Trong môitrường sản xuất cần đảm bảo việc hoàn thành tiến độ sản xuất dung hạn cùngvới việc sử dụng ít tồn kho đệm cho lịch trình sản xuất, các doanh nghiệp bắtđầu nhận thấy lợi ích tiềm
Trang 1BÁO CÁO HỌC PHẦN CÔNG TY XUYÊN QUỐC GIA
Đề tài Nghiên cứu về chuỗi cung ứng ngành dệt may Việt
Nam
Giảng viên: TS Phạm Thu Phương Sinh viên thực hiện: Đào Thị Minh Tâm Ngày sinh: 06/05/2001
Mã sinh viên: 19051201 Lớp: QH2019E - KTQT CLC 1
Mã lớp học phần: INE3008 4
Hà Nội - năm 2020
Trang 2MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG 5
DANH MỤC CÁC HÌNH 6
LỜI CẢM ƠN 7
LỜI CAM ĐOAN 9
PHẦN MỞ ĐẦU 9
I Tính cấp thiết của đề tài 9
II Mục tiêu nghiên cứu 11
III Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 12
IV Phương pháp nghiên cứu 12
V Đóng góp của đề tài nghiên cứu 13
VI Cấu trúc đề tài nghiên cứu 13
Chương 1: Cơ sở lí luận của chuỗi cung ứng 14
1.1 Tổng quan về chuỗi cung ứng 14
1.1.1 Lịch sử phát triển của chuỗi cung ứng 14
1.2 Các vấn đề về chuỗi cung ứng 17
1.2.1: Khái niệm chuỗi cung ứng 17
1.2.3 Mô hình chuỗi cung ứng 21
1.1 Các tác nhân thúc đẩy hoạt động chuỗi cung ứng dệt may 23
1.2 Những đối tượng tham gia vào chuỗi cung ứng 26
1.3 Mô hình chuỗi cung ứng ngành dệt may 26
Chương 3: Chuỗi ngành cung ứng dệt may tại Việt Nam 28
3.1 Vị thế của dệt may Việt Nam trong khu vực châu Á 28
3.2 Nguyên liệu đầu vào và sản phẩm đầu ra 29
3.2.1 Nguyễn liệu đầu vào 29
3.2.1.1 Vấn đề bông vải sợi 29
4.1: Định hướng phát triển trong tương lai 38
4.2 Những thách thức ngành dệt may Việt Nam 40
a Chiến tranh thương mại Mỹ - Trung 40
b Mức độ nội địa hoá sản phẩm tại Việt Nam vãn còn hạn chế 40 c Nguồn cung nguyên phụ liệu còn thiếu hụt 41
4.3 Giải pháp phát triển chuỗi cung ứng ngành dệt may tầm nhìn đến năm 2025 41
4.3.1 Về đầu tư và sử dụng vốn 41
4.3.2 Về vấn đề lao động 41
4.3.3 Về vấn đề công nghệ 42
a Ngành dệt 42
Trang 3b Ngành may 42
4.3.4 về vấn đề tổ chức sản xuất 42
4.3.5 về vấn đề sản phẩm đầu ra 43
4.3.6 Về vấn đề thị trường 43
4.3.7 Về vấn đề phân phối sản phẩm 43
4.3.8 Về vấn đề quản trị hàng tồn kho 44
4.4 Kết luận 44
KẾT LUẬN 45
TÀI LIỆU THAM KHẢO 47
Tài liệu trong nước 47
Tài liệu nước ngoài 48
Tài liệu từ các website 48
Trang 4BẢNG DANH MỤC VIẾT TẮT
ST
1 SCM Supply Chain Management - Quản lý chuỗi cung ứng
2 MRP Material Requirements Plaining - Hệ thống hoạch định nhucầu nguyên vật liệu
3 MRPII Manufactoring Resource Planning - Hệ thống hoạch địnhnguồn lực sản xuất
4 JIT Just in Time - Kỹ thuật sản xuất đúng hạn
5 TQM Total quality Management - Quản lý chất lượng toàn diện
6 FOB Free On Board - Mua nguyên liệu , bán thành phẩm
7 ODM Original Design Manufacturer - Tự thiết kế tự sản xuất
8 OBM Original Brand Manufacturer - Sản xuất thương hiệu gốc
9 FDI Foreign Direct Investment - Đầu tư trực tiếp nước ngoài
11 CMT Cut Make Trim - Cắt may làm sạch
12 ITMF International Textile Manufacturers Federation - Liên đoàncác nhà sản xuất Dệt May Quốc Tế
13 ISO International Organization for Standardization - Tổ chức tiêuchuẩn hoá quốc tế
Trang 5DANH MỤC BẢNG
Bảng 1 Số liệu nhập khẩu bông sợi tính đến năm 2010
Bảng 2 Mục tiêu ngành dệt may cụ thể đến năm 2030
Trang 6DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1 Chuỗi cung ứng giản đơn
Hình 2 Sơ đồ các nhà phân phối
Hình 3 Cấu trúc chuỗi cung ứng mở rộng
Hình 4 Mô hình chuỗi cung ứng điển hình
Hình 5 Mô hình chuỗi cung ứng ngành dệt may
Hình 6 Các doanh nghiệp Việt Nam trong chuỗi cung ứng toàncầu
Trang 7Xin chân thành cảm ơn đến các thầy cô trực thuộc khoa Kinh tế và Kinhdoanh quốc tế - Đại học Quốc gia Hà Nội đã bổ sung môn học vào chươngtrình giảng dạy để tạo điều kiện cho em hiểu sâu hơn về các công ty xuyênquốc gia.
