Khái niệm về tội phạm Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách c
Trang 1BỘ CÔNG THƯƠNG
TRƯỜNG CAO ĐẲNG CÔNG THƯƠNG TP.HCM
BÀI TẬP NHÓM
MÔN PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG
Chủ đề: Tội Phạm
Nhóm : 5 AE siêu nhân Lớp: PLĐC CCQ2112OP HK1 21-22 GVHD: Đinh Thị Diệu Thúy
Tp.Hồ Chí Minh, tháng 12 năm 2021
Trang 2Nhóm: 5 AE siêu nhân Chủ đề: Tội phạm
Nhận xét của giáo viên
1 CÔNG TÁC CHUẨN BỊ
………
………
2 NỘI DUNG
………
………
3 TRÌNH BÀY
………
………
4 PHẢN BIỆN
………
………
………
NỘI DUNG
Trang 3CHỦ ĐỂ : TỘI PHẠM
1 Khái niệm về tội phạm
Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự do người
có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự (Điều 8, Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017)
2. Cấu thành của tội phạm
Cấu thành tội phạm là tổng hợp các dấu hiệu chung có tính đặc trưng cho một loại tội cụ thể được quy định trong Bộ luật Hình sự
Cấu thành tội phạm bao gồm:
- Khách thể của tội phạm
Là quan hệ xã hội được Luật hình sự bảo vệ ,bị tội phạm xâm hại bằng cách gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho các quan hệ xã hội đó
- Mặt khách quan của tội phạm
Là những biểu hiện của bên ngoài tội phạm.Mặt khách quan bao gồm các dấu hiệu: hành vi nguy hiểm cho xã hội ,hậu quả tác hại do tội phạm gây ra, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi nguy hiểm và hậu quả do hành vi đó gây ra ; thời gian, địa điểm; công cụ phương tiện thực hiện tội phạm v.v
- Mặt chủ quan của tội phạm
Là những biểu hiện bên trong của tội phạm,là thái độ tâm lý của người phạm tội.Mặt chủ quan của tội phạm gồm các dấu hiệu lỗi,động cơ, mục đích cuả tội phạm
- Chủ thể của tội phạm
Trang 4Là con người cụ thể thực hiện hành vi phạm tội ,mà theo quy định của Luật Hình sự
họ phải chịu trách nhiệm về hành vi đó.Chủ thể của tội phạm phải là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đủ độ tuổi theo quy định của pháp luật Hình sự
3 Các dấu hiệu của tội phạm
Để xác định một hành vi có phải là tội phạm hay không thì cần phải xét xem hành vi đó
có đủ các dấu hiệu để cấu thành tội phạm hay không Thực tế việc xác định các dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm đối với từng tội phạm thường khá khó để xác định, dẫn đến nhiều trường hợp vi phạm đáng tiếc
Các dấu hiệu của tội phạm cụ thể như sau:
3.1 Tính nguy hiểm cho xã hội
Tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm là một thuộc tính của tội phạm thể hiện ở việc gây thiệt hại hoặc tạo ra nguy cơ gây thiệt hại cho các quan hệ xã hội là đối tượng bảo vệ của luật hình sự Nó là thuộc tính cơ bản và quan trọng nhất, quyết định những thuộc tính khác của tội phạm Tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm là thuộc tính có tính khách quan, tính xã hội, tính giai cấp và tính lịch sử
Việc nhận thức đúng đắn, đầy đủ tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm với tư cách là một thuộc tính xã hội của tội phạm có ý nghĩa quan trọng trong việc nhận thức đúng đắn tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm, là chìa khóa để làm sáng tỏ bản chất xã hội và giai cấp của các chế định tội phạm và hình phạt, từ đó làm cơ sở cho việc xã hội hóa đấu tranh phòng, chống tội phạm
Tính nguy hiểm cho xã hội được coi là dấu hiệu cơ bản quan trọng nhất, điều này đã được thể hiện qua các quy định của pháp luật
3.2 Tính có lỗi
Lỗi là thái độ tâm lý chủ quan của con người đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội
mà họ thực hiện và đối với hậu quả do hành vi đó gây ra Lỗi thể hiện dưới dạng cố ý hoặc vô
ý, là một dấu hiệu rất quan trọng trong cấu thành tội phạm Mục đích của áp dụng hình phạt là trừng phạt người có lỗi chứ không phải trừng phạt hành vi Trong bộ luật hình sự Việt Nam thì nguyên tắc có lỗi được coi là nguyên tắc cơ bản Người chịu trách nhiệm hình sự theo luật hình
sự Việt Nam không phải chỉ đơn thuần vì người này có hành vi khách quan gây thiệt hại cho xã hội mà còn vì đã có lỗi trong thực hiện hành vi khách quan đó Có thể chia hành vi phạm tội thành lỗi cố ý và lỗi vô ý phân biệt lỗi cố ý gồm 2 hình thức: lỗi cố ý trực tiếp và lỗi cố ý gián tiếp Lỗi vô ý cũng có 2 hình thức: lỗi vô ý vì quá tự tin và lỗi vô ý do cẩu thả
