1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Trong Thư gửi Ủy ban Nhân dân các Kỳ, Tỉnh, Huyện và Làng năm 1945 có đoạn “nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì” (Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Tập 4, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 64).

16 63 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 235,51 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong Thư gửi Ủy ban Nhân dân các Kỳ, Tỉnh, Huyện và Làng năm 1945 có đoạn “nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì” (Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Tập 4, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 64). AnhChị hiểu và vận dụng luận điểm trên như thế nào vào việc bảo vệ và xây dựng đất nước Việt Nam hiện nay? BÀI LÀM A, PHẦN MỞ ĐẦU : GIỚI THIỆU VẤN ĐỀ CẦN LÝ LUẬN “Độc lập” ở Việt Nam trong Cách mạng tháng Tám năm 1945 “đã giải phóng đồng bào ta ra khỏi chế độ quân chủ chuyên chế và xiềng xích thực dân... xây dựng cho nhân dân ta cái nền tảng Dân chủ Cộng hoà và thống nhất độc lập”. “Độc lập” ấy của toàn dân tộc sau khi giành được đã nêu cao ý chí quyết tâm “Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”; dù “Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ Không có gì quý hơn độc lập, tự do. Đến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn” Nhưng “Độc lập” không tách biệt với “Tự do”, “Hạnh phúc” mà phải gắn liền một cách hữu cơ và biện chứng với nhau như những điều kiện và mục tiêu tối thượng.Trong Thư gửi UBND các kỳ, tỉnh, huyện và làng (17101945), Hồ Chủ tịch nói rõ “Ngày nay, chúng ta đã xây dựng nên nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa. Nhưng nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”. Phát biểu tại cuộc họp đầu tiên của Ủy ban Nghiên cứu kế hoạch kiến quốc (1011946), Người lý giải: “Chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét, thì tự do, độc lập cũng không làm gì. Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ”.“Tự do” và “Hạnh phúc” là kết quả của “Độc lập” nhưng phải là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, bởi vì “Chỉ có chủ nghĩa cộng sản mới cứu nhân loại, đem lại cho mọi người không phân biệt chủng tộc và nguồn gốc sự

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành bài tiểu luận này, em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến: Khoa ……… Đại học … vì đã tạo điều kiện về cơ sở vật chất với hệ thống hiện đại, đa dạng, tài liệu thuận lợi cho việc tìm kiếm, nghiên cứu thông tin

Xin cảm ơn giảng viên bộ môn - Thầy ……… đã giảng dạy tận tình, chi tiết để em có đủ kiến thức và vận dụng chúng vào bài thu hoạch này

Do chưa có nhiều kinh nghiệm làm để tài cũng như những hạn chế về kiến thức, trong bài làm chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được sự nhận xét, ý kiến đóng góp, phê bình từ phía Thầy để bài tiểu luận được hoàn thiện hơn

Lời cuối cùng, em xin kính chúc Thầy nhiều sức khỏe, thành công và hạnh phúc

Trang 2

ĐỀ BÀI:

Trong Thư gửi Ủy ban Nhân dân các Kỳ, Tỉnh, Huyện và Làng năm 1945

có đoạn “nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì” (Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Tập 4, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr 64) Anh/Chị hiểu và vận dụng luận điểm trên như thế nào vào việc bảo vệ và xây dựng đất nước Việt Nam hiện nay?

Trang 3

BÀI LÀM

A, PHẦN MỞ ĐẦU : GIỚI THIỆU VẤN ĐỀ CẦN LÝ LUẬN

“Độc lập” ở Việt Nam trong Cách mạng tháng Tám năm 1945 “đã giải phóng đồng bào ta ra khỏi chế độ quân chủ chuyên chế và xiềng xích thực dân xây dựng cho nhân dân ta cái nền tảng Dân chủ Cộng hoà và thống nhất độc lập”

“Độc lập” ấy của toàn dân tộc sau khi giành được đã nêu cao ý chí quyết tâm “Thà

hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”; dù “Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập, tự do Đến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn!”

