Trong thời kỳ hội nhập, xu hướng phát triển thị trường chứng khoán phái sinh được định hướng theo mô hình tập trung, lựa chọn mô hình thành viên và sản phẩm phù hợp với điều kiện Việt Nam và hướng tới phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế.
Trang 1XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
PHÁI SINH TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP
TS Trần Thị Tố Linh 1
Tóm tắt
Sau gần 30 năm đổi mới, Việt Nam đã hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế quốc tế với việc tham gia một loạt các hiệp định thương mại tự do song phương và đa phương Các cam kết về lĩnh vực tài chính trong các hiệp định thương mại tự do đặt ra những thách thức đối với thị trường tài chính còn non trẻ của Việt Nam, đòi hỏi cần có những công cụ giúp thị trường hoạt động hiệu quả hơn Lịch sử hình thành và phát triển các thị trường tài chính ở nhiều nước trên thế giới cho thấy các công cụ tài chính phái sinh là các công cụ hữu hiệu giúp phòng ngừa rủi ro, bảo vệ hoặc đem lại lợi nhuận cho các nhà đầu tư trên thị trường tài chính Ở Việt Nam, các công cụ tài chính phái sinh gồm công cụ phái sinh tiền tệ và phái sinh chứng khoán Với vai trò quan trọng là kênh huy động vốn dài hạn của doanh nghiệp, thị trường chứng khoán với các công cụ phái sinh chứng khoán hiện đang được ưu tiên xây dựng
và phát triển Trong thời kỳ hội nhập, xu hướng phát triển thị trường chứng khoán phái sinh được định hướng theo mô hình tập trung, lựa chọn mô hình thành viên và sản phẩm phù hợp với điều kiện Việt Nam và hướng tới phù hợp với tiêu chuẩn quốc
tế
1 Mở đầu
Trong hơn hai thập kỷ qua, nền kinh tế Việt Nam hội nhập mạnh mẽ vào nền kinh tế khu vực và thế giới với sự ghi nhận việc Việt Nam tham gia các hiệp định thương mại tự do song phương và đa phương Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của ASEAN, APEC, ASEM và WTO cũng như nhiều định chế tài chính như
WB, ADB, IMF… Năm 2015 là năm bản lề đối với Việt Nam khi Hiệp định thương mại
tự do Việt Nam - châu Âu và Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) chính thức kết thúc đàm phán Đây được coi là các hiệp định thế hệ mới, tạo ra kỷ nguyên mới trong quan hệ thương mại và đầu tư giữa Việt Nam và nhiều quốc gia trên thế giới Việc mở rộng quan hệ kinh tế song phương và đa phương góp phần mở rộng thị
1 Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Email: smilingvn@gmail.com
Trang 2trường xuất nhập khẩu, thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, góp phần phát triển chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa Trong đó, các cam kết về dịch vụ tài chính cũng có tác động không nhỏ đến thị trường tài chính Việt Nam trong thời gian tới Các cam kết về tài chính mới nhất như các cam kết trong TPP gồm các nội dung: (i) mở rộng cam kết về mở cửa thị trường đi kèm với cơ chế minh bạch hóa (dịch vụ quản lý danh mục đầu tư, cung cấp và lưu chuyển thông tin tài chính, các dịch vụ chứng khoán phụ trợ; (ii) tăng cường minh bạch hoá; (iii) bảo hộ đầu tư (cơ chế giải quyết tranh chấp minh bạch, rõ ràng và có hiệu quả); (iv) cho phép áp dụng các ngoại lệ và các quy định thận trọng Như vậy, các cam kết trong lĩnh vực bảo hiểm, chứng khoán sẽ thúc đẩy các
