều có những tiêu chí khác nhau để đánh giá được tính cạnh tranh trong nền kinh tế Tuy nhiên, nhìn chung hàng hóa có tính cạnh tranh cao là hàng hóa có giá trị thấp mà giá trị sử dụng cao Biểu hiện của tiêu chí trừu tượng giá trị thấp là việc giá cả hàng hóa thấp Một mặt hàng sẽ hấp dẫn hơn khi có giá cả thấp hơn so với các mặt hàng cùng loại khác bởi họ chỉ phải bỏ một chi phí thấp hơn mà vẫn thỏa mãn nhu cầu
cá nhân Điều này nằm rất nhiều ở việc tác động đến những yếu tố ảnh hưởng đến lượng giá trị hàng hóa
II Thực trạng về hàng hóa trong nền kinh tế và nâng cao cạnh tranh trong nền kinh tế Việt Nam
1 Thực trạng nền kinh tế Việt Nam hiện nay
- Cho đến khi đại dịch COVID-19 tấn công nền kinh tế Việt Nam cũng như toàn
cầu vào đầu năm 2020, tình tăng trưởng kinh tế có vẻ chững lại, tuy nhiên đã dần bắt nhịp lại vào quý IV năm 2020 Tình hình tăng trưởng kinh tế đạt tăng trưởng dương 2,91% (Quý I tăng 3,68%; quý II tăng 0,39%; quý III tăng 2,69%; quý IV tăng 4,48%).Tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý IV/2020 ước tính
Trang 7tăng 4,48% so với cùng kỳ năm trước, là mức tăng thấp nhất của quý IV các năm trong giai đoạn 2011-2020
- Năng suất lao động của toàn nền kinh tế theo giá hiện hành năm 2020 ước tính đạt 117,9 triệu đồng/lao động (tương đương 5.081 USD/lao động, tăng 290 USD
so với năm 2019); theo giá so sánh, năng suất lao động tăng 5,4% do trình
độ của người lao động ngày càng được nâng cao Đồng thời, tốc độ tăng năng suất lao động giai đoạn 2016-2020 là 5,17%/năm, cao hơn giai đoạn 2011-2015
là 4,42%
- Chỉ số hiệu quả sử dụng vốn đầu tư (Hệ số ICOR) giảm từ 6,42 năm 2016
xuống 6,11 năm 2017; 5,98 năm 2018 và 6,08 năm 2019 Bình quân giai đoạn 2016-2019, hệ số ICOR đạt 6,13, thấp hơn so với hệ số 6,25 của giai đoạn
2011-2015
- Theo báo cáo năng lực cạnh tranh toàn cầu, Việt Nam tăng 61,5 điểm đang đứng thứ hàng 67 trên toàn thế giới, thuộc 7 Đông Nam Á Cụ thể, trong 5 năm qua, so với thời kỳ 2011-2015 trước đó: Năng lực cạnh tranh du lịch tăng 12 bậc, xếp thứ 63; Hiệu quả logistics tăng 25 bậc, xếp thứ 39; Đổi mới sáng tạo toàn cầu tăng 17 bậc, xếp thứ 42 Đặc biệt, xếp hạng về phát triển bền vững tăng
34 bậc, từ thứ 88 năm 2016 lên thứ 49 năm 2020 Ngoài ra, không ít chỉ số, tiêu chí cụ thể của nước ta được ghi nhận tiến bộ vượt bậc như: Tiếp cận điện năng tăng 81 bậc, xếp thứ 27; ứng dụng công nghệ thông tin tăng 54 bậc, xếp thứ 41… (một số số liệu thuộc về cuối năm 2019 do năm 2020 các đánh giá và báo cáo xếp hạng năng lực cạnh tranh toàn cầu không được công bố chi tiết do tình hình của đại dịch COVID-19)
- Trình độ tổ chức, quản lý trong sản xuất kinh doanh và hiệu quả sử dụng các
nguồn lực bao gồm tỷ lệ đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP)
trong giai đoạn 2016-2020, đóng góp của TFP vào tăng trưởng kinh tế đạt bình quân 45,72%, cao hơn nhiều so với mức bình quân 32,84% của giai đoạn
2011-2015 Cùng với đó, chỉ số hiệu quả sử dụng vốn đầu tư (Hệ số ICOR) giảm từ 6,42 năm 2016 xuống 6,08 năm 2019
Trang 8- Năm 2020, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa năm 2020 ước tính đạt 543,9 tỷ USD, tăng 5,1% so với năm trước, trong đó kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đạt 281,5 tỷ USD, tăng 6,5%; nhập khẩu hàng hóa đạt 262,4 tỷ USD, tăng 3,6% Cán cân thương mại hàng hóa năm 2020 ước tính xuất siêu 19,1 tỷ USD, mức cao nhất trong 5 năm liên tiếp xuất siêu kể từ năm 2016 Về cơ cấu nhóm hàng xuất khẩu năm 2020, nhóm hàng công nghiê ̣p nă ̣ng và khoáng sản ước tính
