Hiện nay, hoạt động thanh tra đã được thể chế hoá thành Luật thanh tra 562010QH12 ngày 15112010 có hiệu lực thi hành từ ngày 0172011 thay thế cho Luật thanh tra số 222004QH11 với mục đích là thông qua hoạt động thanh tra phát hiện những sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật để kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền biện pháp khắc phục; phòng ngừa, phát hiện và xử lý hành vi vi phạm pháp luật; giúp cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện đúng quy định của pháp luật; phát huy nhân tố tích cực; góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Kết quả tổng kết việc thi hành Luật Thanh tra và các nghiên cứu khoa học cũng như từ thực tiễn hoạt động của Thanh tra Chính phủ những năm qua cho thấy nhiều khó khăn, vướng mắc trong hoạt động của ngành thanh tra. Qua thời gian công tác tại Phòng Thanh tra – kiểm tra thuộc Cục Hải quan thành phố Hồ Chí Minh và sau khi được đào tạo, bồi dưỡng kiến thức tại Trường Hải quan Việt Nam, tôi chọn đề tài: Giải pháp khắc phục vướng mắc, khó khăn trong hoạt động thanh tra.
Trang 1Cùng với việc thực hiện cải cách thủ tục hành chính, triển khai và tiếp tục triển khai những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh Quốc gia năm 2020 theo nội dung Nghị quyết số 19/NQ-CP ngày 18/3/2014 và 02/NQ-CP ngày 01/01/2020 của Chính phủ, Đảng và Nhà nước
ta rất quan tâm đến công tác thanh tra
Hiện nay, hoạt động thanh tra đã được thể chế hoá thành Luật thanh tra 56/2010/QH12 ngày 15/11/2010 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2011 thay thế cho Luật thanh tra số 22/2004/QH11 với mục đích là thông qua hoạt động thanh tra phát hiện những sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật để kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền biện pháp khắc phục; phòng ngừa, phát hiện và xử lý hành vi vi phạm pháp luật; giúp cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện đúng quy định của pháp luật; phát huy nhân tố tích cực; góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của
cơ quan, tổ chức, cá nhân
Kết quả tổng kết việc thi hành Luật Thanh tra và các nghiên cứu khoa học cũng như từ thực tiễn hoạt động của Thanh tra Chính phủ những năm qua cho thấy nhiều khó khăn, vướng mắc trong hoạt động của ngành thanh tra
Qua thời gian công tác tại Phòng Thanh tra – kiểm tra thuộc Cục Hải quan thành phố Hồ Chí Minh và sau khi được đào tạo, bồi dưỡng kiến thức tại Trường
Hải quan Việt Nam, tôi chọn đề tài: Giải pháp khắc phục vướng mắc, khó khăn trong hoạt động thanh tra.
Tôi viết đề tài này nhằm mục đích nhận thức, đánh giá những vướng mắc, bất cập giữa thực tế và quy định của pháp luật trong thực tiễn hoạt động thanh tra
để đề ra những giải pháp, kiến nghị giúp cải thiện và nâng cao hiệu quả trong công tác, hoàn thành nhiệm vụ tốt nhiệm vụ đuợc giao
Do trình độ nghiệp vụ còn hạn chế, kinh nghiệm công tác chưa nhiều nên trong bài thu hoạch khó tránh khỏi những thiếu sót, rất mong Quý Thầy - Cô đóng góp ý kiến để kỹ năng giải quyết vấn đề của tôi ngày càng hoàn thiện hơn
Trang 21 Một số khó khăn, vướng mắc trong hoạt động thanh tra
Hoạt động thanh tra theo quy định của Luật thanh tra 56/2010/QH12 đã bộc
lộ một số hạn chế, vướng mắc sau:
1.1 Quy định về xây dựng định hướng chương trình, kế hoạch thanh tra hàng năm; Thời hạn trong hoạt động thanh tra; Hình thức thanh tra
