1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Ứng dụng enzyme α-amylase để nâng cao hiệu quả thu hồi chất khô trong dịch sữa điều

10 55 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 470,35 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu trình bày hiệu quả quá trình thuỷ phân đạt cao nhất ở 0,2%w/w tỷ lệ enzyme và thời gian 60 phút. Ở điều kiện này khối lượng chất khô đạt được cao nhất 14,01% (w/w). Phương pháp thủy phân với α-amylase giúp nâng cao lượng chất khô thu hồi được lên 2,6 lần so với phương pháp không sử dụng enzyme (đối chứng).

Trang 1

ỨNG DỤNG ENZYME α - AMYLASE ĐỂ NÂNG CAO HIỆU QUẢ

THU HỒI CHẤT KHÔ TRONG DỊCH SỮA ĐIỀU

Huỳnh Trần Thảo Hiền1, Huỳnh Thị Mộng Hằng1, Nguyễn Thị Hải Hòa1, Nguyễn

Thị Thảo Minh1

1 Khoa Công Nghệ Thực Phẩm, Trường Đại Học Công Nghiệp Thực Phẩm TP HCM

Email: thaohien0304@gmail.com

Ngày nhận bài: 15/6/2017; Ngày chấp nhận đăng: 2/7/2017

TÓM TẮT

Sản phẩm sữa điều được thử nghiệm sản xuất ở quy mô phòng thí nghiệm Ảnh hưởng của quá trình thủy phân bằng α-amylase lên hiệu suấtthu hồi chất khô từ hạt điều được nghiên cứu Hai thông số của quá trình được khảo sát là nồng độ enzyme (0,1 – 0,3% w/w) và thời gian thủy phân (30 – 70 phút); hiệu quả của quá trình được đánh giá thông qua khối lượng chất khô tổng thu được trong dịch sữa hạt điều sau lọc Kết quả thực nghiệm cho thấy hiệu quả quá trình thuỷ phân đạt cao nhất ở 0,2%w/w tỷ lệ enzyme và thời gian 60 phút Ở điều kiện này khối lượng chất khô đạt được cao nhất 14,01% (w/w) Phương pháp thủy phân với α-amylase giúp nâng cao lượng chất khô thu hồi được lên 2,6 lần so với phương pháp không sử dụng enzyme (đối chứng)

Từ khóa: Sữa điều, thủy phân, α – amylase

1 GIỚI THIỆU

Trong những năm gần đây, cùng với lối sống ngày càng cao của con người thì mối quan tâm về sức khỏe và sự thay đổi về những lựa chọn nước uống dinh dưỡng ngày càng cao Các loại thức uống không còn đơn thuần để giải khát và ngon miệng mà còn phải đáp ứng giá trị dinh dưỡng cao, giảm bệnh tật và đáp ứng cả nhu cầu thị hiếu Xu hướng sử dụng sữa thực vật một phương án thay thế sữa bò đang là một phân khúc phát triển nhanh trong thị trường các loại nước giải khát dinh dưỡng trên toàn cầu Do sữa thực vật có một số ưu điểm thay thế sữa bò dành cho người bị dị ứng casein, không dung nạp lactose, tăng lượng calorie và mắc bệnh cholesterol trong máu Sự ưa chuộng chế độ ăn chay đã ảnh hưởng đến người tiêu dùng hướng tới việc lựa chọn sữa từ thực vật thay thế sữa bò [1]

Sữa từ hạt điều, một loại sữa thực vật có tiềm năng phát triển mang lại giá trị dinh dưỡng

cao.Hạt điều (Anacardium occidentale L.) có thành phần dinh dưỡng tốt và chứng minh lợi ích

sức khỏe Hạt điều chứa 47% chất béo, nhưng 82% trong số này là acid béo chưa bão hòa, và tỷ

lệ các acid béo chưa bão hòa đơn và acid béo chưa bão hòa đa là 4:1 rất có lợi [2]

