Bởi điều này ảnh hưởng rất nhiều đến động cơ học tập của họcsinh, một yếu tố tác động cơ bản đến quá trình học một ngôn ngữ: Không cóđộng cơ trẻ sẽ không học - và việc củng cố kiến thức
Trang 1Ngoại ngữ có vai trò và vị trí quan trọng trong sự nghiệp giáo dục đào tạo vàtrong sự phát triển của đất nước Biết ngoại ngữ là yêu cầu tất yếu của lao động
có kỹ thuật cao nhằm đáp ứng các quy trình công nghệ thường xuyên được đổimới, hơn nữa biết ngoại ngữ còn là một năng lực cần thiết đối với người ViệtNam hiện đại
Hiện nay tình trạng xao lãng việc học, học sinh học đối phó học vẹt màkhông biết tự học, học sinh yếu kém khá nhiều Làm thế nào để khắc phục tìnhtrạng này ? Làm thế nào để thu hút học sinh chú tâm vào việc học là vấn đề đòihỏi người làm giáo dục, các thầy cô tâm huyết với nghề, hội đồng sư phạm nhàtrường quan tâm hàng đầu, luôn nỗ lực đề ra kế hoạch, chương trình, hình thức,cải tiến phương pháp để dạy và học tốt hơn, nâng cao chất lượng và hiệu quảgiáo dục
Tuy tiếng Anh ở bậc tiểu học hiện nay vẫn chỉ là môn học tự chọn Song, nó
có tính chất khởi đầu quan trọng trong các năm học tiếp theo ở cấp II Vì thế nógiữ một vai trò không nhỏ trong quá trình học tập của các em Nó trang bị chocác em vốn từ vựng, ngữ pháp và những mẫu câu tối thiểu, cơ bản, đơn giảnnhất xoay quanh những chủ điểm rất gần gũi, được các em yêu thích và quenthuộc, là những chủ điểm giới thiệu bản thân, chủ điểm trường lớp bạn bè, chủđiểm gia đình, và chủ điểm khác (thế giới xung quanh các em) Chính vì thế việcgây hứng thú và củng cố kiến thức cho học sinh là một việc vô cùng quan trọngthường xuyên Bởi điều này ảnh hưởng rất nhiều đến động cơ học tập của họcsinh, một yếu tố tác động cơ bản đến quá trình học một ngôn ngữ: Không cóđộng cơ trẻ sẽ không học - và việc củng cố kiến thức còn làm khắc sâu hơn những ngữ liệu đã học trong các tiết học một cách có hệ thống, làm nền tảngvững chắc giúp các em học tốt hơn, tự tin hơn trong quá trình học tập sau này
Có một thực tế là, phần lớn các em học sinh chưa chú tâm và đầu tư cho mônngoại ngữ, chuẩn bị bài một cách sơ sài, đối phó trong khi các em học rất yếu
môn này Từ đó, một số em có tâm lý chán học bộ môn tiếng Anh Trong các
Trang 2giờ học, đa số các em thường thụ động, thiếu sự linh hoạt, ngại việc đọc - nóitiếng Anh và ít tham gia phát biểu để tìm hiểu bài học.