Và cuối cùng, em xin gửi lời cảm ơn đến toàn thể các tác giả, người đã viết ranhững tài liệu, cung cấp những thông tin hữu ích giúp em hoàn thiện hơnnghiên cứu của mình
Hà Nội, ngày 29 tháng 12 năm 2020
Trang 8LỜI CAM ĐOAN
Chúng tôi xin cam đoan bài nghiên cứu này là do chúng tôi thực hiện, các dữliệu thu thập và các kết quả phân tích trong luận văn là trung thực, khách quan
và chưa từng công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Hà Nội, ngày 20 tháng 10 năm 2020
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU
I Tính cấp thiết của đề tài
Từ những năm của thập niên 1980 có thể coi là thời kỳ bắt đầu của quản trịchuỗi cung ứng (SCM) Cụm thuật ngữ quản trị chuỗi cung ứng này lần đầu tiênđược sử dụng một cách rộng rãi và được chú ý trên nhiều tờ báo, ở tạp chí, nhất
là vào những năm 1982 Việc cạnh tranh trên thị trường toàn cầu ngày càng trởnên khốc liệt gây áp lực đến các doanh nghiệp và các nhà sản xuất, buộc họphải cắt giảm chi phí, nâng cao chất lượng sản phẩm, và nâng cao mức độ phục
vụ khách hang một cách chuyên nghiệp và bài bản hơn Các hãng sản xuất vậndụng kỹ thuật sản xuất đúng thời hạn, đảm bảo chất lượng toàn diện nhằm cảitiến và nâng cao hiệu quả sản xuất, rút ngắn thời gian giao hàng Trong môitrường sản xuất cần đảm bảo việc hoàn thành tiến độ sản xuất dung hạn cùngvới việc sử dụng ít tồn kho đệm cho lịch trình sản xuất, các doanh nghiệp bắtđầu nhận thấy lợi ích tiềm năng và tầm quyết định giữa mối quan hệ chiến lược
và hợp tác của nhà cung cấp- người mua- khách hàng
Chuỗi cung ứng là một hệ thống tổ chức, con người, hoạt động, thông tin vàcác nguồn lực liên quan đến việc chuyển sản phẩm hay dịch vụ từ nhà cung cấpđến tay người tiêu dùng Chuỗi cung ứng đang càng ngày càng phát triển cả về
lý thuyết cũng như thực tiễn trên thế giới Thêm vào đó, sự ra đời và phát triểncủa hàng loạt các chuỗi dệt may của các doanh nghiệp nội địa và các doanhnghiệp nước ngoài tại thị trường Việt Nam trong những năm gần đây tạo mức
độ cạnh tranh đạt đỉnh điểm Để cạnh tranh thành công trong môi trường kinhdoanh đầy biến động như hiện nay, đòi hỏi các doanh nghiệp phải tham gia vàocông việc kinh doanh của nhà cung cấp cũng như khách hàng của họ bằng việcxây dựng riêng cho mình một chuỗi cũng ứng hoàn chỉnh
Phát triển chuỗi cung ứng hoàn chỉnh sẽ tạo nền tảng cho doanh nghiệp tiếtkiệm chi phí không cần thiết; nâng cao giá trị gia tăng cho sản phẩm, tăng sức
Trang 10cạnh tranh của các sản phẩm với đối thủ Ngoài ra, nó còn giúp cho nền công
nghiệp trong nước gia nhập chuỗi giá trị sản xuất toàn cầu, phát triển thị trường
tiêu thụ ra toàn thế giới Điều này đòi hỏi doanh nghiệp phải quan tâm sâu sắc
đến toàn bộ dòng dịch chuyển nguyên vật liệu, cách thức thiết kế, đóng
Vì vậy việc tìm hiểu hay nghiên cứu về chuỗi cung ứng, tìm ra những giảipháp hoàn thiện quá trình này là một việc làm cần thiết và hữu ích để giúp cácdoanh nghiệp giảm thiểu tối đa các chi phí dư thừa, tối đa hóa lợi nhuận chodoanh nghiệp và tăng sức cạnh tranh với cuộc đua khốc liệt đầy giữa các nhàsản xuất trên thị trường
Xuất phát từ sự cấp thiết của đề tài đối với các doanh nghiệp Việt Nam vàđặc biệt là các doanh nghiệp dệt may trong thời kỳ hội nhập trong nước với môitrường hội nhập quốc tế, nhóm nghiên cứu quyết định chọn đề tài “Nghiên cứuchuỗi cung ứng ngành dệt may tại Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu chuyên sâu
Trang 11II Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu nhằm hướng vào các mục tiêu chính sau đây:
- Nghiên cứu về hoạt động của chuỗi cung ứng và mô hình của chuỗi
cung ứng trong sản xuất và kinh doanh
- Nghiên cứu hoạt động chuỗi cung ứng của ngành dệt may tại Việt
Nam
- Tìm ra các ưu điểm và khuyết điểm trong mô hình chuỗi cung ứng ngànhdệt may tại Việt Nam hiện nay, từ đó đề ra các giải pháp nhằm nâng cao hiểuquả ngành, mang tính ứng dụng cao và một kế hoạch nhìn nhận mới cho cácdoanh nghiệp dệt may tại Việt Nam
- Đưa ra các thách thức từ đó tìm ra giải pháp phù hợp cho ngành dệt maycũng như chuỗi cung ứng dệt may tại Việt Nam
III Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hoạt động chuỗi cung ứng của
ngành dệt may tại Việt Nam
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài này tập trung nghiên cứu tình hình phát triển cũng như hoạt động củachuỗi cung ứng dệt may Việt Nam cho đến nay, bao gồm các loại dữ liệu sơcấp cũng như thứ cấp Đồng thời nghiên cứu tóm lược sơ bộ tình hình cũngnhư về các dữ liệu thứ cấp của hệ thống chuỗi cung ứng chung tại Việt Nam
để tìm hiểu từ những cái bao quát đến chi tiết
IV Phương pháp nghiên cứu
Nhóm nghiên cứu sử dụng các phương pháp nghiên cứu như:
- Phương pháp phân tích kết hợp tổng hợp lý thuyết: Phân tích các tài liệu,các nguồn thông tin chính thức như lý thuyết về chuỗi cung ứng nói chung , lýthuyết chuỗi cung ứng dệt may nói riêng cũng như tình hình hiện tại ở Việt
Trang 12Nam Sắp xếp các tài liệu tìm được rồi nhóm vào một nhóm, từ đó tìm
đối tượng một cách cụ thể hơn.
