Gia nhập Đoàn luật sư Điều 20 của Luật Luật sư22 CHƯƠNG II23 THỰC TRẠNG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG HÀNH NGHỀ LUẬT SƯ Ở VIỆT NAM23 I.. Nguyên nhân chủ quan35 CHƯƠNG III37 GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGH
Trang 1MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU1
CHƯƠNG I:4 LÝ LUẬN CHUNG VỀ LUẬT SƯ VÀ NGHỀ LUẬT SƯ4
I LÍ LUẬN CHUNG LUẬT SƯ4
1 Khái quát về sự ra đời, phát triển của nghề luật sư4
1.1.Sự ra đời và phát triển của nghề luật sư trên thế giới4
1.2.Sự ra đời và phát triển của nghề luật sư ở Việt Nam6 2 Khái niệm của luậtsư và nghề luật sư9
2.1 Luật sư9
2.2 Nghề luật sư9
3 Đặc điểm của nghề luậtsư11
3.1 Nghề luật sư trước hết là một nghề luật11
3.2 Nghề luật sư mang tính chất dịch vụ và được nhận thù lao của khách hàng11 3.3 Nghề luật sư gắn liền với chức năng xã hội và nhân văn12
3.4 Nghề luật sư hoạt động dựa trên pháp luật và quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư12
3.5 Nghề luật sư không thể kiêm nhiệm14
3.6 Nghề luật sư là hoạt động mang tính quốc tế15
4 Vai trò đối với xã hội của luậtsư15
5 Quy trình trở thành luật sư16
5.1 Đào tạo nghề luật sư (Điều 12 của Luật Luật sư)16
5.2 Tập sự hành nghề luật sư (Điều 14), kiểm tra kết quả tập sự hành nghề luật sư (Điều 15)17
5.3 Cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư (Điều 17 của Luật Luật sư), thu hồi Chứng chỉ hành nghề luật sư (Điều 18 của Luật Luật sư)20
5.4 Gia nhập Đoàn luật sư (Điều 20 của Luật Luật sư)22
CHƯƠNG II23 THỰC TRẠNG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG HÀNH NGHỀ LUẬT
SƯ Ở VIỆT NAM23
I Những kết quả đạt được trong tổ chức và hoạt động hành nghề luật sư ở Việt Nam23
1 Về đội ngũ luật sư23
1.1 Về số lượng luật sư23
1.2 Về chất lượng luật sư24
1.3 Về mức độ chuyên môn hoá trong hành nghề luật sư24
2 Về hoạt động hành nghề của luật sư25
3.Về tổ chức luật sư và quản lý luật sư28
4.Về việc bảo vệ quyền hành nghề luật sư và bảo vệ luật sư29
II Những hạn chế trong tổ chức và hoạt động hành nghề luật sư ở Việt Nam30 1 Về
tổ chức và hoạt động của luật sư30
1.1 Về số lượng, chất lượng luật sư30
Trang 21.2 Về tổ chức và hoạt động hành nghề luật sư32 2 Nguyên nhân của những hạn chế, bất cập33
2.1 Nguyên nhân khách quan33
2.2 Nguyên nhân chủ quan35
CHƯƠNG III37 GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN TỔ CHỨC
VÀ HOẠT ĐỘNG HÀNH NGHỀ LUẬT SƯ Ở VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY.37 Tiểu luận
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Từ năm 80 kỷ XX trở lại đây, kinh tế giới có phát triển vượt bậc Tốc độ phát triển khoa học kĩ thuật ngày cao, kinh tế tăng trưởng với tốc độ chóng mặt làm thay đổi mặt giới, với trình hội nhập giao lưu hợp tác tiến nước giới Đó trình toàn cầu hóa, cạnh tranh khốc liệt Ở Việt Nam, tháng 12/1986 Đại hội toàn quốc lần thứ VI Đảng cộng sản Việt Nam thông qua đường lối đổi mở rộng kinh tế Đất nước ta từ kinh tế kế hoạch hóa tập trung chuyển sang kinh tế thị trường có quản lý Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Trải qua 20 năm thực đường lối đổi phát triển kinh tế, kinh tế Việt Nam tiến lên tầm cao mới, tầm cao công lên xây dựng chủ nghĩa xã hội dựa tảng vững kinh tế sở vật chất Ngày 11 tháng năm 2007 Việt Nam thức gia nhập vào tổ chức thương mại giới WTO.Sau năm đàm phán Việt Nam có bước chuẩn bị thật tốt để bước lên sân chơi bình đẳng với quốc gia khác tòa giới.Để chuẩn bị gia nhập WTO, nhà nước Việt Nam có nhiều thay đổi.Một thay đổi tất yếu thay đổi hệ thống pháp luật nhằm thu hẹp khoảng cách pháp luật Việt Nam pháp luật quốc tế, tạo sân chơi bình đẳng cho bên tham gia vào hoạt động thương mại Việt Nam Để đáp ứng yêu cầu, năm