Ngoại ngữ chính là phương tiê ̣n, là chiếc cầu nối giữa chúng ta vớinền tri thức của thế giới Trong kinh tế học, tiền tê ̣ có chức năng trao đổi, là
vâ ̣t ngang giá, là tiền tê ̣ thế giới, thì trong đời sống sinh hoạt vâ ̣t chất và tinhthần, ngôn ngữ là phương tiê ̣n để gắn kết con người trên toàn thế giới lại vớinhau Chúng ta có thể khác nhau về chủng tô ̣c, sắc tô ̣c, có thể tồn tại mô ̣t gócnhỏ nào đó trên thế giới, chỉ cần chúng ta biết mô ̣t ngôn ngữ ngoài ngôn ngữ
mẹ đẻ là chúng ta có thể giao tiếp, giao lưu với những người nói thứ tiếng ấy
Và như vâ ̣y, khoảng cách khác biê ̣t đầu tiên là rào cản về ngôn ngữ bị thuhẹp, khi đó thế giới bên ngoài không còn cách biê ̣t với chúng ta
Trong những năm gần đây, đất nước ta ngày càng phát triển nhằm bắtkịp với xu thế hô ̣i nhâ ̣p toàn cầu Ngành giáo dục Viê ̣t Nam đang khôngngừng đổi mới để hô ̣i nhâ ̣p cùng thế giới Ngoại ngữ nói chung và Tiếng Anhnói riêng đóng vai trò quan trọng trong quá trình hô ̣i nhâ ̣p Tiếng Anh đãđược đưa vào giảng dạy trong các nhà trường ngay từ bậc Tiểu học Ngàycàng có nhiều cuộc thi nhằm khuyến khích và động viên học sinh học tập và
sử dụng Tiếng Anh Việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tíchcực, phát huy tính chủ động, sáng tạo của học sinh cũng đã được đưa vào ápdụng trong các nhà trường
Bởi vậy hệ thống các môn học trong nhà trường hiện nay là hướng tớinhững vấn đề cốt lõi thiết thực đó Bộ môn Tiếng Anh tuy đưa vào phổ biếnmuộn hơn so với các môn học khác ở nhà trường nói chung và Trường tiểuhọc nói riêng, nhưng nó là chìa khóa mở ra kho tàng tri thức nhân loại Nó làngười hướng đạo đưa ta tới với Thế giới bắt tay với bạn bè năm châu, tiếpthu và lĩnh hội những tinh hoa nhân loại
Trong quá trình học ngoại ngữ, từ vựng có thể xem là phần quan trọngnhất vì nó là phương tiện dùng để diễn đạt ý tưởng đồng thời đó cũng là cầunối giữa các kĩ năng nghe, nói, đọc và viết Vì vậy dạy cho học sinh cách học
và sử dụng Tiếng Anh là để cung cấp cho học sinh một kho tàng từ điển sống
về ngôn từ và cấu trúc câu, là một yêu cầu rất cần thiết trong việc học Tiếng
Trang 3Anh đặc biệt là với những học sinh mới làm quen với môn học TiếngAnh.Tuy nhiên, việc dạy từ vựng lại không đơn giản chút nào, nhất là dạycho trẻ đang ở ngưỡng bắt đầu học ngoại ngữ Dạy tiếng Anh nói chung vàdạy từ vựng nói riêng cho trẻ đòi hỏi ở người giáo viên không chỉ có khảnăng ngôn ngữ mà còn là cách làm thế nào để khiến học sinh tham gia vàobài học Để làm được điều đó, giáo viên buộc phải tạo ra sự đa dạng trongcác hoạt động trong giờ học Đó là lí do tại sao giáo viên cần lựa chọn vàphối hợp các phương pháp và kỹ thuật dạy từ một cách linh hoạt và uyểnchuyển để duy trì khả năng tập trung vốn kém ở học sinh tiểu học Làm thếnào có thể tạo ra cho trẻ một không khí học tập vui vẻ và thư giãn mà hiệuquả là điều mà tôi băn khoăn, trăn trở Tôi xin đưa ra một số kinh nghiệmtham khảo về việc hướng dẫn học sinh học cấu trúc ngữ pháp và từ vựng màtôi đã tích luỹ được trong quá trình học tập và giảng dạy Đó là lý do để tôi
chọn đề tài: “Một số kinh nghiệm dạy từ vựng Tiếng Anh ở Tiểu học.”