cơ hội đầu tư, góp phần đẩy mạnh sự phát triển của thị trường tài chính ở Việt Nam Hội nhập càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, sự cạnh tranh càng lớn, để phù hợp với nhu cầu phát triển và đáp ứng các chuẩn mực quốc tế thì thị trường tài chính Việt Nam càng cần có thêm các công cụ để thị trường vận hành một cách hiệu quả Quá trình phát triển thị trường tài chính trên thế giới đã cho thấy cần có các công cụ tài chính phái sinh để phân tán rủi ro, bảo vệ lợi nhuận hoặc tạo ra lợi nhuận Công cụ phái sinh được hiểu là các công cụ được phát hành dựa trên tài sản cơ sở, tài sản cơ sở
có thể là cổ phiếu, trái phiếu, hàng hóa, tiền tệ… Giá trị của công cụ phái sinh được xác định bởi sự biến động của tài sản cơ sở Hiện nay, trên thị trường tài chính Việt Nam, thị trường các công cụ tài chính phái sinh được chia thành thị trường phái sinh tiền tệ và thị trường phái sinh chứng khoán
Đối với thị trường phái sinh tiền tệ, các công cụ phái sinh rất đa dạng và phức tạp đòi hỏi các đối tượng tham gia phải có trình độ chuyên môn cao về lĩnh vực ngoại hối, lãi suất Các sản phẩm phái sinh tiền tệ hiện có trên thị trường Việt Nam hiện nay
là hợp đồng kỳ hạn ngoại tệ, hợp đồng quyền chọn ngoại tệ, hợp đồng kỳ hạn lãi suất, hợp đồng hoán đổi lãi suất, hợp đồng hoán đổi tiền tệ chéo Tuy đã xuất hiện từ những năm 1998 - 1999, nhưng các công cụ phái sinh tiền tệ hầu như chưa phát triển, mới chỉ được giao dịch ở trong phạm vi nhỏ ở một số ngân hàng thương mại được Ngân hàng Nhà nước cấp phép Nguyên nhân được chỉ ra rằng, thói quen tập quán kinh doanh khiến các doanh nghiệp chưa dự đoán được xu hướng cũng như chưa sử dụng các công
cụ phái sinh để phòng ngừa rủi ro tỷ giá và lãi suất Hệ thống văn bản pháp lý cũng chưa thống nhất điều chỉnh các hoạt động phái sinh trên thị trường tiền tệ, mà mới chỉ dừng lại hướng dẫn một số loại sản phẩm phái sinh cụ thể, đối tượng áp dụng cũng bị hạn chế ở một số ngân hàng thương mại, hoặc áp dụng cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, chưa áp dụng cho đối tượng là cá nhân
Trang 3Trong khi đó, với vai trò là cầu nối giữa người cần vốn và người có vốn, thị trường trái phiếu và cổ phiếu ngày càng mở rộng về quy mô, chất lượng hàng hóa trên thị trường, thu hút nhiều nhà đầu tư (tổ chức và cá nhân) trong và ngoài nước, thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam ngày càng thể hiện vai trò đối với sự phát triển nói chung của nền kinh tế và nói riêng của thị trường tài chính Chính vì vậy, Đề án xây dựng và phát triển thị trường chứng khoán phái sinh (TTCKPS) đã được xây dựng xuất phát từ nhu cầu thực tế trong bối cảnh thị trường chứng khoán tham gia sân chơi quốc tế, khi quá trình phát triển TTCKPS trên thế giới đã khẳng định rằng công cụ phái sinh là một sản phẩm tài chính tất yếu trong tiến trình phát triển của thị trường tài chính Bên cạnh đó, những biến động mạnh mẽ của nền kinh tế và TTCK trong thời gian qua, với nhu cầu phòng tránh rủi ro bằng những công cụ phái sinh ngày càng tăng lên trong bối cảnh thị trường thế giới có nhiều biến động khó lường về giá cả, vàng, kim loại khác…, cho thấy việc phát triển TTCKPS là việc rất cần thiết
2 Xu hướng phát triển
