TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM ĐÀ NẴNG KHOA VẬT LÝ Tiểu luận PHÁT HIỆN VÀ KHẮC PHỤC NHỮNG QUAN NIỆM SAI LỆCH CỦA HỌC SINH TRONG DẠY HỌC PHẦN ĐIỆN HỌC MÔN VẬT LÍ Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG Nhóm học viê
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM ĐÀ NẴNG
KHOA VẬT LÝ
Tiểu luận
PHÁT HIỆN VÀ KHẮC PHỤC NHỮNG QUAN NIỆM SAI LỆCH CỦA HỌC SINH TRONG DẠY HỌC PHẦN ĐIỆN HỌC MÔN VẬT LÍ Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG
Nhóm học viên: Nguyễn Thanh Diễm
Hoàng Thị Hiền
Lê Thị Ngọc Thúy Nguyễn Văn San Lớp: Cao học LL & PPDH bộ môn Vật lý k35 Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS Lê Văn Giáo
Đà Nẵng, tháng 1 năm 2018
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Quá trình dạy học chịu tác động của nhiều yếu tố, có những yếu tố thuận lợi, cũng có những yếu tố gây nhiều trở ngại đến việc tiếp thu kiến thức mới của học sinh Lí luận và thực tiễn dạy học cho thấy, một trong những yếu tố gây nhiều trở lực cho quá trình dạy học chính là những quan niệm sai lệch của học sinh về các sự vật, hiện tượng Chính vì vậy, khi tiếp thu kiến thức mới các em thường có những hiểu biết sai lệch về những hiện tượng được nghiên cứu Và điều này đã làm ảnh hưởng đến chất lượng nắm kiến thức của học sinh, tạo nên những trở lực, gây khó khăn trong việc hình thành kiến thức mới cho học sinh Quan niệm của học sinh về những vấn đề, hiện tượng, khái niệm và quá trình vật
lí sắp được nghiên cứu trong giờ học luôn luôn tồn tại Quan niệm của học sinh được hình thành dần theo thời gian và bởi nhiều nguyên nhân khác nhau nhưng đều có những đặc điểm giống nhau: đó là có tính phổ biến, bền vững và đa số quan niệm đều sai lệch với bản chất vật lí của khái niệm, hiện tượng và quá trình vật lí diễn ra, điều này gây nhiều khó khăn, trở lực trong dạy học vật lí Việc khắc phục, sửa đổi những quan niệm đó là hết sức cần thiết, nhưng không thể
“phủ nhận quan niệm”, “khẳng định sự thật” như phần lớn giáo viên hiện nay đang áp dụng
Theo lí luận dạy học hiện đại thì một trong những nhiệm vụ quan trọng của quá trình dạy học là nhằm chuyển những quan niệm sai lệch của học sinh thành những quan niệm khoa học
Chính vì vậy nên hiểu rõ những quan niệm sai lệch của học sinh và tìm ra phương pháp phù hợp để khắc phục những quan niệm đó là việc cần làm của người thầy
Từ những lý do trên chúng tôi nghiên cứu và viết tiểu luận: “Phát hiện và
khắc phục quan niệm sai lệch của học sinh trong dạy học phần Điện học môn Vật lí ở trường phổ thông”, với mong muốn đóng góp một phần nhỏ vào công
việc nâng cao chất lượng dạy học vật lý ở trường phổ thông
2 Mục tiêu nghiên cứu
Phát hiện và khắc phục những quan niệm sai lệch của học sinh trong dạy học vật lí ở trường phổ thông
3 Giả thuyết khoa học
Nếu phát hiện và khắc phục những quan niệm sai lệch của học sinh trong
dạy học vật lí thì sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy và học vật lí ở trường phổ
thông
4 Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động dạy và học vật lí phần điện học ở trường Trung học phổ thông,
trong đó chú ý đến phát hiện và khắc phục những quan niệm sai lệch của học sinh
5 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu dạy học phần Nhiệt học môn Vật lí ở trường
