1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TIỂU LUẬN đề tài lý THUYẾT CHIỀU sâu văn hóa của HOFSTEDE

20 64 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 310,83 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH – MARKETINGKHOA THƯƠNG MẠI BÀI TIỂU LUẬN Đề tài: LÝ THUYẾT CHIỀU SÂU VĂN HÓA CỦA HOFSTEDE Giảng viên hướng dẫn: ThS... Nhận thức được vấn đề này, nhóm chúng em q

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH – MARKETING

KHOA THƯƠNG MẠI

BÀI TIỂU LUẬN

Đề tài:

LÝ THUYẾT CHIỀU SÂU VĂN HÓA CỦA

HOFSTEDE

Giảng viên hướng dẫn: ThS Tạ Hoàng Thùy Trang

Các thành viên của nhóm:

Trần Thị Minh Anh - 1921001523

Lê Thị Kiều Anh - 1921001993 Nguyễn Hương Anh - 1921001971

Lê Thảo Anh - 1921002045 Phạm Tuyết Sương - 1921001701 Trần Thị Thanh Lam - 1921001965

Trang 2

MỤC LỤC

PHẦN I: MỞ ĐẦU 2

1 Tính cấp thiết của đề tài 2

2 Đối tượng và phạm vi của đề tài 2

2.1 Đối tượng 2

2.2 Phạm vi 2

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2

3.1 Mục đích 2

3.2 Nhiệm vụ 3

4 Cấu trúc đề tài 3

PHẦN II: NỘI DUNG LÝ THUYẾT CHIỀU SÂU VĂN HÓA CỦA HOFSTEDE 4

1 Lịch sử ra đời của lý thuyết văn hóa đa chiều của Hofstede 4

1.1 Tiểu sử Hofstede 4

1.2 Lịch sử ra đời lý thuyết văn hóa đa chiều của Hofstede 5

2 Sáu chiều văn hóa của Hofstede 7

2.1 Khoảng các quyền lực (Power distance) 7

2.2 Tính cá nhân/ tính tập thể (Individualism/Collectivism) 8

2.3 Nam tính/Nữ tính (Masculinity/ Femininity) 8

2.4 Mức độ e ngại rủi ro (Uncertainty Avoidance) 9

2.5 Định hướng ngắn hạn và dài hạn (Long term/ Short term Orientation) 10

2.6 Tự thỏa mãn (Indulgence) 11

3 So sánh mô hình Hofstede tại Nhật Bản và Việt Nam 12

4 Lợi thế và giới hạn của lý thuyết Hofstede 15

4.1 Lợi thế 15

4.2 Giới hạn 16

4.3 Tầm quan trọng 17

PHẦN III: KẾT LUẬN 18

Trang 3

PHẦN I: MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ngày nay, đàm phán đã trở thành một hoạt động vô cùng phổ biến trong cuộc sống hàng ngày của mỗi người Đàm phán xuất hiện ở tất cả các lĩnh vực, từ văn hóa, giáo dục cho tới khoa học, chính trị và đặc biệt là các vấn đề về kinh tế Tuy nhiên đàm phán như nào sao cho hiệu quả lại là một công việc không dễ dàng Trên thực tế

có nhiều phương pháp, phong cách và quy tắc đàm phán Tuy vậy, chìa khóa giúp một nhà đàm phán thành công đó là phải hiểu thấu đối tác đàm phán của mình trước khi ngồi vào bàn đàm phán

Vậy thì làm như thế nào để có thế hiểu thấu được những con người từ những quốc gia, thậm chí là lục địa khác trước khi chúng ta bước vào đàm phán với họ? Liệu

có nguy cơ xảy ra hiểu lầm hoặc cư xử sai lệch về văn hóa gây ra nhầm lẫn không đáng có trên bàn đàm phán?

Những câu hỏi này đã được nhà tâm lý học Geert Hofstede đề ra và giải đáp trong những năm 70 của thế kỷ trước Và từ đó ông cũng đã đưa ra một bộ quy chuẩn

về các chiều văn hóa được toàn bộ thế giới công nhận và sử dụng cho đến ngày nay Nhận thức được vấn đề này, nhóm chúng em quyết định thực hiện nghiên cứu đề tài:

“LÝ THUYẾT CHIỀU SÂU VĂN HÓA CỦA HOFSTEDE” nhằm làm rõ phạm vi lý

thuyết của Hofstede và tính thực tiễn của mà nó mang lại

2 Đối tượng và phạm vi của đề tài

2.1 Đối tượng

Các chiều sâu văn hóa đa chiều mà Hofstede đề ra

2.2 Phạm vi

Tập trung chủ yếu trong việc phân tích các lý thuyết văn hóa đa chiều của

Hofstede và ứng dụng của lý thuyết ở một số quốc gia

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích

Hinh dung rõ hơn vê sự khac biêṭgia tri văn hoa giưa cac quôc gia anh hương đên cach thưc suy nghi, đanh gia, hanh đông ̣ khác nhau ở các quốc gia đó và đưa ra