Có thể thấy, xu hướng trong bối cảnh hội nhập hiện nay, các công cụ phái sinh tài chính, đặc biệt là các công cụ phái sinh chứng khoán đang được ưu tiên phát triển nhằm hướng tới một thị trường tài chính hoạt động hiệu quả hơn
Ở Việt Nam, chứng khoán phái sinh (CKPS) được quy định trong Nghị định số 42/2015/NĐ-CP của Chính phủ về chứng khoán phái sinh và thị trường chứng khoán phái sinh bao gồm hợp đồng tương lai, quyền chọn, hợp đồng kỳ hạn và các chứng khoán khác theo hướng dẫn của Bộ Tài chính Nghị định số 42/2015/NĐ-CP được Chính phủ ban hành ngày 05/5/2015 là khung pháp lý cao nhất quy định về CKPS và TTCKPS Trong văn bản cao nhất về chứng khoán là Luật Chứng khoán số 70/2006/QH11 và Luật Chứng khoán sửa đổi số 62/2010/QH12, CKPS chỉ được đề cập thông qua cách giải thích từ ngữ “chứng khoán” và giải thích “quyền chọn mua, quyền chọn bán, hợp đồng tương lai” Bộ Tài chính cũng vừa ban hành Thông tư số 11/2016/TT-BTC hướng dẫn một số điều của Nghị định số 42/2015/NĐ-CP của Chính phủ về CKPS và TTCKPS Tuy nhiên, các chế độ về kế toán, thuế, phí chưa được quy định đối với giao dịch CKPS Các quy chế về Sở Giao dịch CKPS, quy chế niêm yết/giao dịch, quy chế thành viên giao dịch, quy chế giám sát vẫn đang được Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội soạn thảo Quy chế về thanh toán bù trừ, quy chế về thành viên bù trừ đang được Trung tâm Lưu ký chứng khoán Việt Nam xây dựng TTCKPS là thị trường mới, phức tạp nên khung pháp lý phải cụ thể và chặt chẽ, rõ ràng để các tổ chức, cá nhân tham gia thị trường có thể chủ động nghiên cứu, không bị lúng túng khi thị trường đi vào vận hành Do đó, trong thời gian tới, các văn bản quy phạm pháp luật cần phải bổ sung: (i) các
Trang 4quy định về chế độ kế toán, thuế, phí cho việc giao dịch CKPS, (ii) các quy chế hướng dẫn của SGDCK và Trung tâm Lưu ký chứng khoán quy định chi tiết các đối tượng và hoạt động của các thành viên tham gia thị trường
Hình 1 Khung pháp lý cho TTCKPS
Nguồn: Ủy ban Chứng khoán Nhà nước
Về TTCKPS, Đề án Xây dựng và phát triển TTCKPS tại Việt Nam đã được Thủ
tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 366/QĐ-TTg, trong đó nêu rõ lộ trình phát triển TTCKPS, cụ thể như sau:
- Giai đoạn 2013 - 2015: Xây dựng khung pháp lý, hoàn thiện hạ tầng cơ sở vật chất, công nghệ bao gồm hệ thống giao dịch, thanh toán bù trừ CKPS, hệ thống giám sát và công bố thông tin tại các Sở giao dịch chứng khoán (SGDCK), Trung tâm Lưu
ký chứng khoán và thành viên thị trường, bảo đảm phù hợp với các sản phẩm phái sinh
cơ bản và chuẩn bị mọi điều kiện cần thiết để đưa vào hoạt động
- Giai đoạn 2016 - 2020: Tổ chức vận hành TTCKPS Trước mắt là các sản phẩm phái sinh dựa trên chỉ số chứng khoán, trái phiếu chính phủ và cổ phiếu
- Giai đoạn sau năm 2020: Hoàn thiện và nâng cao chất lượng hoạt động của TTCKPS, từng bước đa dạng hóa các sản phẩm giao dịch Mở rộng đối tượng thành viên tham gia thị trường, cải tiến hạ tầng công nghệ, nâng cao chất lượng cơ sở nhà đầu tư, tiến tới xây dựng một TTCKPS thống nhất dựa trên các tài sản cơ sở theo thông
lệ quốc tế, hoạt động công khai, minh bạch, hiệu quả, góp phần vào sự phát triển của
Khung pháp lý cho TTCK phái sinh
Luật CK và CKPS
