Phong trào còn biểu thị sự thống nhất hành động giữa giai cấpcông nhân và các tầng lớp nhân dân lao động khác ở thành thị, trong đó công nhân ở các ĐTMN luôn là lực lượng nòng cốt, dẫn đ
Trang 1ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN THỊ THANH HUYỀN
PHONG TRÀO CÔNG NHÂN Ở CÁC ĐÔ THỊ MIỀN NAM VIỆT NAM TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG
Trang 2Công trình được hoàn thành tại trường Đại học Sư phạm Huế
Luận án sẽ được bảo vệ tại Hội đồng chấm Luận án
cấp Đại học Huế tại:
Vào hồi giờ ngày tháng năm 2016
Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện: Đại học Sư phạm
Huế, Đại học Huế
Trang 5MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong dòng chảy lịch sử Việt Nam hiện đại, phong trào công nhân ởcác đô thị miền Nam (ĐTMN) (1954-1975) là bộ phận của phong tràoĐTMN, của phong trào cách mạng Việt Nam, góp phần quan trọng trong
sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước
Phong trào công nhân ở các ĐTMN từ năm 1954 đến năm 1965diễn ra liên tục, sôi nổi và quyết liệt, thu hút hầu hết công nhân cácngành tham gia như công nhân hỏa xa, công nhân thủy điện, côngnhân bến tàu, công nhân ngành dệt, công nhân taxi, công nhân xăngdầu, công nhân Savon, công nhân vô tuyến viễn thông, Mặc dầu, bị
Mỹ và chính quyền Sài Gòn (CQSG) dùng mọi âm mưu, thủ đoạn đểkìm kẹp, khủng bố và đàn áp quyết liệt nhưng phong trào công nhân ởcác ĐTMN vẫn luôn được giữ vững và tiếp tục phát triển theo hướng
đi lên của cách mạng miền Nam Phong trào công nhân ở các ĐTMN
là một trong những nét đặc sắc của tiến trình lịch sử đấu tranh giữnước của dân tộc ta, ghi dấu ấn quan trọng trong lịch sử Việt Nam hiệnđại Phong trào đã chứng minh tinh thần yêu nước và tinh thần đấutranh cách mạng của giai cấp công nhân Việt Nam
Phong trào còn biểu thị sự thống nhất hành động giữa giai cấpcông nhân và các tầng lớp nhân dân lao động khác ở thành thị, trong
đó công nhân ở các ĐTMN luôn là lực lượng nòng cốt, dẫn đầu và cótác dụng cổ vũ đồng bào đô thị cũng như nông thôn trong cuộc đấutranh chung vì sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.Cùng với phong trào của các tầng lớp nhân dân ĐTMN, phong tràocông nhân ở các ĐTMN đã giáng những đòn mạnh mẽ vào hậu cứ antoàn của Mỹ, và CQSG Sự tiến công ở thành thị, nòng cốt là phongtrào công nhân, có tác dụng từng bước phá lỏng thế kìm kẹp của địch
ở đô thị, cô lập địch về chính trị, làm cho hậu phương của địch trở nênrối loạn, đẩy Mỹ và CQSG từng bước rơi vào tình trạng khủng khoảngnghiêm trọng Phong trào công nhân ở các ĐTMN góp phần tạo nênmột thế trận mới, biến các đô thị bị địch tạm chiếm thành tiền phươngcủa phong trào cách mạng miền Nam, thuận lợi cho việc xây dựng lựclượng cách mạng ở nội đô, tạo điều kiện tiến đến giải phóng các đô thị,giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước (30-4-1975).Tuy nhiên, cho tới nay, ngoài phong trào công nhân cao su miềnNam đã được nghiên cứu khá đầy đủ, có tính hệ thống, còn lại một
Trang 6mảng trống phong trào công nhân ở các ĐTMN Việt Nam 1975) vẫn chưa được giới sử học Việt Nam quan tâm nghiên cứu Vìvậy, việc tiến hành nghiên cứu phong trào công nhân ở các ĐTMN(1954-1975), trước hết là giai đoạn từ sau Hiệp định Genève (21-7-
(1954-1954) đến thời điểm cuộc “Chiến tranh đặc biệt” của Mỹ bị phá sản ở
miền Nam (6-1965) là rất cần thiết, vừa có ý nghĩa khoa học, vừa có ý
nghĩa thực tiễn Với lý do đó, chúng tôi chọn đề tài: “Phong trào công
nhân ở các đô thị miền Nam Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ từ năm 1954 đến năm 1965” làm đề tài nghiên cứu cho luận án Tiến sĩ,
chuyên ngành Lịch sử Việt Nam.
Về ý nghĩa khoa học, luận án góp phần làm rõ hơn, đầy đủ hơn vềcác giai đoạn lịch sử hết sức vẻ vang của dân tộc trong sự nghiệp giảiphóng miền Nam, thống nhất đất nước; về bản chất của CQSG do Mỹđiều khiển trong tham vọng tiêu diệt phong trào kháng chiến của nhândân miền Nam; về những chủ trương của Đảng các cấp trong việc lãnhđạo phong trào công nhân ở các ĐTMN; về tính đúng đắn và sáng tạo
của Đảng với phương châm đấu tranh “hai chân, ba mũi”, “ba mũi
giáp công”, “ba vùng chiến lược” trong kháng chiến chống Mỹ, cứu
nước (1954-1975); hiểu được bản chất của phong trào công nhân ở các
ĐTMN, một phong trào diễn ra trong điều kiện chiến tranh giải phóngdân tộc, thông qua đó thấy được tính đa dạng, phong phú về hình thức
và biện pháp đấu tranh của phong trào; về những kết quả đạt được củaphong trào trên các lĩnh vực dân sinh, dân chủ; hiểu hơn về phong tràocông nhân ở từng ngành, sự phối hợp chung của công nhân trong toànngành, cũng như sự liên kết giữa phong trào công nhân ở các ĐTMNvới phong trào đấu tranh của các tầng lớp nhân dân
Về ý nghĩa thực tiễn, hiện nay trong sự nghiệp đổi mới đất nước doĐảng khởi xướng, trong đó công nghiệp hóa, hiện đại hóa giữ vị trí thenchốt Vì vậy, luận án góp thêm một số kinh nghiệm cho các nhà chính trị -
xã hội vận dụng vào việc hoạch định những chính sách đối với công nhân.Mặt khác, luận án góp phần nâng cao niềm tự hào cho giai cấp công nhân,giáo dục lịch sử truyền thống cách mạng cho công nhân để họ làm tốtnhiệm vụ bảo vệ thành quả cách mạng và xây dựng đất nước theo đườnglối đổi mới của Đảng mà nhân dân ta đang thực hiện Luận án góp phần
bổ sung tư liệu về phong trào công nhân miền Nam trong cuộc khángchiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975) Mặt khác, kết quả của luận án cóthể sử dụng làm tài liệu cho giáo viên, sinh viên, học sinh trong các trườngđại học, cao đẳng, trung học phổ thông vận dụng nghiên cứu và
Trang 7giảng dạy lịch sử dân tộc và lịch sử địa phương; góp phần vào việcbiên soạn lịch sử công nhân Việt Nam nói chung, công nhân đô thịtrong kháng chiến chống Mỹ (1954-1975) nói riêng.