Trang 4

cach giai quyêt vân đê cua nhưng ngươi tư nhưng nên văn hoa khac nhau trong hoạt động đàm phán quốc tế Từ đó có thể tránh được những cú sốc văn hoá để giao tiếp tốt hơn khi tiếp xúc với các đối tác, cá nhân, tổ chức trong hoạt động đàm phán quốc tế

3.2 Nhiệm vụ

Nhằm đáp ứng mục đích của nghiên cứu đã đề ra trên, bài tiểu luận nhóm chúng

em đề ra những nhiệm vụ sau:

- Phân tích và làm rõ các lý thuyết văn hóa đa chiều mà Hofstede đề ra

- Nhận thức rõ được tầm quan trọng và ứng dụng thực tế của lý thuyết

- So sánh để thấy sự khác biệt của mô hình Hofstede tại Nhật Bản và Việt Nam

4 Cấu trúc đề tài

- Phần 1: Lịch sử ra đời của lý thuyết văn hóa đa chiều của Hofstede

- Phần 2: Sáu chiều văn hóa của Hofstede

- Phần 3: So sánh mô hình Hofstede tại Nhật Bản và Việt Nam

- Phần 4: Lợi thế, giới hạn và tầm quan trọng của lý thuyết chiều sâu văn hóa của Hofstede

Trang 5

PHẦN II: NỘI DUNG LÝ THUYẾT CHIỀU SÂU VĂN HÓA CỦA HOFSTEDE

1 Lịch sử ra đời của lý thuyết văn hóa đa chiều của Hofstede

1.1 Tiểu sử Hofstede

Gerard Hendrik (Geert) Hofstede (2/10/1928 – 12/2/2020) là nhà tâm lý học

xã hội người Hà Lan, nhân viên của IBM, và Giáo sư danh dự về Nhân học tổ chức và Quản lý quốc tế tại Đại học Maastricht ở Hà Lan Sinh ra tai Gerrit va Evertine Geessine (Veenhoven) Hofstede, Geert Hofstede theo hoc tai The Hague va Apeldoorn , va nhạn băng tôt nghiẹp trung hoc (Gymnasium Beta) vao nam 1945

Hình 1.1: Gerard Hendrik (Geert) Hofstede

Năm 1953, sau khi tốt nghiệp Đại học Kỹ thuật Delft với bằng Thạc sĩ Kỹ thuật

Cơ khí, Hofstede gia nhạp quan đọi Ha Lan, lam nhan vien ky thuạt trong quan đọi Ha Lan được hai nam Năm 1965, ông tham gia nghiên cứu tiến sĩ bán thời gian tại Đại học Groningen (Hà Lan) va gia nhạp IBM International, lam giang vien quan ly va quan ly nghien cưu nhan sư Sau đó, ông thanh lạp va quan ly Phòng nghien cưu nhan

sư tại đây Đến năm 1967, Hofstede nhận bằng Tiến sĩ về tâm lý học xã hội kiêm cử nhân Trong hai nam nghỉ phép tại IBM tư nam 1971 đên nam 1973, ong la giang vien thỉnh giang tai IMEDE (nay la Viẹn Phat triên Quan ly Quôc tê) Nam 1980, Hofstede đông sang lạp va trơ thanh Giam đôc đâu tien cua IRIC - Viẹn nghien cưu vê hơp tac lien van hoa, đạt tai Đai hoc Tilburg tư nam 1998

Trang 6

Hofstede đã nhận được nhiều giải thưởng danh dự trong suốt sự nghiệp của ông Năm 2011, ông được phong làm Hiệp sĩ trong Huân chương Sư tử Hà Lan Bên cạnh

đó, ông cò̀n nhận được bằng tiến sĩ danh dự của bảy trường đại học ở Châu Âu: Đại học Kinh doanh Nyenrode, Đại học New Bulgary, Đại học Kinh tế và Kinh doanh Athens, Đại học Gothenburg, Đại học Liège, Đại học Quản lý và Kinh tế ISM, Đại học Pé́cs năm 2009, và Đại học Tartu năm 2012 Ông cũng nhận được danh hiệu giáo

sư danh dự tại Đại học Hồng Kông 1992–2000; Đại học Kinh doanh và Kinh tế Quốc

tế Bắc Kinh (UIBE) và Đại học Nhân dân Trung Quốc

Nguồn:

https://www.cambridge.org/core/journals/journal-of-institutional-

economics/article/commemorating-geert-hofstede-a-pioneer-in-the-study-of-culture- and-institutions/