Các chất béo chưa bão hòa không làm tăng Cholesterol mà còn có tác động điều hòa và làm giảm lượng Cholesterol trong máu giúp tránh được các bệnh về tim mạch Một số nghiên cứu

Trang 2

cho thấy rằng các chất chống oxi hóa có trong hạt cũng có hiệu ứng sinh học tốt liên quan đến bệnh tim mạch [3, 4]

Hydrat carbon trong nhân điều chiếm tỷ lệ thấp khoảng 20% trong đó đường hòa tan chỉ chiếm 1% để tạo ra mùi vị, vị ngọt thanh dễ chịu hấp dẫn của nhân điều mà không bị béo phì Nhân điều chứa trên 20% các chất đạm thực vật Về số lượng tương đương với đậu nành và đậu phộng nhưng về chất thì tương đương với sữa, trứng và thịt Protein của nhân điều hầu như

có đầy đủ các acid amin cần thiết, tuy số lượng không nhiều, nhưng nhờ có mặt cùng lúc, cân đối nên có đủ hiệu quả cho dinh dưỡng [2]

Ngoài ra trong hạt điều còn có các sterol giúp chống viêm, có lợi cho tim mạch như Campesterol - Các phân tử campesterol cạnh tranh với cholesterol, do đó làm giảm sự hấp thu cholesterol trong ruột của người [5], stigmasterol có thể hữu ích trong việc phòng ngừa một

số bệnh ung thư, bao gồm: buồng trứng, tuyến tiền liệt, vú và ung thư ruột kết Là nguồn giàu các chất khoáng như: Calcium, Selenium, Magnesium, kẽm, phospho, đồng, sắt dưới dạng hữu

cơ có tác dụng bảo vệ sức khỏe và hệ thống thần kinh của con người Hạt điều chứa proanthocyanidins - được chứng minh là loại flavanol có thể ngăn chặn các tế bào ung thư tái sản xuất và tiêu diệt tế bào ung thư Trong thực tế, các nghiên cứu cho thấy hàm lượng đồng cao trong hạt điều cũng giúp tránh khỏi các gốc tự do cũng như cung cấp nguồn phytochemical và chất chống oxi hóa có lợi cho cơ thể

Bên cạnh giá trị dinh dưỡng phong phú, hạt điều còn là nguồn nguyên liệu Việt Nam xuất khẩu đứng nhất nhì thế giới, trong quá trình hạt chế biến xuất khẩu sẽ có nhiều kích thước bể của hạt như bể tư, bể tám nếu được tận dụng làm thức uống mang lại giá trị kinh tế cao

Mục tiêu nghiên cứu sản xuất sữa hạt điều nhằm phát triển sản phẩm mới giá trị dinh dưỡng cao, tận dụng nguồn hạt điều vỡ trong quá trình sản xuất, phương án thay thế sữa bò hạn chế nguy cơ có thể mắc bệnh từ động vật sang người

Trong quá trình sản xuất sữa từ thực vật, quá trình trích ly dịch sữa có tính quyết định đến hiệu quả kinh tế và giá trị dinh dưỡng của sản phẩm Tuy nhiên, nếu như chỉ trích ly thông thường bằng việc nấu để hòa tan các chất thì không thu hồi được hết hàm lượng chất khô có trong nhân điều, mặc khác tinh bột bị hồ hóa làm tăng độ nhớt ảnh hưởng đến hiệu suất lọc Mục tiêu phương án sử dụng enzyme α – amylase hỗ trợ quá trình thu hồi chất khô, tinh bộtsẽ không bị hồ hóa ở nhiệt độ cao, làm giảm độ nhớt và tăng sản lượng sữa điều bằng cách tạo điều kiện cho quá trình lọc [6]

Mục tiêu của nghiên cứu này khảo sát thành phần hóa học trong hạt điều vỡ tư (LWP) có đáp ứng thành phần dinh dưỡng để đưa vào sản xuất sữa điều, khảo sát hiệu quả của quá trình thủy phân bằng enzyme α - amylase lên tinh bột để hiệu suất thu hồi chất khô là tốt nhất