2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN
CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng của luận án là phong trào công nhân ở các ĐTMN trong
kháng chiến chống Mỹ từ năm 1954 đến năm 1965, trong đó tập trungnghiên cứu mục tiêu, diễn biến, hình thức, biện pháp, kết quả các cuộcđấu tranh của công nhân ở các ĐTMN cũng như làm rõ tính chất, đặcđiểm và ý nghĩa của phong trào công nhân ở các ĐTMN từ năm 1954đến năm 1965 Để làm rõ những nội dung này, luận án chú ý đến việctrình bày, phân tích cơ cấu, đội ngũ, đời sống công nhân ở các ĐTMNdưới chế độ Mỹ và CQSG
2.2 Phạm vi nghiên cứu
Về không gian, luận án nghiên cứu phong trào công nhân ở các
ĐTMN (1954-1965) Miền Nam ở đây được hiểu theo nghĩa là haimiền Nam Bắc theo quy định Hiệp định Genève năm 1954 Tuy nhiên,luận án chỉ tập trung nghiên cứu phong trào công nhân ở các đô thị lớnnhư Sài Gòn, Biên Hòa, Nha Trang, Đà Nẵng, Huế, đây là những đôthị tiêu biểu - nơi tập trung đông đảo công nhân và diễn ra những cuộcđấu tranh điển hình
Về thời gian, luận án giới hạn từ năm 1954 đến năm 1965, cụ thể
là từ khi Hiệp định Genève (21-7-1954) được ký kết đến thời điểm
cuộc “Chiến tranh đặc biệt” của Mỹ bị phá sản với chiến thắng Ba
Gia ở Quảng Ngãi (6-1965) Những vấn đề trình bày trong luận ánđược sắp xếp theo quá trình phát triển lịch sử, thể hiện tính liên tục từnăm 1954 đến năm 1965
3 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận án là tái hiện bức tranh lịch sử về phong tràocông nhân ở các ĐTMN trong kháng chiến chống Mỹ từ năm 1954đến năm 1965 một cách có hệ thống Kết quả nghiên cứu của luận ángóp phần cung cấp những luận cứ cho các nhà chính trị - xã hội trongviệc hoạch định chính sách đối với công nhân hiện nay
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Một là, làm rõ những chính sách của Mỹ và CQSG, đời sống
công nhân ở các ĐTMN từ năm 1954 đến năm 1965, từ đó lý giảinguồn gốc của phong trào
Trang 8Hai là, trình bày và phân tích những chủ trương của Đảng các cấp
đối với công nhân ở các ĐTMN Quá trình đấu tranh, mục tiêu, hìnhthức và biện pháp của phong trào công nhân ở các ĐTMN qua các giaiđoạn: 1954-1960, 1961-1965
Ba là, phân tích, làm rõ một số tính chất, đặc điểm và ý nghĩa lịch sử
của phong trào công nhân ở các ĐTMN từ năm 1954 đến năm 1965
4 NGUỒN TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4.1 Nguồn tài liệu
Luận án chủ yếu được xây dựng trên cơ sở các nguồn tài liệu sau đây:
- Các văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam, các tác phẩm củacác đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước Việt Nam viết về cách mạnggiải phóng dân tộc, về cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, về côngnhân và phong trào công nhân
- Các công trình nghiên cứu về cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứunước của Viện Sử học, Viện Lịch sử Đảng, Viện Lịch sử quân sự vàcác chuyên khảo của tập thể các nhà nghiên cứu hoặc riêng từng nhànghiên cứu
- Các tài liệu lưu trữ liên quan tới cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứunước và phong trào công nhân miền Nam hiện đang lưu trữ tại Trung tâmLưu trữ (TTLT) Quốc gia II tại thành phố Hồ Chí Minh (TPHCM), TTLTcủa các thành phố Biên Hòa, Nha Trang, Đà Nẵng, Huế
- Luận án cũng chú ý tham khảo các công trình luận án Tiến sĩ,luận văn Thạc sĩ và những bài viết trên các tạp chí có nội dung liênquan đến đề tài
- Bên cạnh đó, luận án còn sử dụng một số tư liệu thu thập được
từ việc khảo sát thực địa và phỏng vấn nhân chứng
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tưtưởng Hồ Chí Minh, luận án sử dụng phương pháp lịch sử kết hợp vớiphương pháp logic là chủ yếu Bên cạnh đó, luận án còn sử dụng cácphương pháp thống kê, so sánh, phân tích trên cơ sở khảo cứu cácnguồn tài liệu văn bản Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng phương phápliên ngành, kế thừa thành quả của các bộ môn khoa học khác nhưchính trị học, kinh tế học, để nghiên cứu và trình bày luận án
5 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN ÁN
Một là, luận án là một công trình nghiên cứu tương đối có hệ
thống về phong trào công nhân ở các ĐTMN từ năm 1954 đến năm
Trang 91965, góp phần bổ sung tư liệu cùng một số luận điểm nhằm làm rõhơn về lịch sử phong trào ĐTMN nói riêng và lịch sử Việt Nam cùngkhung thời gian.
Hai là, luận án làm rõ chính sách của Mỹ và CQSG đối với công
nhân ở các ĐTMN, để từ đó giải thích cho sự nảy sinh phong trào đấutranh của giai cấp công nhân ở các ĐTMN từ năm 1954 đến năm
1965 Hiểu được tính dân tộc và đặc điểm phong trào công nhân ở cácĐTMN - một phong trào diễn ra trong điều kiện chiến tranh giải phóngdân tộc, thông qua đó thấy được tính đa dạng, phong phú về hình thức
và biện pháp đấu tranh của phong trào
Ba là, luận án chỉ rõ những mục tiêu đấu tranh của công nhân ở
các ĐTMN và kết quả đạt được của phong trào trên các lĩnh vực dânsinh, dân chủ, Hiểu hơn về sự đoàn kết đấu tranh của phong tràocông nhân ở từng ngành, công nhân các ngành, công nhân ở cácĐTMN với giai cấp nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động trêntoàn miền
Bốn là, luận án nêu bật tính chất, đặc điểm cùng những đóng góp
của phong trào công nhân ở các ĐTMN trong sự nghiệp giải phóngmiền Nam, thống nhất đất nước Luận án còn góp phần giáo dụctruyền thống đấu tranh yêu nước, nâng cao niềm tự hào cho giai cấpcông nhân hiện nay, kết quả nghiên cứu của luận án có thể cung cấpnguồn tư liệu tương đối hoàn chỉnh về phong trào công nhân ở cácĐTMN (1954-1965)
6 BỐ CỤC CỦA LUẬN ÁN
Ngoài phần mở đầu (6 trang), kết luận (3 trang), tài liệu tham khảo (26 trang), nội dung luận án gồm 4 chương:
Chương 1: Tổng quan (17 trang)
Chương 2: Phong trào công nhân ở các đô thị miền Nam giai
đoạn 1954-1960 (51 trang)
Chương 3: Phong trào công nhân ở các đô thị miền Nam giai
đoạn 1961-1965 (46 trang)
Chương 4: Tính chất, đặc điểm và ý nghĩa lịch sử của phong trào
công nhân đô thị miền Nam từ năm 1954 đến năm 1965 (27 trang)
Trang 10Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.1 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
1.1.1 Nhóm công trình nghiên cứu về công nhân và phong trào công nhân Việt Nam
Trước năm 1975, nghiên cứu về công nhân và phong trào côngnhân Việt Nam có các công trình sau:
Trần Văn Giàu (1958), Giai cấp công nhân Việt Nam sự hình
thành và phát triển của nó từ giai cấp “tự mình” đến giai cấp “cho mình”, Nhà xuất bản (NXB) Sự Thật, Hà Nội; Vũ Ngọc Nguyên
(1959), Công nhân Nam Bộ trong khói lửa, NXB Lao Động, Hà Nội; Hoàng Quốc Việt (1959), Những nét sơ lược về lịch sử phong trào
công nhân và công đoàn Việt Nam 1860-1945, NXB Lao Động, Hà
Nội Võ Nguyên (1961), Phong trào công nhân miền Nam, NXB Sự Thật, Hà Nội; Trần Văn Giàu (1962), (1963), Giai cấp công nhân Việt
Nam từ Đảng Cộng sản thành lập đến cách mạng thành công 1945), (3 tập), NXB Sử Học, Hà Nội; Diệp Liên Anh (1963), Máu trắng máu đào, NXB Lao Động Mới, Sài Gòn; Lê Nguyên Khôi,
(1930Dương Phẩm (1965), Công nhân miền Nam đấu tranh chống Mỹ
-Diệm, NXB Phổ Thông, Hà Nội; Trần Tử Bình (1965), Phú Riềng đỏ,
NXB Lao Động, Hà Nội,
Sau năm 1975, nghiên cứu về công nhân và phong trào công nhânViệt Nam có các công trình sau:
Cao Văn Lượng (1977), Công nhân miền Nam Việt Nam trong
kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), NXB Khoa học Xã hội,
Hà Nội; Một vài ý kiến về đội ngũ công nhân lao động miền Nam và
công tác công đoàn vùng giải phóng (1978), NXB Lao Động, Hà Nội;
Ngô Văn Hoà, Dương Kinh Quốc (1978), Giai cấp công nhân Việt
Nam trước khi thành lập Đảng, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội; Tổng
Liên đoàn Lao động Việt Nam (1995), Phong trào công nhân lao động
và hoạt động công đoàn giải phóng miền Nam Việt Nam 1954-1975,
NXB Lao Động; Liên đoàn lao động Quảng Nam - Đà Nẵng (1996),
Lịch sử phong trào đấu tranh cách mạng của công nhân lao động và hoạt động công đoàn Quảng Nam - Đà Nẵng (1954-1975), NXB Đà
Nẵng; Liên đoàn Lao động tỉnh Thừa Thiên Huế (1998), Lịch sử
phong trào công nhân lao động và công đoàn tỉnh Thừa Thiên Huế,
Tập 1 (1930-1975), NXB Lao động, Hà Nội; Nguyễn Thị Mộng
Trang 11Tuyền (2009), Phong trào đấu tranh của công nhân cao su Thủ Dầu
Một trong 30 năm chiến tranh giải phóng (1945-1975), luận án Tiến
sĩ, Viện Phát triển bền vững vùng Nam Bộ TPHCM; Cao Văn Lượng
(1964), Vấn đề liên minh công nông trong cuộc cách mạng dân tộc
dân chủ ở miền Nam Việt Nam hiện nay, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử
(NCLS) số 64,
1.1.2 Nhóm công trình nghiên cứu về công nhân và phong trào công nhân ở các đô thị miền Nam
Trần Bút (1965), Công nhân Đà Nẵng chĩa thẳng mũi nhọn đấu
tranh vào đầu bọn xâm lược Mỹ, NXB Lao Động, Hà Nội; Hữu Tuấn
(1965), Công nhân đô thị trên tuyến đầu Tổ quốc, NXB Lao Động, Hà Nội; Lê Thị Quý (1988), Nghiệp đoàn Sài Gòn và phong trào công nhân, NXB TPHCM; Ban Chấp hành Liên đoàn Lao động TPHCM (1993),
Công nhân Sài Gòn - Chợ Lớn trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, NXB
Lao Động, TPHCM; Phạm Hồng Thụy, Mỹ Hà, Đinh Thu Xuân (1998),
Lịch sử xí nghiệp liên hợp Ba Son 1863-1998, NXB Quân đội Nhân dân,
Hà Nội; Trần Xuân Thảo (2000), Phong trào đấu tranh của nữ công nhân
Sài Gòn - Gia Định 1954-1975, Luận văn Thạc sĩ, Trường Đại học Khoa
học Xã hội và Nhân văn TPHCM; Nguyễn Thị Thu Huyền (2013), Phong
trào đấu tranh của công nhân Sài Gòn (1954-1975), luận văn Thạc sĩ,
Trường Đại học Sư phạm TPHCM; Về các bài công bố trên các tạp chí NCLS, tạp chí LSQS có thể kể, Cao Văn Lượng (1974), Bước đầu tìm
hiểu về cơ cấu công nhân, lao động ở các thành thị miền Nam Việt Nam hiện nay, Tạp chí NCLS, số 159; Lê Cung (2000), Phong trào công nhân Huế những năm đầu sau Hiệp định Genève 1954, Tạp chí NCLS, số 1; Lê
Cung (2006), Cuộc đấu tranh của công nhân ngành thủy điện miền Nam
những năm đầu sau Hiệp định Genève (1954), Tạp chí Lịch sử quân sự
(LSQS), số 2; Lê Cung (2012), Phong trào công nhân vì mục tiêu dân
sinh ở các ĐTMN Việt Nam giai đoạn 1954-1959, Tạp chí NCLS, số 4.