1.2 Mục đích nghiên cứu:
Đề tài tập trung nghiên cứu việc sử dụng các kỹ thuật và phương phápdạy từ vựng cho học sinh tiểu học Trên cơ sở đó, đưa ra một số kiến nghị đểnâng cao hiệu quả của việc vận dụng từ vựng trong các tình huống giao tiếp Việc vận dụng đúng đắn và khoa học các kỹ thuật dạy từ trong giờhọc Tiếng Anh ở Tiểu học nhằm:
- Tạo sự hứng thú say mê học tập của học sinh
- Khơi dậy niềm khao khát tham gia vào hoạt động tìm hiểu, khám phá,thử nghiệm của học sinh
- Giúp HS chủ động thực hiện các hoạt động học tập
- Giúp HS tập trung chú ý
- Tạo điều kiện cho học sinh vừa học, vừa chơi
- Giúp các em tái hiện, hệ thống hóa kiến thức một cách dễ dàng nhất
1.3 Đối tượng nghiên cứu:
Học sinh các lớp 3,4,5 tại trường Tiểu học
1.4 Phương pháp nghiên cứu:
Giáo viên cần áp dụng nhiều phương pháp nghiên cứu như:
- Phương pháp điều tra
- Phương pháp thực nghiệm
- Phương pháp nghiên cứu lí thuyết dạy ngôn ngữ
- Nghiên cứu các phương pháp dạy từ qua tài liê ̣u, mạng, trên truyền
Trang 4- Đúc rút kinh nghiệm qua quá trình nghiên cứu
1.5 Phạm vi nghiên cứu:
- Chương trình tiếng Anh Tiểu học lớp 3, 4, 5
- Từ vựng theo chủ đề: family, school, weather, color, food, animal,place,…
II NỘI DUNG
gia thực hiện Đề án ngoại ngữ
Mục tiêu dạy học nói chung, môn tiếng Anh nói riêng là phải phát huytính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh, coi học sinh là chủ thể của quátrình nhận thức, chủ động hoạt động trí óc, biết tự chiếm lĩnh tri thức từnhiều nguồn khác nhau Điều này đã được Luật Giáo dục khẳng định tronggiáo dục tiểu học Điều đặt ra cho giáo viên một yêu cầu cấp thiết là phải đổimới phương pháp dạy học mà hạt nhân cơ bản của nó là lấy học sinh làmnhân vật trung tâm
Đổi mới phương pháp dạy học của thầy đòi hỏi đồng thời phải đổi mới
Trang 5phương pháp học của trò Điều này hết sức quan trọng đối với tất cả các mônhọc, riêng môn tiếng Anh lại càng quan trọng hơn.
Dạy học là một công việc có rất nhiều thử thách cứ mỗi năm trôi qualại xuất hiện những thử thách mới vì thế giới luôn thay đổi từng ngày và giáoviên phải luôn sẵn sàng tiếp nhận và truyền lại những kiến thức mới cho họcsinh của mình Một vấn đề khiến nhiều giáo viên đau đầu đó là làm sao đểgiới thiệu được các từ vựng để các em không những hiểu mà còn cảm thấythú vị Những bộ não non nớt của các em sẽ vô cùng áp lực trước nhữngphương pháp giới thiệu và kiểm tra từ vựng theo cách ghi chép, nhồi nhét vàbắt học thuộc lòng Nếu không có những cách dạy và kiểm tra từ vựng gâyhứng thú thì các em sẽ coi việc học từ vựng là để đối phó với những lần kiểmtra
Từ vựng là một công cụ, phương tiện quan trọng nhất trong việc họcTiếng Anh Ở bất kỳ một kỹ năng nào của việc học ngoại ngữ đều phải sửdụng đến từ vựng Vì vậy từ vựng Tiếng Anh là nguồn vốn, là công cụ chínhcho người học Tiếng Anh
Trong một bài học của môn Tiếng Anh, hầu hết các tiết học nào cũng cóphần giới thiệu từ vựng Để bài học đạt kết quả cao, học sinh phải nắm rõcách phát âm cũng như cách sử dụng từ Muốn đạt được hiệu quả như vậygiáo viên phải lựa chọn phương pháp giảng dạy hợp lý làm sao để học sinh
dễ hiểu, dễ nhớ, dễ sử dụng
2 Cơ sở thực tiễn
Như chúng ta đều biết bất cứ một thứ tiếng nào trên thế giới, muốngiao tiếp được với nó, đòi hỏi chúng ta phải có một vốn từ vựng nhất định,bởi vì từ vựng là một thành phần không thể thiếu được trong ngôn ngữ.Trong Tiếng Anh chúng ta không thể rèn luyện và phát triển bốn kỹ năngnghe, nói, đọc, viết của học sinh mà không dựa vào nền tảng của từ vựng.Thật vậy, nếu không có số vốn từ cần thiết, các em sẽ không nghe được và hệquả của nó là không nói được, đọc không được và viết cũng không xong, cho
