1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

SKKN: Một số biện pháp rèn kỹ năng tả người trong phân môn Tập làm văn lớp 5

24 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 77,71 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Có lẽ đây là vấn đề mà nhiều giáoviên trăn trở, muốn tìm những giải pháp thích hợp tháo gỡ được tình trạng trên.Xuất phát từ lý do đó, với kinh nghiệm giảng dạy và trách nhiệm của mình,

Trang 1

MỤC LỤC

1 Cơ sở đề xuất giải pháp 2

1.1 Sự cần thiết hình thành giải pháp 2

1.2 Mục tiêu của giải pháp 2

1.3 Các căn cứ đề xuất giải pháp 3

1.4 Đối tượng nghiên cứu 3

1.5 Phạm vi nghiên cứu 3

1.6 Phương pháp nghiên cứu 3

2 Quá trình hình thành và nội dung giải pháp 4

2.1 Quá trình hình thành nên giải pháp 4

2.2 Thực trạng 5

2.3 Nội dung giải pháp 6

3 Hiệu quả áp dụng 19

4 Kết luận và kiến nghị 19

4.1 Kết luận 19

4.2 Kiến nghị 20

Tài liệu tham khảo 23

Trang 2

1 Cơ sở đề xuất giải pháp:

Để dạy tốt tập làm văn, giáo viên phải là người thực sự có tâm huyết và năngkhiếu Vì để giáo viên dạy và học sinh học tốt môn Tập làm văn thì phải thườngxuyên chấm và chữa bài một cách chu đáo Việc này đòi hỏi giáo viên phải làngười giỏi văn, hiểu văn để cảm nhận được cái hay, cái đẹp trong từng bài làmcủa học sinh bởi mỗi bài văn của các em là một tác phẩm khác nhau, muôn màumuôn vẻ Giáo viên phải hiểu được văn học mang tính sáng tạo, mỗi bài văn thểhiện một suy nghĩ, hiểu biết mang đậm đà màu sắc cá nhân, là những sản phẩmkhông lặp lại của mỗi học sinh Đồng thời, đây là một việc rất cần nhiều thờigian và tính kiên trì

Mặt khác, theo chương trình sách giáo khoa, việc dạy các kĩ năng bộ phậncủa bài văn được chú trọng hơn trước thì tình trạng viết bài văn chưa đạt, chưahay lại càng phổ biến

Vậy nên vấn đề đặt ra là làm thế nào để học sinh có được bài văn hay, pháthuy được vốn sống, vốn hiểu biết của các em Có lẽ đây là vấn đề mà nhiều giáoviên trăn trở, muốn tìm những giải pháp thích hợp tháo gỡ được tình trạng trên.Xuất phát từ lý do đó, với kinh nghiệm giảng dạy và trách nhiệm của mình, tôi

xin chọn đề tài: “Nâng cao chất lượng viết văn tả người cho học sinh lớp 5”

1.2 Mục tiêu của giải pháp:

Dạy học làm sao cho học sinh nắm vững kiến thức một cách đơn giản, dễnắm nhưng đầy đủ và các kiến thức có mối liên hệ với nhau, đó mới là mục đích

mà chúng ta hướng tới

Trang 3

- Tập làm văn tập trung các hiểu biết kỹ năng về tiếng việt do các phân mônkhác rèn luyện hoặc cung cấp đồng thời góp phần hoàn thiện chúng Để làmđược một bài văn nói hoặc viết, học sinh phải thành thạo cả bốn kỹ năng: nói,đọc, viết và vận dụng các kiến thức tiếng việt Trong quá trình vận dụng này,các kỹ năng và kiến thức về tiếng việt được nâng cao dần.