Tựu trung các công trình nghiên cứu đã giải quyết được nhữngvấn đề cơ bản sau:
Một là, khái quát lịch sử hình thành và phát triển đội ngũ công
nhân Việt Nam qua các giai đoạn lịch sử từ trước khi thành lập ĐảngCộng sản Việt Nam đến cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954) và kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975)
Hai là, hầu hết các công trình nghiên cứu cũng chỉ ra những chính
sách thống trị trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa - xã
Trang 12hội của thực dân Pháp, đế quốc Mỹ đối với công nhân Việt Nam; dướichính sách thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, đời sống công nhân ViệtNam hết sức cực khổ.
Ba là, các công trình đã trình bày phong trào công nhân Việt Nam
trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954) và kháng chiếnchống Mỹ, cứu nước (1954-1975); đồng thời, các nghiên cứu đã đưa ranhững nhận xét, đánh giá về đặc điểm phong trào công nhân Việt Namqua các thời kỳ
Bốn là, một số công trình tuy trình bày khá chi tiết một số cuộc
đấu tranh của công nhân ở các ĐTMN thời kháng chiến chống Mỹnhưng chỉ giới hạn ở một số ngành, ở một số địa phương hoặc ở khungthời gian hẹp mà thôi
1.2 Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục được nghiên cứu
Luận án nhằm hướng đến giải quyết một số nội dung sau:
- Phân tích về những âm mưu và biện pháp của Mỹ và CQSG đối với công nhân ở các ĐTMN từ năm 1954 đến năm 1965
- Trên cơ sở khai thác nguồn tư liệu từ nhiều phía, luận án luậngiải, tái hiện một cách chi tiết về mục tiêu và diễn biến phong tràocông nhân ở các ĐTMN từ năm 1954 đến 1965
- Rút ra những tính chất, đặc điểm của phong trào công nhân ở các ĐTMN
- Chứng minh và khẳng định vai trò to lớn của phong trào côngnhân ở các ĐTMN trong việc góp phần đánh thắng các chiến lượcchiến tranh của Mỹ ở miền Nam Việt Nam từ năm 1954 đến 1965.Mặt khác, rút ra ý nghĩa lịch sử của phong trào công nhân ở cácĐTMN; trên cơ sở đó có thể giúp các nhà chính trị - xã hội hoạch địnhnhững chính sách đối với giai cấp công nhân hiện nay
Trang 13Chương 2 PHONG TRÀO CÔNG NHÂN Ở CÁC ĐÔ THỊ MIỀN NAM
(1954-1960) 2.1 Khái quát truyền thống đấu tranh của công nhân miền Nam trước năm 1954
Phong trào công nhân miền Nam trước năm 1954, thu hút hầuhết công nhân các ngành và nhiều tầng lớp nhân dân tham gia, phongtrào công nhân đã gắn mục tiêu đấu tranh đòi quyền lợi dân sinh, dânchủ với mục tiêu đấu tranh chống thực dân Pháp, bảo vệ độc lập, tự
do của Tổ quốc, phong trào đã sử dụng nhiều hình thức đấu tranhphong phú như bãi công, đình công, lãn công,… với mục tiêu cụ thểnhư đòi tăng lương, bớt giờ làm, chống sa thải, chống đánh đập,…thiết thực góp phần đưa cuộc kháng chiến chống Pháp đến thắng lợi
2.2 Chính sách của Mỹ và chính quyền Ngô Đình Diệm đối với công nhân ở các đô thị miền Nam (1954-1960)
2.2.1 Khái quát về tình hình miền Nam Việt Nam (1954-1960)
Thực hiện chủ trương của Mỹ, sau khi nắm lấy chính quyền
ở miền Nam (7-7-1954), một mặt, CQNĐD từ chối hiệp thương tổngtuyển cử, từ chối việc tái lập quan hệ bình thường giữa hai miền Nam
- Bắc; tổ chức tuyển cử riêng rẽ, bầu cử Quốc hội Lập hiến 1956), ban hành Hiến pháp (26-10-1956), lập đảng Cần Lao nhân vị,
(4-3-… Mặt khác, CQNĐD ra sức khủng bố những người tán thành hòabình, những người tham gia kháng chiến và những người đấu tranhđòi thi hành Hiệp định Genève Đó là những nguyên nhân sâu xa dẫnđến phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân miền Nam
2.2.2 Chính sách của Mỹ và chính quyền Ngô Đình Diệm đối với công nhân ở các đô thị miền Nam
2.2.2.1 Về tư tưởng - chính trị
Hệ tư tưởng của CQNĐD là chủ nghĩa nhân vị Đối với côngnhân ở các ĐTMN, Mỹ và CQNĐD mở các lớp huấn luyện để tuyên
truyền và phổ biến “lý tưởng nghiệp đoàn Thiên Chúa giáo” Bên
cạnh tuyên truyền tư tưởng Thiên Chúa giáo, Mỹ và CQNĐD còn
tuyên truyền thuyết “lao tư lưỡng đồng, lưỡng lợi”, “hòa hợp giai
cấp”, “dân chủ” hay chủ trương “thăng tiến cần lao”.
Về chính trị, dưới chế độ Mỹ và CQNĐD, quyền tự do của côngnhân bị xâm phạm Nguy hiểm và thâm độc hơn, Mỹ và CQNĐD
lũng đoạn các tổ chức nghiệp đoàn còn lại, thực hiện chủ trương “lấy
Trang 14phong trào để phá phong trào, nắm nghiệp đoàn để nắm quần chúng”.
2.2.2.2 Về kinh tế
Cùng với sự phát triển công nghiệp, đội ngũ công nhân ở cácĐTMN tăng lên nhanh chóng, chủ yếu là ở các ngành công nghiệpnhẹ (dệt, thực phẩm) hoặc xây dựng, vận tải được kích thích bởinhững đơn đặt hàng của các cơ quan hậu cần Mỹ và CQNĐD
2.2.2.3 Về văn hoá - xã hội
Mục tiêu của chính sách văn hóa của Mỹ và CQNĐD là tạo ra mặt
“tích cực” để lôi kéo công nhân vào guồng quay của một nền văn hóa
mới - nền văn hóa Mỹ, từ đó biến công nhân ở các ĐTMN thành công cụthực hiện chính sách thực dân mới của Mỹ ở Việt Nam
2.3 Đội ngũ và đời sống công nhân ở các đô thị miền Nam (1954-1960)
2.3.1 Đội ngũ công nhân ở các đô thị miền Nam
Những chính sách về kinh tế của Mỹ và CQNĐD đã tác độngđến công nhân ở các ĐTMN mà trước hết là số lượng công nhânngày càng tăng Sự phát triển đó không theo quy luật kinh tế mà theoyêu cầu của chiến tranh
2.3.2 Đời sống công nhân ở các đô thị miền Nam
2.3.2.1 Thời gian và điều kiện lao động
Để bóc lột công nhân lao động, giới chủ thường kéo dài thờigian làm việc đến mức phải báo động [250; tr 10] Không chỉ bị bóclột bởi thời gian lao động mà công nhân ở các ĐTMN còn làm việc
với điều kiện hết sức tồi tệ [68; tr 2].