NĐ về CKPS và TTCKPS
Quy chế của
SGDCK
Quy chế
NY/GD
Quy chế
thành viên
giao dịch
Quy chế giám sát
Quy chế trung tâm TTBT (cleaning house)
Quy chế về TTBT
Quy chế về thành viên
bù trừ
Các Thông tư hướng dẫn của Bộ Tài chính về CKPS và
TTCKPS (Giao dịch, công bố thông tin, giám sát, thuế, phí, nghiệp
vụ kinh doanh ) Quy định về chế độ kế toán cho TTCK PS
Trang 5thị trường tài chính
3 Một số khuyến nghị
TTCKPS Việt Nam mới đang trong quá trình manh nha, chuẩn bị đi vào hoạt động Do đó, Việt Nam cần hướng thị trường chứng khoán phái sinh phát triển sao cho phù hợp với bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra mạnh mẽ Dưới đây là một
số hướng phát triển và điều chỉnh TTCKPS trong thời gian tới:
3.1 Xây dựng mô hình cấu trúc TTCKPS Việt Nam theo mô hình tập trung
Đề án cũng đưa ra mô hình cấu trúc TTCKPS Việt Nam được xây dựng theo mô hình tập trung, hoạt động thống nhất dưới sự quản lý của Nhà nước, không để TTCKPS tự do hình thành và hoạt động tự phát Hiện nay, theo chỉ đạo của Bộ Tài chính, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN), SGDCK Hà Nội và Trung tâm Lưu ký chứng khoán Việt Nam sẽ triển khai và đưa vào hoạt động TTCKPS trong quý III-IV/2016 Trước mắt, hai sản phẩm đầu tiên được đưa vào giao dịch là hợp đồng tương lai (HĐTL) chỉ số dựa trên các chỉ số TTCK do các SGDCK xây dựng, và HĐTL trái phiếu chính phủ phù hợp với nhu cầu thị trường Sở giao dịch chứng khoán (SGDCK) Hà Nội cũng đang nghiên cứu HĐTL dựa trên 2 chỉ số VN-30 và HNX-30 Như vậy, hiện tại Sở giao dịch chứng khoán phái sinh (SGDCKPS) sẽ được đặt ở SGDCK Hà Nội, việc hợp nhất hai sở giao dịch thành SGDCK Việt Nam chưa được thực hiện trong thời gian ngắn hạn trước mắt
Hình 2 Mô hình cấu trúc TTCKPS tập trung của Việt Nam
Trang 6Nguồn: Ủy ban Chứng khoán Nhà nước
Mặc dù, Bộ Tài chính đã chỉ đạo SGDCK Hà Nội triển khai giao dịch CKPS vào nửa cuối năm 2016, nhưng Chính phủ cũng đã có chủ trương xây dựng một SGDCK Việt Nam hợp nhất hai sở giao dịch hiện tại Do đó, song song với việc đưa giao dịch CKPS vào hoạt động ở SGDCK Hà Nội, cần đẩy nhanh việc hợp nhất hai sở giao dịch chứng khoán thành SGDCK Việt Nam, thành lập sở giao dịch chứng khoán phái sinh thống nhất, là một bộ phận của SGDCK Việt Nam
3.2 Lựa chọn mô hình thành viên theo từng giai đoạn phù hợp với điều kiện TTCK Việt Nam
Hiện nay, TTCK Việt Nam có 90 công ty chứng khoán đang hoạt động Nhiều công
ty chứng khoán (CTCK) được thành lập từ các NHTM lớn, đã được làm quen với các sản phẩm phái sinh tiền tệ nên có thể dễ dàng tiếp cận với các sản phẩm phái sinh tương tự như CKPS Thêm nữa, hiện các CTCK và quỹ đầu tư chứng khoán 100% vốn nước ngoài được thành lập ở Việt Nam, đây là cũng là điểm thuận lợi khi triển khai sản phẩm mới trong thời gian tới Tuy nhiên, trong số các CTCK đang hoạt động, có 4 CTCK thuộc diện kiểm soát đặc biệt, 1 công ty đã rút nghiệp vụ môi giới và số CTCK có đủ điều kiện trở thành thành viên giao dịch và thành viên bù trừ là rất ít Quy định đối với hoạt động môi giới CKPS là CTCK có vốn điều lệ, vốn chủ sở hữu từ 800 tỷ đồng trở lên, đối với hoạt động tự doanh là từ 600 tỷ đồng trở lên, yêu cầu đối với thành viên bù trừ trực tiếp nếu là CTCK phải có vốn điều lệ, vốn chủ sở hữu 900 tỷ trở lên, đối với thành viên bù trừ chung