2005 quốc hội Việt nam thông qua nhiều đạo luật Trong trình thay đổi đó,Năm 2006 Việt Nam ban hành Luật luật sư (có hiệu lực từ 1/1/2007) Đây sở pháp lý tiếp tục củng cố phát triển đội ngũ luật sư chuyên nghiệp có phẩm chất đạo đức, trình độ chuyên môn đóng góp vào công xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, hội nhập quốc tế đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội Việt Nam Trên sở văn pháp lý nêu đội ngũ luật sư Việt Nam hình thành ngày phát triển đông số lượng, tính chuyên nghiệp kinh nghiệm hành nghề ngày nâng cao Thực tế khách quan quốc gia phát triển cho thấy quốc gia hướng đến dân chủ vững mạnh đảm bảo công xã hội Không có giai đoạn lịch sử phát triển đất nước ta từ xưa đến nay, vị vai trò nghề luật sư lại coi trọng giai đoạn Có thể nói, thời điểm mà xã hội Việt Nam dần nhìn nhận gần vai trò nghề luật Tiểu luận sư theo chỗ đứng mà nghề xứng đáng có Luật sư đóng vai trò vô quan trọng góp phần hình thành kinh tế thị trường trụ cột kinh tế quốc dân, luật sư đóng vai trò vô quan trọng việc đảm bảo công xã hội.Chính vậy, người dân ngày tìm đến luật
sư nhu cầu cần thiết, số lượng luật sư, tổ chức hành nghề luật sư ngày phát triển Đất nước ta có thay đổi triệt để tạo điều kiện nhiều để luật sư thể tầm quan trọng mình.Liên tiếp thời gian gần đây, Đảng Nhà nước thể mối quan tâm đặc biệt giành cho nghề luật sư, cụ thể Nghị 08NQ/TW cải cách tư pháp Nghị 49-NQ/TW Bộ Chính trị
rõ vai trò luật sư tư pháp nước nhà Luật luật sư 2006 thay Pháp lệnh luật sư năm 2001 (trước Pháp lệnh tổ chức luật sư năm 1987) thể thành tựu tích cực hoạt động lập pháp nghề luật sư Đặc biệt, mà nhu cầu xã hội, nhà nước nghề luật sưở nước ta thể ngày thiết, vị lãnh đạo Nhà nước có quan tâm lớn, thể cách nhìn nhận cách thức cụ thể hóa đường lối Đảng, sách, pháp luật Nhà nước nghề luật sư Ngày 14/1/2013, Thủ tướng Chính phủ ký định số 149/QĐ-TTg lấy ngày 10/10 hàng năm Ngày truyền thống Luật
sư Việt Nam Luật sư Đỗ Ngọc Thịnh, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Liên đoàn luật
sư Việt Nam cho biết, vinh dự to lớn cho đội ngũ luật sư Việt Nam, không khẳng định
Trang 4quan tâm Đảng, Nhà nước, cộng đồng xã hội nghề luật sư, mà mốc son quan trọng đánh dấu trưởng thành Luật sư nghề luật sư Việt Nam Ngày 13/10/2015 Liên đoàn luật sư Việt Nam kỷ niệm 70 năm ngày truyền thống luật sư Việt Nam (10/10/1945-10/10/2015) đón nhận Huân chương Lao động hạng Ba Chủ tịch nước Trương Tấn Sang phát biểu nhấn mạnh thời gian tới cần đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ luật sư có khả tư vấn tranh tụng Xuất phát từ tầm quan trọng đối việc nhìn nhận nghề luật sư Việt Nam nay, em xin chọn đề tài"TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG HÀNH NGHỀ LUẬT SƯ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY- THỰC TRẠNG VÀ HƯỚNG PHÁT TRIỂN" làm tiểu luận Nội dung tiểu luận gồm ba chương: CHƯƠNG I: Tiểu luận LÝ LUẬN CHUNG VỀ LUẬT SƯ VÀ NGHỀ LUẬT SƯ CHƯƠNG II THỰC TRẠNG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG HÀNH NGHỀ LUẬT SƯ Ở VIỆT NAM CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG HÀNH NGHỀ LUẬT SƯ Ở VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY Tiểu luận CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ LUẬT SƯ VÀ NGHỀ LUẬT SƯ I LÍ LUẬN CHUNG LUẬT SƯ Khái quát đời, phát triển nghề luật sư 1.1.Sự đời phát triển nghề luật sư giới Khoảng kỷ V trước Công Nguyên, số quốc gia cổ đại Châu Âu (tiêu biểu Hy Lạp La Mã) xuất người có hoạt động giúp đỡ nguyên cáo bị cáo vụ kiện bênh vực người bị áp bức, bất công Đây hình thái ban đầu luật sư nghề luậtsư Sau thời gian dài vài kỷ đầu sau Công Nguyên,ở quốc gia phong kiến châu Âu hình thành lớp người