2 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Vật liệu nghiên cứu

Hạt điều được sử dụng cho nghiên cứu là loại hạt điều vỡ tư LWP (Large White Pieces) được cung cấp từ cơ sở chế biến nông sản Thành Công ở xã Xuân Phú, huyện Xuân Lộc tỉnh Đồng Nai Hạt điều được làm sạch bằng cách ngâm nước muối 25 phút để rửa sạch nhựa điều nếu như còn sót trong quá trình tách bỏ vỏ lụa

Trang 3

Enzyme α – amylase có tên thương mại Termamyl SC sử dụng được cung cấp từ công ty Boenntag địa chỉ 202B Hoàng Văn Thụ, TP Hồ Chí Minh, có hoạt tính tối ưu: pH 5,5 – 5,7; nhiệt độ: 90 – 95oC, bất hoạt ở nhiệt độ 100oC/30 phút

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Phương pháp sản xuất sữa điều

Hình 1 Quy trình sản xuất sữa điều bán thành phẩm

Hạt điều nhân được xử lý để loại bỏ nhựa điều bằng cách ngâm trong dịch nước muối 5% trong thời gian 25 phút, sau đó rửa lại bằng nước sạch rồi đem rang ở nhiệt độ 120oC ở 20 phút bằng chảo để cấu trúc hạt giòn dễ dàng cho quá trình nghiền

Nghiền khô bằng máy xay Philips, Indonesia, công suất tối đa 600W trong 2 phút nhằm giảm kích thước hạt tạo thuận lợi cho quá trình nghiền ướt Quá trình nghiền ướt được thực hiện với lượng nước được bổ sung theo tỷ lệ điều/nước là 1/7 để thu huyền phù

Huyền phù tiếp theo được hồ hóa ở nhiệt độ 100oC trong 10 phút Sau khi gia nhiệt tiến hành phân phối 100g hỗn hợp nước điều vào cốc thủy tinh để tiến hành thủy phân theo kế hoạch thực nghiệm (Bảng 1) Sau thủy phân hỗn hợp được lọc qua qua rây 0,1mm để thu dịch sữa (mỗi mẫu sẽ được lọc với thời gian 5 phút) Dịch sữa sau lọc được đem đi kiểm tra hàm lượng chất khô tổng để đánh giá hiệu quả của quá trình thủy phân

Nước, muối

Enzyme

α -amylase

Nhân điều

Sữa điều

Ngâm

Rang

Nghiền

Thủy phân Gia nhiệt

Lọc

Trang 4

2.2.2 Phương pháp phân tích

2.2.2.1 Thành phần hóa học của hạt điều

 Xác định protein tổng bằng cách xác định Nito tổng theo phương pháp Kjeldahl theo TCVN 10034:2013

 Xác định hàm lượng chất béo bằng phương pháp chiết Sohxlettheo TCVN 3703 - 90

 Xác định hàm lượng glucide theo TCVN 4074:2009

Xác định hàm lượng Afatoxin B1 theo Rè.AOAC 991:31 (LCMS) LOD 1 g/kg

2.2.2.2 Hàm lượng chất khô trong sữa điều sau lọc

Phương pháp xác định hàm lượng chất khô dựa theo TCVN 8082:2013, theo đó dịch sữa sau lọc được sấy đến khối lượng không đổi bằng thiết bị sấy Ecocell, USA

Hàm lượng chất khô được tính theo công thức:

Khối lượng chất khô tổng được tính thông qua hàm lượng chất khô

Trong đó:

m: hàm lượng chất khô tính % (g)

: khối lượng chất khô (g)

: khối lượng dung dịch sau thủy phân (g)

: khối lượng mẫu sữa còn lại sau khi phân bố mẫu vào giấy lọc, pipet, giá pipet (g) : khối lượng mẫu sữa, pipet, giá pipet (g)

: khối lượng giấy nhôm có giấy lọc sau sấy (g)