Nhưng “Độc lập” không tách biệt với “Tự do”, “Hạnh phúc” mà phải gắn liền một cách hữu cơ và biện chứng với nhau như những điều kiện và mục tiêu tối thượng.Trong Thư gửi UBND các kỳ, tỉnh, huyện và làng (17/10/1945), Hồ Chủ tịch nói rõ “Ngày nay, chúng ta đã xây dựng nên nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa Nhưng nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì” Phát biểu tại cuộc họp đầu tiên của Ủy ban Nghiên cứu kế hoạch kiến quốc (10/1/1946), Người lý giải: “Chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét, thì tự do, độc lập cũng không làm gì Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ”.“Tự do”

và “Hạnh phúc” là kết quả của “Độc lập” nhưng phải là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, bởi vì “Chỉ có chủ nghĩa cộng sản mới cứu nhân loại, đem lại cho mọi người không phân biệt chủng tộc và nguồn gốc sự tự do, bình đẳng, bác ái, đoàn kết, ấm no trên quả đất, việc làm cho mọi người và vì mọi người, niềm vui, hòa bình, hạnh phúc” Nói “Tự do” và “Hạnh phúc” là nói đến người dân được hưởng đầy đủ đời sống vật chất và tinh thần do Chính phủ chăm lo và bản thân mỗi con người biết mưu cầu chính đáng “Tự do” và “Hạnh phúc” cơ bản nhất, tối thiểu nhất theo cách nói của Hồ Chí Minh là “đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”; người dân từ chỗ có ăn, có mặc, được

Trang 4

học hành đến chỗ ăn ngon, mặc đẹp, đời sống sung túc và cống hiến… Điều đó trong chế độ dân chủ cộng hòa thì mỗi người dân được pháp luật đảm bảo điều kiện trong việc tự cải thiện đời sống riêng của mình, phát huy tính độc lập cá nhân

và phát triển toàn diện; việc mưu cầu hạnh phúc và đem lại phúc lợi xã hội cho con người trở thành quyền công dân, mỗi người dân và toàn xã hội đều có nghĩa

vụ và trách nhiệm chung.Như thế ta hiểu tại sao 6 chữ “Độc lập - Tự do - Hạnh phúc” cần có gạch nối 3 từ không thể tách biệt, như là điều kiện và mục đích của nhau vậy Kể từ năm 1945, đó là nhiệm vụ và quyền lợi của “tất cả đồng bào Việt Nam, không phân biệt gái trai, già trẻ, giàu nghèo, tôn giáo, chủng tộc, cùng nhau đoàn kết để giữ vững nền độc lập và mưu cầu hạnh phúc tự do”

Thông qua nội dung “ nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc, tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”, Bài tiểu luận sẽ góp phần cũng cố và khẳng định việc bảo vệ và xây dựng đất nước Việt Nam trong thời kỳ đổi mới hiện nay

B PHẦN NỘI DUNG : PHÂN TÍCH VẤN ĐỂ LÝ LUẬN

1, Cơ sở lý luận

Độc lập là quyền bất khả xâm phạm của một đất nước, một quốc gia, một dân tộc bởi chính người dân sinh sống ở đó, có nghĩa có chủ quyền tối cao Độc lập còn

có thể hiểu là “sự không phụ thuộc” từ cá nhân, tập thể, xã hội, quốc gia hay dân tộc nào vào cá nhân, tập thể, xã hội, quốc gia hay dân tộc khác

Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội thể hiện sự nhất quán trong tư duy

lý luận và hoạt động thực tiễn của Hồ Chí Minh Từ khi trở thành người cộng sản cho đến khi trở thành lãnh tụ, nguyên thủ quốc gia, mối quan tâm hàng đầu của

Hồ Chí Minh là gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội phù hợp với từng thời

kỳ của cách mạng Việt Nam Hồ Chí minh chỉ rõ các bài viết của Người chỉ có một “đề tài” là: chống thực dân đế quốc, chống phong kiến địa chủ, tuyên truyền độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội thì giá trị Độc lập - Tự do - Hạnh phúc là nội dung cốt lõi Trong đó, giá trị về hạnh phúc luôn được Người đánh giá cao - đó là tiêu chí, thước đo về sự tiến bộ của nhân dân và là mục tiêu của chủ nghĩa xã hội Vận dụng quan điểm của Người về