- Về định hướng, chương trình, kế hoạch thanh tra hàng năm:
Thứ nhất, việc xây dựng, trình phê duyệt và ban hành kế hoạch thanh tra hàng năm khó đảm bảo thời hạn quy định Điều 36 Luật Thanh tra, Điều 39 Nghị định số 07/2012/NĐ-CP ngày 09/02/2012 quy định về cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành và hoạt động thanh tra chuyên ngành; Thông tư số 01/2014/TT-TTCP ngày 01/7/2014 quy định việc xây dựng, phê duyệt định hướng chương trình thanh tra, kế hoạch thanh tra có quy định về các mốc thời gian xây dựng, trình phê duyệt và ban hành kế hoạch thanh tra với từng cấp là khác nhau Theo các quy định này, chậm nhất 30/10 hàng năm, Thủ tướng Chính phủ có trách nhiệm xem xét, phê duyệt định hướng, chương trình thanh tra Sau khi Thủ tướng Chính phủ phê duyệt định hướng, chương trình thanh tra, trong thời gian 05 ngày, Tổng Thanh tra Chính phủ ban hành văn bản hướng dẫn thanh tra bộ, thanh tra tỉnh lập kế hoạch thanh tra trình Thủ trưởng cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt Chậm nhất vào ngày 15/11 hằng năm, Chánh thanh tra bộ, thủ trưởng cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành thuộc bộ, Chánh thanh tra tỉnh căn
cứ vào định hướng, chương trình thanh tra, hướng dẫn của Tổng Thanh tra Chính phủ và yêu cầu công tác quản lý của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trình thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp phê duyệt kế hoạch thanh tra… Tuy nhiên, thực tiễn thi hành cho thấy, dự thảo định hướng chương trình thanh tra hoàn thành và gửi Thủ tướng Chính phủ trước ngày 15/10 hàng năm nhưng phải chờ thời gian để Văn phòng Chính phủ thẩm định và làm thủ tục trình Thủ tướng Chính phủ đồng ý, do vậy việc ban hành văn bản hướng dẫn của Thanh tra Chính phủ đối với thanh tra bộ, thanh tra tỉnh xây dựng kế hoạch thanh tra khá gấp và chậm dẫn đến việc xây dựng
kế hoạch thanh tra hằng năm của bộ, ngành, địa phương bị ảnh hưởng Bên cạnh đó, với các quy định trên, khoảng thời gian để xây dựng và trình cấp có thẩm quyền phê
Trang 3duyệt kế hoạch thanh tra là quá ngắn (chỉ từ 10 đến 15 ngày) là không đủ thời gian, điều kiện để thu thập thông tin, tài liệu, nắm tình hình khảo sát để xây dựng kế hoạch thanh tra và trình cấp có thẩm quyền phê duyệt Đồng thời, việc khảo sát, nắm tình hình phụ thuộc vào công tác phối hợp và tiến độ phản hồi, cung cấp thông tin, tài liệu, hồ sơ của các cơ quan, tổ chức, đơn vị khảo sát, dự kiến thanh tra, do vậy với các mốc thời gian trên nên các bộ, ngành, địa phương khó đảm bảo đúng quy định về thời hạn ban hành kế hoạch thanh tra
Thứ hai, việc xây dựng, ban hành kế hoạch thanh tra có tình trạng trùng lắp, chồng chéo giữa cơ quan thanh tra với Kiểm toán Nhà nước cụ thể trong hoạt động thanh tra về ngân sách, tài chính và sử dụng vốn đầu tư công Nguyên nhân của tình trạng trên do chưa có quy định để xử lý chồng chéo giữa kế hoạch thanh tra và kế hoạch kiểm toán Bên cạnh đó, sự chồng chéo trong hoạt động thanh tra cũng xuất phát từ việc Luật Thanh tra chưa đưa ra quy định thanh tra sở khi xây dựng kế hoạch thanh tra phải căn cứ vào định hướng chương trình của thanh tra bộ; chưa quy định kế hoạch thanh tra của thanh tra sở sau khi được phê duyệt phải gửi cho thanh tra bộ để có sự điều chỉnh kịp thời, nếu có chồng chéo, trùng lắp; chưa có quy định điều chỉnh xử lý chồng chéo giữa kế hoạch thanh tra của Thanh tra Chính phủ