: khối lượng giấy nhôm có giấy lọc, mẫu sữa sau sấy (g)

2.2.3 Nghiên cứu ứng dụng enzyme α- amylase để nâng cao hiệu quả thu hồi chất khô

Mục đích của thí nghiệm này là xác định điều kiện của quá trình thủy phân để khối lượng chất khô của dịch sữa sau lọc đạt cao nhất Theo đó, phân phối 100 g dịch điều sau khi gia nhiệt vào cốc thủy tinh 250ml với các tỷ lệ enzyme sử dụng (0,1; 0,15; 0,2; 0,25; 0,3 %w/w), ứng với mỗi nồng độ enzyme là khoảng thời gian thủy phân (30, 40, 50, 60, 70 phút) được thực hiện cố định ở nhiệt độ 90oC là nhiệt độ tối ưu của enzyme Thí nghiệm được xây dựng theo phương pháp thực nghiệm yếu tố toàn phần (Full Factorial Design), mỗi tổ hợp được lặp lại 3 lần Theo

đó, có 25 tổ hợp (công thức thí nghiệm) và 25 x 3 = 75 thí nghiệm

Trang 5

Hiệu quả quá trình thủy phân được đánh giá dựa trên hiệu suất thu hồi chất khô (%,w/w); trong đó hiệu suất thu hồi chất khô bằng tỷ số giữa khối lượng chất khô so với so với khối lượng huyền phù trước thủy phân

Thiết kế thí nghiệm được thể hiện ở bảng 1

Bảng 1 Thiết kế thí nghiệm khảo sát hiệu suất thu hồi chất khô

Tỷ lệ enzyme

(%w/w)

Thời gian (phút)

(1) ÷ (25) là tổ hợp các công thức thí nghiệm

Song song với mỗi công thức thí nghiệm ở trên; một mẫu đối (không dùng enzyme thủy phân) được thực hiện để đánh giá tính hiệu quả của quá trình thủy phân

2.3 Phương pháp xử lý số liệu

Sự khác biệt về hiệu suất thu hồi chất khô được kiểm định bằng phương pháp phân tích phương sai (AVOVA) và kiểm định LSD Phần mềm quy hoạch thực nghiệm và phân tích thống

kê được sử dụng là JMP 10

3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1 Khảo sát thành phần hóa học của hạt điều

Bảng 2 Bảng thành phần hóa học nhân điều

Có sự tương đồng giữa kết quả của nghiên cứu này với các tài liệu nghiên cứu trước đó của Gobert được Tkatchenko trích dẫn (1949) về thành phần hóa học của hạt điều Cụ thể, độ ẩm trung bình của hạt điều qua quá trình khảo sát là 5,25%, chênh lệch cao hơn với độ ẩm của hạt điều theo tài liệu của Globert là 4,4% Tuy vậy độ ẩm của hạt vẫn nằm trong giới hạn 5 – 6% có

sự tương đồng với một số nghiên cứu trước cụ thể là của Woodroof (1970) độ ẩm 5,9%, hạn chế phát triển của các loại nấm mốc Hàm lượng protein và glucide lần lượt là 18,14; 47,9% thấp

Trang 6

hơn so với tài liệu Globert về protein và glucide là: 18,45 và 47,98% Như vậy, có thể thấy rằng chất lượng của điều trong nghiên cứu này thấp hơn một chút so với các tài liệu của các nghiên cứu trước đó Nguyên nhân ở đây có thể là do loại điều sử dụng trong đề tài là loại bể tư (LWP)

là thứ phẩm trong quá trình sản xuất hạt điều nguyên xuất khẩu nên chất lượng sẽ không bằng được loại hạt nguyên Tuy vậy, hàm lượng các chỉ tiêu chất lượng của loại điều trong nghiên cứu không quá chênh lệch so với các loại điều trong các nghiên cứu khác, cho thấy giá trị tiềm năng

về mặt phát triển một sản phẩm sữa từ hạt điều bể tư vẫn đáp ứng được về mặt giá trị dinh dưỡng