Trang 6Trong những năm học vừa qua, học sinh TH đã được học chương trìnhdạy học môn tiếng Anh theo hướng hiện đại, được tiếp cận với các giờ họcqua phần trình chiếu powerpoint rất sinh động, rõ ràng Kết quả cho thấy,giáo viên và học sinh đã sử dụng khá mạnh mẽ ứng dụng công nghệ thông tintrong quá trình dạy học bộ môn tiếng Anh Tâm lí chung của học sinh đam
mê học tiếng Anh rất thích học, nghiên cứu kiến thức dưới dạng thiết kế bàitập trên máy qua các trò chơi, các em tham gia chơi, học một cách nhiệt tình,hiếu thắng, ngay cả những em học sinh khá, trung bình và yếu Hơn nữa các
em thích tìm hiểu, khám phá những điều mới lạ Do đó bước đầu áp dụng đã
có những kết quả đáng phấn khởi Học sinh được làm quen với công nghệthông tin, các em sớm được tiếp xúc trang thiết bị dạy học tương tác hiện đại,được học tập ở phòng học Tiếng Anh chuyên dụng giúp cho việc giao tiếp dễdàng hơn Thêm vào đó là các phần mềm Tiếng Anh rất hữu ích trên Internet
Song một số ít học sinh còn rụt rè khi tham gia vào hoạt động mới lạ
Có lẽ kiến thức các em chưa thật chắc chắn, kỹ năng sử dụng máy vi tính còn
hạn chế do nhiều yếu tố khách quan, và chủ quan
Việc giao tiếp của trẻ ở vùng nông thôn vẫn còn hạn chế Đồng hànhcùng việc thay sách đổi mới chương trình và phương pháp dạy học, tôi nhậnthấy việc giao tiếp hạn chế ở học sinh là do việc ít được giao tiếp bằng TiếngAnh nên các em ít nhớ được từ Muốn giao tiếp được bằng Tiếng Anh đòi hỏihọc sinh song song với việc rèn luyện các kỹ năng là học từ vựng và có vốn
từ vựng nhất định Đối với học sinh ở Tiểu học, nội dung kiến thức và mẫucâu không nhiều, nhưng đòi hỏi các em phải có một lượng từ vựng nhất định
để thực hành và tham gia một số trò chơi
Tuy nhiên dạy từ vựng chỉ là một phần của tiết học tuy nhưng nó đóngvai trò cực kỳ quan trọng trong sự thành công của cả tiết học bởi vì việc thựchành mẫu câu, rèn kỹ năng giao tiếp có lưu loát, trôi chảy, thuận lợi haykhông tùy thuộc vào việc học sinh có đọc được từ mới, nắm được nghĩa vàcách sử dụng vốn từ vựng hay không Vậy lên giáo viên phải có nhữngphương pháp giảng dạy phù hợp cho từng tiết dạy Làm sao để mỗi khi giớithiệu và kiểm tra từ vựng các em cảm thấy hào hứng nhưng vẫn đem lại hiệuquả
Qua dạy học thực tế những năm qua, tôi nhận thấy phương pháp cũdạy và học từ vựng thường diễn ra theo kiểu: Giáo viên đọc bài rồi liệt kê ranhững từ theo giáo viên chưa từng xuất hiện trong quá trình dạy học gọi là từ
Trang 7mới (new words ) sau đó giáo viên ghi tất cả những từ mới đó lên bảng, giảithích nghĩa bằng Tiếng Việt rồi cho các em đọc vài lần Bắt các em học thuộclòng từ mới để kiểm tra trong tiết học sau đó Như vậy khiến các em nhàmchán và áp lực.
b Nguyên nhân mắc lỗi
Qua thực tế giảng dạy môn Tiếng Anh ở Tiểu học trong những nămqua tôi nhận thấy một số nguyên nhân của việc hạn chế như sau:
+ Trang thiết bị dạy học còn hạn chế
+ Cơ hội thực hành Tiếng Anh ít
+ Hạn chế về thơi gian và các hình thức về trò chơi
và học từ vựng Tiếng Anh mà tôi thấy hiệu quả và gây hứng thú cho họcsinh
A Các thủ thuật gợi mở giới thiệu từ mới:
- Giáo viên có thể dùng một số thủ thuật gợi mở giới thiệu từ mới như:
1 Visual (nhìn): cho học sinh nhìn tranh ảnh, vẽ phác họa cho các em
nhìn, giúp giáo viên ngữ nghĩa hoá từ một cách nhanh chóng
e.g a car e.g a flower
Trang 82 Mine (điệu bộ): Thể hiện qua nét mặt, điệu bộ.
e.g: bored
Teacher looks at watch, makes
bored face, yawns
T asks: “How do I feel?”
e.g: (to) jump
T jumps
T asks: “What am I doing?”