phổ thông
6 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu các sách, bài báo, tạp chí chuyên nghành Nghiên cứu chương
trình, sách giáo khoa, sách bài tập, các tài liệu tham khảo Vật lý 10 THPT
Trang 3NỘI DUNG
I QUAN NIỆM CỦA HỌC SINH VÀ VIỆC DẠY HỌC VẬT LÍ Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG
1 Khái niệm quan niệm
1.1 Khái niệm quan niệm (QN)
Theo Từ điển tiếng Việt thì: “Quan niệm là sự nhận thức như thế nào
đó về một vấn đề, một sự kiện”
Theo từ điển của Petit của Paul Robert thì “Quan niệm là sự hình thành một khái niệm, một ý nghĩa khái quát trong óc con người, quan niệm là kết quả của hoạt động trí tuệ”
Hay theo nhà tâm lí học Vinacke thì: “Quan niệm là hệ thống cấu trúc nhận thức, nhờ nó những thuộc tính còn lại của những kinh nghiệm đã trải qua, có thể được tái hiện nhờ những kích thích hiện tại”
Như vậy, ta có thể hiểu quan niệm là sự hiểu biết của con người về sự vật, hiện tượng và các quá trình tự nhiên được hình thành trong quá trình sinh hoạt
và lao động sản xuất hàng ngày Những hiểu biết này tiềm ẩn trong não bộ và được tái hiện khi có nhu cầu bộc lộ Trong thực tế, mỗi cá nhân lại có một tầm hiểu biết khác nhau và có cách nhìn nhận dưới những góc độ riêng nên QN có tính cá biệt rất cao Đồng thời những QN của cá nhân được hình thành một cách
tự phát và mang yếu tố chủ quan nên thường không khách quan và thiếu khoa học
Trong dạy học, các quan niệm như vậy của học sinh được gọi là quan niệm của học sinh để phân biệt với các quan niệm khoa học (quan niệm vật lý học) mà các em được học Trong những quan niệm của học sinh, có những quan niệm không phản ánh đúng với bản chất vật lý, bản chất khoa học vốn có của sự vật, hiện tượng và khái niệm vật lý, người ta gọi đó là những quan niệm sai lệch của học sinh
1.2 Khái niệm quan niệm của học sinh
Trước đây người ta cho rằng HS là những “tờ giấy trắng” và thầy giáo là
người đầu tiên viết lên đó những tri thức khoa học Nhưng đến thập niên 70 của thế kỉ XX, nhiều nhà lý luận dạy học trên thế giới đã tiến hành nghiên cứu những QN của HS và đưa ra kết luận: “Khi đến trường HS đã mang theo mình
một “tài sản riêng”, đó là những QN của HS đã có trước giờ học về những hiện
tượng, khái niệm vật lý…mà các em sẽ được nghiên cứu trong giờ học” Nhà tâm lý học J Piaget đã nhận định: “Trẻ em có cách nhìn, cách nghĩ và cảm nhận riêng của nó” Cách nhìn, cách nghĩ và cảm nhận riêng của HS trước giờ học
Trang 4chính là QN của các em
Theo giáo sư Nguyễn Đức Thâm thì “HS khi bắt đầu học vật lý, do kinh nghiệm đời sống đã có một số hiểu biết nhất định về các hiện tượng vật lý”
Như vậy, QN của HS là những hiểu biết mà HS có trước giờ học QN của
HS thường không đúng với bản chất vật lý, bản chất khoa học vốn có của các sự vật, hiện tượng, người ta gọi đó là những QN sai lệch của HS
2 Nguồn gốc quan niệm học sinh
Lý luận và thực tiễn đã cho thấy QN của HS được hình thành do nhiều nguyên nhân khác nhau Trong đó, chủ yếu do những yếu tố sau:
2.1 Qua thực tế, kinh nghiệm đời sống thường ngày
Mỗi con người sinh ra, ngay từ nhỏ đã được tiếp xúc với thế giới tự nhiên