Kết quả Aflatoxin B1 không phát hiện, đạt TCVN 4850:2010 hạt điều an toàn về chỉ tiêu độc tố nên có thể đưa vào nghiên cứu sản xuất

3.2 Hiệu quả của quá trình thủy phân bằng enzyme α- amylase

Kết quả thí nghiệm này nhằm để nghiên cứu ảnh hưởng của tỷ lệ và thời gian lên hiệu quả thủy phân của enzyme

Bảng 3 Kết quả phân tích phương sai 2 nhân tố về ảnh hưởng của tỷ lệ và thời gian lên khối lượng chất

khô thu được sau thủy phân

Tỷ lệ

Thời gian

Tỷ lệ*Thời gian

4

4

16

102,87383 10,63266 5,42753

2250,740 232,6282 29,6867

<,0001*

<,0001*

<,0001* Kết quả phân tích phương sai (Bảng 3) cho thấy cả tỷ lệ, thời gian, tương tác giữa tỷ lệ và thời gian thủy phân cùng ảnh hưởng có nghĩa đến khối lượng chất khô thu được (p<0,05) Ba ảnh hưởng trên giải thích được 99,52% sự khác biệt về khối lượng chất khô thu đượcở các công thức thí nghiệm (R2= 0,9952)

Bảng 4 Hiệu suất thu hồi chất khô(%,w/w) ở các mức tỷ lệ enzyme và thời gian thủy phân

Tỷ lệ enzyme

(%w/w)

Thời gian (phút)

0,1 9,37 aA ±0,36 9,98 bA ± 0,18 10,50 cA ± 0,08 11,03 dA ± 0,05 10,68 cA ± 0,04

0,15 11.24 aB ± 0,08 11,94 bB ± 0,19 12,74 cB ± 0,12 13,37 dB ± 0,14 12,79 cB ± 0,09

0,2 13,10 aC ± 0,04 13,24 abC ±0,07 13,39 bC ±0,03 14,01 cC ± 0,04 13,40 bC ± 0,08

0,25 13,10 aC ± 0,03 13,20 abC ±0,02 13,28 bC ±0,04 13,72 cD ± 0,06 13,72 cC ± 0,05

0,3 13,09 aC ± 0,03 13,20 abC ±0,03 13,28 bC ±0,07 13,37 bB ±0,02 12,92 cB ± 0,07

Hiệu suất thu hồi chất khô được trình bày dưới dạng x tb ± Độ lệch chuẩn; các ký tự đánh dấu bằng chữ cái thường khác nhau (a-d) thể hiện sự khác biệt có ý nghĩa trong cùng một hàng; các giá trị đánh dấu bằng chữ cái in

khác nhau (A-D) thể hiện sự khác biệt trong cùng một cột.

3.2.1 Ảnh hưởng của tỷ lệ enzyme

Ảnh hưởng của tỷ lệ enzyme lên hiệu suất thu hồi chất khô được thể hiện ở bảng 4 Theo

đó, ở các mức thời gian được khảo sát, tỷ lệ enzyme càng tăng thì hiệu suất thu hồi chất khô

Trang 7

càng tăng Cụ thể ở 30 phút, tỷ lệ enzyme ở các mức 0,1 và 0,15% (w/w) có sự khác biệt ý nghĩa (p<0,05) về hiệu suất thu hồi chất khô so với các tỷ lệ còn lại Ở mức 0,25 và 0,3% (w/w) hiệu suất thu hồi chất khô không khác nhau có nghĩa (p<0,05) Quy luật này được thể hiện tương

tự ở các thời gian 40, 50 và 70 Hiệu suất thu hồi chất khôtăng khi tăng tỷ lệ từ 0,1 đến 0,2% (w/w), bắt đầu không tăng nữa và có xu hướng giảm ở tỷ lệ 0,25 đến 0,3% (w/w) Riêng ở thời gian 60 phút, hiệu suất thu hồi chất khô khác nhau có ý nghĩa (p<0,05) ở tỷ lệ 0,1 đến 0,25% (w/w) và cao nhất ở 0,2% (w/w) Vì vậy, ở tỷ lệ enzyme bằng 0,2%w/w là mức tỷ lệ enzyme phù hợp nhất lên hiệu suất thu hồi chất khô