Trang 5- Lỗi cố ý
Lỗi cố ý trực tiếp:Lỗi cố ý trực tiếp là lỗi của một người khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, nhận thức rõ hành vi của mình là có tính nguy hiểm cho
xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra
Lỗi cố ý gián tiếp:Lỗi cố ý gián tiếp là lỗi của một người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, nhận thức rõ tính nguy hiểm co xã hội của hành vi của mình, thấy trước hậu quả của hành vi đó có thể xảy ra, tuy không mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra
- Lỗi vô ý
Lỗi vô ý vì quá tự tin:Lỗi vô ý vì quả tự tin là lỗi trong trường hợp người phạm tội tuy thấy hành vi của mình có thể gây hậu quả nguy hiểm cho xã hội nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được nên vẫn thực hiện và đã gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội
Lỗi vô ý do cẩu thả: Người thực hiện hành vi phạm tội không thấy trước hậu quả nguy hiểm, hoặc phải thấy trước hậu quả nguy hiểm, có thể thấy trước hậu quả
3.3 Tính trái pháp luật
Tính trái pháp luật cũng là dấu hiệu đặc biệt quan trọng Những hành vi được coi là trái pháp luật cũng đồng thời là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Luật hình
sự Tính trái pháp luật là căn cứ để đảm bảo quyền lợi của công dân, tránh việc xử lý tùy tiện
Tính trái pháp luật hình sự và tính nguy hiểm cho xã hộ là hai dấu hiệu có mối quan
hệ biện chứng với nhau, tính trai pháp luật hình sự là dấu hiệu về mặt hình thức pháp lí phản ánh tính nguy hiểm cho xã hội
Theo Điều 8 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, hành vi nguy hiểm cho xã hội chỉ được coi là tội phạm nếu được quy định trong Bộ luật Hình sự
3.4 Tính phải chịu hình phạt
Tính phải chịu hình phạt cũng là dấu hiệu đặc trưng của tội phạm Bất cứ một hành vi phạm tội nào cũng đều bị đe dọa phải chịu một hình phạt Chỉ có hành vi phạm tội mới phải
Trang 6chịu hình phạt, tội càng nghiêm trọng thì hình phạt áp dụng càng nghiêm khắc, không có tội phạm thì sẽ không có hình phạt
Tính phải chịu hình phạt là dấu hiệu kèm theo của dấu hiệu tính nguy hiểm cho xã hội và tính trái pháp luật hình sự Tính nguy hiểm cho xã hội và tính trái pháp luật hình sự là cơ
sở để cụ thể hóa tính phải chịu hình phạt, tính nguy hiểm cho xã hội càng lớn thì hình phạt càng cao Cũng vì tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm mà bất cứ hành vi phạm tội nào cũng có thể bị đe dọa áp dụng hình phạt
4 Phân loại tội phạm
Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi được quy định trong Điều 9,Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, tội phạm được phân thành tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng
4.1 Tội phạm ít nghiêm trọng
Tội phạm ít nghiêm trọng được hiểu là tội phạm gây nguy hại không lớn cho xã hội
mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến 3 năm
4.2 Tội phạm nghiêm trọng
Tội phạm nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là từ trên 3 năm tù đến 7 năm tù
4.3 Tội phạm rất nghiêm trọng
Tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại rất lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là từ trên 7 năm tù đến 15 năm tù
4.4 Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng
Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là từ trên 15 năm tù đến 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình
5 Nguyên nhân dẫn đến tội phạm
5.1 Khái niệm nguyên nhân tội phạm
Khi tìm hiểu bất kì vụ án cụ thể nào, ta sẽ thấy tội phạm phát sinh là do tác động của nhiều nhân tố khác nhau và không phải là tác động chỉ từ nhân tố nào đó Các nhân tố được coi
Trang 7là “tác nhân” làm phát sinh tội phạm có sự tác động qua lại với nhau và trong tình huống cụ thể, nhất định mới có thể làm phát sinh tội phạm Chính vì vậy, tìm hiểu về nguyên nhân của tội phạm đòi hỏi người nghiên cứu phải tiếp cận đa chiều với việc phân tích các nhân tố khác nhau
có thể tác động, ảnh hưởng đến việc phát sinh tội phạm Dựa trên kết quả nghiên cứu, người nghiên cứu sẽ rút ra được những nhân tố nào là nguyên nhân chủ yếu trong việc phát sinh tội phạm, trên cơ sở đó việc xây dựng biện pháp phòng ngừa mới có định hướng cụ thể, có tính tập trung và không bị dàn trải Từ việc phân tích trên, có thể hiểu:
Nguyên nhân của tội phạm là tổng hợp các nhân tố mà sự tác động qua lại giữa chúng đưa đến việc thực hiện tội phạm của người phạm tội
Ở mức độ tổng quan, cỏ thể chia nguyên nhân của tội phạm thành những nhóm nguyên nhân sau:
+ Nhóm nguyên nhân từ môi trường sống;
+ Nhóm nguyên nhân xuất phát từ phía người phạm tội;
+ Tình huống cụ thể (trong một số trường hợp được coi là nguyên nhân đưa đến việc phát sinh tội phạm)
5.2 Phân loại nguyên nhân tội phạm
Tội phạm phát sinh là kết quả tác động của hàng loạt các nguyên nhân khác nhau các nhà khoa học có các cách phân loại nguyên nhân của tội phạm sau:
- Căn cứ vào mức độ tác động của nguyên nhân trong việc làm phát sinh tội phạm,
có thể chia nguyên nhân thành nguyên nhân chủ yếu và nguyên nhân thứ yếu
Nguyên nhân chủ yếu làm phát sinh tội phạm là những nhân tố đóng vai trò chủ chốt ừong việc làm phát sinh tội phạm và những nhân tố này chiếm tỉ trọng đáng kể trong tổng số các nhân tố làm phát sinh tội phạm
Nguyên nhân thứ yếu làm phát sinh tội phạm là những nhân tố chỉ đóng vai trò hạn chế trong việc làm phát sinh tội phạm và những nhân tố này chiếm tỉ trọng không đáng kể trong tổng số các nhân tố làm phát sinh tội phạm
- Căn cứ vào nguồn gốc xuất hiện, có thể chia nguyên nhân của tội phạm thành nguyên nhân bắt nguồn từ môi trường sống và nguyên nhân xuất phát từ phía người phạm tội
Nguyên nhân bắt nguồn từ môi trường sống là tổng họp các nhân tố tiêu cực được hình thành từ môi trường sống của cá nhân có thể tác động, ảnh hưởng đến cá nhân ở mức độ nhất định mà từ đó làm phát sinh tội phạm
Nguyên nhân xuất phát từ phía người phạm tội là tổng hợp những nhân tố tiêu cực thuộc về nhân thân người phạm tội có thể tác động, ảnh hưởng, dẫn đến
Trang 8việc làm phát sinh tội phạm của người phạm tội Những nhân tố tiêu cực này có thể là các yếu tố thuộc về sinh học, tâm lý, xã hội-nghề nghiệp của người phạm tội
6 Động cơ và mục đích của tội phạm
6.1 Động cơ của tội phạm
Để hiểu được động cơ của tội phạm là gì, đầu tiên phải hiểu khái niệm về động lực.Tuy nhiên, không phải bất cứ nhu cầu có thể trở thành động lực, chỉ cần để trỏ đến một mục tiêu nhất định, và chứng minh khả năng đạt được một mục tiêu, động lực để hình thành, sẽ có đến hành vi của trình điều khiển.các điều kiện cho sự hình thành của động cơ gồm hai phần: Thứ nhất, điều kiện nội bộ, nhu cầu, ham muốn; Thứ hai, điều kiện bên ngoài, tức là ưu đãi để kích thích
Do đó, khái niệm về động lực có thể được tóm tắt như: Động lực là sức mạnh bên trong để thúc đẩy hành động của con người, nó đang gây ra và duy trì hành vi cá nhân, và hành
vi này là một mong muốn và ý tưởng định hướng mục tiêu
Từ đó ta có khái niệm :
Động cơ là cái thúc đẩy con người hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu hoặc đạt tới một mục đích nào đó Cá nhân thực hiện hành vi phạm tội bao giờ cũng có động cơ nhất định thúc đẩy Không có động cơ tâm lý thúc đẩy thì không thể có hành vi phạm tội
6.2 Mục đích của tội phạm
Cái gọi là mục đích phạm tội, là kết quả thủ phạm hy vọng sẽ đạt được thông qua việc thực hiện một số hành vi phạm tội hậu quả xã hội có hại của thái độ tinh thần, đó là hậu quả tai hại về việc thực hiện chủ quan người phạm tội Khi thực hiện như thủ phạm của hành vi trộm cắp, nó là mục đích của sở hữu bất hợp pháp của tài sản công cộng hay tư nhân, thực hiện
vụ giết người có chủ ý, có một mục đích trái pháp luật tước của cuộc sống Chúng ta cần phân biệt mục đích của tội phạm và hậu quả của tội phạm Hậu quả là kết quả thực tế khi người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội để đạt được mục đích Mục đích phạm tội là đặt ra trước còn hậu quả là kết quả của hành vi
7 Tình huống
TH 1: Giả sử Q và công xưởng H có một số mâu thuẫn Q đã quyết định trả thù bằng cách đốt 1 số tài liệu của xưởng H , Q không biết kế bên có 1 thùng dầu và còn 1 công nhân của công xưởng H bị say rượu ngủ quên trong xưởng nên đã gây ra hậu quả đốt
Trang 9cháy luôn xưởng H và làm chết người Theo bạn Q có phải chịu trách nhiệm hình sự
về việc cháy xưởng và cái chết của người công nhân này không? Tại sao?