- Phương pháp phân loại, hệ thống hoá lý thuyết: Sắp xếp các tài liệu tìmđược rồi nhóm vào một nhóm, thông qua phương pháp này sẽ tìm hiểu về đốitượng một cách cụ thể hơn và logic hơn
- Phương pháp mô hình hoá: Sử dụng các kết quả sau khi phân tích, tổnghợp lý thuyết để xây dựng mô hình cụ thể cho các vấn đề khó hiểu rõ Những
lý luận và dữ liệu thứ cấp này chúng tôi tham khảo và lấy tại các nguồninternet, sách báo, tạp chí chính cống
- Phương pháp phân tích tổng hợp kinh nghiệm: Sau khi tìm hiểu dựa trên
cơ sở lý thuyết, nhóm nghiên cứu sẽ tổng hợp từ cả thực tiễn để tìm ra vấn đềhiện tại trong chuỗi cung ứng dệt may tại Việt Nam, đưa ra các giải pháp cụthể
V Đóng góp của đề tài nghiên cứu
- Tìm hiểu sâu hơn về hoạt động của chuỗi cung ứng, ứng dụng vào sảnxuất
- Tìm hiểu được những vấn đề trong chuỗi cung ứng của các ngành dệt maytại Việt Nam
- Đưa ra được các giải pháp ứng dụng và hoàn thiện hoạt động quản trịchuỗi cung ứng cho doanh nghiệp Việt Nam
- Khẳng định vai trò quan trọng của việc ứng dụng quản trị chuỗi cung ứnghiện đại trong việc tăng cường hiệu quả và chất lượng cho hoạt động kinhdoanh của doanh nghiệp dệt may tại Việt Nam
VI Cấu trúc đề tài nghiên cứu
Chương 1: Cơ sở lý luận của chuỗi cung ứng
1.1: Tổng quan chuỗi cung ứng
1.1.1: Lịch sử phát triển chuỗi cung ứng
1.2: Các vấn đề về chuỗi cung ứng
Trang 131.2.1: Khái niệm chuỗi cung ứng.
1.2.2: Thành phần của chuỗi cung ứng
1.2.3: Mô hình chuỗi cung ứng
Chương 2: Chuỗi cung ứng ngành dệt may
2.1: Các tác nhân thúc đẩy hoạt động của chuỗi cung ứng ngành dệt may 2.2: Những đối tượng tham gia vào chuỗi cung ứng ngành dệt may
2.3: Mô hình và cấu trúc chuỗi cung ứng ngành dệt may
Chương 3: Phân tích chuỗi cung ứng ngành dệt may Việt Nam
3.1 Thách thức gia nhập
3.1: Phân tích chuỗi cung ứng dệt may Việt Nam
3.1.1: Sản phẩm đầu vào và sản phẩm đầu ra
3.1.2: Hoạt động marketing và phân phối
3.1.3:Hệ thống quản trị hàng tồn kho
Chương 4: Đề xuất và kiến nghị
4.1: Định hướng phát triển trong tương lai
4.2:Những thách thức ngành dệt may
4.3: Giải pháp
4.4: Kết luận.
Trang 14Chương 1: Cơ sở lí luận của chuỗi cung ứng
1.1 Tổng quan về chuỗi cung ứng
1.1.1 Lịch sử phát triển của chuỗi cung ứng
Vấn đề lên ý tưởng và thiết kế, phát triển sản phẩm trong những năm đầutiên của thế kỉ 20 là một việc vô cùng khó khăn và không dễ dàng vì phải phụthuộc vào một lượng lớn các loại máy móc cũng như nhân công trong sảnxuất Thuật ngữ chia sẻ chuyên môn và công nghệ trong quá trình làm việcthông qua chiến lược cộng tác giữa người bán và người mua rất ít khi đượcnhắc đến trong giai đoạn bấy giờ Nhằm làm cho máy móc vận hành trơn trukhông có lỗi kĩ thuật và quy trì cân đối dòng nguyên vật liệu hợp lý, cácdoanh nghiệp thêm vào bước đệm tồn kho, hệ thống tồn kho chưa được nângcấp hợp lý dẫn đến hàng tồn kho còn đọng lại nhiều
Cho đến những năm sau này của thập niên 60 thế kỷ 20, rất nhiều các công
ty cũng như doanh nghiệp vừa và lớn trên thế giới đã liên tục ứng dụng côngnghệ vào sản xuất hàng loạt, một phần để cắt giảm chi phí, một phần cũng đểcải tiến năng suất sản phẩm của mình Tuy nhiên, các nhà doanh nghiệp nàylại ít chú ý đến việc xây dựng ra mối quan hệ với nhà cung cấp, sang tạp trongviệc thiết kế quy trình và ứng dụng tính linh hoạt, hoặc cải thiện chất lượngcủa sản phẩm.Vào thập niên 70, các hệ thống tân tiến như hệ thống hoạch địnhnhu cầu nguyên vật liệu (MRP) và hệ thống hoạch định nguồn lực sản xuất(MRPII) được phát triển, sử dụng và tầm quan trọng của việc quản trị hiệu quảvật liệu ngày càng được chú ý và ứng dụng nhiều hơn, dẫn đến các nhà sảnxuất đã dần nhận thức ra được tác động của mức độ tồn kho cao, tiêu tốn mộtkhoản chi phí sản xuất và chi phí lưu giữ tồn kho Theo sự phát triển về thờigian, công nghệ thông tin cũng dần được ứng dụng, đặc biệt là ứng dụng của
Trang 15công nghệ máy tính làm gia tăng tính tinh vi và chuyên nghiệp của các phần
mềm kiểm soát tồn kho Sự phát triển tân tiến tối ưu này làm giảm đáng kể chi
phí tồn kho cùng với cải thiện truyền thông nội bộ về nhu cầu của các nguyên
phụ liệu cần mua cũng như hỗ trợ từ phái nguồn cung.