và thanh tra sở, ngành; chưa có quy định về xử lý chồng chéo trong trường hợp trùng lắp về đối tượng thanh tra, nội dung thanh tra nhưng bị điều chỉnh bởi kế hoạch thanh tra ở hai năm liền kề nhau
Thứ ba, kế hoạch thanh tra hàng năm được xây dựng và phê duyệt từ cuối
năm trước phải có đối tượng thanh tra cụ thể Quy định này chỉ phù hợp với thanh tra hành chính mà không phù hợp với thanh tra chuyên ngành, bởi lẽ hoạt động thanh tra chuyên ngành phải được tiến hành thường xuyên, gắn liền với việc thực hiện nhiệm vụ về chuyên môn, kỹ thuật, nghiệp vụ; phát hiện, ngăn chặn, xử lý kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật
- Về thời hạn trong hoạt động thanh tra:
Các thời hạn trong hoạt động thanh ra đều quy định chung là “ngày” Tuy nhiên thực tiễn thi hành ở các đoàn thanh tra của các bộ, ngành, địa phương không thống nhất, có nơi áp dụng là “ngày làm việc”, có nơi áp dụng là “ngày liên tiếp
Trang 4theo lịch” nên thời gian thanh tra thực tế tại đơn vị của một số đoàn thanh tra chưa thống nhất Ngoài ra, theo điểm c, khoản 1, Điều 35 Luật Thanh tra thì cuộc thanh tra do thanh tra huyện, thanh tra sở tiến hành không quá 30 ngày, ở miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa đi lại khó khăn thì thời hạn thanh tra có thể kéo dài, nhưng không quá 45 ngày Như vậy, Luật Thanh tra không quy định kéo dài, gia hạn đối với cuộc thanh tra do thanh tra huyện, thanh tra sở tiến hành nhưng có tính chất phức tạp Quy định này dẫn đến khó khăn trong thực tiễn thi hành đối với cấp sở, huyện
Về hình thức thanh tra:
Theo quy định tại Điều 37 Luật Thanh tra có 3 hình thức thanh tra gồm: thanh tra theo kế hoạch, thanh tra thường xuyên và thanh tra đột xuất Tuy nhiên, hiện nay chưa có hướng dẫn cụ thể về hình thức thanh tra thường xuyên, dẫn đến trong 09 năm thi hành Luật Thanh tra, các bộ, ngành, địa phương đều chưa thực hiện hình thức thanh tra này Đối với thanh tra đột xuất, theo quy định, thanh tra đột xuất được tiến hành khi phát hiện cơ quan, tổ chức, cá nhân có dấu hiệu vi phạm pháp luật; theo yêu cầu của việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng chống tham nhũng hoặc do thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền giao Tuy nhiên, quy định của pháp luật về thanh tra hiện nay chưa đưa ra quy định cụ thể tính chất, mức độ vi phạm pháp luật làm căn cứ tiến hành thanh tra; chưa xác định được rõ các yêu cầu, nhiệm vụ của việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống tham nhũng Ngoài ra, pháp luật về thanh tra cũng chưa quy định, hướng dẫn đối với thanh tra chuyên đề, thanh tra diện rộng nên trong thực tiễn thi hành còn gặp khó khăn, vướng mắc
Ngoài ra, đối với hoạt động thanh tra liên ngành, Luật Thanh tra chưa có quy định, hướng dẫn về hoạt động thanh tra này Hoạt động thanh tra liên ngành được đề cập, tại khoản 3, Điều 19; khoản 4, Điều 20 và khoản 1, Điều 21 Nghị định số 86/2011/NĐ-CP ngày 22/9/2011 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thanh tra Tuy nhiên, các quy định này còn rất mờ nhạt, chưa quy định cụ thể về vai trò, trách nhiệm của thành viên của các cơ quan được
cử tham gia đoàn thanh tra liên ngành Quá trình kết luận về nội dung liên quan đến ngành, lĩnh vực, xây dựng báo cáo kết quả thanh tra, dự thảo kết luận thanh tra chưa