Kết quả này phù hợp với lý thuyết, có sự tăng giảm hiệu suất thu hồi chất khô chất khô khi

tỷ lệ enzyme khác nhau Điều này được giải thích là do trong điều kiện nồng độ cơ chất thích hợp thì vận tốc phản ứng tuyến tính với nồng độ enzyme Tuy nhiên khi nồng độ enzyme tăng đến một giới hạn thì tốc độ phản ứng không tăng lên nữa [7] Giai đoạn đầu khi nồng độ cơ chất thừa, vận tốc phản ứng tỷ lệ thuận với nồng độ enzyme, hàm lượng chất khô hòa tan tăng Càng

về sau sản phẩm tạo thành tăng lên, vừa đóng vai trò chất ức chế không cạnh tranh, vừa làm cho lượng cơ chất trong môi trường giảm nên khi tiếp tục tăng nồng độ enzyme thì vận tốc phản ứng tăng không đáng kể

Có đủ bằng chứng để kết luận rằng, khi tỷ lệ enzyme càng tăng thì khối lượng chất khô thu được càng tăng, nhưng đến một mức nhất định thì dù nồng độ enzyme có tăng bao nhiêu thì khối lượng cơ chất vẫn không tăng nữa

3.2.2 Ảnh hưởng của thời gian xử lý bằng enzyme

Theo Choi và cộng sự, 2010 [8], thời gian xử lý cũng là một tham số quá trình quan trọng bởi nó ảnh hưởng đến quá trình chuyển hóa tinh bột thành dextrin và khối lượng chất khô tổng của dịch sữa, tức là enzyme có thể phản ứng lâu hơn với chất nền sự chuyển đổi tinh bột thành dextrin sẽ lớn hơn và đến một giới hạn nhất định

Trong sản xuất việc xác định được thời gian thủy phân hợp lý có ý nghĩa quan trọng về mặt

kỹ thuật Quá trình thủy phân tinh bột bởi -amylase gồm nhiều giai đoạn Ban đầu cơ chất bị thủy phân tạo lượng lớn dextrin phân tử thấp, độ nhớt hồ tinh bột giảm nhanh Sau đó các dextrin này bị phân cách tiếp tục tạo các mạch ngắn dần và bị phân giải chậm đến glucose và maltose [9]

Ảnh hưởng của thời gian thủy phân lên hiệu suất thu hồi chất khô được thể hiện ở Hình 3

Theo đó, ứng với mỗi tỷ lệ enzyme sự thay đổi hiệu suất thu hồi chất khô có ý nghĩa thống kê (p<0,05) ở các mức thời gian khác nhau Cụ thể ở tỷ lệ enzyme 0,1 và 0,15% (w/w), hiệu suất thu hồi chất khô có sự khác biệt ý nghĩa (p< 0,05) ở các mức thời gian 30, 40, và 60 phút, riêng

ở thời gian 50 và 70 phút không có sự khác biệt ý nghĩa về hiệu suất thu hồi chất khô Ở tỷ lệ 0,2% (w/w) hiệu suất thu hồi chất khô cao nhất ở 60 phút và khác biệt có ý nghĩa với các thời gian còn lại

Hiệu suất thu hồi chất khô tăng ở mức thời gian 30 phút đến 60 phút và cao nhất ở 60 phút, đến 70 phút hiệu suất thu hồi chất khô có xu hướng cân bằng và giảm ở hầu hết các tỷ lệ Kết quả này có thể được giải thích là do khi thởi gian thủy phân càng lâu, enzyme có nhiều thời gian phản ứng với cơ chất tạo ra sản phẩm, hiệu suất thu hồi chất khô càng tăng, nhưng khi thời gian quá lâu, enzyme tạo ái lực với cả sản phẩm tạo thành của phản ứng và cơ chất, các sản phẩm sinh ra đóng vai trò như chất kìm hãm không cạnh tranh và kìm hãm hoạt động của enzyme [9],

do đó hiệu suất thu hồi chất khô không tăng nữa

Trang 8

Có đủ bằng chứng để kết luận rằng ở thời gian 60 phút, hiệu suất thu hồi chất khô là cao nhất

