4 2.6 Doanh nghiệp tư nhân không được quyền góp vốn thành lập hoặc mua cổ phần, phần vốn góp trong công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần.. Song song với việc
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
************************
BÀI TIỂU LUẬN Môn: Pháp Luật Kinh Doanh
ĐỀ TÀI:
Quy định của pháp luật về doanh nghiệp tư nhân Sưu tầm một tình huống/ bản án liên quan đến quy định tại Luật doanh nghiệp về loại hình doanh nghiệp này và đưa ra hướng giải quyết theo quan điểm cá nhân
Sinh viên thực hiện : LÊ THỊ THANH THỦY
Nhóm thi : 867003_029
Mã sinh viên : 3120330422
Giáo viên hướng dẫn : Nguyễn Thị Vân Trang
Hồ Chí Minh, ngày 24 tháng 12 năm 2021
Trang 21
DANH MỤC VIẾT TẮT
2
3
Trang 3MỤC LỤC
I Quy định của pháp luật về doanh nghiệp tư nhân 2
1 Khái niệm 2
2 Đặc điểm của doanh nghiệp tư nhân 2
2.1 Về chủ sở hữu doanh nhiệp tư nhân là một cá nhân 2
2.2 Tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp - trách nhiệm vô hạn 3
2.3 Không có tư cách pháp nhân 3
2.4 Doanh nghiệp tư nhân không được phát hành bầt kỳ loại chứng khoán nào 4
2.5 Mỗi cá nhân chỉ được quyền thành lập một doanh nghiệp tư nhân Chủ doanh nghiệp tư nhân không được đồng thời là chủ hộ kinh doanh, thành viên hợp danh của công ty hợp danh 4
2.6 Doanh nghiệp tư nhân không được quyền góp vốn thành lập hoặc mua cổ phần, phần vốn góp trong công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần 6
3 Vốn của doanh nghiệp tư nhân 6
4 Quản lý doanh nghiệp tư nhân 8
5 Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp tư nhân 9
5.1 Cho thuê doanh nghiệp tư nhân 9
5.2 Bán doanh nghiệp tư nhân 10
II Một tình huống/ bản án liên quan đến quy định tại luật doanh nghiệp về loại hình doanh nghiệp này và đưa ra hướng giải quyết theo quan điểm cá nhân 11
1 Bản án 11
2 Phân tích tình huống 12
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 13
Trang 4MỞ ĐẦU
Trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường ở Việt Nam, việc xây dựng một khung pháp lý hoàn thiện để điều chỉnh các quan hệ trong hoạt động kinh tế là một yêu cầu bức thiết Song song với việc công nhận sự tồn tại của các loại hình doanh nghiệp trong nền kinh tế thì nhà nước cũng ban hành các văn bản pháp luật quy định về tổ chức và hoạt động của chúng Luật doanh nghiệp năm 2020 ra đời trên cơ sở sửa đổi và bổ sung Luật doanh nghiệp 2014 Nhìn chung Bộ luật đã quy định tương đối đầy đủ về các loại hình doanh nghiệp tại nước ta, trong đó có cả doanh nghiệp tư nhân Để hiểu rõ hơn về loại hình doanh nghiệp này và góp phần tìm hiểu một số vấn đề về doanh nghiệp tư nhân, đã thực hiện bài tiểu luận với đề tài “Quy định của pháp luật về doanh nghiệp tư nhân Sưu tầm một tình huống/ bản án liên quan đến quy định tại Luật doanh nghiệp về loại hình doanh nghiệp này
và đưa ra hướng giải quyết theo quan điểm cá nhân” Phần lớn nội dung của bài tiểu luận
sẽ tập trung phân tích một số điểm đặc trưng của loại hình doanh nghiệp tư nhân và những
ví dụ cụ thể, bản án thực giúp chúng ta hiểu rõ bản chất của loại hình doanh nghiệp này, hi vọng qua đó góp phần hiểu thêm về những quy định của pháp luật về doanh nghiệp tại Việt Nam