2.3.2.2 Tình trạng thất nghiệp
Điều dễ nhận thấy ở các ĐTMN sau ngày đình chiến là nạn thấtnghiệp diễn ra khá phổ biến trong các xí nghiệp, nhà máy
2.3.2.3 Lương công nhân
Thu nhập từ tiền lương không theo kịp giá cả thực phẩm và hàngtiêu dùng hàng ngày Bên cạnh đó là thuế má và phạt vạ rất nặng nề
2.4 Diễn biến phong trào công nhân ở các đô thị miền Nam (1954-1960)
2.4.1 Chủ trương của Đảng
Trong giai đoạn 1954-1960, Đảng chú ý tập trung vào hướng lợidụng các tổ chức nghiệp đoàn công khai, đồng thời phát triển hìnhthức rộng rãi bán hợp pháp để vận động, tập hợp công nhân từngbước đấu tranh chống Mỹ và CQNĐD
2.4.2 Diễn biến phong trào
Trang 152.4.2.1 Phong trào công nhân vì mục tiêu dân sinh
Ngay sau Hiệp định Genève (1954), phong trào đấu tranh vìmục tiêu dân sinh của công nhân ở các ĐTMN diễn ra sôi nổi, đềukhắp các đô thị lớn miền Nam như Sài Gòn - Chợ Lớn, Biên Hòa, ĐàNẵng, Huế, thu hút công nhân nhiều ngành tham gia
Mở đầu là cuộc đình công của 30.000 công nhân và thợ thuyền nhàbinh Pháp cuối năm 1954, đòi sửa đổi về lương bổng, đòi trả tiền truycấp, tiền Tết và hưởng lương khi bị sa thải Hưởng ứng cuộc đấu tranhnày, ngày 7-12-1954, công nhân Biên Hòa tổng bãi công ủng hộ [238; tr.151] Ngày 4-1-1955, đại diện chính phủ Pháp phải nhượng bộ, côngnhân được tăng lương và lãnh tiền truy cấp [238; tr 151]
Song song với cuộc đấu tranh công nhân và thợ thuyền nhà binhPháp là cuộc đấu tranh của công nhân lái xe tuyến đường Đông Ba -Bao Vinh Huế [217; tr 2]
Ngày 10-11-1955, toàn thể đoàn viên nghiệp đoàn công nhânhỏa xa Việt Nam địa phương Huế họp phiên bất thường tại ga Huế.Tiếp theo cuộc đấu tranh của công nhân hỏa xa Huế, ngày 24-11-
1955, toàn thể công nhân Sở thủy điện Đà Nẵng đình công [183; tr
3] Cuộc đình công làm cho điện trong thành phố bị cúp 2 ngày Song
song với cuộc đấu tranh của công nhân ngành thủy điện, ở Sài Gòn,ngày 23-3-1956, Nghiệp đoàn tài xế taxi cũng tiến hành đại hội phản
đối lệnh đóng thuế đặc biệt về xăng dầu [174; tr 1].
Khi cuộc đấu tranh của công nhân thủy điện Huế, công nhân tài
xế taxi Sài Gòn chưa kết thúc, ngày 26-3-1956, 800 công nhân Nhàmáy đèn Chợ Quán cũng đình công chống chủ sa thải và khủng bố 3công nhân Cuộc bãi công kéo dài 2 ngày làm cho cả thành phố SàiGòn - Chợ Lớn, Gia Định, Biên Hòa, không có điện, nước, mọi hoạtđộng công nghiệp bị đình đốn; các rạp hát, rạp chiếu bóng phải đóngcửa; sáu tờ báo hằng ngày không ra được; đài phát thanh phải imlặng 48 tiếng đồng hồ Trước tình hình đó, Ngô Đình Diệm phảiđồng ý thu nhận những công nhân đã bị sa thải [32; tr 93]
Ngày 13-5-1956, công nhân khuân vác kho 5 bến tàu Nhà Rồngđồng loạt đình công đòi hãng Stic điều chỉnh lương [182; tr 2].Tiếp theo cuộc đình công của công nhân công nhân khuân váckho 5 bến tàu Nhà Rồng là cuộc đấu tranh của công nhân hãng dầuStandard Vacuum Oil ngày 19-7-1956 yêu cầu Ban Giám đốc giải
quyết các yêu sách: “Chỉnh đốn lương bổng; y tế; trả lương giờ phụ
trội” [140; tr 12].
Trang 16Khi cuộc đấu tranh của công nhân hỏa xa đang diễn ra quyết liệtthì cuộc bãi công đòi tăng lương của trên 3.500 công nhân cảng SàiGòn ngày 24-1-1957 tiếp diễn Cuộc đình công làm cho bến tàu SàiGòn hoàn toàn tê liệt, buộc chủ hãng phải chấp nhận tăng lương 15%cho công nhân [178; tr 115].
Ngày 8-1-1958, Nghiệp đoàn công nhân vô tuyến viễn thônghọp để lấy quyết nghị đình công truy tố Ban Giám đốc đã chặn bớtlương của công nhân và dùng lời lẽ đàn áp, mạt sát công nhân [112;
tr 1] Tiếp theo cuộc đấu tranh của công nhân vô tuyến viễn thông,ngày 25-5-1958, 170 đại biểu công nhân của 150 xưởng dệt Sài Gòn -Chợ Lớn và Gia Định
Tiêu biểu nhất trong năm 1959 là cuộc đấu tranh của công nhânhãng dầu Shell Ngày 15-10-1959, hơn 500 công nhân của hãng nhấtloạt đình công để phản đối việc chủ tư bản Mỹ sa thải công nhân.Sang năm 1960, phong trào vì mục tiêu dân sinh của công nhân
ở các ĐTMN vẫn tiếp tục diễn ra Một số cuộc đấu tranh tiêu biểunhư ngày 7-1-1960, 200 công nhân hãng Ô tô buýt họp đại hội đấutranh đưa yêu sách đòi tiền thưởng, tiền công những giờ làm thêm vàphụ cấp gia đình Sau bốn ngày đấu tranh, chủ hãng đã đồng ý nhữngyêu sách của công nhân [178; tr 140]
2.4.2.2 Phong trào công nhân vì mục tiêu dân chủ
Trước tình trạng Mỹ và CQNĐD bắt bớ, đàn áp, chia rẽ công nhân,quyền tự do nghiệp đoàn bị vi phạm, công nhân ở các ĐTMN đã đứnglên đấu tranh để bảo vệ quyền lợi của mình Trong ngày Quốc tế Laođộng 1-5-1955, công nhân các thành phố Sài Gòn - Chợ Lớn, Biên Hòa,
Đà Nẵng, Huế đã tổ chức nhiều cuộc mít tinh, biểu tình đòi tự do hộihọp, tự do ngôn luận, chống đàn áp, khủng bố [32; tr 92]
Ngày 1-2-1956, Thường vụ Chi đoàn Hỏa xa ga Sài Gòn đã gởicông văn đến Thường vụ Liên đoàn Trung ương Công chức Cáchmạng Quốc gia (Sài Gòn) nêu rõ tình trạng Nha Giám đốc hỏa xa độcquyền, khủng bố đoàn viên, bóp nghẹt đời sống công nhân về tinhthần [73; tr 3]
Tiếp theo, ngày 21-6-1956, Liên hiệp nghiệp đoàn địa phương ChợLớn gởi công văn đến CQNĐD vạch rõ quyền tự do nghiệp đoàn đã bịxâm phạm bởi những hành động trắng trợn, nhục mạ, bắt cóc đàn áp tratấn các cán bộ nghiệp đoàn của chính quyền Thủ Dầu Một [138; tr 1]
Ngày Quốc tế Lao động 1-5-1957, mặc dù CQNĐD ra lệnh cấmbiểu tình, nhưng tại Sài Gòn, đông đảo quần chúng, trong đó đa phần
Trang 17là công nhân tỏa ra các ngả đường biểu tình, nêu cao khẩu hiệu đòi
quyền lợi, trong đó có quyền “Tự do nghiệp đoàn”.
Ngày 22-10-1958 trong điện tín số 2035 của Tổng Liên đoàn
Lao động Việt Nam (Sài Gòn) yêu cầu Ngô Đình Diệm: “Cứu xét số
đoàn viên Tổng Liên đoàn bị bắt, không có hành động phá hoại an ninh công cộng Quốc gia mà bị tình nghi hoặc bị khai cử vì tư thù Tổng Liên đoàn xin Tổng thống cho họ về, hoặc cho Tổng Liên đoàn xin lãnh họ về đoàn tụ với gia đình” [230; tr 2].
2.4.2.3 Phong trào đấu tranh đòi thực hiện Hiệp định
Genève và chống chính sách “tố Cộng”
Tại Sài Gòn - Chợ Lớn ngày 1-8-1954, 50.000 đồng bào, phần đông làcông nhân nhà đèn, bến cảng, công nhân làm việc trong các đơn vị hậu cầncủa Pháp và các tầng lớp khác, biểu tình Đoàn biểu tình vừa đi vừa hoan hôhòa bình, giương cao các biểu ngữ đòi thi hành nghiêm chỉnh Hiệp địnhGenève Cũng trong ngày (1-8-1954), tại Đà Nẵng, phong trào đấu tranh đòithi hành Hiệp định Genève của công nhân hỏa xa diễn ra sôi nổi [134; tr.21] Sang năm 1956, cuộc đấu tranh đòi hiệp thương, tổng tuyển cử củacông nhân ở các ĐTMN vẫn tiếp diễn sôi nổi Trong tháng 4, 5-1956, ởSài Gòn bùng lên đợt đấu tranh công khai đòi hiệp thương tổng tuyển cử,dẫn đến cuộc mít tinh 200.000 người trong ngày Quốc tế Lao động 1-5-
1956 dưới khẩu hiệu “Thống nhất nước nhà bằng phương pháp hòa bình”, “Nước Việt Nam độc lập và thống nhất vạn tuế” [2].