Trang 5có quy định bắt buộc phải lấy ý kiến tham gia của các cơ quan cử thành viên Do vậy, vai trò, trách nhiệm của cơ quan quản lý ngành, lĩnh vực tham gia đoàn liên ngành chưa phát huy đúng mức, dẫn đến nhiều trường hợp, kết quả cuộc thanh tra liên ngành không có nhiều sự khác biệt với một cuộc thanh tra thông thường Ngoài
ra, pháp luật về thanh tra chỉ quy định hoạt động thanh tra hành chính mới thành lập đoàn thanh tra liên ngành, trong khi thực tiễn hoạt động thanh tra chuyên ngành của các ngành, lĩnh vực thường xuyên được thành lập đoàn liên ngành để cùng thực hiện chức năng thanh tra đối với cùng đối tượng thanh tra
1.2 Trình tự, thủ tục tiến hành thanh tra hành chính, thanh tra chuyên ngành Luật Thanh tra và các văn bản hướng dẫn thi hành đã quy định về trình tự, thủ tục áp dụng cho thanh tra hành chính, thanh tra chuyên ngành Tuy nhiên, mỗi ngành, mỗi lĩnh vực có những đặc thù riêng, phạm vi và quy mô của cuộc thanh tra
ở mỗi cấp, mỗi ngành là khác nhau nên khó có thể áp dụng trình tự, thủ tục chung theo quy định Quy định về trình tự, thủ tục hoạt động thanh tra chuyên ngành chưa phù hợp với thực tế đa dạng, chuyên sâu của hoạt động thanh tra chuyên ngành, cụ thể:
- Trong một số hoạt động thanh tra chuyên ngành, quy định về việc gửi quyết định thanh tra đến đối tượng thanh tra trước khi tiến hành thanh tra tại Khoản 5, Điều 36 Luật Thanh tra có thể khiến đối tượng thanh tra xóa dấu vết vi phạm, gây khó khăn cho hoạt động thanh tra Quy định này cũng không phù hợp với đặc điểm của ngành, địa phương trong trường hợp kế hoạch thanh tra chỉ xác định được đối tượng thanh tra theo diện rộng, theo địa bàn, nhóm đối tượng thanh tra mà không thể xác định được đích danh đối tượng thanh tra trong kế hoạch thanh tra (ví dụ: thanh tra vệ sinh thực phẩm, dược phẩm, cơ sở y tế ) Bên cạnh đó, Luật Thanh tra quy định trong thời hạn 15 ngày, quyết định thanh tra phải được công bố cho đối tượng thanh tra và phải được lập biên bản, nhưng qua thực tế khi thực hiện gặp nhiều khó khăn, như một cuộc thanh tra có nhiều đối tượng thanh tra và nằm ở các địa bàn rộng, các đơn vị hành chính lại xa trung tâm, đặc biệt đối với miền núi, biên giới đi lại khó khăn, không thể triệu tập tất cả các đối tượng thanh tra để công bố quyết định thanh tra gây khó khăn, phiền hà, tốn kém về kinh phí, phương tiện đi lại
Trang 6của đối tượng thanh tra Ngoài ra, quy định về việc công bố quyết định thanh tra trước khi thanh tra đột xuất cũng gây nên những trở ngại tương tự, nhất là trong lĩnh vực an toàn thực phẩm, y tế, dược phẩm, môi trường ngành nghề kinh doanh nhạy cảm Hơn nữa, quy định việc công bố quyết định thanh tra phải được lập biên bản cũng tạo thêm thủ tục rườm rà đối với mỗi cuộc thanh tra diễn ra trong thời gian quá ngắn Thời gian tiến hành một cuộc thanh tra chuyên ngành diễn ra nhanh, đối với nhiều lĩnh vực thì thời gian thanh tra tại đơn vị thường rất ngắn (có thể chỉ 01 buổi),
do đó thủ tục tiến hành công bố quyết định thanh tra là không cần thiết phải lập thành biên bản công bố riêng
- Việc ghi nhật ký đoàn thanh tra cũng cần được quy định theo hướng ngắn gọn, tinh giản, giảm bớt thủ tục hành chính Đoàn thanh tra thường chia thành các
tổ, nhóm làm việc độc lập, trong khi đó sổ nhật ký chỉ có một và do Trưởng đoàn thanh tra quản lý nên việc ghi sổ nhật ký cũng gặp khó khăn, làm mất nhiều thời gian của Trưởng đoàn thanh tra