NỘI DUNG
I Quy định của pháp luật về doanh nghiệp tư nhân
1 Khái niệm
Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm
2 Đặc điểm của doanh nghiệp tư nhân
2.1 Về chủ sở hữu doanh nhiệp tư nhân là một cá nhân
DNTN là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ, thể hiện nó không có sự hùn vốn, không có sự liên kết góp vốn của nhiều thành viên Về bản chất, tất cả tài sản thuộc về mọt chủ duy nhất Do 1 cá nhân thành lập nhưng cá nhân không rơi vào trường hợp cấm: người
1 Xem khoản 1 Điều 188 Luật Doanh nghiệp 2020
Trang 5không có năng lực hành vi dân sự, người dưới 18 tuổi, người đã từng vi phạm pháp luật,
2.2 Tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp - trách nhiệm vô hạn
Chủ DNTN phải chịu trách nhiệm vô hạn bằng toàn bộ tài sản thuộc sở hữu của mình đối với các khoản nợ phát sinh trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp vì DNTN không
có khả năng chịu trách nhiệm Điều đó có nghĩa là chủ DNTN không chỉ chịu trách nhiệm
về hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đầu tư đã đăng ký với cơ quan điều kiện kinh doanh mà còn phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình trong trường hợp số vốn đầu tư đã đăng ký không đủ để trả các khoản nợ phát sinh từ hoạt động của doanh nghiệp khi DNTN bị tuyên bố phá sản Như vậy, trách nhiệm của chủ DNTN không chỉ giới hạn trong số vốn đầu tư khi kinh doanh mà vượt ngoài phạm vi số vốn kinh doanh đó Vì vậy, mà trách nhiệm của chủ DNTN được gọi là trách nhiệm vô hạn Trong trường hợp tài sản kinh doanh của chủ doanh nghiệp không đủ để thanh toán nợ, chủ DNTN phải lấy cá tài sản không dùng vào hoạt động kinh doanh để trả cho chủ nợ [6] 2.3 Không có tư cách pháp nhân
DNTN không có tư cách pháp nhân Đặc thù của loại chủ thể này ở góc độ nào đó là không có tài sản độc lập vì tài sản dùng vào hoạt động kinh doanh của DNTN cũng chính
là tài sản của chủ doanh nghiệp Luật cũng khẳng định rõ là tài sản được sử dụng vào hoạt động kinh doanh của chủ DNTN không phải làm thủ tục chuyển quyền sở hữu cho doanh nghiệp
Tiêu chuẩn đầu tiên để xét tính độc lập về tài sản của một doanh nghiệp là tài sản của doanh nghiệp đó phải độc lập trong quan hệ với tài sản của chủ doanh nghiệp DNTN không thỏa mãn tiêu chuẩn quan trọng này vì vậy, DNTN không có đủ điều kiện để được công nhận là pháp nhân Đây là một đặc điểm đặc trưng của DNTN Hầu hết các loại hình doanh
2 Xem khoản 2 Điều 17 Luật doanh nghiệp 2020
3 Xem điều 74 Bộ luật Dân sự 2015
Trang 6nghiệp được quy định ở Việt Nam đều có tư cách pháp nhân, chỉ riêng DNTN là không có
tư cách pháp nhân
Theo Luật Doanh nghiệp năm 1999, ngoài DNTN, CTHD cũng không có tư cách pháp nhân Nhưng kể từ Luật Doanh nghiệp 2005 Luật Doanh nghiệp 2014, Luật Doanh nghiệp
2020 CTHD cũng được quy định có tư cách pháp nhân Như vậy, chỉ còn duy nhất DNTN
là không có tư cách pháp nhân [6]