Đi đôi với phong trào đấu tranh đòi thi hành Hiệp định Gèneve,đòi hiệp thương tổng tuyển cử và đấu tranh đòi quyền lợi về dân sinh
và dân chủ, công nhân ở các ĐTMN tham gia đấu tranh chống chính
sách “tố Cộng” của Mỹ và CQNĐD.
Ở Đà Nẵng, Mỹ và CQNĐD đưa một số phần tử phản động đứng ra
“tố Cộng” hoặc tuyên bố ly khai, xé cờ Đảng hay kêu gọi cán bộ,
đảng viên ra hàng cố làm cho quần chúng hoang mang, daođộng Nhưng, hầu hết công nhân Đà Nẵng vẫn kiên định lậptrường Tiêu biểu là công nhân khuân vác cảng Đà Nẵng đào hầm,che chở các đồng chí đảng viên bám cơ sở, xây dựng phong trào.[134; tr 40-41]
Tháng 5-1959, khi Mỹ và CQNĐD ban hành Luật “10-59” đặt
cộng sản ra ngoài vòng pháp luật, ở công xưởng Ba Son, CQNĐD buộcnghiệp đoàn giải tán, phong trào công nhân tạm thời lắng xuống, phảnứng của công nhân lúc này là cáo ốm, không dự học, hoặc nếu
Trang 18đến lớp thì gây ồn ào, mất trật tự, một số công nhân lợi dụng sơ hở
của “thuyết trình viên” để chất vấn, đấu lý,… [211; tr 251- 252].
Chương 3 PHONG TRÀO CÔNG NHÂN Ở CÁC ĐÔ THỊ MIỀN NAM
(1961-1965) 3.1 Chính sách của Mỹ và chính quyền Sài Gòn đối với công nhân ở các đô thị miền Nam (1961-1965)
3.1.1 Khái quát về tình hình miền Nam Việt Nam (1961-1965)
Để tiếp tục giữ vững miền Nam trong quỹ đạo của Mỹ, năm
1961, sau khi bước vào Nhà Trắng, Tổng thống Mỹ Kennedy đã
quyết định loại bỏ chiến lược “trả đũa ồ ạt” và chấp nhận chiến lược quân sự “phản ứng linh hoạt” toàn cầu mới do Maxwell Taylor đề xướng “Chiến tranh đặc biệt” là một trong ba loại hình chiến tranh của chiến lược “phản ứng linh hoạt” Song những âm mưu và hành
động của Mỹ và CQNĐD không cản được bước tiến của cách mạngmiền Nam Trên cả hai mặt quân sự và chính trị, quân và dân miềnNam liên tục tiến công và giành được những thắng lợi có ý nghĩachiến lược
3.1.2 Chính sách của Mỹ và chính quyền Sài Gòn đối với công nhân ở các đô thị miền Nam
3.1.2.1 Về tư tưởng - chính trị
Về mặt tư tưởng, CQSG tiếp tục truyền bá tư tưởng cần lao nhân
vị trong công nhân miền Nam Mỹ và CQSG còn cho bọn tay saitrong Tổng Liên đoàn Lao công xuất bản thường xuyên nội san báo
chí công nhân để tuyên truyền các luận điệu phản động như: “Tư bản
nhân dân”, “hòa bình giai cấp”, “hợp tác giai cấp”, “hữu sản hóa
vô sản”.
Về chính trị, để mua chuộc công nhân ở các ĐTMN, một mặt,
Mỹ và CQSG đẩy mạnh chính sách lôi kéo công nhân tham gia vàocác tổ chức như đảng Cần lao nhân vị, nghiệp đoàn vàng, Ngoài ra,chúng sử dụng một số tay sai trong các tổ chức nghiệp đoàn chui vàophong trào công nhân để tiến hành những hoạt động chia rẽ, phá
hoại, tiếp tục phương châm “lấy phong trào, phá phong trào, nắm
nghiệp đoàn để nắm quần chúng”.
3.1.2.2 Về kinh tế
Để thực hiện “Chiến tranh đặc biệt”, Mỹ tăng cường viện trợ cho
CQSG với hai hình thức chủ yếu viện trợ kinh tế và viện trợ quân
Trang 19sự Chỉ trong năm 1963, Mỹ viện trợ kinh tế cho CQSG là 175 triệu
USD Bên cạnh “viện trợ”, Mỹ và CQSG còn đề ra một số chính
sách nhằm thúc đẩy nền công nghiệp miền Nam phát triển trongguồng quay của chủ nghĩa thực dân mới và phục vụ trực tiếp chocuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ
3.1.2.3 Về văn hóa - xã hội
Sống dưới chế độ Mỹ và CQSG, công nhân miền Nam chịu sựtác động của thuyết hiện sinh, sống gấp, sống vội, đồi trụy mê hoặc
họ trong môi trường tràn ngập văn hóa Mỹ từ sách báo đến phim ảnh,hàng nội cũng như hàng ngoại tất cả đều xoay quanh chủ đề cao bồi,
tình ái, nhất là mục tiêu chiến tranh, “chống Cộng”.
3.2 Đội ngũ và đời sống công nhân ở các đô thị miền Nam (1961-1965)
3.2.1 Đội ngũ công nhân ở các đô thị miền Nam
Những chính sách về kinh tế, nhất là những chính sách về côngthương nghiệp làm cho số lượng công nhân ngày càng gia tăng
3.2.2 Đời sống công nhân ở các đô thị miền Nam
3.2.2.1 Thời gian và điều kiện lao động
Tình trạng bóc lột công nhân tinh vi thông qua việc tăng giờ laođộng đã trở thành hiện tượng phổ biến Bên cạnh đó, tai nạn lao độngthường xuyên rình rập, đe dọa đến cuộc sống công nhân và đẩy nhiềugia đình công nhân vào cảnh tang thương, cùng quẫn
3.2.2.2 Tình trạng giải công, sa thải và thất nghiệp
Tình trạng giải công, sa thải và thất nghiệp là mối đe dọa thườngxuyên đối với đời sống công nhân ở các ĐTMN giai đoạn 1961-1965
3.2.2.3 Lương công nhân
So với giai đoạn 1954-1960, giai đoạn 1961-1965 lương cơ bảncủa công nhân các ĐTMN hầu như không tăng
3.3 Diễn biến phong trào công nhân ở các đô thị miền Nam (1961-1965)
3.3.1 Chủ trương của Đảng
Một là, Đảng đặc biệt chú trọng đến việc xây dựng tổ chức,
đoàn ngũ hóa công nhân trước lúc tiến hành các cuộc đấu tranh Nghịquyết Hội nghị Trung ương Cục miền Nam lần thứ I (tháng 10-1961)
chỉ rõ: “Tiến hành tổ chức các đoàn thể cách mạng trong công nhân,
nhân dân lao động” và về mặt võ trang: “Xây dựng lực lượng ngầm
ở cơ quan, xí nghiệp” [101; tr 627-628].
Hai là, Đảng đề ra chủ trương cần thiết phải thành lập Ban Công
vận Ba là, song song với việc xây dựng, tổ chức HLĐGP và thành
lập Ban Công vận, đối với phong trào công nhân ở các ĐTMN giai
Trang 20đoạn 1961-1965, Đảng đặc biệt chú trọng đến việc đề ra những chủtrương thích hợp.