là 1.200 tỷ trở lên Như vậy, số CTCK có đủ điều kiện tối thiểu để thực hiện cả nghiệp vụ
tự doanh và môi giới CKPS chỉ có 12 CTCK Số CTCK đủ điều kiện tối thiểu vừa là thành
UBCKNN
SGDCK Việt Nam
Thị trường cổ
phiếu đăng ký
UPCOM
Thị trường
trái phiếu
chính phủ
chuyên biệt
Phân khúc phái sinh trái phiếu
Thị trường trái phiếu doanh nghiệp
Thị trường cổ phiếu niêm yết
Phân khúc phái sinh cổ phiếu - chỉ số
Thị trường chứng khoán phái sinh
Phân khúc phái sinh HH, tiền
tệ, vàng
Trung tâm lưu ký chứng khoán Việt Nam
Thanh toán, đăng ký, lưu
ký chứng khoán
Thanh toán, đăng ký, lưu
ký chứng khoán
Tài sản gốc
Thanh toán bù trừ Trong tương lai
Tài sản gốc
Trang 7viên giao dịch, vừa là thành viên bù trừ chỉ có 10 CTCK Trong khi đây mới chỉ là điều kiện tối thiểu, bên cạnh quy định về vốn điều lệ, thành viên tham gia thị trường cần phải có các điều kiện khác về vốn, chỉ tiêu an toàn tài chính…, các điều kiện này còn cao hơn các thành viên trên TTCK cơ sở
Bảng 1 Thống kê về số công ty chứng khoán được phép thực hiện nghiệp vụ phái sinh
Số CTCK Được phép thực hiện
Thuộc diện kiểm soát đặc biệt 4
CTCK có vốn điều lệ từ 600 tỷ đồng
Nghiệp vụ tự doanh CKPS
CTCK có vốn điều lệ từ 800 tỷ đồng
Nghiệp vụ môi giới CKPS
CTCK có vốn điều lệ từ 900 tỷ đồng
Thanh toán bù trừ trực tiếp
CTCK có vốn điều lệ từ 1200 tỷ đồng
Nguồn: Tính toán theo số liệu của UBCKNN
Có thể thấy, quy định về vốn điều lệ tối thiểu đối với các thành viên tham gia TTCKPS tại Việt Nam là bước đi khá thận trọng của cơ quan quản lý nhà nước trong giai đoạn đầu đi vào hoạt động của TTCKPS So sánh với một số quốc gia châu Á về quy định vốn điều lệ tối thiểu có thể thấy quy định của Việt Nam cao hơn nhiều (Bảng 2) Điều này có thể hiểu khi TTCK Việt Nam tuy có sự phát triển nhất định nhưng còn
dễ bị tổn thương bởi các cú sốc tâm lý và thông tin tiêu cực từ bên ngoài
Bảng 2 Quy định về vốn tối thiểu đối với các nghiệp vụ CKPS
ở một số nước châu Á
Đơn vị: USD
Việt Nam Singapore Hồng Kông Đài Loan
Vốn hóa thị
Nghiệp vụ
Môi giới 36,7 triệu 711,5 nghìn 645 nghìn 31 triệu
Trang 8Tự doanh 27,5 triệu NA 645 nghìn 62 triệu
Thanh toán bù
trừ trực tiếp 41,3 triệu 3,6 triệu 645 nghìn 31 triệu
Thanh toán bù
Nguồn: Tổng hợp từ các website của các Sở GDCK
Việc lựa chọn mô hình thành viên cần dựa trên điều kiện thực tế ở Việt Nam về các thành viên tham gia thị trường Có hai phương án lựa chọn mô hình thành viên: (1)
Mô hình thành viên giao dịch có thể đồng thời là thành viên bù trừ hoặc không làm thành viên bù trừ; (2) Mô hình thành viên giao dịch bắt buộc là thành viên bù trừ và ngược lại Hiện nay, TTCKPS Việt Nam lựa chọn phương án 1 cho phép nhiều thành viên tham gia thị trường hơn vì điều kiện trở thành thành viên thanh toán bù trừ cao hơn điều kiện trở thành thành viên giao dịch Với quy định về vốn điều lệ tối thiểu cao hơn nhiều một số nước trong khu vực hiện nay thì phương án này cho phép nhiều CTCK tham gia TTCKPS hơn, việc giao dịch cũng có thể diễn ra sôi động hơn, đặc biệt là có nhiều sự lựa chọn hơn đối với nhà tạo lập thị trường Hiện nay số CTCK đủ điều kiện quy định về vốn tối thiểu theo phương án 1 cũng chỉ có 18 công ty Trong giai đoạn tiếp theo, có thể điều chỉnh quy định về vốn điều lệ tối thiểu tùy thuộc vào quy mô giao dịch TTCKPS và quy mô các CTCK để mở rộng thành viên tham gia