- Việc quy định công khai kết luận thanh tra chưa phù hợp với đoàn thanh tra chuyên ngành; thiếu linh hoạt, không phù hợp với một số ngành như ngành ngân hàng, việc thông tin cụ thể về kết luận thanh tra có thể gây ra các rủi ro về thị trường tín dụng, ảnh hưởng đến xã hội
- Việc giao thanh tra viên tiến hành độc lập chưa có hướng dẫn cụ thể, như: chưa có quy định về trình tự, cách thức thực hiện thanh tra độc lập, giám sát hoạt động của công chức thanh tra chuyên ngành độc lập nên chưa có sự thống nhất thực hiện phương thức thanh tra này trong hoạt động thanh tra chuyên ngành
- Các văn bản hướng dẫn Luật Thanh tra chưa có quy định về mẫu văn bản hướng dẫn cụ thể về thanh tra, kiểm tra chuyên ngành, do đó cần rà soát và ban hành mẫu văn bản để đảm bảo tính thống nhất
- Các văn bản hướng dẫn Luật Thanh tra chưa có quy định cụ thể về địa điểm thanh tra nên có khó khăn, vướng mắc trong thực hiện
- Việc xây dựng báo cáo kết quả thanh tra và ban hành kết luận thanh tra khó
có thể thực hiện đúng theo quy định tại Điều 49, Điều 50 Luật Thanh tra Luật Thanh tra quy định thời gian xây dựng báo cáo và kết luận thanh tra tối đa 30 ngày
Trang 7áp dụng cho tất cả các cơ quan thanh tra, trong khi đó, thời hạn tiến hành thanh tra ở mỗi cấp thanh tra là khác nhau Trên thực tế, sau khi kết thúc thanh tra, đoàn thanh tra phải có nhiều thời gian để đối chiếu quy định, xây dựng báo cáo kết quả thanh tra, báo cáo người ra quyết định thanh tra, xây dựng dự thảo kết luận thanh tra, lấy ý kiến của các cơ quan chức năng, ý kiến giải trình của đối tượng thanh tra để hoàn thiện dự thảo kết luận thanh tra Người ký kết luận thanh tra cũng cần có thời gian
để nghiên cứu, cân nhắc các khía cạnh khác nhau, do đó, thời hạn 30 ngày là chưa phù hợp với thực tế, thiếu khả thi, nhất là các cuộc thanh tra do Thanh tra Chính phủ, thanh tra bộ tiến hành và đặc biệt là các cuộc thanh tra liên ngành, cuộc thanh tra có quy mô lớn và tính chất phức tạp thường phải xin ý kiến của các cơ quan chuyên môn, xin ý kiến của Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước
1.3 Việc thực hiện các quyền trong hoạt động thanh tra
Nhiệm vụ, quyền hạn của trưởng đoàn thanh tra, thành viên đoàn thanh tra, người ra quyết định thanh tra đã được quy định cụ thể trong Luật Thanh tra, tạo thuận lợi, đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ thanh tra Tuy nhiên, một số quyền khó thực hiện trong thực tế Theo đó:
- Quyền yêu cầu cung cấp thông tin, tài liệu được quy định tại Điều 46, Điều
47 và Điều 48 Luật Thanh tra Tuy nhiên, việc thực hiện quy định này trên thực tế vẫn tồn tại một số hạn chế nhất định, có không ít trường hợp đối tượng thanh tra cố tình tìm lý do để không cung cấp hoặc cung cấp không đầy đủ, cung cấp không kịp thời làm ảnh hưởng đến tiến độ, chất lượng thanh tra Nguyên nhân là do chưa có quy định chế tài cụ thể để xử lý các hành vi vi phạm liên quan đến nội dung này
- Quyền trưng cầu giám định: Điều 48 Luật Thanh tra quy định người ra quyết định thanh tra có quyền trưng cầu giám định về vấn đề liên quan nội dung thanh tra Kinh phí trưng cầu giám định do cơ quan tiến hành thanh tra chi trả, trường hợp đối tượng thanh tra có sai phạm thì kinh phí giám định sẽ do đối tượng thanh tra chi trả, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác Việc quy định này gây khó khăn cho cơ quan thanh tra, bởi vì chi phí cho giám định thường rất cao