Trang 5

hạnh phúc, với vai trò lãnh đạo cách mạng, gắn với thành quả của công cuộc đổi mới, Đảng ta luôn quan tâm hiện thực mục tiêu hạnh phúc trên thực tế Chỉ số hạnh phúc cũng là một trong những nội dung được thế giới hiện nay rất quan tâm

để đánh giá sự tiến bộ của một quốc gia

Hồ Chí Minh khẳng định mưu cầu hạnh phúc là con đường, là mục tiêu của chủ nghĩa cộng sản Theo Người, mưu cầu hạnh phúc cho con người phải là con người

số đông, đó là con người hiểu theo nghĩa hẹp: gia đình, anh em, họ hàng, bầu bạn; nghĩa rộng là cả nước, rộng hơn nữa là cả loài người Người khẳng định: “Chỉ có chủ nghĩa cộng sản mới cứu nhân loại, đem lại cho mọi người không phân biệt chủng tộc và nguồn gốc sự tự do, bình đẳng, bác ái, đoàn kết, ấm no trên quả đất, việc làm cho mọi người và vì mọi người, niềm vui, hòa bình, hạnh phúc”[4] Trên

cơ sở đó, ngay sau khi lãnh đạo nhân dân giành được chính quyền, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập nhằm thực hiện mục tiêu Độc lập – Tự

do – Hạnh phúc cho công dân của xã hội mới, cho Nhân dân của Nhà nước dân chủ mới Khi miền Bắc tiến hành công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, Người khẳng định: “xây dựng chủ nghĩa xã hội tức là xây dựng đời sống no ấm và hạnh phúc cho nhân dân”

Cách mạng Tháng Tám thành công dẫn đến sự ra đời của nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa Đất nước ta, dân tộc ta bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội Tuy nhiên, đã xuất hiện một bộ phận nhỏ cán bộ có

tư tưởng công thần, hách dịch, vun vén lợi ích cá nhân, thiếu sâu sát, quan tâm đến đời sống của quần chúng nhân dân Chủ tịch Hồ Chí Minh sớm phát hiện và Người viết bài đấu tranh, lên án gay gắt; đồng thời nghiêm khắc chấn chỉnh Suốt cuộc đời, Hồ Chí Minh luôn mưu cầu cuộc sống tốt đẹp cho mỗi người, quyền có cuộc sống ấm no, được học hành, được chăm sóc sức khỏe, trẻ em được nuôi dưỡng, chăm sóc, người già, người nghèo, người tàn tật được giúp đỡ Các quyền con người về chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội được chú trọng và hoàn thiện Ở Bác, quyền dân tộc và quyền con người là thống nhất trong cả nhận thức

và hành động, trong quan điểm, đường lối, chính sách và pháp luật mà Người mong muốn thực hiện Không có độc lập chân chính, bền vững thì không thể thực

Trang 6

hiện được quyền con người và thực hiện ngày càng tốt hơn các quyền cơ bản, thiết thực của con người.Quán triệt tư tưởng của Người, những năm qua, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới vì mục tiêu

“dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, quan tâm chăm lo nâng cao đời sống mọi mặt của nhân dân; chú trọng phát huy nhân tố con người trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Những nhiệm vụ trọng tâm đó là sự thống nhất giữa quyền và lợi ích dân tộc với quyền, lợi ích và nghĩa vụ của con người, của công dân, như tâm nguyện của Bác kính yêu

Học tập và làm theo lời Bác Hồ dạy, cấp ủy, chỉ huy các cấp trong quân đội luôn tập trung lãnh đạo, chỉ huy đơn vị hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, xây dựng tổ chức đảng TSVM, đơn vị VMTD Thường xuyên quan tâm, chăm lo bảo đảm tốt đời sống vật chất, tinh thần của bộ đội; coi đây là trách nhiệm, là tình cảm với bộ đội; hết lòng chăm lo xây dựng đơn vị, tôn trọng và thương yêu cấp dưới, để bộ đội yên tâm công tác, xác định tốt nhiệm vụ, thật sự làm cho cấp dưới kính trọng, tin tưởng, học tập và noi theo, góp phần giữ gìn và phát huy phẩm chất cao đẹp Bộ đội Cụ Hồ