và giao tiếp với mọi người xung quanh Từ đó, tư duy và sự hiểu biết của mỗi người ngày càng được mở rộng Tuy nhiên, những kiến thức được tích lũy qua thực tế đời sống hàng ngày chỉ là những kiến thức mang tính chất kinh nghiệm Những kiến thức này là vốn sống, vốn hiểu biết riêng của mỗi cá nhân, hay chính là QN của mỗi người về các hiện tượng tự nhiên, xã hội Ví dụ, quan sát thực tế học sinh thấy khi muốn làm cho một vật chuyển động thì ta phải tác dụng lên vật một lực kéo, khi thôi tác dụng lực thì vật chuyển động chậm dần rồi dừng lại Vì thế, các em QN lực là nguyên nhân của chuyển động Sau này, qua học tập trong trường lớp, tư duy của HS mới thực sự phát triển và hiểu biết của các
em mới thực sự đầy đủ và chính xác
Như vậy, kinh nghiệm thực tiễn là nguồn gốc chủ yếu hình thành QN của
HS Và chính những kinh nghiệm này sẽ trở thành những QN bền vững và rất khó khắc phục trong giờ học
2.2 Do sự phong phú của ngôn ngữ
Sự phong phú của ngôn ngữ cũng là một nguyên nhân hình thành QN của HS Ngôn ngữ thường rất phong phú, đặc biệt là ngôn ngữ tiếng Việt, có khi cùng một từ lại mang nhiều nghĩa khác nhau, hay với một vấn đề nhưng ta
có thể dùng nhiều từ khác nhau để diễn đạt Riêng môn vật lý, một số thuật ngữ dùng để diễn đạt các khái niệm, hiện tượng vật lý trùng với những từ sử dụng trong đời sống hàng ngày Đối với những từ như vậy thường có hai ý nghĩa: ý nghĩa trong sinh hoạt và ý nghĩa vật lý
Ví dụ 3: Trong sinh hoạt thường ngày, từ “sức” và từ “lực” có cùng một
ý nghĩa, dùng để chỉ sức mạnh như sức lực, sức khỏe Trái lại, trong vật lí, hai
từ này được phân biệt và sử dụng với những ý nghĩa cụ thể như: lực hút, lực đẩy, lực ma sát ; sức căng, sức ngựa
Trang 5Như vậy, chính sự phong phú và đa dạng của ngôn ngữ là nguyên nhân dẫn đến những hiểu biết sai lệch của HS về các hiện tượng, khái niệm vật lý
Ngược lại, cũng có những khái niệm tuy có cùng nội hàm nhưng có thể dùng các thuật ngữ khác nhau để diễn đạt như: Điện thế - điện áp; động lượng – xung lượng; …điều nàu đôi khi làm cho các em hiểu sai lệch về các cách diễn đạt ít thông dụng hơn
2.3 Do kiến thức từ những môn học khác hay từ những giờ học trước
Những kiến thức HS được học từ các môn học khác hay từ các tiết học trước có liên quan đến kiến thức sắp học nhưng không được tìm hiểu kĩ cũng có thể làm cho HS hiểu không đầy đủ hoặc hiểu sai về một khái niệm mới nào đó Đây cũng là một trong những nguyên nhân hình thành QN của HS và thường là những QN sai lệch, không trùng với kiến thức khoa học
Ví dụ 4: Khi học bài “Chuyển động thẳng biến đổi đều”, để đơn giản chúng ta chọn chiều dương là chiều chuyển động, lúc đó nếu a > 0 thì chuyển động là nhanh dần đều còn a < 0 thì chuyển động là chậm dần đều Nếu GV không lưu ý và nhấn mạnh rằng kết luận trên chỉ đúng khi chọn chiều dương là chiều chuyển động thì HS sẽ QN kết luận đó đúng cho cả khi chúng ta chọn chiều dương ngược với chiều chuyển động
3 Đặc điểm QN của HS
- Quan niệm của học sinh rất bền vững, khó thay đổi: do những kiến thức
có tính chất kinh nghiệm, những hiểu biết tự phát ở học sinh được hình thành và tích lũy dần dần ngày càng nhiều, ngày này sang ngày khác, ngày càng được khắc sâu và trở thành vốn hiểu biết riêng của mỗi cá nhân
- Đa số quan niệm của học sinh đều sai lệch hoặc chưa hoàn chỉnh, chưa chính xác so với những cái mà học sinh cần phải học: do quan niệm của học
sinh được hình thành một cách tự phát