3.3.2 Diễn biến phong trào
3.3.2.1 Phong trào công nhân vì mục tiêu dân sinh
Mở đầu là cuộc đình công của 400 công nhân hãng Savon ngày6-3-1961 đòi thỏa mãn lương bổng và chấm dứt việc sa thải côngnhân vô cớ [163; tr 4]
Ngày 6-9-1961, công nhân hãng dầu Stanvac đình công Cuộcđình công của công nhân hãng dầu Stanvac được sự đồng tình, ủng
hộ của hàng vạn công nhân cao su Biên Hoà, Thủ Dầu Một, trên 100nghiệp đoàn ở Sài Gòn - Chợ Lớn, 40.000 lái xe và bà con nông dân.Một số báo chí ở Sài Gòn cũng chỉ trích thái độ của chủ hãngStanvac Nối tiếp cuộc đấu tranh của công nhân hãng Stanvac, ngày11-11-1961, công nhân tài xế taxi mướn xe của ông Lê Văn Lượmđình công đòi chủ hãng thâu nhận tài xế Huỳnh Văn Bình bị thu hồi
xe trước đó 3 tháng [60; tr 3]
Sang năm 1962, phong trào công nhân ở các ĐTMN vì mục tiêudân sinh tiếp tục diễn ra Mở đầu là cuộc đấu tranh của công nhânxích lô, cuối tháng 2-1962 Trước tinh thần đấu tranh quyết liệt củacông nhân, Đô trưởng Sài Gòn - Chợ Lớn phải thu hồi giấy phépchuyên chở nói trên của hãng Vinaco [249; tr 66]
Sang năm 1963, khí thế phong trào công nhân ở các ĐTMN đượcnâng lên Hàng nghìn cuộc đấu tranh vì mục tiêu dân sinh tiếp tục diễn
ra Tại Sài Gòn, cuộc đấu tranh của Nghiệp đoàn công nhân Autobus(thuộc Tổng Liên đoàn Lao công Việt Nam) diễn ra quyết liệt
Tại Đà Nẵng, ngày 10-11-1963, hòa nhịp cùng với phong tràocủa công nhân miền Nam nhất là được kích thích bởi sự sụp đổ củaCQNĐD (1-11-1963), 38 nữ công nhân hãng dệt Sicovina Hòa Thọđấu tranh đòi tăng lương Cuối năm 1963, 1.800 công nhân hãng dệtVimytex (thuộc phân bộ của nghiệp đoàn thợ dệt Sài Gòn - Chợ Lớn
và Gia Định trong hệ thống Tổng Liên đoàn Lao công Việt Nam) tiếnhành đình công
Ngày 7-1-1964, khoảng 300 công nhân hãng dệt Thanh Hòa (GiaĐịnh) đình công [270; tr 10] Khi cuộc đấu tranh của công nhân dệtThanh Hòa chưa kết thúc, ngày 14-1-1964, khoảng 2.000 công nhânhãng dệt Vinatexco và xưởng nhuộm Vinatefinco tiếp tục đình công[278; tr 2] Dưới áp lực đấu tranh của công nhân và dư luận, Mỹ vàCQSG buộc phải trả tự do cho những người bị bắt và chủ hãng
Trang 21phải chấp nhận tăng lương từ 6% đến 8%, đồng thời mở lại cửaxưởng cho công nhân đi làm Tại Đà Nẵng, để ủng hộ cuộc đấu tranhcủa công nhân Vinatexco, ngày 17-1-1964, 900 công nhân dệt HòaThọ đã liên tiếp đấu tranh đòi tăng lương, đòi tuyển dụng chính thức,đòi phát tiền trước Tết và tiền phép cuối năm [134; tr 68].
Hòa trong không khí cuộc đấu tranh của công nhân dệtVinatexco, cùng ngày (17-1-1964), toàn thể công nhân tài xế taxi(thuộc nghiệp đoàn công nhân tài xế taxi Sài Gòn) tổ chức đại hội vàgởi 12 nguyện vọng đến Chính phủ VNCH Theo phiếu trình ngày13-10-1964 của Ban Lãnh đạo Lâm thời Quốc gia và Quân lực thì 6nguyện vọng trên đã được Đô trưởng giải quyết gần như trọn vẹnthuộc phạm vi Đô Thành [7; tr 9]
Khi cuộc đấu tranh của công nhân tài xế taxi Sài Gòn chưa kếtthúc, ngày 5-10-1964, nhân lúc chủ nhà máy Dofitex Biên Hòa sathải 22 công nhân [238; tr 178] Cuộc đấu tranh của công nhânDofitex góp phần thúc đẩy phong trào công nhân trong toàn Khu Kỹnghệ Biên Hòa
Sang năm 1965, tuy phong trào công nhân ở các ĐTMN, về mặtcông khai chưa sôi động như các phong trào khác ở miền Nam,nhưng ngày càng vươn lên trở thành lực lượng nòng cốt trong phongtrào đấu tranh ở ĐTMN, tiếp tục góp phần đánh bại âm mưu thủ đoạnmới của Mỹ và CQSG Tiêu biểu là cuộc lãng công ngày 17-1-1965của công nhân nhà máy xay lúa số 277 Bến Bình Đông đòi chủ hãngtrả 8 ngày nghỉ có lương trong năm 1964
3.3.2.2 Phong trào công nhân vì mục tiêu dân chủ
Mở đầu là cuộc đấu tranh bảo vệ nghiệp đoàn của anh chị emcông nhân thuộc Tổng Liên đoàn Lao động quyết giành lại tổ chức vàtrụ sở Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam từ tay Trần Kim Tuyến,
Lê Đình Cư Kết quả, Nguyễn Văn Của, Lê Văn Thốt, Đặng ĐứcHào vẫn giành được đại đa số phiếu bầu
Tiếp theo, ngày 9-10-1961, Nghiệp đoàn công nhân Ô tô buýt(thuộc công quản chuyên chở công cộng dưới hệ thống Tổng Liênđoàn Lao công Việt Nam) tổ chức đại hội bất thường tại trụ sở TổngLiên đoàn Lao động Việt Nam (197 Lý Thái Tổ, Sài Gòn) Đại hội đãbầu được Ban Chấp hành mới và chấm dứt lúc 23 giờ 10
Ngày 17-2-1962, 800 công nhân hãng dệt Vimytex bãi côngchống hành động khủng bố của chủ tư bản và tay sai [249; tr 69]
Trang 22Cuối tháng 8-1962, cuộc đấu tranh của công nhân Vimytex chốngchủ Mỹ đuổi thợ lại một lần nữa bùng nổ Ngày 27-8-1962, chủ hãngbuộc phải thu nhận những công nhân đã bị sa thải [249; tr 70].
Tại Huế, ngày 7-5-1963, khi cảnh sát hạ cờ Phật giáo trong ngày
Lễ Phật Đản, lên án hành động này của CQNĐD ngay lập tức ngày8-5-1963, công nhân thành phố Huế cùng với Tăng ni, Phật tử liêntiếp biểu tình, tuần hành trên các đường phố, đưa yêu sách tới TòaTỉnh trưởng đòi chấm dứt kỳ thị tôn giáo và những hành động chàđạp tín ngưỡng [135; tr 149] Để ủng hộ cuộc đấu tranh của Phậtgiáo Huế, tại Đà Nẵng công nhân kết hợp với Tăng ni, Phật tử biểutình mặc cho CQNĐD rải lính canh gác, tung mật vụ, cảnh sát ngăncản [134; tr 61]
Sang năm 1964, phong trào công nhân ở các ĐTMN vì mục tiêudân chủ tiếp tục diễn ra mạnh mẽ, quyết liệt hơn, đặc biệt là nhữngcuộc đấu tranh của công nhân ngành vận tải, ngành dệt Công nhân tổchức tuần lễ tẩy chay không chở Mỹ, đón đánh Mỹ trên đường phố,nhiều quán treo bảng không tiếp Mỹ khiến nhiều lính Mỹ không dám
ra đường [120; tr 346]
Với mục tiêu dân chủ, công nhân ở các ĐTMN không chỉ dừnglại đấu tranh với những nội dung đơn thuần, mà phong trào côngnhân ở các ĐTMN giai đoạn 1961-1965 còn thể hiện rõ ý thức dân
tộc, vạch mặt tính chất phản dân tộc của các CQSG và cả “có ý
nghĩa chống Mỹ rõ rệt” [256; tr 92].