- Hình thành khả năng quan sát của các em, giúp các em có sự lựa chọn chitiết để quan sát và miêu tả một cách tinh tế Giúp các em tích lũy vốn từ, biết lựachọn từ ngữ thích hợp để đặt câu văn có hình ảnh, tạo nên những đoạn văn hay.Biết cách sắp xếp ý khi viết bài, xây dựng bố cục rõ ràng, khoa học Có thóiquen sử dụng các biện pháp tu từ, biện pháp nghệ thuật trong viết văn

Đứng trước thực trạng viết văn nói chung và thể loại văn tả người nói riêng,tôi thấy cần có những biện pháp cụ thể, thiết thực, khả thi để giúp học sinh viếtvăn tốt hơn Đó chính là mục tiêu nghiên cứu của giải pháp này

1.3 Các căn cứ đề xuất giải pháp:

- Khảo sát thực tế chất lượng viết văn miêu tả, kiểu bài tả người của học

sinh Từ đó đánh giá được khả năng viết văn của các em

- Dựa vào lý luận dạy học và kinh nghiệm thông qua thực tế để đề ra các giảipháp cụ thể góp phần nâng cao chất lượng viết văn kiểu bài tả người cho họcsinh lớp 5

1.4 Đối tượng nghiên cứu:

Học sinh lớp 5C trường Tiểu học Trần Văn Quan

1.5 Phạm vi nghiên cứu:

- Phạm vi áp dụng: Học sinh lớp 5C trường Tiểu học Trần Văn Quan

- Giới hạn lĩnh vực: Đề tài tập trung nghiên cứu về: “Nâng cao chất lượng viết văn tả người cho học sinh lớp 5”

1.6 Phương pháp nghiên cứu: Để thực hiện được giải pháp này, tôi sử

dụng những phương pháp sau:

Trang 4

- Phương pháp quan sát, khảo sát: Qua khảo sát thực tế dạy học, khảo sát các

bài viết của học sinh lớp 5C trường Tiểu học Trần Văn Quan Tiến hành xem,khảo sát các tài liệu liên quan

- Phương pháp phân tích: Tiến hành phân tích thực tế sách giáo khoa, thực tếdạy học phân môn Tập làm văn, phân tích những đoạn văn, bài văn của học sinh

để thấy được những ưu điểm và hạn chế về kĩ năng viết văn của học sinh

- Phương pháp tổng hợp: Dựa vào thực tế dạy học và kinh nghiệm của bảnthân dựa vào những lý luận làm cơ sở cho dạy Tập làm văn để đưa ra nhữngbiện pháp cụ thể giúp học sinh viết văn tốt hơn, sinh động hơn bài văn tả người

- Phương pháp thực nghiệm: Vận dụng những đề xuất, đã đưa những bài tậpluyện viết văn mà giải pháp đã xây dựng để học sinh làm thực nghiệm Dựa vàokết quả đó làm cơ sở đánh giá các biện pháp, các bài tập mà giải pháp đã nêu ra

2 Quá trình hình thành và nội dung giải pháp:

2.1 Quá trình hình thành nên giải pháp:

Trong trường tiểu học, phân môn tập làm văn chiếm vị trí quan trọng Tậplàm văn giúp học sinh vận dụng các kiến thức về Tiếng Việt của các em Mặtkhác, phân môn tập làm văn rèn luyện cho học sinh các kĩ năng sản sinh vănbản, góp phần hiện thực hoá mục tiêu quan trọng nhất của việc dạy Tiếng Việt.Sản phẩm của Tập làm văn là các bài văn viết hoặc nói ở các thể loại dochương trình quy định Do vậy, nhiệm vụ cơ bản của phân môn Tập làm văn làgiúp học sinh nắm được cách viết văn theo nhiều loại phong cách khác nhau Từ

đó góp phần rèn luyện tư duy, phát triển ngôn ngữ và hình thành nhân cách chocác em

Hơn thế nữa, học sinh tiểu học có tâm hồn trong sáng, thơ ngây, thích khámphá nên cuộc sống xung quanh các em luôn lung linh sắc màu Và các em đãđưa những thơ ngây, lung linh ấy vào bài văn Do đó, bài văn của các em thườngrất chân thật, hồn nhiên và mới lạ Những đối tượng văn tả người đề cập đếnthường là những con người rất gần gũi với các em nên bài văn của các em chứanhiều tình cảm chân thành, xúc động gây ấn tượng tốt cho người đọc