đa ̣t 152,5 tỷ USD, tăng 11,3% so với năm trước Nhóm hàng công nghiê ̣p nhe ̣ và tiểu thủ công nghiê ̣p ước tính đa ̣t 100,3 tỷ USD, tăng 2,4% Nhóm hàng nông, lâm sản đa ̣t 20,3 tỷ USD, giảm 1,9% Nhóm hàng thủy sản đạt 8,4 tỷ USD, giảm 1,8% Về cơ cấu nhập khẩu hàng hóa, nhó m hàng tư liê ̣u sản xuất ước tính đa ̣t 245,6 tỷ USD, tăng 4,1% so với năm trước và chiếm 93,6% tổng kim ngạch nhập khẩu hàng hóa; nhóm hàng tiêu dùng ước tính đa ̣t 16,8 tỷ USD, giảm 3,8%
và chiếm 6,4%
2 Đánh giá thực trạng nền kinh tế Việt Nam hiện nay
2.1 Những kết quả đạt được
- Năm 2020, mức độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam chỉ là 2,91%, so sánh với
các năm trong thập kỷ qua thì đó là con số thấp nhất trong vòng mười năm qua tuy nhiên với tình hình dịch bệnh ảnh hưởng đến nền kinh tế, đây lại được coi là mức độ tăng trưởng đáng kể khi ta lọt top 4 về mức độ tăng trưởng nền kinh tế
Bên cạnh đó, mức độ tăng trưởng năng suất lao +5,4% chứng tỏ chúng ta đang
dần vượt qua khó khăn, kiểm soát tốt tình hình để nhanh chóng phát triển, nâng cao cạnh tranh Trong bối cảnh nhiều nước trong khu vực và thế giới còn có chỉ tiêu tăng trưởng âm
- Tỷ lệ người lao động có qua đào tạo ngày càng được nâng cao Điều đó thể hiện qua tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp,chứng chỉ năm 2020 đạt 24,1%, cao hơn mức 22,8% của năm 2019 Điều này góp phần đáng kể vào việc cải thiện tốc độ gia tăng của năng suất lao động
- So với 2018, Việt Nam đã tăng 3,5 điểm tổng thể (từ 58 điểm lên 61,5 điểm) trong bảng xếp hạng năng lực cạnh tranh trên thế giới, cao hơn điểm trung bình toàn cầu (60,7 điểm) và tăng 10 bậc (từ vị trí 77 lên vị trí 67) Điều đáng chú ý,
Trang 9trong Đông Nam Á, Việt Nam là nước duy nhất có thành tích đạt được như vậy Những trụ cột có kết quả khả quan bao gồm: Quy mô thị trường(nhóm Rất tốt, xếp hạng 26/141); Ứng dụng công nghệ thông tin(nhóm Tốt, xếp hạng 41/141)
- Ghi nhận nỗ lực mạnh mẽ của hoạt động xuất, nhập khẩu trong bối cảnh nền kinh tế trong nước cũng như thế giới chịu tác động tiêu cực của dịch COVID-19
và sự đứt gãy thương mại toàn cầu Năm 2020 là một bức tranh nhiều mảng sáng đối với xuất nhập khẩu Việt Nam Ước tính năm 2020 xuất siêu 19,1 tỷ USD, mức cao nhất trong 5 năm liên tiếp xuất siêu kể từ năm 2016 Sự tăng lên của nhóm hàng công nghiệp nặng và khoáng sản cũng như nhóm hàng công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp, bên cạnh đó, hàng hóa tiêu dùng nhập khẩu có xu hướng giảm cho thấy những hàng hóa này ngày càng có sức cạnh tranh tốt trên thị trường trong nước và quốc tế trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
2.2 Những hạn chế và nguyên nhân
- Không phủ nhận trình độ lành nghề của người lao động Việt Nam vẫn luôn được cải thiện, tuy nhiên vẫn còn là chưa quá cao so với thế giới và khu vực Phần lớn lao động làm việc vẫn là lao động giản đơn, có tính thời vụ, việc làm không ổn định, nên giá trị gia tăng tạo ra không cao, dẫn đến NSLĐ thấp: Chiếm tới 44,3% lao động của cả nước nhưng chỉ tạo ra 17,4% GDP trong năm 2020 Nguyên do có lẽ Nhà nước và xã hội vẫn đã và đang tìm kiếm lời giải cho bài toán làm sao để nâng cao nhanh hơn trình độ lành nghề của người lao động?