Ngày 30-1-1964, Nguyễn Khánh lên nắm chính quyền, đến ngày
16-8-1964, Nguyễn Khánh cho ra đời “Hiến chương Vũng Tàu” Chống “Hiến chương Vũng Tàu”, phong trào công nhân ở các
ĐTMN phản ứng mau lẹ Tiếp đến, ngày 25-10-1964, Phan Khắc Sửuđược cử giữ chức Quốc Trưởng và Trần Văn Hương được chọn làmThủ tướng (31-10-1964) Chính phủ Trần Văn Hương không tránhkhỏi mũi nhọn của phong trào của công nhân ở các ĐTMN, nổi bậtnhất là Sài Gòn, Đà Nẵng, Huế
Trang 23Chương 4 TÍNH CHẤT, ĐẶC ĐIỂM VÀ Ý NGHĨA LỊCH SỬ CỦA PHONG TRÀO CÔNG NHÂN Ở CÁC ĐÔ THỊ MIỀN NAM
(1954-1965) 4.1 Tính chất của phong trào
4.1.1 Tính chất dân tộc
Phong trào công nhân ở các ĐTMN (1954-1965), mang đậm tínhchất dân tộc, thể hiện trước hết là sự tham gia đông đảo của côngnhân nhiều ngành; công nhân đấu tranh hưởng ứng chủ trương củaTrung ương Đảng sau Hội nghị Genève (21-7-1954); khẩu hiệu đấutranh nhằm trực tiếp vào Mỹ và CQSG
4.1.2 Tính chất dân chủ và dân sinh
Trên lĩnh vực dân sinh, nhằm đòi cải thiện đời sống, chống chính sáchbần cùng hóa của Mỹ và CQSG, công nhân ở các ĐTMN đã đấu tranh xoayquanh các khẩu hiệu thiết thực như: đòi tăng lương, đòi ngày làm tám giờ,chống sa thải, chống giải công, đòi tiền thưởng Tết, tiền phụ trội, đòi cảithiện điều kiện làm việc, phản đối tăng thuế và phạt vạ,
Về mục tiêu dân chủ của phong trào công nhân ở các ĐTMN(1954-1965) hết sức phong phú, trong đó nổi bật là đòi quyền tự donghiệp đoàn; đấu tranh phản đối bắt bớ, tra tấn, đấu tranh bảo vệnghiệp đoàn; đấu tranh đòi tách khỏi nghiệp đoàn cũ để thành lậpnghiệp đoàn mới nhằm lành mạnh hóa nghiệp đoàn của mình không
để những phần tử xấu lợi dụng; đấu tranh chống lại luật cấm đìnhcông và hội họp của CQSG,…[120; tr 347]
4.2 Đặc điểm của phong trào
4.2.1 Quy mô rộng lớn, sự liên tục và quyết liệt của phong trào
Về quy mô rộng lớn của phong trào, đặc điểm này được thể hiệntrước hết là ở mặt không gian và thời gian; lực lượng tham gia; sựủng hộ rộng rãi của nhân dân miền Bắc và nhân dân thế giới; báo chítiến bộ miền Nam [178; tr 112]
Sự liên tục của phong trào công nhân ở các ĐTMN được thểhiện rõ khi cuộc đấu tranh của công nhân ngành này vừa kết thúc đãdấy lên cuộc đấu tranh công nhân ngành khác [202; tr 3], [164;tr.101] Có lúc cùng một thời gian nhưng diễn ra cuộc đấu tranh củacông nhân nhiều ngành hoặc nhiều đô thị, có sự hưởng ứng của côngnhân đô thị khác hoặc đấu tranh độc lập Mặt khác, số lượng các cuộcđấu tranh năm sau cao hơn năm trước [22]
Trang 244.2.2 Hình thức và phương pháp đấu tranh phong phú, linh hoạt Phong trào công nhân ở các ĐTMN (1954-1965) đã xuất hiện
nhiều hình thức đấu tranh khác nhau, có thể kể như: họp đại hội, đưayêu sách, kiến nghị, mạn đàm, gây dư luận, lãng công và tiến lênđình công hoặc kết hợp với bãi công, biểu tình thị uy Phong tràocông nhân ở các ĐTMN từ năm 1954 đến năm 1965 thể hiện tínhchiến đấu và tính năng động sáng tạo khá cao trong việc lợi dụng thếcông khai hợp pháp cũng như đấu tranh bán hợp pháp và bất hợppháp
4.2.3 Có sự phối hợp chặt chẽ giữa công nhân các ngành ở các đô thị; giữa công nhân đô thị với công nhân đồn điền cùng giai cấp nông dân và các tầng lớp nhân dân miền Nam
Tác dụng của phong trào công nhân ở các ĐTMN (1954-1965)đối với các phong trào của các tầng lớp nhân dân, từ nông thôn đếnthành thị đã khẳng định vị trí của công nhân ở các ĐTMN trongphong trào cách mạng miền Nam
4.3 Ý nghĩa của phong trào
4.3.1 Phong trào chứng minh tinh thần đấu tranh bất khuất của công nhân ở các đô thị miền Nam trong tinh thần đấu tranh dân tộc
4.3.2 Phong trào chứng minh tính đúng đắn của phương
châm đấu tranh “hai chân, ba mũi”, “ba mũi giáp công”, “ba
vùng chiến lược” trong cách mạng miền Nam
Xét toàn cục tương quan lực lượng giữa ta và địch, thì về quân
sự địch mạnh hơn ta, nhưng về chính trị thì Mỹ và CQSG yếu hơn tarất nhiều, chỗ yếu này không khắc phục được và ngày càng khoétsâu Nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp để chiến thắng một đối thủ
có tiềm lực quân sự và kinh tế đứng đầu các nước tư bản chủ nghĩa,cách mạng miền Nam (1954-1975), đề ra phương châm đấu tranh
“hai chân, ba mũi”, “ba mũi giáp công”, “ba vùng chiến lược”.
4.3.3 Phong trào công nhân ở các đô thị miền Nam góp phần làm rối loạn hậu phương của Mỹ và chính quyền Sài Gòn, tạo điều kiện cho cách mạng miền Nam phát triển
Phong trào đô thị nói chung, phong trào công nhân nói riêng mỗikhi diễn ra đã góp phần làm rối loạn hậu phương của Mỹ và CQSG
và một khi như thế, lực lượng cách mạng không chỉ có điều kiện pháttriển ở đô thị mà ngay cả nông thôn đồng bằng và rừng núi
Trang 254.3.4 Phong trào góp phần làm phong phú thêm những bài học kinh nghiệm đối với sự nghiệp giữ nước và dựng nước của dân tộc
4.3.4.1 Mục tiêu và khẩu hiệu đấu tranh cụ thể
Đối với giai cấp công nhân mục tiêu giải phóng giai cấp là cầnthiết, tuy nhiên, mục tiêu giải phóng giai cấp gắn liền với sự nghiệpgiải phóng dân tộc, lợi ích giai cấp công nhân đặt trong lợi ích tối caocủa dân tộc
4.3.4.2 Sự đoàn kết, thống nhất, kiên trì đấu tranh
Trong điều kiện Mỹ và CQSG khống chế, kìm kẹp, đàn áp,trong lúc bản thân công nhân đang gặp nhiều khó khăn trong đờisống Sỡ dĩ phong trào công nhân vẫn được duy trì như vậy, trước hết
là nhờ tinh thần đoàn kết, tương trợ lẫn nhau trong đấu tranh
4.3.3.3 Những bài học kinh nghiệm rút ra từ hạn chế của phong trào
Một là, sau khi Hiệp định Genève ký kết (21-7-1954), một bộ
phận đảng viên và nhân dân chưa nhận thức đúng về bản chất của Mỹ
và CQNĐD, họ cho rằng có hiệp định Genève tất nhiên sẽ có hòabình, do nhận thức như vậy nên có nơi, có lúc trong công tác giáodục, vận động và chỉ đạo của tổ chức Đảng các cấp chưa kịp thời nênphong trào công nhân ở các ĐTMN chưa tạo được sự phối hợp rộngrãi, chặt chẽ Một số cuộc đấu tranh diễn ra còn lẻ tẻ, rời rạc chưagiành được thắng lợi như mục tiêu đã đề ra
- Hai là, đối với phong trào công nhân, vai trò của tổ chức công
đoàn là hết sức quan trọng Tuy nhiên, trên thực tế cho đến năm
1960, tổ chức công đoàn cách mạng chưa được hình thành trên quy
mô toàn miền Nam Chủ yếu, công đoàn cách mạng mới phát triểnđược ở một số đồn điền cao su và một số ít ở đô thị, hoạt động bímật
Trang 26KẾT LUẬN
1 Với âm mưu giữ chặt miền Nam trong quỹ đạo của chủ
nghĩa thực dân mới, biến miền Nam thành “tiền đồn” chống Cộng ở
Đông Nam Á, ngăn chặn sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhấtđất nước của nhân dân ta; ngoài những chính sách chung để đối phóvới cách mạng miền Nam, từ năm 1954 đến năm 1965, Mỹ và CQSG
có những chính sách riêng cho từng giai cấp, từng tầng lớp nhân dânmiền Nam, trong đó tập trung nhất là chính sách đối với công nhân
và phong trào công nhân
Đối với công nhân và phong trào công nhân ở các ĐTMN từnăm 1954 đến năm 1965, chính sách của Mỹ và CQSG thể hiện trênnhiều lĩnh vực từ tư tưởng - chính trị; kinh tế đến văn hóa - xã hội;ngoài bóc lột về kinh tế, cúp phạt, sa thải, giải công… Mỹ và CQSG
thi hành chính sách “chiếc gậy và củ cà rốt”, phá hoại phong trào
công nhân bằng cách lừa bịp và khủng bố, gây chia rẽ nội bộ, lũngđoạn nghiệp đoàn, khống chế hoạt động nghiệp đoàn Tất cả nhằmthủ tiêu tinh thần yêu nước và ý chí cách mạng của công nhân, kéo
họ ra khỏi quỹ đạo cách mạng