3.2.3 Tương tác giữa tỷ lệ enzyme và thời gian thủy phân

Hình 2 Tương tác giữa tỷ lệ enzyme và thời gian thủy phân

Có sự tương tác giữa tỷ lệ enzyme và thời gian thủy phân trong quá trình sử dụng enzyme

α –amylase để nâng cao hiệu suất thu hồi chất khô Trong đó, hiệu suất thu hồi chất khô ở các tỷ

lệ enzyme khác nhau ứng với mức thời gian khác nhau là không giống nhau Cụ thể, hiệu suất thu hồi chất khô cao nhất ở tỷ lệ enzyme 0,2% (w/w) ứng với thời gian 60 phút và thấp nhất ở tỷ

lệ enzyme 0,1% (w/w) thời gian 30 phút

Tóm lại, hiệu suất thu hồi chất khô là tốt nhất ở tỷ lệ 0,2% (w/w) thời gian 60 phút Khi đó, hiệu suất thu hồi chất khô là 14,01% (w/w)

3.3 So sánh hiệu quả thủy phân bằng enzyme với mẫu đối chứng

So sánh khối lượng chất khô thu được ở mẫu có xử lý enzyme tỷ lệ tốt nhất được chọn 0,2% (w/w) và mẫu đối chứng (mẫu không dùng enzyme thủy phân) cả hai đều được thực hiện ở thời gian 60 phút

Bảng 5 Kết quả phân tích phương sai hai nhân tố về khác nhau có nghĩa giữa mẫu có sử dụng enzyme và

mẫu đối chứng (không dùng enzyme thủy phân)

Trang 9

Hình 3 So sánh hiệu quả thủy phân bằng enzyme với mẫu đối chứng

Thủy phân có enzyme cho thấy hiệu quả thu hồi chất khô cao hơn so với không có enzyme (14,01% (w/w) > 5,34 % (w/w), sự khác biệt có nghĩa (α=0,05)

Phương pháp thủy phân với α-amylase giúp nâng cao lượng chất khô thu hồi được lên 2,6 lần so với phương pháp không sử dụng enzyme (đối chứng)

4 KẾT LUẬN

Qua nghiên cứu thấy rằng trong quá trình trích ly dịch sữa, việc sử dụng enzyme α-amylase

để thủy phân tinh bột làm tăng khối lượng chất khô thu được trong dịch sữa trích ly Quá trình thủy phân được thực hiện ở 90oC (nhiệt độ hoạt động tối ưu của enzyme), tỷ lệ enzyme α-amylase 0,2% trong thời gian thủy phân 60 phút, khối lượng chất khô thu được là cao nhất 14,01% (w/w) Tuy nhiên tỷ lệ enzyme và thời gian tác dụng lên cơ chất là có giới hạn, đến mức hạn định của enzyme thì khối lượng chất khô không tăng nữa Kết quả của nghiên cứu này có thể được ứng dụng nâng cao hiệu quả thu hồi chất khô trong quá trình thủy phân dịch sữa điều

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Deswal, Aastha, Deora and Navneet Singh - Optimization of enzymatic production process of oat milk using response surface methodology, Food and Bioprocess