Những năm của thập niên 80 được xem như là thời kỳ bản lề của quản trịchuỗi cung ứng Vào năm 1982, thuật ngữ quản trị chuỗi cung ứng lần đầutiên được sử dụng phổ biến trên các tạp chí cũng như các tờ báo kinh tế Vấn
đề cạnh tranh giữa các nhà sản xuất, giữa các doanh nghiệp ngày càng trở nênkhốc liệt, buộc họ phải cắt giảm bớt các chi phí dư thừa, nâng cao chất lượngsản phẩm cũng như kĩ năng phục vụ khách hàng Các công ty doanh nghiệptuỳ vào lĩnh vực của mình mà vận dụng kỹ thuật sản xuất đúng thời hạn (JIT),quản trị chất lượng toàn diện (TQM) nhằm cải thiện chất lượng sản phẩm,nâng cao hiệu quả sản xuất, rút ngắn thời gian vận chuyển giao hàng Trongmôi trường sản xuất JIT, sử dụng ít tồn kho đệm cho quá trình sản xuất, cácdoanh nghiệp bắt đầu nhận thấy lợi ích tiềm tàng và tầm quan trọng của mốiquan hệ chiến lược và hợp tác của nhà cung cấp- người mua- khách hang, cácnhà sản xuất nhận ra được lợi ích tiềm tàng và tính quan trọng trong các chiếnlược, sự hợp tác chặt chẽ giữa nhà cung cấp - người mua - khách hang Sựcộng tác liên minh ngày càng được chú trọng khi các doanh nghiệp vận dụngđược cả JIT lẫn TQM
Sang đến thập niên 1990, cạnh tranh khốc liệt, cùng với sự phát sinh ngàymột nhiều các loại chi phí hậu cần hoặc phí tồn kho, cùng với xu hướng toàncầu hoá kinh tế tạo ra các thách thức trong việc nâng cao chất lượng sảnphẩm, hiệu quả của quá trình sản xuất cũng như kĩ năng phục vụ khách hang,sang tạo trong việc đổi mới và thiết kế các sản phẩm Để có thể giải quyết cácthách thức này, các doanh nghiệp hoặc các nhà sản xuất đã bắt đầu mua lại từcác nhà cung cấp sản phẩm, giúp giải quyết được các thách thức hiện có Hơnnữa các doanh nghiệp sản xuất kêu gọi các nhà cung cấp tham gia vào việcthiết kế và phát triển sản phẩm mới cũng như đóng góp ý kiến vào việc cải
Trang 16thiện dịch vụ, chất lượng và giảm chi phí chung Hơn thế nữa, các nhà sản xuất cũng thuyết phục các nhà cung cấp của mình tham gia vào quá trình thiết
kế sáng tạo sản phẩm, cải thiện chất lượng dịch vụ, giảm được các loại chi phí
mặt bằng khác Một mặt khác, các công ty doanh nghiệp nhận ra rằng việc mua hàng từ các nhà cung cấp có sản phẩm chất lượng, hệ thống phân
của nhà cung cấp và người mua đã chứng tỏ được sự thành công này.
Việc sử dụng mô hình chuỗi cung ứng nhằm làm giảm thiểu tính thiếu chắcchắn cũng như rủi ro trong suốt quá trình vận hành của chuỗi cung ứng Sựphát triển của chuỗi cung ứng đã được tích hợp bởi các thành tựu xuyên suốtnhiều thế kỷ đã ứng dụng vào các vấn đề tồn kho hậu cần mua nguyên vậtliệu, vận chuyển nhằm tạo ra một phương thức nhanh chóng tiên phong vàhiệu quả hơn
1.2 Các vấn đề về chuỗi cung ứng
1.2.1: Khái niệm chuỗi cung ứng
Là một cầu nối giữa nhà sản xuất (Producer) và người tiêu dùng(Consumer) bao gồm các tổ chức, con người, thông tin, hoạt động liên quanvới nhiệm vụ chung chuyển từ nhà sản xuất đến người tiêu dùng Hoạt độngchính của chuỗi cung ứng: quá trình chế tạo, sản xuất, cải biến các sản phẩm,thành phẩm hoàn chỉnh có nguyên liệu từ thiên nhiên hoặc nhân tạo để đưađến người tiêu dùng cuối cùng Chuỗi cung ứng đóng vai trò là “người trunggian” giữa doanh nghiệp và người tiêu dùng Hơn nữa, chuỗi cung ứng vừađảm bảo cho sự hài lòng của khách hàng; đồng thời đảm bảo lợi nhuận chodoanh nghiệp Từ đó chuỗi cung ứng đóng vai trò cốt lõi trong phát triểndoanh nghiệp
Trang 17Theo nhận định của Christopher, ông cho rằng: “Chuỗi cung ứng là mộtmạng lưới các tổ chức có mối quan hệ với nhau thông qua các liên kết trên(upstream) và liên kết dưới (downstream) bao gồm các quá trình và hoạt độngkhác nhau để tạo ra giá trị gia tăng cho sản phẩm hoặc dịch vụ đến tay ngườitiêu dùng cuối cùng”.