3.3 Lựa chọn sản phẩm phái sinh theo giai đoạn phù hợp với điều kiện TTCK Việt Nam
Bộ chỉ số thống nhất của hai sở giao dịch cũng là căn cứ để lựa chọn tài sản cơ
sở cho sản phẩm CKPS trong thời gian tiếp theo sau hai sở giao dịch hợp nhất Theo kinh nghiệm các nước châu Á nên đưa sản phẩm phái sinh là HĐTL vào giao dịch trước, sau đó tùy tình hình thị trường mới tiếp tục đưa vào giao dịch sản phẩm hợp đồng quyền chọn (HĐQC) và các sản phẩm phái sinh khác Tuy nhiên, theo số liệu liên đoàn các SGDCK thế giới (WFE) thì công cụ phái sinh chỉ số chứng khoán được các
sở lựa chọn nhiều nhất, trong đó, sản phẩm phái sinh dựa trên tài sản cơ sở là cổ phiếu
và chỉ số chứng khoán thì HĐQC được giao dịch nhiều hơn Hơn nữa, các quy định khá thận trọng về các thành viên tham gia thị trường và sàn giao dịch CKPS ban đầu
do SGDCK Hà Nội triển khai, chưa hợp nhất hai sở có thể cho phép đưa ra giao dịch thử nghiệm nhiều sản phẩm hơn Do đó, cũng có thể cân nhắc việc đưa HĐQC vào
Trang 9giao dịch cùng với HĐTL đối với hai chỉ số VN-30 và HN-30 nhằm tăng tính hấp dẫn của TTCKPS ban đầu Giá trị của các sản phẩm phái sinh cũng không nên quá lớn, để
có thể thu hút được nhiều nhà đầu tư tham gia vào TTCKPS
Hai sản phẩm đầu tiên được đưa vào giao dịch là HĐTL chỉ số dựa trên các chỉ
số TTCK do các SGDCK xây dựng, và HĐTL trái phiếu chính phủ phù hợp với nhu cầu thị trường Hiện nay, SGDCK Hà Nội cũng đang nghiên cứu HĐTL dựa trên tài sản cơ sở là 2 chỉ số VN-30 và HNX-30 Hai chỉ số này được xây dựng dựa trên rổ cổ phiếu được xếp hạng hàng đầu của các sàn giao dịch dựa trên giá trị vốn hóa lớn, thỏa mãn các điều kiện cơ bản và qua các bước sàng lọc mới được lựa chọn Việc xem xét lại rổ cổ phiếu này cũng được thực hiện định kỳ thường xuyên 6 tháng/lần Do đó, hai chỉ số này có thể thỏa mãn điều kiện tiên quyết khi đưa một sản phẩm mới ra thị trường là đảm bảo không gây xáo trộn trên thị trường cơ sở Ngoài ra, hai SGDCK hiện tại cũng đã và đang nghiên cứu đưa ra một số chỉ số phân ngành, lĩnh vực, chỉ số vốn hóa thị trường, chỉ số tổng hợp… Đây là nguồn tài sản cơ sở cho các sản phẩm phái sinh trong tương lai Tuy nhiên, theo kinh nghiệm quốc tế, SGDCKPS thường được xây dựng một sở ban đầu hoặc hợp nhất các sở với nhau và sản phẩm phái sinh được xây dựng dựa trên bộ chỉ số thống nhất Do đó, trong giai đoạn tiếp theo, cần nghiên cứu xây dựng sản phẩm phái sinh dựa trên bộ chỉ số chung sau khi hợp nhất hai SGDCK
3.4 Xây dựng cơ sở hạ tầng công nghệ cho TTCKPS đảm bảo dựa trên những công nghệ tiên tiến phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế
Hiện nay, hạ tầng cơ sở vật chất cho hoạt động của TTCKPS vẫn chưa sẵn sàng