- Tại bảng xếp hạng năng lực cạnh tranh, có một vài trụ cột vẫn cần phải ưu tiên cải thiện trong thời gian tới ví dụ: Thị trường sản phẩm (ở vị trí 79/141 và vị trí thứ 7 trong ASEAN); Thị trường lao động (ở vị trí 83/141 và vị trí thứ 7 trong ASEAN); Năng lực đổi mới sáng tạo (vị trí 76/141 và vị trí thứ 7 trong
ASEAN) Nhìn chung, tuy đã tăng hạng tuy nhiên những trụ cột trên vẫn được xem là “vùng trũng” của nền kinh tế Việt Nam trong quá trình hội nhập
- Tổng quan trình độ tổ chức, quản lý trong sản xuất ở giai đoạn 2016-2020 khá tốt Tuy nhiên 2020, giảm sút tương đối do những khó khăn bất cập đến từ dịch bệnh khiến cho bình quân hệ số của trình độ này thấp hơn giai đoạn 2011-2015
Trang 10- Riêng năm 2020, do ảnh hưởng tiêu cực của dịch COVID-19, hoạt động sản xuất kinh doanh của nền kinh tế bị đình trệ, các dự án công trình hoàn thành đưa vào sử dụng chưa phát huy được năng lực nên ICOR năm 2020 đạt 14,28; bình quân giai đoạn 2016-2020 hệ số ICOR đạt 7,04 Điều này cho thấy rõ năng lực
tổ chức và quản lý hoạt động kinh tế vẫn còn chưa được hiệu quả
- Cho đến hết năm 2020, đối với nhóm hàng nông, lâm, thủy hải sản việc giảm xuống về sản lượng xuất khẩu nguyên nhân chính do dịch COVID-19 đã tác động lớn đến hoạt động sản xuất, chế biến của nhiều doanh nghiệp/nhà máy chế biến phục vụ xuất khẩu Nhiều doanh nghiệp/nhà máy chỉ hoạt động từ 30-40% công suất, thậm chí phải đóng cửa do có F0 Đối với nhóm hàng tư liệu sản xuất
có tốc độ tăng trong nhập khẩu của nước ta đồng thời chiếm tỷ trọng cao trong tổng kim ngạch nhập khẩu cho thấy nước ta còn yếu tại khía cạnh phương tiện
và đối tượng lao động Nguồn nội sinh chưa đủ để thỏa mãn toàn bộ nhu cầu về điều kiện vật chất cần thiết trong tổ chức sản xuất hàng hóa
III Những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam
Dựa trên cơ sở lý luận cũng như thực trạng được trình bày ở trên, dưới đây là đề xuất của những giải pháp chủ yếu nhằm mục đích nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam trong hội nhập kinh tế quốc tế
1 Nâng cao trình độ lành nghề của lực lượng lao động tại Việt Nam
Một đội ngũ lao động lành nghề, chuyên môn tốt là một yếu tố cạnh tranh mạnh của các doanh nghiệp trong cơ chế thị trường hiện nay đặc biệt là tại Việt Nam
- Thứ nhất, Nhà nước cần chú trọng nâng cao chất lượng và quy mô của hệ
thống đào tạo nghề Có thể thấy rõ phần trăm lao động lành nghề, hay đã có trải qua đào tạo ngày càng được gia tăng gần đây Tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ quý II năm 2021 là 26,1%, cao hơn 0,1 điểm phần trăm so với quý trước và cao hơn 0,8 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước Tỷ lệ qua đào tạo của lao động khu vực thành thị đạt 41,1%, cao hơn 2,3 lần so với khu vực nông thôn (17,6%) Đây là nhu cầu thiết yếu bởi người lao động cần được