Luật Doanh nghiệp 2005, Luật Doanh nghiệp 2014, Luật Doanh nghiệp 2020 đều quy định DNTN không được phát hành bất kỳ loại chứng khoản nào để huy động vốn Có thể nói, quy định này đã hạn chế khả năng huy động vốn của DNTN rất nhiều Việc quy định như trên là hợp lý, bởi lẽ với những quy định hiện hành về cơ cấu tổ chức và quản lý của DNTN thì khó có một cơ chế đủ chặt chẽ, minh bạch, hiệu quả để giảm sát doanh nghiệp này, nhất là việc phân định giữa tài sản của doanh nghiệp và tài sản của chủ doanh nghiệp, nên dẫn đến rủi ro cao cho các chủ nợ Mặt khác, không thể quy định cho DNTN được phát hành cổ phần để huy động vẫn, bởi vì người sở hữu cổ phần sẽ trở thành chủ sở hữu của
huy động vốn bằng các cách thức hợp pháp khác, chẳng hạn như vay vốn từ các tổ chức tín dụng Tuy nhiên, cần lưu ý rằng các tổ chức tín dụng có thể cho DNTN vay vốn nhằm phục
vụ hoạt động kinh doanh, nhưng về bản chất, khoản vay đó vẫn là khoản vay của chủ doanh nghiệp, tài sản bảo đảm khoản vay là tài sản của chủ doanh nghiệp và người chịu trách nhiệm trả nợ cuối cùng cũng là chủ doanh nghiệp.[7]
2.5 Mỗi cá nhân chỉ được quyền thành lập một doanh nghiệp tư nhân Chủ doanh nghiệp tư nhân không được đồng thời là chủ hộ kinh doanh, thành viên hợp danh
Chủ DNTN phải chịu trách nhiệm vô hạn bằng tất cả tài sản của mình về mọi hoạt
4 Xem khoản 2 Điều 188 Luật Doanh nghiệp 2020
5 Xem khoản 4 Điều 188 Luật Doanh nghiệp 2020
6 Xem khoản 1 Điều 188 Luật Doanh nghiệp 2020
Trang 7của một chủ thể kinh doanh rồi thì không thể chịu trách nhiệm vô hạn trong một chủ thể kinh doanh khác nữa Do đó, để đảm bảo quyền lợi cho khách hàng và đối tác, kể cả chủ
nợ của các DNTN nên luật chỉ cho phép mỗi cá nhân chỉ được thành lập 1 DNTN và không được đồng thời là chủ hộ kinh doanh, thành viên hợp danh của công ty hợp danh
Ví dụ: Bà Anh là chủ doanh nghiệp tư nhân Cát Sa Ngày 31/12/2021, nhận được lời mời
từ hai người bạn là ông Hạnh và bà Phúc nên Bà Anh đã góp 3 tỷ đồng đề cùng ông Hạnh,
bà Phúc thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên Tiếp đó, Bà Anh muốn kinh doanh thêm lĩnh vực mua bản áo quần thời trang nên đã tiến hành làm thủ tục dăng ký thành lập hộ kinh doanh do minh làm chủ
Theo quy định tại khoản 1 điều 17 LDN 2020 thì tổ chức, cá nhân (bao gồm cả tổ chức và cá nhân là người nước ngoài) đều có quyền tham gia thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam, trừ những trường hợp được quy định tại khoản 2 điều 17 LDN 2020 Mặt khác, LDN 2020 chỉ cấm doanh nghiệp tư nhân (tổ chức) không được quyền góp vốn thành lập hoặc mua cổ phần, phần vốn góp trong công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần chứ không cấm chủ sở hữu doanh nghiệp tư nhân (cá nhân) thực hiện điều này (khoản 1 Điều 189 LDN 2020) Bà Anh mặc dù đang là chủ sở hữu doanh nghiệp tư nhân nhưng việc Bà Anh tham gia góp vẫn thành lập Công ty TNHH hai thành viên trở lên Hạnh Phúc là hoàn toàn hợp pháp
Theo quy định tại khoản 1 điều 67 Nghị định 78/2015/NĐ-CP thể công dân Việt Nam
dù 18 tuổi, có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự đầy đủ, các hộ gia đình có quyền thành lập hộ kinh doanh" Tuy nhiên tại khoản 3 điều 67 của Nghị định này cũng nếu rõ “cá nhân thành lập và tham gia lớp vốn thành lập hộ kinh doanh không được đồng thời là chủ doanh nghiệp tư nhân" Bà Anh đang làm chủ doanh nghiệp tư nhân nên ông thuộc đổi tương bị cấm thành lập hộ kinh doanh