1.2 Lịch sử ra đời lý thuyết văn hóa đa chiều của Hofstede

Lý thuyết văn hóa đa chiều của Hofstede, đề ra bởi nhà tâm lý học người Hà Lan – Geert Hofstede, được coi là khuôn khổ cho sự giao tiếp đa quốc gia Bằng việc phân tích nhân tố, mô hình Hofstede miêu tả sự ảnh hưởng của văn hóa xã hội lên các thành viên trong xã hội và làm thế nào mà các giá trị này liên quan đến hành vi của họ Hofstede đã tiếp cận mô hình đầu tiên của mình như một kết quả phân tích nhân tố của bảng khảo sát nhân lực trên toàn thế giới cho IBM vào khoảng giữa năm 1967 và

1973 Sau đó, kết quả này đã được phân tích và chắt lọc kỹ càng Những lý thuyết ban đầu đã đưa ra bốn khía cạnh cần phân tích của các giá trị văn hóa:

- Chủ nghĩa cá nhân – chủ nghĩa tập thể (individualism – collectivism)

- Mức độ e ngại rủi ro (uncertainty avoidance)

- Khoảng cách quyền lực (power distance)

- Định hướng nam tính, nữ tính (masculinity-femininity)

Một nghiên cứu độc lập tại Hồng Kông đã giúp Hofstede hình thành khía cạnh

thứ năm - định hướng dài hạn và định hướng ngắn hạn (long term orientation-short

term orientation), nhằm bao quát các khái niệm chưa được thảo luận trong mô hình

ban đầu Năm 2010, Hofstede đưa ra khía cạnh thứ sáu để so sánh sự tự thỏa mãn (các

nhu cầu bản thân) so với sự tự kiềm chế của con người (indulgence-restraint)

Trang 7

Hì̀nh 1.2: Thang đo 6 chiều văn hóa

Mo hinh cua Hofstede giai thich sư khac biẹt van hoa quôc gia va hạu qua cua chung, khi đuơc giơi thiẹu vao nam 1980, đên vao thơi điêm sư khac biẹt vê van hoa giưa cac xa họi ngay cang phu hơp vi ca ly do kinh tê va chinh tri Viẹc phan tich dư liẹu khao sat va tuyen bô cua ong đa khiên nhiêu hoc vien quan ly năm lây mo hinh, đạc biẹt la sau khi xuât ban cuôn sach nam 1991 cua ong, Cultures and Organis: Software of the Mind

Để xác nhận các kết quả nghiên cứu trước đó và mở rộng chúng ra các quần thể mẫu thử khác, sáu nghiên cứu xuyên quốc gia khác đã được thực hiện thành công suốt

từ năm 1990 đến năm 2002 Lần nghiên cứu bổ sung này bao quát từ 14 đến 28 quốc gia, với những đối tượng phỏng vấn bao gồm cả phi công thương mại, học sinh, quản

lý dịch vụ dân sư, người tiêu dùng ở tầng lớp trung và thượng lưu Kết quả nghiên cứu

đã thiết lập điểm giá trị dựa trên bốn khía cạnh văn hóa đã nói ở trên, trong tổng số 76 quốc gia và vùng lãnh thổ

Thành quả của Hofstede đã tạo ra một truyền thống nghiên cứu quan trọng trong lĩnh vực tâm lý đa sắc tộc cũng như nhận được sự hỗ trợ và xác nhận từ các nhà nghiên cứu và tư vấn tại nhiều lĩnh vực liên quan đến kinh doanh và giao tiếp quốc tế

Lý thuyết của Hofstede cũng được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực khác nhau như làm mô hình cho nghiên cứu về tâm lý học đa sắc tộc, quản lý quốc tế và giao tiếp

đa văn hóa Đây cũng là nguồn tư liệu quan trọng và là nguồn cảm hứng trong các nghiên cứu về những khía cạnh văn hóa đa quốc gia như giá trị và niềm tin của xã hội

Trang 8

(Nguồn: https://www.rebe.rau.ro/RePEc/rau/journl/WI12/REBE-WI12-A5.pdf )