Technology, 7 (2014) 610-618

2 Phạm Đình Thanh - Hạt điều sản xuất và chế biến, Nhà xuất bản Nông Nghiệp, TP Hồ Chí Minh, (2003), tr.139

3 Yochum, Laura A., Folsom, Aaron R., Kushi and Lawrence H.- Intake of antioxidant vitamins and risk ofdeath from stroke in postmenopausal women, The American Journal

of Clinical Nutrition 72 (2000) 476-483

Trang 10

4 Tsai, J.C.,Leitzman F M.,Hu B F., Willett W C and Giovannuci L E - Frequent nut consumption and decreased risk of cholecystectomy in women, The American journal of

clinical nutrition, 80 (2004) 76-81

5 Choudhary S.P and Trần L.S – Hóa học dược hiện đại 18 (2011) 11

6 Aiyer, Prasanna V - Amylases and their applications, African Journal of Biotechnology, 3

(2005) 1525-1529

7 N T Cẩn, Công nghệ enzyme Nhà xuất bản Nông nghiệp TP Hồ Chí Minh (1998)

8 Choi, Seung P., Nguyen, Minh Thu, Sim, and Sang Jun - Enzymatic pretreatment of

Chlamydomonas reinhardtii biomass for ethanol production, Bioresource Technology, 101

(2010) 5330-5336

9 N Đ Lượng, "Công nghệ enzyme," Nhà xuất bản Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh (2004)

ABSTRACT

APPLICATION OF ENZYMES α- AMYLASE TO INCREASE DRY MATTER RECORVERY

IN PRODUCTION OF CASHEW MILK Huynh Tran Thao Hien*, Huynh Thi Mong Hang, Nguyen Thi Hai Hoa, Nguyen Thi Thao Minh

1

Food technology Faculty, Ho Chi Minh City University of Food Industry

* Email: thaohien0304@gmail.com

In this study, the effects enzyme concentration (%w/w) and hydrolyzing time (minutes) on hydrolysis efficiency of extracting liquid milk from cashew nutwere investigated Two parameters of the process studied were enzyme concentration (0.1 - 0.3 %w/w) and hydrolysis time (30 - 70 minutes), the efficiency of the process was determined by the efficiency filter, the dry matter content in cashew milk Experimental results showed that the extraction efficiency was highest at 0.2% and 60 minutes.In this conditions the maximum dry matter content is 14.01% (w/w) Results of data processing are supported by GMP software influenced by independent and dependent variables

Key words: Cashew milk, hydrolysis, α- amylase

Ngày đăng: 19/01/2022, 12:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
7. N. T. Cẩn, Công nghệ enzyme. Nhà xuất bản Nông nghiệp TP. Hồ Chí Minh (1998) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghệ enzyme
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp TP. Hồ Chí Minh (1998)
9. N. Đ. Lượng, "Công nghệ enzyme," Nhà xuất bản Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh (2004) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghệ enzyme
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh (2004)
1. Deswal, Aastha, Deora and Navneet Singh - Optimization of enzymatic production process of oat milk using response surface methodology, Food and Bioprocess Technology, 7 (2014) 610-618 Khác
2. Phạm Đình Thanh - Hạt điều sản xuất và chế biến, Nhà xuất bản Nông Nghiệp, TP. Hồ Chí Minh, (2003), tr.139 Khác
3. Yochum, Laura A., Folsom, Aaron R., Kushi and Lawrence H.- Intake of antioxidant vitamins and risk ofdeath from stroke in postmenopausal women, The American Journal of Clinical Nutrition 72 (2000) 476-483 Khác
4. Tsai, J.C.,Leitzman F. M.,Hu B. F., Willett W. C. and Giovannuci L. E. - Frequent nut consumption and decreased risk of cholecystectomy in women, The American journal of clinical nutrition, 80 (2004) 76-81 Khác
5. Choudhary S.P and Trần L.S – Hóa học dược hiện đại 18 (2011) 11 Khác
6. Aiyer, Prasanna V. - Amylases and their applications, African Journal of Biotechnology, 3 (2005) 1525-1529 Khác
8. Choi, Seung P., Nguyen, Minh Thu, Sim, and Sang Jun - Enzymatic pretreatment of Chlamydomonas reinhardtii biomass for ethanol production, Bioresource Technology, 101 (2010) 5330-5336 Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w