Trước chính sách hai mặt của Mỹ và CQSG, để đưa phongtrào công nhân ở các ĐTMN phát triển, Đảng, Mặt trận Dân tộc giảiphóng miền Nam Việt Nam, HLĐGP các cấp đã nắm bắt tình hình,tùy vào từng thời điểm cụ thể, tùy theo chuyển biến, tương quan lựclượng cách mạng và phản cách mạng mà đề ra chủ trương, biện phápđấu tranh kịp thời nhằm lãnh đạo, chỉ đạo công nhân ở các ĐTMNđấu tranh vì mục tiêu đòi hòa bình theo nội dung của Hiệp định
ở các ĐTMN từ năm 1954 đến năm 1965 diễn ra liên tục, có lúc sôi nổi,
có lúc trở thành cao trào, nhưng cũng có lúc phong trào tạm lắng nhưnggắn mục tiêu đấu tranh phổ biến là đòi quyền lợi dân sinh, dân chủ vớimục tiêu dân tộc Nội dung và khẩu hiệu cụ thể như đòi tăng lương, đòitiền thưởng Tết, tiền phụ cấp, đòi khám chữa bệnh kịp thời cho côngnhân ốm đau; đòi quyền tự do hội họp, tự do nghiệp đoàn,
Trang 27quyền đại diện nghiệp đoàn phải được tôn trọng, các Tổng Liên đoànphải được phép xuất bản tờ báo hằng ngày như các đoàn thể chính trịkhác, chống chia rẽ nghiệp đoàn, đặc biệt là chống lại luật cấm đìnhcông, hội họp của CQSG; chống giao dịch buôn bán với người Mỹ,không chuyên chở người Mỹ, không đón tiếp người Mỹ; đòi Mỹkhông được can thiệp vào nội bộ của người Việt Nam Như vậy, cóthể khẳng định rằng, phong trào công nhân ở các ĐTMN từ năm
1954 đến năm 1965 dù tự phát hay tự giác, đều thể hiện rõ tính chấtdân tộc, dân sinh và dân chủ sâu sắc Mục tiêu đấu tranh của côngnhân ở các ĐTMN thể hiện sự kết hợp chặt chẽ giữa hai tính chất dântộc và giai cấp, giữa mục tiêu lâu dài với mục tiêu cụ thể trước mắttrong từng thời điểm cụ thể, góp phần đánh đổ ách thống trị của đếquốc Mỹ và CQSG, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước
3 Phong trào công nhân ở các ĐTMN từ năm 1954 đến năm
1965 diễn ra đều khắp, trước hết là những thành phố lớn như Sài Gòn
- Chợ Lớn, Huế, Đà Nẵng, Biên Hòa; bao gồm hầu hết mọi ngành từcông nhân thủy điện, hỏa xa, công nhân dệt, công nhân viễn thông,đến công nhân bến tàu, công nhân taxi, phong trào công nhân ở cácĐTMN đã sáng tạo nhiều phương thức đấu tranh phong phú, đa dạng,
từ những cuộc tập hợp lực lượng, tổ chức hội nghị đưa yêu sách, lấychữ ký, tổ chức các diễn đàn, rồi lãn công, biểu tình thị uy, đình công
và tiến lên tổng bãi công,… qua đó phong trào đã phát triển nhanhchóng và thực sự trở thành một mũi xung kích trong các phong tràođấu tranh yêu nước ở các ĐTMN Những hình thức, biện pháp đấutranh cho thấy phong trào công nhân ở các ĐTMN thể hiện linh hoạt
và sáng tạo, vừa lợi dụng thế công khai hợp pháp, bán hợp pháp vàbất hợp pháp Sự phong phú và đa dạng về các hình thức và biệnpháp đấu tranh đã tạo điều kiện cho công nhân ở các ĐTMN và cáctầng lớp nhân dân tùy theo điều kiện và hoàn cảnh của mình mà thamgia phong trào Mặt khác, chính sự đan xen giữa các hình thức đấutranh đó đã tạo cho phong trào có thêm sức mạnh để đương đầu với
Mỹ và CQSG
4 Đương nhiên, để có được những hình thức, biện pháp đấutranh đa dạng, phong phú, phong trào công nhân ở các ĐTMN đãphải gắn bó chặt chẽ, phải hòa nhập cùng phong trào ĐTMN Hầu hếtcác cuộc đấu tranh của công nhân ở các ĐTMN từ năm 1954 đếnnăm 1965, cho dù bộ phận công nhân nào khởi xướng thì cũng có sự
Trang 28tham gia hoặc ủng hộ công nhân các ngành, của công nhân đồn điền,của giai cấp nông dân và các tầng lớp xã hội miền Nam như học sinh,
sinh viên, Phật tử,… “Một sự hội tụ dân tộc” như thế đã nói lên vai trò, vị trí, tính “tiền phong” của phong trào công nhân ở các ĐTMN.
Đoàn kết giai cấp, đoàn kết mọi tầng lớp xã hội trong đấu tranh là bàihọc kinh nghiệm đắt giá đối phong trào công nhân ở các ĐTMN,rộng ra là đối với phong trào công nhân miền Nam trong cuộc đấutranh rộng lớn vì mục tiêu giải phóng miền Nam, thống nhất đấtnước
Sự hợp lực giữa phong trào công nhân ở các ĐTMN với côngnhân đồn điền, với giai cấp nông dân và các tầng lớp xã hội đã đưaphong trào ĐTMN tiến lên cao trào, góp phần làm sa sút ý chí củaquân đội Sài Gòn, từ đó góp phần làm sụp đổ các CQSG nối tiếpnhau, từ CQNĐD đến Nguyễn Khánh, Trần Văn Hương Vì vậy, điềukhẳng định là trong phong trào ĐTMN từ năm 1954 đến năm 1965,phong trào công nhân giữ một vai trò quan trọng, làm cho hậuphương của địch trở nên rối loạn, mất ổn định, tạo điều kiện chophong trào cách mạng miền Nam ở rừng núi, nông thôn đồng bằng
phát triển, tiến đến làm phá sản chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”
của Mỹ ở miền Nam, góp phần đưa phong trào cách mạng miền Namkhông ngừng phát triển, tiến đến hoàn thành sự nghiệp giải phóngmiền Nam, thống nhất đất nước (30-4-1975)
5 Phong trào công nhân ở các ĐTMN từ năm 1954 đến năm
1965 chứng minh sự đúng đắn phương châm đấu tranh “hai chân, ba
mũi”, “ba mũi giáp công”, “ba vùng chiến lược” của Đảng trong
cách mạng miền Nam Đây là nét độc đáo trong phong trào đấu tranhcách mạng của nhân dân miền Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Từthực tiễn phong trào giúp cho công nhân ở các ĐTMN nhận rõ bảnchất của kẻ thù, đồng thời tích lũy và đúc rút được những bài họckinh nghiệm quý báu để tiến đến đấu tranh quyết liệt với kẻ thù tronggiai đoạn tiếp theo
Tự hào về quá khứ là chính đáng, là điều đáng trân trọng,nhưng niềm tự hào đó chỉ có ý nghĩa khi nó trở thành những hànhđộng hiện thực, vì một nước Việt Nam giàu mạnh, văn minh, hiện đạihơn Trong sự nghiệp này công nhân Việt Nam phải thực sự là lựclượng tiên phong trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đấtnước, đó là điều mà giai cấp công nhân Việt Nam luôn luôn ghi nhớ
và quyết tâm thực hiện cho bằng được
Trang 29DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ
CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
1 Nguyễn Thị Thanh Huyền (2013), “Sự liên kết, phối hợp giữa
phong trào công nhân và phong trào Phật giáo trong cuộc đấutranh chống CQSG (1963-1965)”, Kỷ yếu Hội thảo Khoa học trẻ,lần thứ VIII, Trường Đại học Khoa học Huế, (T11/2013)
2 Nguyễn Thị Thanh Huyền (2014), “Phong trào công nhân vì mục
tiêu dân sinh, dân chủ và tự do ở các đô thị miền Nam giai đoạn
1961-1964”, Tạp chí Lịch sử Đảng, số 283 (6/2014).
3 Nguyễn Thị Thanh Huyền (2015), “Công nhân Sài Gòn - Gia Định
trong chiến dịch Hồ Chí Minh”, Hội thảo Khoa học: 40 năm thốngnhất đất nước và xây dựng, bảo vệ Tổ quốc (1975-2015), TrườngĐại học Sư phạm, Đại học Huế, (4/2105)
4 Nguyễn Thị Thanh Huyền (2015), “Cuộc đấu tranh của công nhân
hỏa xa miền Nam những năm đầu sau Hiệp định Genève”, Tạp
chí
KH & CN Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế, chuyên san
Xã hội và Nhân văn, (7/2015)
5 Nguyễn Thị Thanh Huyền (2015), “Tìm hiểu phong trào đấu tranh
của công nhân ngành dệt ở miền Nam Việt Nam (1963-1964)”,
Tạp chí Lịch sử Đảng, số 296, (7/2015).
6 Nguyễn Thị Thanh Huyền (2015), Phong trào công nhân Sài Gòn
- Gia Định (1961-1964) in trong sách “Về phong trào đô thị miềnNam trong kháng chiến chống Mỹ (1954-1975)”, NXB Tổng hợpTPHCM
7 Nguyễn Thị Thanh Huyền, Nguyễn Thị Phương, Nguyễn Hoài
Xuân (2015), “Sự đoàn kết giữa giai cấp công nhân và các tầnglớp nhân dân đô thị miền Nam giai đoạn 1954-1965”, Hội thảoKhoa học: Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc với sựnghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Bảo tàng Hồ Chí Minh tỉnhThừa Thiên Huế - Khoa Lý luận Chính trị, Trường Đại học Khoahọc, Đại học Huế, (T9/2015)
8 Nguyễn Thị Thanh Huyền - Lê Cung (2015), “Phong trào công
nhân Sài Gòn - Gia Định trong giai đoạn chống chiến lược “Chiến
tranh đặc biệt” của Mỹ (1961-1965), Tạp chí NCLS, số 473
(9/2015)