2 Sáu chiều văn hóa của Hofstede

2.1 Khoảng các quyền lực (Power distance)

“Khoảng cách quyền lực” là từ để miêu tả cách một xã hội ứng xử với sự bất bình đẳng về quyền lực giữ con người trong xã hội Một xã hội có sự chênh lệch về quyền lực lớn có nghĩa là có mức độ bất bình đẳng tương đối cao và luôn tăng lên theo thời gian Tại các quốc gia này, có khoảng cách rất lớn giữa những người có quyền lực và những người thấp cổ bé́ họng Guatemala, Malaysia, Philippin và một vài nước Trung Đông là các quốc gia điển hình về khoảng cách quyền lực lớn

Ngược lại, trong các xã hội với khoảng cách quyền lực thấp, sự chênh lệch giữa

kẻ mạnh và kẻ yếu rất nhỏ Ví dụ, ở các nước Scandinavia như Đan Mạch và Thụy Điển, các chính phủ xây dựng hệ thống thuế và phúc lợi xã hội nhằm đảm bảo đất nước của họ giữ được sự bình đẳng tương đối trong thu nhập và quyền lực Hoa Kỳ là đất nước có khoảng cách về quyền lực tương đối thấp

Sự phân cấp xã hội (social stratification) là yếu tố có ảnh hưởng đến khoảng cách quyền lực Ở Nhật, hầu hết tất cả mọi người thuộc tầng lớp trung lưu, trong khi

đó ở Ấn Độ, đẳng cấp trên nắm hầu hết quyền kiểm soát đối với việc ra quyết định và sức mua Trong các công ty, mức độ phân tầng quản lý và chuyên quyền trong lãnh đạo sẽ quyết định khoảng cách quyền lực Trong các doanh nghiệp, sự chênh lệc lớn

về quyền lực cùng cách quản lý chuyên quyền làm cho quyền lực tập trung vào các

Trang 9

nhà lãnh đạo cấp cao và nhân viên không có quyền tự quyết Cò̀n trong các công ty có chênh lệch về quyền lực thấp, những nhà quản lý và nhân viên của họ thường bình đẳng hơn, hợp tác với nhau nhiều hơn để đạt được mục tiêu của công ty

2.2 Tính cá nhân/ tính tập thể (Individualism/Collectivism)

Tính cá nhân và tính tập thể có nghĩa là văn hóa đó đánh giá một cá thể theo cá nhân người đó hay theo việc anh ta thuộc nhóm người nào (Ví dụ: thành phần gia đình, nghề nghiệp…) Trong các xã hội theo chủ nghĩa cá nhân, mối quan hệ giữa con người tương đối lỏng lẻo, mỗi người có xu hướng chỉ̉ quan tâm đến lợi ích của bản thân mình Những xã hội này ưa thích tính cá nhân hơn sự đoàn kết tập thể Cạnh tranh là tiêu chuẩn và ai cạnh tranh tốt nhất sẽ giành được phần thưởng Astralia, Canada, vương quốc Anh và Hoa Kỳ là những đất nước theo chủ nghĩa cá nhân

Ngược lại, trong các xã hội theo chủ nghĩa tập thể, mối quan hệ giữa các cá nhân đóng vai trò̀ quan trọng hơn trong ý muốn cá nhân Hoạt động kinh doanh được tiến hành dựa trên cơ sở làm việc nhóm, trong đó ý kiến tập thể luôn được coi trọng Tập thể quan trọng hơn tất cả, vì cơ bản, cuộc sống là một mối quan hệ hợp tác Sự đoàn kết và đồng tình giúp giữ vững mối quan hệ hò̀a hợp trong tập thể Trung Quốc, Panama và Hàn Quốc là những ví dụ tiêu biểu cho một xã hội theo chủ nghĩa tập thể

Trang 10

2.3 Nam tính/Nữ tính (Masculinity/ Femininity)

Nam tính/Nữ tính là khái niệm chỉ̉ một định hướng của xã hội dựa trên giá trị của nam tính và nữ tính Các nền văn hóa nam tính có xu hướng coi trọng cạnh tranh, sự quyết đoán, tham vọng và sự tích lũy của cải Xã hội được tạo nên bởi những người đàn ông và phụ nữ quyết đoán, chú trọng đến sự nghiệp, kiếm tiền và hầu như không quan tâm đến những thứ khác Có thể kể đến các ví dụ điển hình là Astralia, Nhật Bản,

Hoa Kỳ cũng là một đất nước có nam tính tương đối cao Các nền văn hóa nói tiếng Tây Ban Nha cũng khá nam tính và thể hiện sự say mê lao động, sự táo bạo và cạnh tranh Trong kinh doanh, tính chất nam tính thể hiện ở sự thích hành động tự tin, năng động