Trang 82.6 Doanh nghiệp tư nhân không được quyền góp vốn thành lập hoặc mua cổ phần, phần vốn góp trong công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ
Điều này là do chủ doanh nghiệp tư nhân phải chịu trách nhiệm vô hạn đối với hoạt động công ty của doanh nghiệp mình nên để đảm bảo trách nhiệm đó đối với doanh nghiệp,
họ không được góp vốn thành lập các công ty khác tránh trường hợp tài sản của họ không thể dành được hết tất cả các nghĩa vụ tài chính phát sinh từ hai công ty trở lên
Mặt khác, theo quy định điểm đ khoản 2 điều 18 Luật doanh nghiệp, tổ chức không
có từ cách pháp nhân không có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp, và doanh nghiệp
tư nhân cũng không có từ cách pháp nhân nên không được quyền thành lập doanh nghiệp Tuy nhiên chủ DNTN thì hoàn toàn có thể mua được mua cổ phần, phần vốn góp trong công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần, bởi lẽ chủ doanh nghiệp tư nhân chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi góp vốn của mình.[7]
3 Vốn của doanh nghiệp tư nhân
Vốn là cơ sở vật chất ban đầu cần thiết để chủ doanh nghiệp tiến hành hoạt động kinh doanh Toàn bộ nguồn vốn ban đầu của DNTN do một cá nhân đầu tư Chủ doanh nghiệp
có nghĩa vụ đăng ký chính xác tổng số vốn đầu tư, trong đó nêu rõ số vốn bằng Đồng Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng và các tài sản khác Đối với vốn bằng tài sản khác
tài sản kể cả vốn vay và tài sản thuê được dụng vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
này được đưa ra nhằm đảm bảo tính thống nhất trong hoạt động trong kế toán thống kê của nền kinh tế, giúp cho nhà nước thực hiện hoạt động quản lí đối với các chủ thể kinh doanh một cách dễ dàng và chính xác và thuận lợi hơn
Tài sản được đầu tư vào hoạt động kinh doanh của chú DNTN không phải làm thủ tục chuyển quyền sở hữu cho doanh nghiệp, chỉ cần khai báo với cơ quan đăng ký kinh doanh
7 Xem khoản 4 Điều 188 Luật Doanh nghiệp 2020
8 Xem khoản 1 Điều 189 Luật Doanh nghiệp 2020
9 Xem khoản 2 Điều 189 Luật Doanh nghiệp 2020
Trang 9về số vẫn đầu tư Như vậy, tài sản của chủ DNTN vẫn là tài sản thuộc sở hữu của chủ DNTN Hay nói cách khác, giữa tài sản của chủ DNTN và tài sản của DNTN không có sự tách bạch rõ rằng, dù tài sản nằm trong doanh nghiệp hay ngoài doanh nghiệp vẫn là tài sản của chủ doanh nghiệp
Tuy nhiên, đối với những quy định được kế thừa từ LDN 1999 thì LDN 2020 không đưa ra quy định đòi hỏi các cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải tiến hành kiểm tra về vốn đầu tư của chủ DNTN khi mà cấp giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh Và mặc nhiên coi sự khai báo về vốn là có thực, cũng vì lí do này mà trong thực tế có khá nhiều DNTN
đã khai khống về vốn đầu tư của mình, nó dẫn đến câu chuyện là vốn ảo Điều này thực sự
có ảnh hưởng không hề nhỏ đến sự phát triển của nền kinh tế
Trong quá trình hoạt động, chủ DNTN có quyền tăng hoặc giảm vốn đầu tư của mình vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Trường hợp giảm vốn đầu tư xuống thấp hơn vốn đầu tư đã dăng ký thì chủ doanh nghiệp phải thông báo cho cơ quan đăng ký kinh doanh