am hiểu pháp luật, có khả tranh luận,chuyên làm công việc “biện hộ” trợ giúp pháp lý cho người dân Hoạt động họ bước đầu mang tính chất nghề nghiệp, xã hội Nhà nước ghinhận Khi quốc gia châu Âu bước vào thời kỳ Trung cổ (thế kỷ thứ VI đến kỷ XV), với cai trị hà khắc, chuyên chế phản động giai cấp phong kiến, với thống trị tư tưởng nhà thờ Thiên chúa giáo, tự dân chủ người dân bị thủ tiêu hạn chế, mà nghề luật sư bị hạn chế, không phát triển Trong khoảng thời gian nói trên, châu Á khu vực khác lại giới, tính chất hà khắc sách cai trị đặc điểm văn hóa, tôn giáo nên vấn đề “biện hộ”,
“bào chữa” chưa thừa nhận Tòa án, nghề luật sư chậm đời phát triển châuÂu Sau thành công cách mạng tư sản đời Nhà nước tư sản châu Âu Bắc Mỹ (thế kỷ 17), với phát triển mạnh mẽ công nghiệp giao dịch dân sự, thương mại giới, luật sưvànghềluậtsưđãpháttriểnnhanhchóngvàrấtmạnhmẽ.Ngàynay,trên giới – đặc biệt nước phát triển, luật sư nghề luật sư có vai trò vô quan trọng, thiếu tất lĩnh vực đời sống xã hội, Nhà nước xã hội đặc biệt coitrọng Ở châu Âu vào thời Hy Lạp, La Mã cổ đại, nghề luật sư xuất đời sống xã hội Sử sách kể lại rằng, vào khoảng kỷ thứ V trước Công nguyên, nhà nước Hy Lạp cổ, tổ chức án hình thành việc xét xử có tham gia người dân Tiểu luận Nguyên cáo bị cáo tự trình bày ý kiến, lý lẽ trước Toà nhờ người khác có tài hùng biện trình bày hộ ý kiến, lý lẽ bảo vệ bào chữa Vào thời đó, việc bào chữa xuất phát tự nhiên nhằm minh oan cho bạn bè người thân bị quyền bắt giam, trừng phạt cách độc đoán vô cớ Còn La Mã cổ đại, phiên thường có tham gia nhà chuyên môn, người am hiểu pháp luật để nhắc nhỡ quy tắc tôn giáo để tránh việc viện dẫn sai vi phạm thủ tục tố tụng; xã hội hình thành nhóm người chuyên sâu, am hiểu
Trang 5pháp luật việc diễn giải pháp luật họ xem xét hoạt động nghề nghiệp Từ đó, hoạt động
họ ( luật sư) chấp nhận uy tín họ xã hội ngày nâng cao, nghề luật sư xem nghề vinh quang xã hội Khi châu Âu chuyển sang thời kỳ Trung cổ với triều đại phong kiến phân quyền cát cứ, Toà án chế độ luật sư nước xây dựng nhiều hình thức khác nhằm mục đích phục vụ tôn giáo chế độ phong kiến Luật sư thời ký rõ đầy đủ tính chất nghề nghiệp họ, vai trò luật sư bị hạn chế bóp nghẹt chế độ xã hội chuyên quyền hà khắc Bước sang chế độ tư bản, nghề luật sư tổ chức chặt chẽ với điều kiện khắt khe nhằm bảo vệ quyền lợi riêng cho phận người xuất thân từ giai cấp tư sản Dần dần, đấu tranh dân chủ, bình đẳng diễn thường xuyên buộc quyền nước tư sản phải mở rộng quyền dân chủ cho người dân, nhu cầu người dân việc đảm bảo quyền lợi ích sở quy định pháp luật thường trực Nghề luật sư thể vai trò to lớn mình, dần hình thành nghề tự Hiện nay, nước phát triển, nghề luật sư lại trân trọng, thực nghề luật sư, tính chất đòi hỏi đặc thù nghề nghiệp nghề yêu thích Ở Mỹ, nhiều vị tổng thống xuất thân luật sư, nhiều trị gia nước luật sư trước bước vào trường Nói đến thu nhập, nghề luật sư nghề
có thu nhập dẫn đầu nước phát triển Mỹ châu Âu Theo thống kê năm 2009 Tạp chí Fortune, số 10 tập đoàn trả lương cho nhân viên cao toàn cầu công ty luật chiếm đến