Hoặc như Beamon, “ Chuỗi cung ứng là quá trình tích hợp mà trong đónguyên vật liệu được sản xuất thành sản phẩm cuối cùng và giao cho kháchhàng thông qua hệ thống phân phối, bán lẻ, hoặc cả hai”
Ngoài ra chuỗi cung ứng luôn mang trong mình tính cập nhật và chính xác.Bên cạnh đó chuỗi cung ứng còn có nhiệm vụ cung cấp cho khách hàng nhữngthông tin mới nhất, chi tiết nhất, với mức giá cập nhật nhất đến khách hàngđồng thời tạo ra lợi nhuận cho doanh nghiệp Chuỗi cung ứng được chia ralàm hai phần chính: chuỗi cung ứng đầu vào và chuỗi cung ứng đầu ra:
- Chuỗi cung ứng đầu vào chính là cung cấp cho doanh nghiệp/tổ chức cácnhu cầu cần thiết như: nguyên vật liệu, tư liệu sản xuất, nhân công, dịch vụ
để đảm bảo duy trì hoạt động của doanh nghiệp liên tục một cách hiệu quả
- Chuỗi cung ứng đầu ra: quá trình đưa sản phẩm đến tay người tiêu dùng;đảm bảo sản phẩm đó có mức giá hợp lí nhất, dịch vụ tốt nhất đủ để kháchhàng hài lòng; đồng thời đảm bảo mang lại lợi nhuận cao nhất cho doanhnghiệp
1.2.2 Các thành phần của chuỗi cung ứng
Trong chuỗi cung ứng sẽ xuất hiện một số công ty, tổ chức, cá nhân làm vaitrò khác nhau; họ có thể là nhà sản xuất, khách hàng, đại lý bán lẻ, nhà phânphối, nhà cung cấp nguyên, vật liệu thô cho quá trình sản xuất, Trong từng
bộ phận sẽ hợp tác hoặc sở hữu những công ty khác cung cấp các dịch vụ hậucần, tài chính, dịch vụ khách hàng,
a Nhà cung cấp nguyên liệu thô
Trang 18Nhà cung cấp nguyên liệu thô là các tổ chức hoặc cá nhân chuyên sản xuất,chế tạo, khai thác, cung cấp các nguyên vật liệu thô để phục vụ quá trình sảnxuất của công ty để đáp ứng chuỗi cung ứng.
b Nhà sản xuất
Nhà sản xuất là những người chịu trách nhiệm trực tiếp trong quá trình sảnxuất hàng hóa và cung cấp hàng hóa trên thị trường cho người tiêu dùng.Đồng thời nhà sản xuất đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế Ngoài ranhà sản xuất có thể tham gia hoặc giám sát quá trình sản xuất Nhà sản xuất cóthể là cá nhân hoặc doanh nghiệp
Hình 1: Chuỗi cung ứng giản đơn (Nguồn: Nguyễn Thị Kim Anh- 2010)
a Nhà phân phối
Nhà phân phối được xem là “mắt xích” kết nối giữa các đại lí hoặc ngườitiêu dùng và nhà sản xuất Nhà phân phối giúp nhà sản xuất tiếp cận được cácphân khúc thị trường nhỏ hơn hoặc với các tầng lớp khách hàng sâu hơn Bêncạnh đó nhà phân phối sẽ giúp người tiêu dùng hiểu hơn về mặt hàng bằngcách cung cấp thông tin kĩ thuật, dịch vụ hoặc bảo hành mặt hàng
Trang 19Hình 2: Sơ đồ nhà phân phối
b Đại lí bán lẻ
Đại lí bán lẻ được hiểu như sợi dây kết nối giưã nhà phân phối, nhà sản xuấtvới người tiêu dùng Họ thực hiện việc mua sản phẩm từ nhà sản xuất, nhàphân phối bán lại cho người dùng Họ tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhaunhư: cửa hàng tập chung duy nhất, các đại lí bán lẻ, cửa hàng tạp hóa, Họ làngười tiếp xúc trực tiếp với khách hàng
c Khách hàng
Khách hàng là khâu cuối cùng của chuỗi cung ứng Họ là người sử dụng,thừa hưởng lợi ích của sản phẩm Đồng thời họ chính là cái đích cuối cùng màcác doanh nghiệp, nhà sản xuất hướng tới
d Nhà cung cấp dịch vụ
Nhà cung cấp dịch vụ là một mắt xích vô cùng quan trọng, là những tổ chứccung cấp dịch vụ đến cho nhà sản xuất, nhà phân phối, nhà bán lẻ và kháchhàng
Nhà cung cấp dịch vụ có kĩ năng và chuyên môn trong một lĩnh vực riêngbiệt của chuỗi ucng ứng, ví dụ như hậu cần, tài chính, thiết kế đổi mới sảnphẩm và công nghệ thong tin Bởi vì họ chuyên về một mảng riêng biệt nênnhà cung cấp dịch vụ này sẽ làm việc hiệu quả và tiết kiệm được một phần chiphí dư thừa hơn chính các nhà phân phối, người mua hay người bán làm Ởbất cứ chuỗi cung ứng nào thì nhà cung cấp dịch vụ phổ biến nhất là cung cấpdịch vụ vận tải và dịch vụ nhà kho