- Có tính phổ biến, ví dụ như học sinh ở Việt Nam cũng như ở nước ngoài
đều mắc phải sai lầm: lực là nguyên nhân duy trì chuyển động
Như vậy, có thể nói phần lớn quan niệm của học sinh là sai lệch so với bản chất vật lí, mặt khác chúng có đặc điểm rất bền vững, nên đa số quan niệm của học sinh thường gây ra những khó khăn trong việc dạy và học vật lí ở trường phổ thông
4 Vai trò quan niệm của học sinh trong dạy học vật lí
4.1 Mặt tích cực:
Đối với những quan niệm sai lệch, chúng tạo ra sự mâu thuẫn trong nhận thức của học sinh, giúp giáo viên tạo được tình huống bất ngờ, kích thích hứng
Trang 6thú học tập của học sinh Đối với những quan niệm không sai lệch, nhưng chưa hoàn chỉnh hoặc chưa thật chính xác, nghĩa là những quan niệm phù hợp với bản chất vật lí thì chúng có là cơ sở để tiếp tục phát triển kiến thức cho học sinh
4.2 Mặt tiêu cực
Như chúng ta đã biết, quan niệm của học sinh là vốn hiểu biết riêng của cá nhân nên chúng rất bền vững, khó thay đổi và đa số quan niệm này thường sai lệch với những cái mà học sinh cần phải học, gây khó khăn trong quá trình dạy học vật lí ở trường phổ thông Nhiều nghiên cứu cùng có một khẳng định: “Một trong những trở ngại lớn nhất cho hoạt động nhận thức của học sinh chính là những quan niệm sai lầm mà họ có được do đời sống hàng ngày mang lại” Vì thế, không thể coi những hiểu biết ấy là cơ sở để nghiên cứu vật lí vì những lí do sau đây:
+ Một là những hiểu biết ấy có thể rất khác nhau ở những học sinh khác nhau, cùng một vấn đề nhưng mỗi học sinh có thể hiểu theo cách riêng của họ
+ Hai là có thể có học sinh hiểu sai vấn đề vì nhiều lí do
+ Ba là hiểu biết ấy hoàn toàn không đủ để hiểu biết những vấn đề sẽ được nghiên cứu trong giáo trình vật lí ở trường phổ thông
5 Phát hiện quan niệm và biện pháp khắc phục
5.1 Cách phát hiện quan niệm sai lệch của học sinh
- Tạo điều kiện thuận lợi cho HS bộc lộ quan niệm :
+ Tạo ra và duy trì không khí dạy học trong lớp
+ GV tạo không khí vui vẻ, thoải mái, thân thiện giữa thầy và trò
+ Tạo hứng thú học tập nhằm kích thích tư duy học sinh
+ Tạo niềm tin, sự yêu mến, kính trọng của học sinh đối với GV
- Tạo ra tình huống học tập thông qua câu hỏi thực tế các hiện tượng, sự vật gần gũi trong đời sống hàng ngày để học sinh bộc lộ quan niệm của mình.Tiếp tục duy trì và phát triển không khí dạy học
- Nhận xét, đánh giá đúng mức câu trả lời của học sinh để khuyến khích tư duy học sinh, học sinh sẽ bộc lộ quan niệm nhiều hơn
- Tổ chức cho học sinh thảo luận để đưa ra quan niệm cụ thể hơn
+ Bằng các câu hỏi về các hiện tượng, sự vật gần gũi trong đời sống hàng ngày: Đây là biện pháp đơn giản dựa vào kinh nghiệm sống hành ngày để làm
bộc lộ quan niệm của học sinh Ví dụ bằng câu hỏi chúng ta có thể làm bộc lộ quan niệm của học sinh về sự chuyển động hay đứng yên của Trái Đất so với
Mặt Trời
Trang 7+Bằng các thí nghiệm đơn giản, dễ làm: Với các thí nghiệm đơn giản, GV
cho HS quan sát hiện tượng và đặt câu hỏi để học sinh bộc lộ sự nhận thức của mình về một hiện tượng, một khái niệm mới
+ Bằng các bài tập đơn giản: Thông qua các bài tập đơn giản có thể đưa
vào trong các giai đoạn của giờ học giáo viên có thể phát hiện ra những quan niệm, cách hiểu sai của học sinh về một vấn đề, một khái niệm vật lí
5.2 Biện pháp khắc phục các quan niệm sai lệch của học sinh