Trang 5

Tuy nhiên, thực trạng hiện nay các em có rất nhiều hạn chế khi làm văn, đó là:

- Các em thường “sợ” và “ngại” viết văn Do vậy các em chưa tạo cho mìnhmột hứng thú viết văn

- Khi làm bài văn, các em chưa biết cách chọn lọc, lột tả cái riêng của cácđối tượng miêu tả mà thường dùng các nét đặc điểm chung gắn cho mọi đốitượng

- Bài văn của các em thường “na ná” giống nhau Đa phần giống văn của côhoặc chép văn mẫu, tính sáng tạo chưa cao

- Các em chưa có phương pháp làm bài văn cụ thể Việc tiếp thu kiến thứccòn hời hợt

- Số lượng chữ ít dẫn đến bài văn thường ngắn Câu văn thiếu hình ảnh,mang tính liệt kê các nét tả hình dáng, tính cách

- Cảm xúc bộc lộ chưa tinh tế

Tất cả những điều nêu trên cho thấy chất lượng viết văn của học sinh là chưacao Mặt khác, theo sách giáo khoa, thì việc dạy các kĩ năng bộ phận được chútrọng hơn, điều này gây khó khăn cho cá em khi liên kết các kĩ năng đó để tạobài văn Đa phần các em chỉ viết được đoạn văn chứ chưa đảm bảo bài văn

2.2 Thực trạng:

2.2.1 Thuận lợi:

- Ban giám hiệu hết sức quan tâm, tạo mọi điều kiện tốt nhất cho việc dạy vàhọc, đặc biệt là việc đổi mới phương pháp dạy học nhằm nâng ca chất lượnggiáo dục

- Đa số học sinh trong lớp có ý thức ham học hỏi, ngoan, biết vâng lời, tíchcực trong giờ học

2.2.2 Khó khăn:

a Đối với giáo viên:

- Khi dạy văn tả cảnh thông thường giáo viên chỉ có con đường duy nhất làhình thành các hiểu biết về lý thuyết, các kỹ năng làm bài qua phân tích các bài

Trang 6

mẫu trong sách giáo khoa Chính vì vậy chưa gây hứng thú cho học sinh khi họckiểu bài văn tả người

- Trong quá trình giảng dạy, giáo viên chưa chú trọng việc rèn cho học sinh

kĩ năng quan sát và dùng ngôn ngữ diễn đạt lại những gì mình đã quan sát được.Chưa tổ chức được nhiều hoạt động nhằm phát triển tư duy ngôn ngữ ở học sinh

- Bên cạnh đó, việc sử dụng vốn từ ngữ khi miêu tả người của giáo viên cònhạn chế, chưa có những câu văn mượt mà nhưng vẫn chân thực, gần gũi,… Đặcbiệt, khi học sinh đưa ra một câu văn dùng từ chưa chuẩn hay hình ảnh chưa hợplí,… giáo viên chưa chỉnh sửa kịp thời nên chưa thổi hồn, làm cầu nối nâng tìnhyêu văn học cho các em

- Bản thân giáo viên đôi khi chưa đầu tư đúng mức cho các tiết dạy Tập làmvăn

b Đối với học sinh:

- Phần lớn học sinh không thích học phân môn tập làm văn vì môn này khó

Nó đòi hỏi sự sáng tạo và năng khiếu của các em

- Vốn từ ngữ của các em còn hạn chế nên khi viết văn thường bị lặp lại từ,lời văn chưa lưu loát, diễn đạt chưa trôi chảy, thiếu hình ảnh, cảm xúc

- Nhiều em không nắm được cấu trúc ngữ pháp nên sử dụng dấu câu tùytiện Một số học sinh làm theo văn mẫu hoặc chỉ viết theo gợi ý của giáo viênhướng dẫn Chưa sáng tạo trong cách dùng từ đặt câu

c Đối với phụ huynh:

- Đa số phụ huynh là dân làm nông, ít có điều kiện quan tâm đến con emmình Một số gia đình ở tạm trú có hoàn cảnh khó khăn chưa quan tâm đến con

em mình

- Đa số HS thuộc hoàn cảnh gia đình khó khăn, việc đầu tư về thời gian đểgiáo dục cũng như điều kiện học tập còn hạn chế, đôi lúc còn phó mặt cho nhàtrường hoặc GVCN

2.3 Nội dung của giải pháp:

Trang 7

2.3.1 Quan sát đối tượng miêu tả:

Kĩ năng quan sát là yêu cầu quan trọng khi dạy học viết văn miêu tả đặc biệt

là tả người Muốn quan sát tốt học sinh phải nắm được phương pháp quan sát.Quan sát về sự vật để hiểu về khoa học và quan sát để làm tập làm văn có haimục đích khác nhau Mục đích quan sát khoa học là để tìm ra công dụng, cấutạo, đặc điểm, tính chất của sự vật hiện tượng Mục đích quan sát văn học là đểtìm được hình dạng, màu sắc, âm thanh tiêu biểu từ cảm xúc của người đối với

sự vật Vì vậy, để học sinh biết cách quan sát tốt, cần chú ý những vấn đề cơ bảnsau:

*Trình tự quan sát:

Tôi hướng dẫn học sinh lựa chọn trình tự quan sát thích hợp, cụ thể:

- Trình tự thời gian: Miêu tả theo trình tự thời gian không chỉ tạo cho bài vănlogic mà còn lột tả được đặc điểm tiêu biểu của sự vật:

Chúng ta cùng nhìn lại cách miêu tả của Ma Văn Kháng tròng bài “Hạng A

Cháng” có đoạn: “A Cháng đẹp thật Mười tám tuổi ngực nở vòng cung, da đỏ như lim, bắp tay, bắp chân rắn chắc như gụ Vóc cao, vai rộng, người đứng thẳng như cái cột đá trời trồng…”

- Trình tự không gian: Thường nhìn bao quát đến quan sát chi tiết từng bộphận, quan sát từ trái sang phải hay từ trên xuống dưới hay từ ngoài vào trong,nhìn từ xa lại gần…và ngược lại…

Ví dụ: khi tả người: Tôi luôn hướng dẫn học sinh quan sát đặc điểm ngườiđịnh tả rồi quan sát từng bộ phận như người này có mái tóc, khuôn mặt, mắt,mũi miệng, …như thế nào?

Để rèn cho học sinh quan sát tốt, bản thân tôi rất chú ý đến vấn đề này.Chẳng hạn tôi đã tiến hành hướng dẫn các em quan sát cảnh sân trường trướcgiờ học theo trình tự không gian và kết quả các em đã hình thành dàn ý sau:

*Hướng dẫn học sinh quan sát bằng nhiều giác quan

- Dùng mắt quan sát thường tả màu sắc, hình dạng sự vật, có thể phát hiện ranhiều nét độc đáo tinh tế cùa sự vật Trong quá trình hướng dẫn học sinh, tôi

Trang 8

hướng dẫn các em quan sát sự vật bằng mắt để nhận thấy những màu sắc, hìnhkhối, nét đặc sắc của đối tượng.

- Trong bài văn miêu tả, nếu chỉ dùng mắt để quan sát thì tật thiếu sót Dùngtai nghe được âm thanh nhịp điệu và gợi cảm xúc, nó bổ trợ cho việc miêu tả đốitượng một cách sinh động, cụ thể hơn Tôi thường thực hiện yêu cầu sau để các

em có khả năng quan sát bằng tai:

+ Em hãy quan sát và ghi lại những âm thanh trước giờ tiết dạy, trong tiếtdạy và sau tiết dạy;

+ Em hãy ghi lại những âm thanh khi ca sĩ đang biểu diễn hoặc giáo viênđang dạy…

Quan sát bằng mũi sẽ giúp chúng ta hiểu sau hơn đối tượng, từ đó biết chọn

ra những nét tinh tế của sự vật Nếu quan sát bằng mũi một cách tinh tế thìchúng ta sẽ phân biệt được các mức độ khác nhau về mùi thơm đó, từ đó ta sẽlựa chọn từ ngữ diễn tả sự vật một cách chính xác, tinh tế như: mùi ở gần thì