Trang 20Một chuỗi cung ứng phức tạp hơn và mở rộng nhiều mắt xích hơn sẽ baogồm nhiều đối tượng khác tham gia vào chuỗi cung ứng, như mô hình chuỗidưới dây là một ví dụ:
Hình 3 Cấu trúc chuỗi cung ứng mở rộng (Nguyễn Thị Kim Anh - 2010)
1.2.3 Mô hình chuỗi cung ứng
Trong một chuỗi cung ứng điển hình, nguyên vật liệu được mua ở mộthoặc nhiều nhà cung cấp; các bộ phận được sản xuất ở một nhà máy hoặcnhiều hơn, sau đó được vận chuyển đến nhà kho để lưu trữ ở giai đoạn trunggian và cuối cùng đến nhà bán lẻ và khách hàng Vì vậy, để giảm thiểu chi phí
và cải tiến mức phục vụ, các chiến lược chuỗi cung ứng hiệu quả phải xem xétđến sự tương tác ở các cấp độ khác nhau trong chuỗi cung ứng Chuỗi cungứng cũng được xem như mạng lưới hậu cần, bao gồm các nhà cung cấp, cáctrung tâm sản xuất, nhà kho, các trung tâm phân phối, và các cửa hàng bán lẻ,cũng như nguyên vật liệu, tồn kho trong quá trình sản xuất và sản phẩm hoànthành dịch chuyển giữa các cơ sở
Trang 21Hình 4: Mô hình chuỗi cung ứng điển hình (Nguồn: Nguyễn Thị Kim Anh- 2010)
Trang 22Chương 2: Chuỗi cung ứng ngành dệt may
Năm 2015, trong tổng sản xuất công nghiệp của Việt Nam thì ngành dệtmay chiếm khoảng 33% Ta có thể nhận thấy được rằng chuỗi cung ứng làmột phần không thể thiếu trong hoạt động dệt may, thế nhưng tỷ lệ nội địa hoángành dệt may nước ta còn thấp do chúng ta đã dành cả một khoảng thời gian
để tập trung vào hoạt động xuất khẩu mà không chú trọng đến các hoạt độngcung ứng nguồn nguyên liệu, phân phối sản phẩm Nhận ra vấn đề này, cácdoanh nghiệp đã dần có quy hoạch cụ thể đối với từng mắt xích chưa đượcchú trọng trong chuỗi cung ứng, đặc biệt là nguồn cung nguyên liệu khi hoạtđộng xuất khẩu dật may nước ta ngày càng phát triển
Để có thể nâng cao chất lượng chuỗi giá trị cung ứng ngành dệt may, cácdoanh nghiệp sẽ chú trọng tới việc nâng cấp mở rộng xây dựng và sắp xếp lại
hệ thống phân phối, có những kế hoạch phát triển thương hiệu, tăng tang khảnăng hợp tác trong ngành Trong thời gian sắp tới, ngành dệt may sẽ phát triển
và mở rộng một số thương hiệu trong nước sang các thị trường nước ngoài lâncận trong khu vực Cùng với đó sẽ đẩy mạnh thêm các phương thức sản xuấtngang mới hiện đại tốn ít chi phí hơn, kêu gọi sư đầu tư ủng hộ vào khâunhuộm và hoàn tất để tăng khả năng có thể cung cấp sản phẩm cho may xuấtkhẩu, từ đó tận dụng những cơ hội vàng do Hiệp định thương mại tự do đemlại
Trong sự phát triển của ngành, các doanh nghiệp cũng cần thúc đẩy hoạtđộng xuất khẩu các mặt hàng dệt may truyền thống với lên kế hoạch đa dạnghoá các sản phẩm,thúc đẩy sự tang trưởng thong qua môi trường cạnh tranhcủa các doanh nghiệp trong nước lẫn các khu vực lân cận, tăng năng lực vậndụng thiết kế, thương mại để có thể chuyển từ gia công truyền thốn sang FOB,ODM, OBM đme lại nguồn lợi nhuận lợi ích hơn Các doanh nghiệp cũng chútrọng đầu tư và nâng cao khả năng thích ứng với các công nghệ kĩ thuật tiêntiến, chú trọng tới môí liên kết giữa người cung cấp - người mua - người bán,
Trang 23với những chương trình và hoạt động thích hợp cụ thể
I.1 Các tác nhân thúc đẩy hoạt động chuỗi cung ứng dệt may
Gồm có 4 tác nhân chính:
a Sản xuất.
Bước đầu tiên khi tiến vào ngành kinh doanh cần phải xác định được nhucầu thị trường và thách thức kinh doanh Mỗi một ngành kinh doanh có chuỗicung ứng có nhu cầu thị trường trường riêng biệt Doanh nghiệp cần xác địnhđược 3 vấn đề cơ bản:
• Thị trường mình đang hướng tới mong muốn loại hình sản phẩm nào?
• Khi nào thì cần đẩy mạnh sản xuất và lượng sản phẩm cần được tạo racho hợp lý?