TH 2: T vừa lĩnh 50 triệu đồng tiền gửi ngân hàng đi ra đến đường quốc lộ thì K dùng
dao dí vào cổ T và yêu cầu T đưa tiền, nếu không đưa thì K sẽ đâm Ngay lúc đó quần chúng nhân dân chạy tới bắt giữ K Vậy K có phạm tội không?
Giải quyết tình huống
TH1: Q có phải chịu TNHS về cái chết của người công nhân này vì
Mặt chủ quan:
– Lỗi: Hành vi của Q là lỗi vô ý vì quá tự tin Q đã có hành vi đốt xưởng khiến 1 công nhân trong xưởng bị thiệt mạng
+ Về lí trí: Q nhận thức được tính chất nguy hiểm cho xã hội do hành vi của mình gây ra Mặc dù thấy trước được hậu quả chết người (nếu còn người trong xưởng) tuy nhiên Q đã quá tự tin cho rằng sẽ không còn ai trong xưởng( Q cho rằng hậu quả chết người do hành vi của mình sẽ không xảy ra mà chỉ có thể gây thiệt hại về tài sản)
+ Về ý chí: Q không mong muốn hậu quả làm chết người xảy ra Sự không mong muốn này của Q gắn liền với việc Q đã loại trừ khả năng làm chết người xảy ra ( cho rằng không có ai ở trong xưởng )
Mặt khách quan:
– Hành vi khách quan: Q đã có hành vi cố tình đốt xưởng
– Hậu quả: gây thiệt hại về tài sản và gây ra cái chết cho công nhân trong xưởng Như vậy hành vi của Q đã thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệu của CTTP
Q phải chịu TNHS về cái chết của công nhân ngủ quên trong xưởng Theo Điều 98 về Tội vô ý làm chết người: “1.Người nào vô ý làm chết người thì bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.”
TH2: K đã có tính nguy hiểm cho xã hội
– K đã có hành vi đe doạ dùng ngay tức khắc vũ lực để buộc T là người bị tấn công phải sợ và tin tưởng nếu không đưa tiền cho K thì tính mạng của T sẽ bị nguy hại
Trang 10– Do đó K đã phạm tội cướp tài sản được quy định tại Điều 133 Bộ luật hình sự Bởi theo quy định tại Điều 168 Bộ luật hình sự năm 2015 thì một trong các hành vi khách quan của tội cướp tài sản là hành vi đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Công ty, l d (2021, 3 18) Tư vấn pháp luật Retrieved from luatduonggia.
2 Lê, M T (2021, 2 28) Tư vấn pháp luật Retrieved from luatminhkhue.
3 Nguyễn , V P (2021, 11 27) bộ luật hình sự việt nam Retrieved from luathoangphi.
Câu hỏi tương tác
1 Tội phạm có những loại nào dưới đây ?
A Tội phạm ít nghiêm trọng
B Tội phạm nghiêm trọng
C Tội phạm rất nghiêm trọng
D Tất cả các ý trên
2 Những dấu hiệu nào sau đây là dấu hiệu của lỗi cố ý do cẩu thả?
A Người phạm tội nhận thức được tính nguy hiểm của hành vi
B Người phạm tội mong muốn cho hậu quả xảy ra
C Không mong muốn cho hậu quả xảy ra
D Người phạm tội nhận thức được hậu quả của hành vi
3 Theo khoản 1 điều 123 thì người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình Pháp luật có quy định rất rõ ràng về mức hình phạt mà người phạm tội cần chịu khi vi phạm Điều này mang dấu hiệu nào của tội phạm ?
A Tính nguy hiểm cho xã hội
B Tính có lỗi
C Tính trái pháp luật