“nồng nặc “sực nức”…, mùi ở xa thì phảng phất, thoang thoảng”

Trong miêu tả có những đối tượng ngoài việc miêu tả bằng cách quan sáttrên thì cần giúp học sinh quan sát bằng xúc giác, vị giác

Ví dụ: Tác giả Mác-xim Go-rơ-ki quan sát tỉ mỉ, tinh tế từ mái tóc, đôi mắt,giọng nói,…đến cảm giác khi bà cười chân thật, giản dị và gần gũi, đã tạo nên

bà tôi thật ấn tượng, sâu sắc, đầy cảm xúc: “Tóc bà đen và dày kì lạ, phủ kín cả hai vai, xõa xuống ngực, xuống đầu gối…Khi bà mỉm cười, hai con ngươi đen sẫm nở ra, long lanh, dịu hiển khó tả, đôi mắt ánh lên những tia sáng ấm áp, tươi vui…”

Tìm ra được nét riêng biệt, nét tiêu biểu, nét độc đáo của sự vật:

Nhà văn Tô Hoài đã từng nói: “Quan sát giỏi phải thấy ra nét chính, thấyđược tính riêng, móc được những ngóc ngách của sự việc, của vấn đề Nhiều khichẳng cần dàn đủ việc, chỉ chép lại những đặc điểm mà mình cảm nhất, như:một câu nói lột tả tính nết, những dáng người và hình bóng, tiếng động, ánh đèn,nét mặt, một trạng thái tư tưởng do đã khổ công ngắm, nghe, nghĩ mới bật lên

Trang 9

thích thú, hào hứng, không ghi không chịu được”.(Trích “sổ tay viết văn”- NXBtác phẩm mới 1977) Khi quan sát phải có trọng tâm, không phải kiểu quan sátnhặt nhạnh, liệt kê, kể lể một cách khô khan dẫn đến miêu tả rườm rà, sẽ khôngthể làm nổi bật được đối tượng cần miêu tả Ví dụ:

Tả cây ăn quả: chú trọng quan sát quả, quá trình phát triển của quả, hương

vị, hình dáng, màu sắc của quả

Tả cây hoa: tập trung vào tả vẻ đẹp của cây hoa, màu sắc, hương vị củahoa…

Tả cây bóng mát: tập trung tả lá, tán lá, cảm giác mát mẻ dưới vòm lá, sựphát triển qua bốn mùa nhưng chủ yếu mùa lá tốt tươi cho bóng mát

Tả con vật: quan sát những nét tiêu biểu của hình dạng, hoạt động của nó

Tả cảnh: quan sát chi tiết từng bộ phận của cảnh hoặc sự chuyển đổi củacảnh theo thời gian

Tả người: quan sát người đó về hình dạng, tính cách, tính tình

Do đó, tôi luôn xác định, chỉ rõ cho học sinh, quan sát đối tượng miêu tả tậptrung vào việc lựa chọn những hình ảnh, chi tiết, hoạt động đặc sắc, đặc trưngriêng

2.3.2 Tích hợp mở rộng vốn từ cho học sinh:

2.3.2.1.Tích lũy kinh nghiệm, chọn lọc hình ảnh qua các bài tập đọc:

Giáo viên cần giúp học sinh tích lũy vốn từ về tả người, tả cây cối qua cácbài tập đọc hay trong sách giáo khoa Trong quá trình giảng dạy, giáo viên cầnchỉ ra các từ ngữ miêu tả, chọn vài trường hợp đặc sắc để phân tích cái hay, sựsáng tạo của nhà văn khi sử dụng nó

Ví dụ: Trong bài tập đọc: “Bàn tay mẹ”

Cần đi sâu khai thác hình ảnh: “Đôi bàn tay mẹ gầy gầy, xương xương, sờvào thấy ram ráp.”