Ngược lại, trong các nền văn hoa nữ tính, như ở các nước Scandinavia, cả Nam giới và Nữ giới đều chú trọng vào việc duy trì vai trò̀, sự phụ thuộc lẫn nhau và quan tâm tới những người ké́m may mắn hơn Hệ thống phúc lợi phát triển cao và nhà nước thường có chế độ trợ cấp cho giáo dục

2.4 Mức độ e ngại rủi ro (Uncertainty Avoidance)

E ngại rủi ro thể hiện chừng mực mà con người có thể chấp nhận rủi ro và sự không chắc chắn trong cuộc sống của họ Trong xã hội có mức độ e ngại rủi ro cao, con người thường thiết lập nên các tổ chức để tối thiểu hóa rủi ro và đảm bảo an toàn tài chính Các công ty tập trung tạo ra việc làm ổn định và thiết lập các quy định để điều chỉ̉nh các hoạt động của nhân viên cũng như tối thiểu hóa sự không minh bạch Các nhà lãnh đạo thường phải mất nhiều thời gian để ra quyết định vì phải xem xé́t hết

Trang 11

mọi khả năng xảy ra rủi ro Bỉ̉, Pháp và Nhật Bản là những nước có mức độ e ngại rủi

ro tương đối cao

Những xã hội có mức độ e ngại rủi ro thấp thường giúp các thành viên làm quen

và chấp nhận sự không chắc chắn Các nhà quản lý rất nhanh nhạy và tương đối thoải mái khi chấp nhận rủi ro nhên họ ra quyết định khá nhanh Con người chấp nhận cuộc sống mỗi ngày xảy đến và làm việc bình thường vì họ không lo lắng về tương lai Họ

có xu hướng dung hò̀a được các hành động và quan điểm khác biệt so với bản thân họ

vì họ không cảm thấy sợ sệt Ấn Độ, Ireland, Jamaica và Hoa Kỳ là những ví dụ tiêu biểu nhất cho các quốc gia có mức độ e ngại rủi ro thấp

2.5 Định hướng ngắn hạn và dài hạn (Long term/ Short term Orientation)

Khía cạnh này thể hiện mức độ ở đó con người và các tổ chức trì hoãn sự thỏa mãn để đạt được thành công trong dài hạn Điều đó có nghĩa là doanh nghiệp và con người trong các nền văn hóa định hướng dài hạn có xu hướng nhìn về lâu dài khi lập

kế hoạch và cuộc sống Họ chú trọng đến khoảng thời gian trong nhiều năm và nhiều thập kỉ̉

Trang 12

Khía cạnh dài hạn được thể hiện rõ nhất trong các giá trị đạo đức của người châu

Á – các định hướng văn hóa truyền thống của một số nước châu Á, bao gồm Trung Quốc, Nhật Bản và Singapore Một phần, những giá trị này dựa trên các học thuyết của triết gia nổi tiếng của Trung Quốc là Khổng Tử Ông sống vào khoảng năm 500 trước công nguyên Ngoài định hướng dài hạn, Khổng Tử cũng tán thành các giá trị văn hóa khác mà cho đến bây giờ các giá trị đó vẫn là nền tảng cho nhiều nền văn hóa của châu Á Những giá trị đó bao gồm tính kỷ luật, sự trung thành, sự siêng năng, quan tâm đến giáo dục, sự tôn trọng gia đình, chú trọng đoàn kết cộng đồng và kiểm soát ham muốn cá nhân Các học giả thường công nhận các giá trị này là điều làm nên

sự kì diệu của Á Đông, làm nên tốc độ tăng trưởng kinh tế đáng kể và quá trình hiện đại hóa của các nước Đông Á trong suốt vài thập kỉ̉ qua Ngược lại, Hoa Kỳ và hầu hết các nước phương Tây đều chú trọng đến định hướng ngắn hạn

2.6 Tự thỏa mãn (Indulgence)

Đây là khía cạnh cuối cùng được Hofstede bổ sung vào lý thuyết của mình Một thách thức mà nhân loại phải đối mặt, cả hiện tại và trong quá khứ, là mức độ hò̀a nhập của trẻ nhỏ với xã hội Nếu không có xã hội hóa, chúng ta không trở thành “con người” Chỉ̉ số này thể hiện mức độ mỗi con người cố gắng kiểm soát những mong muốn, nhu cầu của bản thân dựa trên cách họ được nuôi dạy Khả năng kiểm soát tương đối yếu được gọi là “Nuông chiều” và kiểm soát tương đối mạnh được gọi là “Kiềm chế” Do

đó, các nền văn hóa có thể được mô tả là Nuông chiều hoặc Kiềm chế

Ngày đăng: 19/01/2022, 00:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w