Để khắc phục các quan niệm sai lệch của học sinh trong quá trình dạy học Vật lí người thầy giáo có thể sử dụng các biện pháp sau
- Sử dụng các thí nghiệm đơn giản, dễ làm: Đây là biện pháp đặc thù, là
thế mạnh của bộ môn vật lí Bằng các thí nghiệm có sẵn ở trường hoặc các thí nghiệm đơn giản do giáo viên tự tạo sẽ thuyết phục học sinh về những quan niệm sai lầm của mình Ví dụ bằng thí nghiệm với các ống mao dẫn sẽ giúp học sinh có những hiểu biết đúng đắn về hiện tượng mao dẫn
- Sử dụng các kiến thức khoa học: Với những lập luận chặt chẽ dựa vào
các kiến thức khoa học đã biết giáo viên có thể giúp học sinh có những nhận thức, hiểu biết đúng đắn về một hiện tượng, một khái niệm vật lí Ví dụ bằng các biến đổi từ những kiến thức đã biết giáo viên có thể chứng minh để học sinh thấy rằng trên một đoạn mạch điện xoay chiều thì công suất tiêu thụ trên các phần tử là cuộn cảm L và tụ điện C đều bằng 0
Trong hai biện pháp trên thì biện pháp sử dụng các thí nghiệm vẫn là biện pháp quan trọng có tính thuyết phục cao Trong quá trình dạy học Vật lí người thầy giáo nên tìm cách khai thác biện pháp này
II MỘT SỐ QUAN NIỆM SAI LỆCH CỦA HỌC SINH PHẦN ĐIỆN HỌC
VÀ CÁCH KHẮC PHỤC
1 Quan nệm 1: Điện tích dương có thể chuyển dời từ vật này sang vật khác
a Nguồn gốc: HS biết electron tự do có thể di chuyển từ nguyên tử hay phân
tử này sang nguyên tử hay phân tử khác, mà electron là điện tích âm nên suy ra điện tích dương cũng có thể di chuyển từ nơi này sang nơi khác
b Cách phát hiện
GV: Cho vật A nhiễm điện dương tiếp xúc với vật B trung hòa về điện
Hiện tượng gì xảy ra? Giải thích?
HS: Do điện tích dương từ vật A chuyển sang vật B làm cho vật B nhiễm điện cùng dấu
Trang 8c Cách khắc phục
Cung cấp cho HS thuyết electron:
Mỗi nguyên tử của mọi nguyên tố đều được cấu nên từ một hạt nhân mang điện tích dương và những electron chuyển động xung quanh hạt nhân Bình thường nguyên tử trung hoà về điện và lúc đó điện tích dương của hạt nhân có
độ lớn bằng giá trị tuyệt đối của tổng các điện tích âm của các electron trong nguyên tử
Nguyên tử mất bớt electron nó sẽ mang điện tích dương và trở thành ion dương Nguyên tử nhận electron nó sẽ mang điện tích âm và trở thành ion âm Quá trình nhiễm điện của các vật thể chính là quá trình các vật thể ấy nhận thêm hay mất đi một số electron hay ion
Trong trường hợp vật nhiễm điện do cọ xát: Vật nhiễm điện âm khi nhận thêm electron, nhiễm điện dương khi mất bớt electron; Thí nghiệm cho cọ xát thanh thuỷ tinh vào miếng lụa thì một số electron từ thuỷ tinh chuyển sang lụa, kết quả thanh thuỷ tinh nhiễm điện dương còn mảnh lục nhiễm điện âm; khi cọ xát thanh nhựa vào len dạ thì một số electron từ len dạ chuyển sang thanh nhựa, kết quả là len dạ tích điện dương còn thanh nhựa tích điện âm
2 Quan niệm 2: Mô hình nguyên tử chính là cấu tạo thực tế của nguyên tử
a Nguồn gốc: HS thường được học thuyết cấu tạo nguyên tử ở 2 môn học là
vật lí và hóa học Khi học nội dung này, HS thường được GV vẽ mô hình “cấu tạo nguyên tử” là gồm hạt nhân và các electron quay xung quanh để minh họa Qua thời gian dài, HS quên mất từ mô hình mà chỉ còn nhớ “cấu tạo nguyên tử” dẫn đến quan niệm đó chính là cấu tạo của nguyên tử
b Cách phát hiện
GV: Nêu cấu tạo nguyên tử?