Điều này cũng dễ hiểu mặc dù có giảm vốn đầu tư song câu chuyện khi phát sinh các nghĩa vụ tài sản thì chủ doanh nghiệp tư nhân cũng phải gánh chịu trách nhiệm bằng mọi tài sản, kể cả những tài sản không đưa vào quá trình kinh doanh Do đó, việc giảm vốn của doanh nghiệp tư nhân không làm giảm đi khả năng chịu trách nhiệm của doanh nghiệp, chính vì vậy việc giảm vốn tương đối tự do và thoải mái [8]
Ví dụ: Ông Lê Huy Sáng hiện đang là chủ doanh nghiệp tư nhân Ánh Sáng, do ảnh hưởng của đại dịch Covid và bão, lụt nên hoạt động của doanh nghiệp không được tốt lắm, do đó ông muốn giảm vốn doanh nghiệp của mình Ông hỏi theo quy định của pháp luật thì Ông
có quyền được giảm vốn Vì theo khoản 3 Điều 189 Luật Doanh nghiệp năm 2020 (có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2021) quy định: “Trong quá trình hoạt động, chủ doanh nghiệp tư nhân có quyền tăng hoặc giảm vốn đầu tư của mình vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Việc tăng hoặc giảm vốn đầu tư của chủ doanh nghiệp tư nhân phải được ghi chép đầy đủ vào sổ kế toán Trường hợp giảm vốn đầu tư xuống thấp hơn vốn đầu tư
10 Xem khoản 3 Điều 189 Luật Doanh nghiệp 2020
Trang 10đã đăng ký thì chủ doanh nghiệp tư nhân chỉ được giảm vốn sau khi đã đăng ký với Cơ quan đăng ký kinh doanh.”
4 Quản lý doanh nghiệp tư nhân
Như đã phân tích ở trên, tài sản của DNTN không tách bạch với tài sản của chủ DNTN nên chủ DNTN có toàn quyền quyết định mọi vấn đề liên quan đến tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp
Chủ doanh nghiệp có quyền trực tiếp quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh của
thuê người quản lý, chủ DNTN vẫn là người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, là
Người được thuê quận lý, điều hành doanh nghiệp chi là người đại diện theo sự ủy quyền của chủ doanh nghiệp
Bởi vì đây là doanh nghiệp của chủ doanh nghiệp, toàn bộ tài sản là của chủ doanh nghiệp nên chủ doanh nghiệp có làm gì thì đó là quyền của chủ doanh nghiệp Nếu bạn muốn tự thành lập doanh nghiệp và muốn tự mình quản lý, tự chịu trách nhiệm mọi vấn đề của doanh nghiệp thì lựa chọn thành lập doanh nghiệp tư nhân chính là một sự lựa chọn hoàn hảo nhất dành cho các cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp Chỉ nên lựa chọn loại hình doanh nghiệp tư nhân này khi kinh doanh những ngành nghề mang tính chất cần uy tín và cũng ít rủi ro như kinh doanh vàng bạc, đá quý, trang sức
Chủ DNTN là nguyên đơn, bị đơn hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trước Trọng tài hoặc Tòa án trong các tranh chấp liên toàn bộ lợi nhuận thu được từ hoạt động kinh doanh của doanh quan đến doanh nghiệp Chủ DNTN cũng được hưởng nghiệp và
Ví dụ: Bà Mai đứng ra thành lập DNTN “Ban Mai" kinh doanh ở lĩnh vực giáo dục với số vốn đầu tư ban đầu là 500 triệu đồng Bà Mai có người bạn là Đào rất am hiểu lĩnh vực kinh doanh này nên Mai đã mời Đào đến làm việc và giao cho chức vụ giám đốc thay Mai điều
11 Xem khoản 1 Điều 190 Luật Doanh nghiệp 2020
12 Xem khoản 2 Điều 190 Luật Doanh nghiệp 2020
13 Xem khoản 3 Điều 190 Luật Doanh nghiệp 2020