2, Xây dựng và bảo vệ đất nước trong thời kì hiện nay

Xây dựng và bảo vệ Đất nước là nhiệm vụ xuyên suốt trong các giai đoạn lịch sử của cách mạng Việt Nam, từ khi ra đời Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam

Á, dưới sự lãnh đạo của Đảng cho đến nay Ở Việt Nam, giải quyết mối quan hệ này được chia làm hai thời kỳ rõ rệt, đó là khi đất nước còn chiến tranh, vừa phải chiến đấu đánh đuổi kẻ thù xâm lược, giành độc lập dân tộc và vừa xây dựng hậu phương lớn phục vụ tiền tuyến Tiếp đó là, thời kỳ đất nước được hoà bình, thống nhất bên cạnh nhiệm vụ to lớn đưa nước ta đi lên chủ nghĩa xã hội, thì bảo vệ Tổ quốc vẫn luôn được xác định là trọng yếu, thường xuyên Bởi vậy, ở mỗi giai đoạn, việc nhận thức và giải quyết hai nhiệm vụ chiến lược này là vấn đề hệ trọng,

có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc, là một cơ sở để làm nên những thành tựu

to lớn, có ý nghĩa lịch sử ngày hôm nay

Trang 7

Từ truyền thống lịch sử của dân tộc, dựng nước phải đi đôi với giữ nước là bài học mang tính quy luật, được đúc kết qua hàng nghìn năm lịch sử Ở Việt Nam, trong quá trình đi lên chủ nghĩa xã hội, vận dụng các quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, bài học này được Đảng ta khái quát thành một quan điểm lớn, là nắm vững hai ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, kết hợp chặt chẽ hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Đại hội lần thứ IV của Đảng, khi đất nước đã độc lập, non sông thu về một mối, Đảng ta xác định: “Xây dựng chủ nghĩa xã hội phải đi đối với bảo vệ Đất nước”Từ khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, Đảng ta vẫn nhất quán quan điểm luôn coi trọng

cả hai nhiệm vụ, nhưng bắt đầu đã có những điều chỉnh phù hợp với bối cảnh mới, Đại hội VII, thông qua Cương lĩnh 1991 xác định:” Trong khi đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng đất nước, nhân dân ta luôn luôn nâng cao cảnh giác, củng cố quốc phòng, bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ Tổ quốc và các thành quả cách mạng”

Tuy nhiên, yêu cầu mới đòi hỏi phải cụ thể hoá vị trí, vai trò của từng nhiệm vụ, làm cơ sở cho việc hoạch định chủ trương, chính sách; xác định mục tiêu trong từng thời kỳ, điều này cũng chính là bước phát triển mới về nhận thức lý luận, về mối quan hệ của hai nhiệm vụ chiến lược cơ bản này Đại hội VIII của Đảng tiếp tục nhấn mạnh, việc chuyển hướng trọng tâm sang xây dựng, phát triển đất nước nhưng vẫn không được coi nhẹ nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Trong điều kiện đất nước đã có hoà bình, thống nhất, nhưng điểm xuất phát thấp, nguy cơ chiến tranh, xâm lược từ bên ngoài vẫn tiềm tàng, hai nhiệm vụ này chỉ có thể giải quyết được khi đất nước mạnh lên Do đó, trong các nhiệm kỳ Đại hội IX, X, XI nhận thức lý luận về hai nhiệm vụ chiến lược tiếp tục được hoàn thiện, xác định nhiệm vụ xây dựng giữ vai trò nền tảng đối với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, rằng sự ổn định và phát triển bền vững mọi mặt của đời sống kinh tế, xã hội là nền tảng vững chắc của quốc phòng- an ninh Đại hội XII khẳng định:” Gắn kết chặt chẽ và triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, trong đó: Phát triển kinh tế- xã hội là nhiệm vụ trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; phát triển văn hoá- nền tảng tinh thần của xã hội; bảo đảm quốc phòng và an ninh là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên”