3 Realia (vật thật): Dùng những dụng cụ trực quan thực tế có được.
e.g cakes (count), rice (uncount.)
T brings real cakes and rice into the
class
T asks, “What’s this?”
e.g open (adj.), closed (adj.)
T opens and closes the door
T says, “Tell me about the door:it’s what?”
4 Situation / explanation(tình huống/giải thích):
e.g honest
T explains, “I don’t tell lies I don’t cheat in the exams I tell the truth.”
T asks, “What am I? Tell me the word in Vietnamese.”
5 Example(ví dụ):
e.g fumiture
T lists examples of fumiture:
“tables, chairs, beds – these are
all fumiture Give me another
example of fumiture ”
e.g (to) complain
T saya, “This room is too noisy andtoo small It’s no good (etc.)”
T asks, “What am I doing?”
6 Synonyon \ antonyon (đồng nghĩa \ trái nghĩa):
Giáo viên dùng những từ đã học rồi để giảng từ đồng nghĩa hoặc tráinghĩa
Trang 9Giáo viên dùng những từ tương đương trong tiếng Việt để giảng nghĩa
từ trong tiếng Anh Giáo viên chỉ sử dụng thủ thuật này khi không còn cáchnào khác, thủ thuật này thường được dùng để dạy từ trừu tượng, hoặc để giảiquyết một số lượng từ nhiều nhưng thời gian không cho phép, Giáo viên gợi
ý học sinh tự dịch từ đó
8 T’s eliciting questions(câu hỏi gợi ý) :
Để giới thiệu từ mới, giáo viên dạy cho học sinh theo bốn kỹ năngnghe – nói – đọc – viết
+ Nghe: Giáo viên đọc mẫu, học sinh lắng nghe
+ Nói: Giáo viên đọc từ, học sinh đọc lại
+ Đọc: Giáo viên viết từ lên bảng, học sinh đọc từ bằng mắt, bằngmiệng
+ Viết: Học sinh viết từ vào vở
Trong khi dạy từ mới phải ghi nhớ các điểm sau: Nên giới thiệu từtrong mẫu câu, ở những tình huống giao tiếp khác nhau, giáo viên kết hợpviệc làm việc đó, bằng cách thiết lập được sự quan hệ giữa từ cũ và từ mới,
từ vựng phải được củng cố liên tục
Giáo viên thường xuyên kiểm tra từ vựng vào đầu giờ bằng cách chocác em viết từ vào bảng con và giơ lên, với cách này giáo viên có thể quansát được toàn bộ học sinh ở lớp, bắt buộc các em phải học bài và nên nhớ chohọc sinh vận dụng từ vào trong mẫu câu, với những tình huống thực tế giúpcác em nhớ từ lâu hơn, giao tiếp tốt và mang lại hiệu quả cao
Để học sinh tiếp thu bài tốt đòi hỏi khi dạy từ mới, giáo viên cần phảilựa chọn các phương pháp cho phù hợp, chúng ta cần chọn cách nào ngắnnhất, nhanh nhất, mang lại hiệu quả cao nhất, là sau khi học xong từ vựng thìcác em đọc được, viết được và biết cách đưa vào các tình huống thực tế
B Lựa chọn từ để dạy:
Tiếng Anh là một môn học có tầm quan trọng, nó là công cụ để giao
Trang 10tiếp với các nước trên thế giới Muốn giao tiếp tốt chúng ta phải có vốn từphong phú.