Hoặc bài: “Bà cụ bán hàng nước chè” Cần đi sâu vào khai thác hình ảnh

đặc sắc như: “Mái tóc cụ trắng hơn cả mớ tóc của các diễn viên tuồng chèo hay

Trang 10

đóng vai các bà cụ nhân đức” Hình ảnh đó đã khắc hoạ nên một bà cụ đẹp lão,hiền hậu và tốt bụng.

2.3.2.2 Mở rộng vốn từ trong môn Luyện từ và câu:

Ở những tiết Luyện từ và câu, giáo viên cho học sinh được mở rộng vốn từqua các tiết dạy về từ cùng nghĩa, trái nghĩa, từ nhiều nghĩa, từ láy, từ ghép,…sau đó lựa chọn chép vào sổ tay

Ví dụ: Cho học sinh làm bài tập sau:

Bài 1: Tìm các từ đồng nghĩa miêu tả:

- Vóc dáng cao lớn của một người (cao cao, cao lớn, lênh khênh, vạm vỡ, )

Trắng hồng, trắng mịn,sạm đen,đen đủi,mịn màng, tai tái, vàng vọt, ngăm ngăm,

Trắng như trứng gà bóc

Đôi mắt Long lanh, đen láy, tròn xoe, hấp háy,

ngơ ngác,

Mắt phượng mày ngài

Khuôn mặt Trái xoan, tròn trĩnh,bầu bĩnh, vuông

chữ điền,hao gầy,…

Giọng nói

Oang oang,nhỏ nhẹ, ấm áp,trầm ấm,thánh thót, lảnh lót,

Ăn to nói lớn

Người khôn nói tiếngnhẹ nhàng dễ nghe.Tính tình Hiền lành, nhân hậu, dịu dàng, đảm

đang,… xấu, dữ dằn,độc ác, thô tục,…

Hiền như bụt

Dữ như cọp

2.3.2.3 Sử dụng một số biện pháp tu từ vào viết văn:

Trang 11

a So sánh: Để giúp các em biết cách chọn hình ảnh so sánh khi viết văn, tôi

cho các em làm các bài tập sau:

+ Đen dài như dòng suối (tả cô giáo, mẹ)

+ Đen óng, mượt như tơ (tả bạn, tả em bé)

+ Như vành trăng khuyết (ngủ)

+ Như hòn bi ve long lanh

Trang 12

+ Mái tóc của mẹ em rất dài.

+ Hàm răng của cô rất trắng

Mục đích của bài tập trên là giúp học sinh viết được những câu văn tả ngoạihình có biện pháp so sánh

Giáo viên hướng dẫn chọn các hình ảnh so sánhđó là: Đôi mắt, mái tóc,hàm răng

Ví dụ:

+ Đôi mắt em bé ngủ giống như vầng trăng khuyết

+ Mái tóc mẹ óng ả như dòng suối mát

+ Hàm răng của cô trắng đều như hàng ngô nếp

Khi đọc lên sẽ thấy câu văn có hình ảnh hơn

b Nhân hoá: Biện pháp này thường được dùng nhiều trong văn tả cảnh để

biến các vật như : mây, gió, trăng, hoa… thành có hồn Song trong văn tả người,

tả cây cối nếu biết dùng nhân hoá thì giá trị tăng lên rất nhiều

Ví dụ: Cho học sinh phân tích để hiểu giá trị của các câu sau:

Ngày đăng: 19/01/2022, 19:28

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 5 tập 1, tập 2 – Nhà xuất bản giáo dục Khác
2. Sách giáo viên Tiếng Việt 5 tập 1, tập 2 – Nhà xuất bản giáo dục Khác
3. Rèn kĩ năng cảm thụ văn học cho học sinh tiểu học – Nhà xuất bản giáo dục Khác
4. Phương pháp dạy học Tiếng Việt – Nhà xuất bản giáo dục Khác
5. Những bài văn mẫu lớp 5 – Nhà xuất bản giáo dục Khác
6. Tài liệu bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt – Nhà xuất bản giáo dục Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w