Trang 8

Xây dựng và bảo vệ Đất nước ở nước ta hiện nay đang diễn ra trong bối cảnh hội nhập quốc tế Hội nhập quốc tế trước hết và cơ bản là hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời là hội nhập trên tất cả lĩnh vực khác của đời sống xã hội Hội nhập quốc

tế chính là một hình thức phát triển cao của hợp tác quốc tế nhằm đạt được một mục tiêu hoặc lợi ích chung nào đó Đây là quá trình liên kết, gắn kết giữa các quốc gia, vùng lãnh thổ với nhau thông qua việc tham gia các tổ chức, thiết chế,

cơ chế, hoạt động hợp tác quốc tế vì mục tiêu phát triển của bản thân mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ đó và nhằm tạo thành sức mạnh giải quyết những vấn đề chung

mà các quốc gia, các lực lượng xã hội cùng quan tâm

Hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta đã và đang phát triển sâu rộng trên nhiều cấp

độ, đa dạng về hình thức, bằng việc ký kết nhiều hiệp định thương mại song phương, đa phương thế hệ mới; hoạt động xuất, nhập khẩu, thu hút vốn đầu tư nước ngoài tăng mạnh, đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế và sự phát triển của đất nước Trong hội nhập quốc tế thì hội nhập kinh tế là trọng tâm, hội nhập các lĩnh vực khác tạo điều kiện thuận lợi cho hội nhập kinh tế và góp phần tích cực vào phát triển kinh tế-xã hội, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, củng cố quốc phòng, bảo đảm an ninh quốc gia.Chủ động và tích cực hội nhập quốc tế nhằm củng cố môi trường hòa bình, tranh thủ tối đa các điều kiện quốc tế thuận lợi để phát triển đất nước nhanh và bền vững, nâng cao đời sống nhân dân; giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và bảo vệ vững chắc

Tổ quốc Việt Nam XHCN; bảo tồn và phát huy bản sắc dân tộc; tăng cường sức mạnh tổng hợp quốc gia, nâng cao vị thế, uy tín quốc tế của đất nước; góp phần tích cực vào sự nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới.Trải qua 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, tư duy

lý luận, nhận thức và chỉ đạo thực tiễn của Đảng về mối quan hệ giữa xây dựng

và bảo vệ Tổ quốc XHCN đã phát triển toàn diện, sâu sắc hơn, góp phần đưa sự nghiệp đổi mới giành được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử.Đất nước

ta đang bước vào giai đoạn tiếp tục đổi mới cả về chiều rộng và chiều sâu mạnh

mẽ hơn, toàn diện, triệt để hơn và hội nhập sâu rộng hơn, ở một tầm cao có tính bước ngoặt nhằm thúc đẩy đất nước phát triển nhanh và bền vững Trong bối cảnh

Trang 9

hội nhập quốc tế, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, bên cạnh những thuận lợi là cơ bản, đã và đang đặt ra những yêu cầu mới và đứng trước không ít khó khăn, thách thức cả về kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng và an ninh, đối ngoại

Để tiếp tục nhận thức và xử lý tốt mối quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ Đất nước trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay, cần phải nắm vững và thực hiện tốt những vấn đề chủ yếu sau đây:

Một là, tiếp tục nhận thức và xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa đối tác và đối tượng, giữa hợp tác và đấu tranh trong bối cảnh hội nhập quốc tế Khi đất nước đang hội nhập quốc tế sâu rộng thì mối quan hệ giữa đối tác-đối tượng càng trở nên đa dạng, phức tạp và có những hình thức thể hiện mới trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội Cần có cách nhìn biện chứng về đối tác-đối tượng để xác định những hình thức thích hợp trong hợp tác và đấu tranh Hội nhập quốc tế là quá trình vừa hợp tác vừa đấu tranh; kiên định lợi ích quốc gia, dân tộc; chủ động dự báo, xử lý linh hoạt mọi tình huống, không để rơi vào thế bị động, đối đầu về kinh tế, chính trị, quân sự, ngoại giao Thực hiện nền quốc phòng hòa bình, tự vệ theo nguyên tắc “4 không”: Không tham gia liên minh quân sự; không đi theo nước này chống nước khác; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự trên lãnh thổ nước ta; không

sử dụng vũ lực và đe dọa sử dụng vũ lực

Hai là, kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội với tăng cường quốc phòng, an ninh (QPAN) Thực hiện kết hợp kinh tế, văn hóa, xã hội với QPAN trong từng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển của cả nước và trên từng địa phương, chú trọng vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo Kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng trong việc quy hoạch và phát triển các vùng kinh tế, các ngành công nghiệp, lấy hiệu quả kinh tế gắn với yêu cầu bảo đảm QPAN làm cơ