- Quyền yêu cầu người có thẩm quyền tạm giữ tiền, đồ vật, giấy phép sử dụng trái pháp luật đã được quy định tại Điều 48 Luật Thanh tra và Điều 40 Nghị định
Trang 886/2011/NĐ-CP ngày 22/9/2011 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thanh tra Tuy nhiên, pháp luật chưa quy định khi nào thì phải ngăn chặn ngay việc vi phạm pháp luật; chưa quy định cụ thể về thủ tục yêu cầu tạm giữ; đồ vật, tài sản bị hư hỏng, mất mát trong quá trình tạm giữ Do đó, việc thực hiện quyền này trong quá trình thanh tra cũng khó thực hiện
- Quyền yêu cầu tổ chức tín dụng nơi đối tượng thanh tra có tài khoản phong tỏa tài khoản: Việc phong tỏa tài khoản của đối tượng thanh tra được hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 07/2015/TTLT-TTCP-NHNN ngày 25/11/2015 của Thanh tra Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam nhưng trên thực tế rất khó thực hiện, bởi lẽ đây là một quyền năng rất lớn nhưng cũng rất nhạy cảm, phức tạp việc thực hiện sẽ có thể ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động của đối tượng thanh tra, đặc biệt là đối với doanh nghiệp
1.4 Hoạt động giám sát đoàn thanh tra; việc tổ chức thẩm định dự thảo Kết luận thanh tra
- Hoạt động giám sát đoàn thanh tra có mục đích sẽ giúp đoàn thanh tra chấp hành tốt hơn quy chế hoạt động của Đoàn, đảm bảo thực hiện đúng trình tự, thủ tục tiến hành thanh tra Tuy nhiên, quá trình áp dụng quy định giám sát hiện nay gặp khó khăn do số lượng biên chế của cơ quan thanh tra hạn chế, trong khi cùng thời điểm phải tổ chức nhiều đoàn thanh tra, dẫn đến không có người để tổ chức giám sát Thực tế, hoạt động giám sát chỉ thực hiện chủ yếu qua báo cáo của đoàn thanh tra, do vậy không đảm bảo tính khách quan, chính xác Ngoài ra, pháp luật về thanh tra mới chỉ quy định nội dung giám sát, chưa quy định cụ thể về trình tự, thủ tục tiến hành giám sát Thực tiễn cho thấy, quy định về giám sát hoạt động đoàn thanh tra chỉ phù hợp với Thanh tra Chính phủ, thanh tra bộ, không phù hợp với Thanh tra tỉnh, Thanh tra huyện, thanh tra sở, cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành và đoàn thanh tra chuyên ngành
- Việc thẩm định dự thảo kết luận thanh tra nhằm chỉ ra những điểm bất hợp
lý, đưa ra những đề xuất, kiến nghị có cơ sở pháp lý vững chắc, giúp người ra quyết định thanh tra ban hành kết luận thanh tra chính xác, khách quan, đúng pháp luật Tuy nhiên, hiện nay, chưa có quy định cụ thể về tổ chức thẩm định và quy trình
Trang 9thẩm định dự thảo Kết luận thanh tra; chưa có quy định hướng dẫn việc xử lý trong trường hợp ý kiến thẩm định khác với các nội dung kết luận thanh tra Bên cạnh đó, trên thực tế, một số kết luận thanh tra phải điều chỉnh nội dung sau khi được ban hành, song hiện nay, chưa có quy định cụ thể về căn cứ, thẩm quyền cũng như hình thức, thể thức ban hành nên việc ra văn bản điều chỉnh nội dung kết luận thanh tra đang gặp vướng mắc, lúng túng, mỗi nơi có những cách làm khác nhau
1.5 Quyền, nghĩa vụ của đối tượng thanh tra
Luật Thanh tra quy định về quyền và nghĩa vụ của đối tượng thanh tra nhằm tăng cường tính minh bạch và trách nhiệm thực thi pháp luật trong hoạt động thanh tra Tuy nhiên, pháp luật thanh tra chưa có quy định chế tài xử lý khi đối tượng thanh tra không thực hiện nghĩa vụ hoặc thực hiện không đầy đủ theo quy định pháp luật, do vậy, việc yêu cầu các đối tượng thanh tra thực hiện nghĩa vụ hiện nay còn gặp nhiều khó khăn