Ở môi trường Tiểu học hiện nay, khi nói đến ngữ liệu mới là chủ yếunói đến ngữ pháp và từ vựng, từ vựng là ngữ pháp luôn có mối quan hệkhắng khích với nhau, luôn được dạy phối hợp để làm rõ nghĩa của nhau.Tuy nhiên việc dạy và giới thiệu từ vựng là vấn đề cụ thể Thông thườngtrong một bài học luôn xuất hiện những từ mới, xong không phải từ mới nàocũng cần đưa vào để dạy Để chọn từ cần dạy, giáo viên cần xem xét nhữngvấn đề:
Đối với từ chủ động ta chỉ cho học sinh biết chữ viết và định nghĩa như
từ điển thì chưa đủ, để cho học sinh biết cách dùng chúng trong giao tiếp,giáo viên cần cho học sinh biết cách phát âm, không chỉ từ riêng lẻ, mà cònbiết phát âm đúng những từ đó trong chuỗi lời nói, đặc biệt là biết nghĩa củatừ
-Số lượng từ cần dạy trong bài tuỳ thuộc vào nội dung bài và trình độcủa học sinh Không bao giờ dạy tất cả các từ mới, vì sẽ không có đủ thờigian thực hiện các hoạt động khác Tuy nhiên, trong một tiết học chỉ nên dạytối đa là 6 từ
- Trong khi lựa chọn từ để dạy, bạn nên xem xét đến hai điều kiện sau: + Từ đó có cần thiết cho việc hiểu văn bản không ?
+ Từ đó có khó so với trình độ học sinh không ?
- Nếu từ đó cần thiết cho việc hiểu văn bản và phù hợp với trình độ củahọc sinh, thì nó thuộc nhóm từ tích cực, do đó bạn phải dạy cho học sinh
- Nếu từ đó cần thiết cho việc hiểu văn bản nhưng khó so với trình độcủa học sinh, thì nó không thuộc nhóm từ tích cực, do đó bạn nên giải thíchrồi cho học sinh hiểu nghĩa từ đó ngay
- Nếu từ đó không cần thiết cho việc hiểu văn bản và cũng không khólắm thì bạn nên yêu cầu học sinh đoán
Trang 113.1 Một số phương pháp dạy từ vựng môn Tiếng Anh ở Tiểu Học
3.1.1.Sử dụng hình ảnh để dạy từ vựng
Đây là một cách thông dụng nhưng lại đem lại hiệu quả rất cao trongviệc giới thiệu và học từ vựng Giúp học sinh học được từ, nhớ từ thông quatranh ảnh
Example 1 : Unit 2: Lesson 1 - Grade 4
Example 2 : Unit 12 : Lesson 1- Grade 3
bedroom living room kitchen bathroom garden
Example 3: Unit 8 : Lesson 1- grade 5
The Fox and the Crow The story of Mai An Tiem The Snow White and the Seven Dwarfs
Trang 123.1.2 Dạy từ vựng qua bài hát, chant , video clip
Sử dụng video clip, các bài hát, bài chant rất hiệu quả trong việc học
và giới thiệu từ vựng Nhiều khi các em chỉ cần thuộc bài hát, bài chant làcác em đã có một vốn từ vựng tương đối Phương pháp này giúp các em học
từ một cách tự nhiên, thoải mái mà không bị ép là mình phải học Vớiphương pháp này giáo viên cần đầu tư thời gian để tìm trên các trang mạngnhững bài hát , chant, những video clip phù hợp với nội dung bài học,phùhợp với tâm sinh lý lứa tuổi các em Tôi thấy sử dụng phương pháp này đểdạy và củng cố từ vựng rất hiệu quả
Example 1 : Days of the week
There are seven days
There are seven days
There are seven days in a week
Sunday, Monday
Tuesday, Wednesday
Thursday, Friday
Saturday.
Example 2 : Song - Numbers
One and one is two
Two and two is four
Four and one is five
Five and five is ten
- Hoặc bài hát “ The big number song “ một bài hát rất hay về các con
số, các em có thể đếm đươc từ 1 đến 1 tỉ mà vẫn thấy thích thú
Example 3 : The Alphabet Song
Trang 13AB C D E F G
H I J K L N M O P
Q R S T U V
X Y Z
Now I know my ABCs
Next time won`t you sing with me.