sở cho những chủ trương cụ thể Khắc phục triệt để những sơ hở, thiếu sót đã từng xảy ra trong việc kết hợp phát triển kinh tế-xã hội và tăng cường QPAN tại một

số địa bàn, nhất là địa bàn chiến lược, trọng yếu về QPAN

Thực hiện đổi mới mô hình tăng trưởng gắn với cơ cấu lại nền kinh tế, coi đây vừa là tiền đề, vừa là hệ quả của hội nhập kinh tế quốc tế, là giải pháp có tính

Trang 10

quyết định để nâng cao nội lực nhằm tận dụng cơ hội, vượt qua thách thức của giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế mới Xử lý thỏa đáng mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập kinh tế quốc tế, xây dựng nền kinh tế có khả năng tự chủ cao, ứng phó được với những biến động kinh tế quốc tế; giữ vững ổn định kinh tế

vĩ mô, an ninh kinh tế, giữ định hướng XHCN

Ba là, kết hợp chặt chẽ QPAN và đối ngoại Tiếp tục hiện thực hóa tư duy mới của Đảng về mối quan hệ giữa QPAN và đối ngoại trong bối cảnh toàn cầu hóa

và hội nhập quốc tế Thực hiện tốt phương hướng, nhiệm vụ hoạt động đối ngoại trong tình hình mới Trên cơ sở vừa hợp tác, vừa đấu tranh, hoạt động đối ngoại nhằm phục vụ mục tiêu giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, tranh thủ tối đa các nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước, nâng cao đời sống nhân dân; kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ XHCN Tuân thủ các cam kết quốc tế mà Việt Nam tham gia đi đôi với chủ động, tích cực tham gia xây dựng và tận dụng hiệu quả các quy tắc, luật lệ quốc tế và tham gia các hoạt động của các cấu trúc khu vực và quốc tế; chủ động đề xuất sáng kiến,

cơ chế hợp tác trên nguyên tắc cùng có lợi; củng cố và nâng cao vai trò trong cộng đồng khu vực và quốc tế, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới.Bốn là, kịp thời thể chế hóa quan điểm của Đảng về mối quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc cho phù hợp với bối cảnh mới của hội nhập quốc tế Để hiện thực hóa quan điểm của Đảng

về mối quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN trong điều kiện hội nhập quốc tế, một trong những vấn đề đặt ra là thể chế hóa quan điểm của Đảng về mối quan hệ này thông qua hệ thống luật pháp, chính sách, chế tài phù hợp nhằm giải quyết đúng đắn mối quan hệ này Xây dựng cơ chế phù hợp để các ngành, các cấp, mọi tổ chức, lực lượng thực hiện hiệu quả việc kết hợp chặt chẽ giữa kinh tế với QPAN và QPAN với kinh tế.Tiếp tục quán triệt và tổ chức thực hiện tốt chiến lược bảo vệ Tổ quốc, chiến lược quân sự, chiến lược quốc phòng, chiến lược an ninh và các chiến lược chuyên ngành khác nhằm bảo vệ đất nước; giữ nước từ sớm, từ xa, từ khi nước chưa nguy, bằng sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc kết

Ngày đăng: 19/01/2022, 03:26

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 2, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002, tr.136 Khác
[2] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 9, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002, tr.135 [3] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 6, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002, tr153 [4] Lênin, Toàn tập, tập 26, Nhà xuất bản tiến bộ Mát xcơ va1980, tr 174 Khác
[15] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2002, tr 293 [16] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 6, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2002, tr 522 [17] Hồ Chí Minh, toàn tập, tập 8, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2002, tr30 Khác
[25] ĐCSVN, Văn kiện ĐHĐBTQ lần thứ IX của Đảng, NxbCTQG, Hà Nội, 2001, tr 166 Khác
[26] ĐCSVN, Văn kiện ĐHĐBTQ lần thứ IX của Đảng, Nxb CTQG, Hà Nội, 2001, tr 67 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w