Đề án hợp nhất hai sở giao dịch chứng khoán trên cơ sở hiện đại hóa và đồng bộ hệ thống hạ tầng công nghệ thông tin theo hướng phân định các khu vực thị trường gồm thị trường cổ phiếu, trái phiếu và CKPS chưa được thông qua Vì vậy, trước mắt, Bộ Tài chính chỉ đạo UBCKNN và Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội chuẩn bị cơ sở hạ tầng và đưa vào triển khai TTCKPS vào nửa cuối năm 2016 Sản phẩm phái sinh dự kiến ban đầu sẽ là HĐTL dựa trên chỉ số chứng khoán Sở GDCK Hà Nội đang nghiên cứu HĐTL dựa trên 2 chỉ số VN-30 và HNX-30 Tuy nhiên, việc chưa hợp nhất hai sở giao dịch chứng khoán này sẽ gây khó khăn cho việc lựa chọn chỉ số làm tài sản cơ sở cho CKPS trong giai đoạn tiếp theo
Bên cạnh đó, hệ thống thanh toán bù trừ hỗ trợ các giao dịch CKPS là điều kiện quan trọng để phát triển TTCKPS Hiện, Sở GDCK Hà Nội (HNX) và Trung tâm Lưu
ký chứng khoán Việt Nam (VSD) đã công bố mô hình và kế hoạch phát triển hệ thống
Trang 10giao dịch và hệ thống thanh toán bù trừ và công bố chuẩn kết nối hệ thống cho các thành viên Tuy nhiên, để TTCKPS đi vào hoạt động thì các thành viên tham gia thị trường cũng cần có cơ sở hạ tầng thích hợp với giao dịch này Đặc biệt là đối với các thành viên giao dịch là thành viên bù trừ, có nghĩa là CTCK tham gia làm thành viên giao dịch của SGDCKPS, vừa là thành viên của Trung tâm thanh toán bù trừ, ngoài việc có đủ năng lực tài chính và các chỉ tiêu an toàn tài chính tốt thì cơ sở hạ tầng phải
đủ điều kiện mới có thể tham gia hệ thống mới này Do đó, hệ thống hạ tầng của thành viên thị trường cũng đòi hỏi sự đầu tư, nâng cấp để tích hợp được với hệ thống mới cho TTCKPS
Do đó, trong thời gian tới, cần xây dựng cơ sở hạ tầng công nghệ cho TTCKPS đảm bảo dựa trên những công nghệ tiên tiến, đáp ứng nhu cầu của thị trường và đầu tư, đáp ứng được khối lượng lớn các giao dịch của nhiều thị trường Ngoài ra, hệ thống thông tin cần được tích hợp giữa hệ thống giám sát, công bố thông tin, giao dịch và thanh toán bù trừ, đặc biệt, tích hợp giữa thị trường cơ sở và thị trường CKPS và với các CTCK thành viên
Cần từng bước nâng cao năng lực công nghệ của các CTCK Quy định về điều kiện cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin đối với hệ thống giao dịch, thanh toán bù trừ, quản trị rủi ro và kiểm soát nội bộ đối với các CTCK thành viên của TTCKPS; giới thiệu các nhà cung cấp giải pháp cho các CTCK thành viên; gia tăng tiện ích phục vụ CTCK thành viên; hỗ trợ các CTCK trong việc đào tạo, huấn luyện đội ngũ nhân viên công nghệ thông tin thông qua việc tổ chức các khóa đào tạo, học hỏi kinh nghiệm thị trường nước ngoài
3.5 Lựa chọn nhà tạo lập thị trường có đủ năng lực, phát triển những nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp về CKPS
Khái niệm về các công cụ phái sinh tài chính trên TTCK Việt Nam là khá mới
mẻ, không phải nhà đầu tư nào cũng hiểu và có thể thực hiện các giao dịch CKPS hiệu quả nhằm phòng ngừa rủi ro và tạo lợi nhuận Trong khi, mạng lưới đào tạo, giáo trình, giảng viên về TTCKPS chưa nhiều khiến cho việc phổ biến, đào tạo và tập huấn cho các nhà đầu tư còn hạn chế Ngay cả các CTCK, đội ngũ nhân lực hiểu về TTCKPS và
sẽ là nguồn lực tham gia môi giới, tự doanh và tư vấn về các CKPS vẫn còn thiếu Đây cũng là một hạn chế, cần khắc phục sớm để TTCKPS có thể đi vào hoạt động
Tỷ lệ nhà đầu tư chuyên nghiệp và nhà đầu tư có tổ chức trên TTCK Việt Nam còn ít, hiện nay có trên 1,5 triệu tài khoản nhà đầu tư, trong đó, nhà đầu tư có tổ chức chỉ chiếm chưa đến 1% Đây là một hạn chế đối với TTCKPS Việt Nam khi đối tượng