• Cần lập kế hoạch cân đối công việc và quản lý
Hoạt động dự trữ chiếm tỷ phần rất lớn trong hoạt động thu chi vì vậy cầnxác định được điểm cân bằng, mức độ tồn kho và điểm mua bổ sung tối ưu.Xác định điểm cân bằng qua nhu cầu của khách hàng Nhu cầu thườngthay đổi theo thời gian vì vậy doanh nghiệp có thể sử dụng những dữ liệu từquá khứ để dự đoán thay đổi tương lai
c Vận chuyển.
Một khâu trung gian quan trọng trong quá trình hình thành sản phẩm vàđưa vào thị trường Chúng ta cần hoạt động này khi chuyển sản phẩm từ giaiđoạn này sang giai đoạn khác Doanh nghiệp khi làm hoạt động này cần đảm
Trang 24ứng khác Sự đảm bảo này là đánh đổi cho mức độ hàng hóa dự trữ tồn kho
cao hay thấp hơn Vì thế, cần vận chuyển bằng cách nào và khi nào?
Có rất nhiều con đường vận chuyển hàng hóa với các mức chi phí cơ hộikhác nhau
• Vận chuyển qua đường bộ hoặc đường hàng không nhanh chóng và antoàn, đáng tin cậy Nhưng chi phí vận chuyển là một vấn đề cần xem xét Vìphải qua rất nhiều cửa kiểm tra, trạm thu phí nên chi phí sẽ bị độn lên lớn
• Vận chuyển bằng đường biển hoặc đường sắt: chi phí thấp nhưng thờigian trung chuyển thường bị kéo dài và không đảm bảo bằng đường bộ hayđường hàng không
d Thông tin.
Thông tin là một vấn đề quan trọng để ra quyết định đối với 4 tác nhân thúcđẩy của chuỗi cung ứng Đó là sự kết nối giữa tất cả các hoạt động trong mộtchuỗi cung ứng
Trong phạm vi này, sự kết nối là mạnh (ví dụ như dữ liệu chính xác, kịp thời
và đầy đủ) thì các công ty trong chuỗi cung ứng sẽ có thể quyết định tốt đốivới các hoạt động của riêng họ Điều này giúp cho việc cực đại hóa lợi nhuậncủa toàn bộ chuỗi cung ứng Đó là cách mà thị trường chứng khoán hay cácthị trường tự do khác thực hiện và chuỗi cung ứng mang tính năng động giốngnhư đối với thị trường
• Phối hợp các hoạt động hằng ngày - liên quan đến chức năng của 4 tácnhân thúc đẩy khác của chuỗi cung ứng: sản xuất, tồn kho, địa điểm và vậntải Các công ty trong chuỗi cung ứng sử dụng các dữ liệu sẵn có về cung -cầu sản phẩm để quyết định lịch trình sản xuất hàng tuần, mức tồn kho, lộtrình vận chuyển và địa điểm tồn trữ
• Dự báo và lập kế hoạch - để dự báo và đáp ứng các nhu cầu trongtương lai Thông tin dự báo được sử dụng để bố trí lịch trình sản xuất hàng
Trang 25• quyết định chiến lược có nên lập các phòng ban mới, thâm nhập thị trường
mới, rút lui khỏi thị trường đang tồn tại .
• Trong phạm vi của một công ty, cân đối giữa tính kịp thời và tính hiệuquả
liên quan đến việc đo lường lợi ích mà thông tin đem lại cũng như chi phí cóđược thông tin đó Thông tin chính xác giúp dự báo tốt hơn và hoạt động cungứng hiệu quả Tuy nhiên, chi phí xây dựng và thiết lập hệ thống để phân phốithông tin có thể là rất cao
• Trong phạm vi tổng thể chuỗi cung ứng, các công ty quyết định tính kịpthời và tính hiệu quả chính là quyết định bao nhiêu thông tin chia sẻ cho cáccông ty kháec và bao nhiêu thông tin được giữ lại cho công ty mình Các công
ty chia sẻ thông tin càng nhiều về sản phẩm, nhu cầu khách hàng, dự báo thịtrường, lịch trình sản xuất thì mỗi công ty càng đáp ứng kịp thời hơn.Nhưng việc công khai này lại liên quan đến việc tiếc lộ thông tin công ty cóthể sử dụng chống lại các đối thủ cạnh trạnh Chi phí tiềm ẩn này cộng thêmtính cạnh tranh tăng cao có thể gây thiệt hại đến lợi nhuận của công ty
I.2 Những đối tượng tham gia vào chuỗi cung ứng.
• - Nhà sản xuất (Producers): Là những tổ chức có nhiệm vụ sản xuất rasản
Trang 26phẩm, gồm có doanh nghiệp sản xuất nguyên phụ liệu thô và sản xuất ra cácloại thành phẩm Trong chuỗi cung ứng dệt may thì đây là những công ty dệt,các nhà sản xuất may mặc, các công ty sản xuất nguyên liệu như khai thác
Trang 27• khoáng sản, dầu khí, cưa gỗ, trồng trọt, nuôi tằm, công ty sản xuất
(sử dụng bộ phận, nguyên liệu sản xuất từ các công ty khác).