HS: “gồm hạt nhân mang điện tích dương và các eletron mang điện tích âm quay xung quanh” rồi vẽ hình “cấu tạo nguyên tử”
c Cách khắc phục: Yêu cầu HS quan sát
lại hình 2.1 trang 11, sgk vật lí 11 và cho biết
chú thích hình ghi những gì Khi đó HS sẽ phát
hiện ngay hình vẽ đó chỉ là mô hình GV khắc
Trang 9sâu vào trí nhớ của HS bằng cách nhắc lại lịch sử thuyết cấu tạo nguyên tử và
mô hình cấu tạo của nó
* Cấu tạo nguyên tử: Nguyên tử chứa một hạt nhân ở trung tâm bao quanh bởi đám mây các electron mang điện tích âm Hạt nhân nguyên tử là dạng gắn kết hỗn hợp giữa các proton mang điện tích dương và các neutron trung hòa điện (ngoại trừ trường hợp của nguyên tử hydro chỉ chứa một proton duy nhất mà không có neutron) Electron của nguyên tử liên kết với hạt nhân bởi tương tác điện từ và tuân theo các nguyên lý của cơ học lượng tử
3 Quan niệm 3: Dòng điện xoay chiều có thể đi xuyên qua tụ điện
a Nguồn gốc: HS thấy trong thực tế rất nhiều dụng cụ điện có gắn tụ trong
mạch và dụng cụ đó hoạt động tốt, nên khi học bài tụ điện các em cho rằng dòng điện xoay chiều đi “xuyên” qua tụ điện
b Cách phát hiện
GV: Trong mạch điện dòng điện xoay chiều đi qua tụ điện như thế nào? HS: Dòng điện xoay chiều đi xuyên qua tụ điện cơ chế giống như đi qua các thiết bị điện khác (bóng đèn, nồi cơm điện …)
c Cách khắc phục:
- GV sẽ giúp các em tìm hiểu cấu tạo tụ điện, cơ chế tích phóng điện giữa hai bản tụ, đưa ra khái niệm dòng điện dịch
Cấu tạo: Bên trong tụ điện là 2 bề mặt dẫn điện (2 bản tụ) được đặt cách điện với nhau, môi trường giữa
2 bản tụ này được gọi là điện môi (môi trường không dẫn điện) Điện môi có thể là: không khí, giấy, mica, dầu nhờn, nhựa, cao su, gốm, thuỷ tinh
HS nhận ra sai lầm: dòng điện xoay chiều không thể đi xuyên qua tụ điện vì
có lớp điện môi giữa hai bản tụ
4 Quan niệm 4: Dòng điện 1 chiều đi qua tụ điện
Trang 10a Nguồn gốc: HS suy nghĩ tụ điện cho dòng điện xoay chiều đi qua, tương
tự cũng cho dòng điện 1 chiều đi qua
b Cách phát hiện:
GV: Dòng điện 1 chiều có đi qua tụ điện không?
HS: Có
c Cách khắc phục:
- GV yêu cầu HS mắc mạch điện gồm: 1 nguồn điện 1 chiều, 1 tụ điện, 1 bóng đèn HS Quan sát thấy bóng đèn không sáng
- GV yêu cầu HS mắc mạch điện gồm: 1 nguồn điện xoay chiều, 1 tụ điện, 1 bóng đèn HS Quan sát thấy bóng đèn phát sáng
So sánh sự khác nhau trong hai mạch điện trên HS rút ra nhận xét, sửa chữa sai lầm
4 Quan niệm 4: Đồng nhất quan niệm dòng điện một chiều là dòng điện
không đổi
a.Nguồn gốc: HS đã học dòng điện một chiều là dòng dịch chuyển 1 chiều
của điện tích và không đổi chiều ngược lại Nhưng ta thường dùng dòng điện không đổi để nguyên cứu và làm bài tập Do đó HS tự đồng nhất dòng điện một chiều cũng là dòng điện không đổi
b Cách phát hiện
GV: cho HS làm câu trắc nghiệm:
Câu 1: Kết luận nào sau đây đúng với dòng điện 1 chiều?
A Dòng điện 1 chiều là dòng không đổi
B Dòng điện 1 chiều là dòng điện có cường độ dòng điện không đổi
C Dòng điện 1 chiều là dòng điện có chiều không đổi
D Dòng điện 1 chiều là dòng điện có chiều và cường độ dòng điện không đổi
HS: chọn đáp án D
c Cách khắc phục: Sử dụng thí nghiệm đơn giản dễ làm