2 Nguyên nhân tồn tại những vướng mắc, khó khăn
2.1Nguyên nhân khách quan:
- Hệ thống văn bản pháp luật về thanh tra còn chưa đầy đủ, chưa cụ thể Đến nay, nhiều quy định về quyền thanh tra còn mang tính nguyên tắc; một số quyền còn thiếu trình tự, thủ tục thực hiện Chẳng hạn như thiếu quy định nghiệp vụ về phương pháp xác định hành vi vi phạm trong hoạt động thanh tra Đặc biệt, pháp luật về thanh tra còn thiếu các chế tài xử lý đối với các hành vi vi phạm, do đó chưa phát huy được một cách hiệu quả các quyền trong hoạt động thanh tra
- Cơ chế vận hành nền hành chính vẫn còn thiếu thống nhất Nó thể hiện tính độc lập tương đối của cơ quan thanh tra còn rất hạn chế; còn bị phụ thuộc nhiều vào Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền chung Thanh tra là một chức năng của quản lý hành chính, chỉ là một biện pháp của quản lý hành chính, nhưng vì không có tính độc lập nên ít nhiều ảnh hưởng đến hiệu quả, hiệu lực thanh tra
2.2 Nguyên nhân chủ quan:
- Nguyên nhân thuộc về nhận thức: Nhận thức về công tác thanh tra nói chung và việc thực hiện quyền trong hoạt động thanh tra nói riêng của xã hội chưa
Trang 10đúng mức Bởi một lý do cơ bản sau: các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, người đứng đầu các cơ quan đó còn thiếu quyết tâm chính trị trong việc xử lý đối với những người vi phạm pháp luật thanh tra, nhất là đối với đối tượng thanh tra
- Nguyên nhân thuộc về cơ quan thanh tra, các chủ thể tiến hành hoạt động thanh tra:
+ Sự chỉ đạo, điều hành của Thủ trưởng cơ quan Thanh tra, Thủ trưởng cơ quan hành chính nhà nước đối với hoạt động thanh tra nhiều khi chưa cương quyết, chưa triệt để
+ Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kinh nghiệm và trách nhiệm của Trưởng đoàn thanh tra và thành viên Đoàn thanh tra còn chưa tương xứng với yêu cầu, nhiệm vụ nên khi đưa các kết luận còn thiếu cơ sở, kiến nghị chưa phù hợp
+ Công tác tổ chức, rút kinh nghiệm sau khi kết thúc cuộc thanh tra chưa làm được thường xuyên hoặc có làm nhưng còn mang tính hình thức, chưa sâu sắc, cụ thể
+ Việc kiểm tra, giám sát của Người ra quyết định thanh tra và việc kiểm tra,
xử lý sau thanh tra còn yếu
+ Công tác tổ chức, đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ về thanh tra còn chưa theo kịp với yêu cầu, thể hiện qua một số đánh giá cụ thể: tài liệu giáo trình còn chưa chuẩn xác, việc tổ chức đào tạo, phương pháp giảng dạy về nghiệp vụ thanh tra nói chung và thực hiện quyền trong hoạt động thanh tra nói riêng chưa phù hợp với đối tượng và yêu cầu đào tạo, bồi dưỡng dẫn đến chất lượng giảng dạy chưa tốt
- Cán bộ làm công tác tham mưu xây dựng, ban hành văn bản pháp luật còn hạn chế, thiếu kinh nghiệm thực tế
3 Những ảnh hưởng, tác hại của vướng mắc khó khăn
Với mục tiêu cải cách thủ tục hành chính là khâu đột phá, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp, phục vụ nhân dân được tốt hơn Nhưng nếu để phát sinh và tồn những vướng mắc, bất cập trong trong công tác thanh tra là tạo điều kiện cho những đối tượng xấu lợi dụng những sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật, sự thông thoáng trong quản lý hành chính Nhà nước gây bất công bằng xã hội