- Nhà phân phối/Nhà bán sỉ (Distributors/Wholesalers): là những mắt xích
có vai trò dự trữ hàng hóa với một số lượng lớn lấy từ phía các nhà phân phối
và cung ứng sản phẩm cùng với khối lượng lớn tới khách hàng (trong trườnghợp này khách hang là người lấy sản phẩm từ chỗ nhà phân phối, không phảingười mua hàng)
- Nhà bán lẻ (Retailers): Lấy nguồn hàng từ những nhà phân phối, dự trữhàng hóa và bán lại cho khách hàng với số lượng nhỏ lẻ Đây là người nắm rõnhu cầu cũng như sự ưa thích của khách hàng đối với các loại hàng hóa
- Khách hàng (Customers): người tiêu dùng sản phẩm may mặc
- Nhà cung cấp dịch vụ (Service Providers): cung cấp dịch vụ vận tải vàdịch vụ nhà kho cho các doanh nghiệp may mặc
• I.3 Mô hình chuỗi cung ứng ngành dệt may
•
• Hình 5 Mô hình chuỗi cung ứng ngành dệt may
(Hiệp hội Bông sợi Việt Nam)
Trang 28• Từ mô hình của chuỗi cung ứng ngành Dệt may, có thể phân tích ra đâychính là một chuỗi cung ứng có quy mô lớn, các mắt xích có liên kết chặt chẽvới nhau dựa trên một nền tảng kĩ thuật phức tạp Mỗi một mắt xích trongchuỗi cung ứng này có nhiệm vụ nhất định trong quá trình sản xuất ra sảnphẩm đáp ứng các yêu cầu sự hài lòng của người tiêu dùng Mỗi thành viêntrong chuỗi cung ứng đóng vai trò là khách hàng của thành viên trước nónhưng lại vừa là nhà cung cấp cho thành viên sau nó trong một chuỗi mắt xíchliên kết Một phân đoạn trong chuỗi cung ứng vừa có thể do một hoặc nhiềuthành viên đóng vai trò và đảm nhiệm Chính vì thế, để có thể đảm bảo chochuỗi cung ứng hoàn thiện thì các mắt xích phải có sự liên kết chặt chẽ vớinhau để đưa ra được sản phẩm của khách hàng phù hợp với lượng hang cungứng của nhà sản sản xuất và nhà phân phối, hạn chế tối đa những khoản chiphí dư thừa không đáng quá trong cả quá trình của chuỗi cung ứng Trongchuỗi cung ứng, các thông tin cần phải đầy đủ, chính xác và đảm bảo đượcthời gian tiến độ là nền tảng vô cùng quan trọng và cần thiết để có thể đưa racác quyết định kinh doanh hợp lý và kịp thời Các thông tin chính là sợi dâynối gọn và liên kết tất cả các hoạt động, các phân đoạn và các mắt xích thànhviên trong một chuỗi cung ứng Việc chúng ta có được thông tin chính xác,đầy đủ và đúng lúc thì các thành viên trong chuỗi cung ứng sẽ có thể đưa rađược quyết định đúng đắn, đem lại kết quả trong kinh doanh đạt lợi nhuận caohơn và ổn định hơn Từ đó, quá trình này sẽ giúp cho các thành viên trongchuỗi cung ứng có thể tối đa hóa lợi nhuận của mình Vấn đề về thông tintrong chuỗi cung ứng sẽ được giải quyết triệt để nếu các thành viên trongchuỗi cung ứng đẩy mạnh ứng dụng thương mại điện tử trong hoạt động kinhdoanh của mình.
Trang 29• Chương 3: Chuỗi ngành cung ứng dệt may tại Việt Nam3.1 Vị thế của dệt may Việt Nam trong khu vực châu Á
• Việt Nam tiếp tục là thị trường thu hút đầu tư trực tiếp từ nước ngoài(FDI),
là điểm nóng lớn nhất Đông Nam Á Tính đến 2018 Trung Quốc có 3.517 dự
án với tổng vốn đầu tư 33 tỷ USD vào Việt Nam Thương mại song phươnggiữa hai nước năm 2018 đạt 106 tỷ USD tăng 14% so với cùng kỳ Trong đóxuất khẩu Việt Nam sang Trung Quốc đạt 41 tỷ USD tăng 16% và trở thànhđối tác thương mại lớn nhất của Trung Quốc trong ASEAN
• Phân tích về thị trường và chuỗi cung ứng dệt may toàn cầu, ông SunRuizhe
- Chủ tịch Hội đồng dệt may Trung Quốc đã chỉ rõ: Hiện Việt Nam xuất khẩuhàng dệt may lớn thứ 3 thế giới (chỉ sau Trung Quốc và Ân Độ) với kimngạch xuất khẩu 36,2 tỷ USD trong năm 2018 Còn ngành dệt may TrungQuốc giữ vị trí số 1 thế giới với doanh số 250 tỷ USD/năm, giải quyết việclàm cho hơn 200 triệu người Để mở rộng vành đai chuỗi cung ứng dệt may,hiện Trung Quốc đã đầu tư ra nước ngoài trong đó Việt Nam là thị trường đầu
tư quan trọng nhất Điều này cho thấy Việt Nam có vị trí quan trọng và là tâmđiểm quan tâm hiện nay của dệt may tại khu vực Việc đẩy mạnh đầu tư sangViệt Nam, xây dựng các chuỗi cung ứng dệt may bền vững mang ý nghĩa quantrọng trong việc thúc đẩy phát triển công nghiệp dệt may toàn cầu cũng nhưduy trì tính cạnh tranh của công nghiệp dệt may Việt Nam và Trung Quốc
hơn
8 tỷ USD, giảm 2,02% so với cùng kỳ năm trước Trong đó xuất khẩu hàngdệt may (gồm vải) trong Q1/2020 ước tính đạt hơn 7 triệu USD, giảm 1.4% vềmặt giá trị so với cùng kỳ năm 2019 Riêng tháng 3/2020, kim ngạch xuấtkhẩu dệt may Việt Nam đã chứng kiến mức sụt giảm 7.42%