- Bài hát “ We are the alphabet “ một bài hát được các em rất thích khihọc về bảng chữ cái
Example 4 : Colours Song
Red,blue,and yellow
Green and white
And pink and brown
Red, blue,and yellow
These are beautiful colours
3.1.3 Phương pháp dạy từ vựng bằng TPR
- TPR là một loại hình học từ vựng mà các em rất thích nhẹ nhàng,thuhút , dễ tiếp thu cho trò Các em có thể TPR theo bài hát , chant( xem videoclip và làm theo các hoạt động ) Hoặc giáo viên vừa đọc từ vừa diễn tả từ đóbằng hành động, các em nói và làm theo
Example :
- clap your hand – clap, clap ,clap : vỗ tay
- Stand up : đứng lên
- sit down : ngồi xuống
- shake your hand : lắc tay
- shake your body : đung đưa cơ thể
Trang 14The fall = autumn
Giáo viên có thể chỉ vào các đồ vật thật có ở trong lớp và giới thiệu :
“ a book” ,“ a pen” ,“ a ruler”
Sau đó giáo viên yêu cầu học sinh nhìn vào đồ vật và đoán nghĩa của
từ Phương pháp này cho các em hứng thú học tập và sự tập trung cao vì các
từ giáo viên giới thiệu là những đồ vật rất gần gũi với các em hằng ngày và
dễ đoán nghĩa đối với các em Đồ vật thật có thể ở xung quanh lớp hoặc giáoviên có thể chuẩn bị ở nhà
Example1 :Unit 8- School Things ( Grade 3 )
Example 2 : Unit 8- What are you doing?
The story of Mai An Tiêm
Snow White and the Seven Drawfs
The story of Tam and Cam
Trang 153.2.Những phương pháp kiểm tra từ vựng
3.2.1 Kiểm tra và học từ theo chủ điểm
Example
- Family : Grandfather, grandmother, mother, father, brother, sister, uncle,aunt
- Subjects : English, Art , Music, Science, Maths, Vietnamese
- School things : ruler, rubber, school bag, pencil, pen
-Countries : Vietnam, Malaysia, Thailand, Laos, America, Japan
- Sports : voleyball, football, table-tennis, badminton
3.2.2 Đưa ra ví dụ
- Giáo viên đưa ra một câu mới , yêu cầu học sinh thay thế từ gạch chân
Example 1 : What is his job?
He’s a doctor He’s a teacher Example 2 : Unit 8 – Leson 1 ( Grade 4 )
What day is it today ?
It`s Monday It`s Tuesday It`s Wednesday
3.2.3 Vẽ tranh
Giáo viên có thể hướng dẫn học sinh vẽ những hình đơn giản để học sinh có thể nhớ từ lâu hơn Với cách học này học sinh rất dễ học, dễ nhớ và rất hứng thú
Example
a book
a pencil case
Trang 16a book
3.2.4 Kiểm tra từ vựng qua trò chơi
Trò chơi không phải lúc nào cũng là một loại hình giải trí Thực ra nó
có thể sử dụng để củng cố từ vựng đã giới thiệu trong bài học theo mộtphương pháp hấp dẫn học sinh một cách có tổ chức và vui vẻ Vì vậy giáoviên cần phải biết vận dụng các trò chơi trong các bài dạy để cho học sinhvừa học vừa chơi để bài học được diễn ra nhẹ nhàng bớt căng thẳng Tuynhiên tuỳ vào bài cụ thể mà giáo viên có thể chọn ra trò chơi phù hợp vớimục đích của bài học
3.2.4.1 Bingo: Sử dụng trò chơi này nhằm tăng cường năng lực ghi
nhớ và nghe hiểu cùa học sinh Trò chơi này thích hợp để củng cố về các chủ
đề như: Số đếm (Number), Bảng chữ cái (The Alphabet), từ chỉ nghề nghiệp(job), Màu sắc (colors), quả (Fruit), thú vật (animals), trang phục (clothes),nghề nghiệp (jobs)…
+ Giáo viên cho một số từ đã học
+ Mỗi học sinh chọn 9, 16, hoặc 25 từ trong số các từ đó và viết vàovở
+ Giáo viên đọc các từ không theo trật tự
+ Học sinh đánh dấu P vào từ đã chọn khi nghe giáo viên đọc từ đó.+ Học sinh nào đánh dấu được 3, 4, hoặc 5 ô vuông theo hàng ngang,hoặc trên xuống , hoặc theo đường chéo thì nói “ Bingo” và học sinh đóthắng cuộc
+ Giáo viên phát thưởng cho học sinh đó