số 6, bao gồm: Baker Donelson, Bingham McCutchen, Alston & Bird, Perkins Coie, Arnold & Porter Tiểu luận Orrick, Herrington & Sutcliffe Trong đó, Baker Donelson đứng số toàn cầu việc trả lương cao cho nhân viên Như vậy, không ngẫu nhiên mà nghề luật sư thực tôn trọng nhiều quốc gia giới Bởi có điều đó, qua thực tiễn nghề nghiệp với đặc thù riêng, với phẩm chất, yếu tố cần thiết đảm bảo hành nghề phải đạt mức độ cao, không dễ theo đuổi nghề cách thực 1.2.Sự đời phát triển nghề luật sư Việt Nam Trong suốt thời kỳ cổ đại thời kỳ Bắc thuộc, luật sư nghề luật sư chưa xuất hiện.Trong thời đại phong kiến độc lập, đặc biệt triều đại nhà Hậu Lê, nhà nước thừa nhận người dân có quyền kiện tụng, quyền nhờ người khác giúp bênh vực cho nên xuất người gọi “thầy cãi”, “thầy kiện” Đây hình thái ban đầu người luật sư Việt Nam Tuy nhiên, trước bị thực dân Pháp xâm lược cai trị, ởViệt Nam chưa xuất “luật sư” theo nghĩa hiệnđại Cuối kỷ 19 sang đầu kỷ 20, việc áp dụng pháp luật chế độ xét xử nước Pháp Đông Dương làm xuất hoạt động luật sư Tuy nhiên, hoạt động luật sư thời điểm hạn chế độc quyền ngườiPháp Năm 1930, Tổng thống Pháp ký Sắc lệnh thành lập Luật sư đoàn bên cạnh Tòa án Đông Dương, thức xác lập tổ chức luật sư Việt Nam Việc đào tạo luật sư Việt Nam bắt đầu thực từ giai đoạnnày Từ cách mạng tháng Tám thành công máy tư pháp nước ta tổ chức lại Hơn tháng sau Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh với tư cách người đứng đầu quyền ký Sắc lệnh số 46/SL ngày 10-10-1945 tổ chức đoàn thể luật sư Sắc lệnh số 46/SL trì tổ chức luật sư cũ có vận dụng linh hoạt quy định pháp luật cũ luật sư không trái với nguyên tắc độc lập thể dân chủ cộng hoà Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hoà năm
1946 khẳng định quyền bào chữa quyền công dân, cụ thể Điều 67 Hiến Pháp quy định
"Người bị cáo quyền tự bào chữa lấy mượn luật sư” Tiểu luận Do hoàn cảnh lịch sử với kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ nhau, toàn dân ta phải tập trung sức người,
Trang 6sức cho nhiệm vụ cứu nước Với điều kiện đó, tổ chức luật sư trì Nhiều luật gia, luật sư mặt trận, lên chiến khu tham gia vào hoạt động tư pháp vùng quyền ta kiểm soát, nghề luật sư giai đoạn gặp muôn vàn khó khăn Tuy thế, Đảng Nhà nước ta quan tâm đến việc bảo đảm quyền bào chữa trước Toà án bị cáo, quyền công dân ghi Hiến pháp Sắc lệnh số 69/SL ngày 18/6/1949 quy định nguyên cáo, bị cáo nhờ công dân luật sư bênh vực cho Tiếp tục khẳng định quan điểm Đảng, Nhà nước ta quyền bào chữa bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp công dân, Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hoà năm
1959 (Điều 101) quy định "Quyền bào chữa người bị cáo bảo đảm"; tiếp Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1980 việc khẳng định bảo đảm quyền bào chữa bị cáo, quy định việc thành lập tổ chức luật sư để giúp cá nhân, tổ chức bảo
vệ quyền, lợi ích hợp pháp Để thực quy định Hiến pháp, giai đoạn triển khai xây dựng văn pháp luật tổ chức luật sư, đội ngũ bào chữa viên tiếp tục củng cố phát triển, cụ thể ngày 31/10/1983 Bộ Tư pháp ban hành Thông tư số 691/QLTPK công tác bào chữa, quy định cụ thể tiêu chuẩn, điều kiện làm bào chữa viên, quy định tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thành lập Đoàn bào chữa viên Riêng hai thành phố Hà Nội Hồ Chí Minh thành lập Đoàn luật sư, bào chữa viên, tập hợp luật sư công nhận trước bào chữa viên, đến cuối năm 1987, nước có 30 Đoàn bào chữa viên với gần 400 bào chữa viên Sau ngày thống đất nước, với yêu cầu khách quan, mang tính sống phải đổi mới, xoá
bỏ chế quan liêu-bao cấp mở rộng dân chủ lĩnh vực đời sống xã hội Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ IV năm 1986 mở đầu thời kỳ lịch sử xây dựng đất nước, thời kỳ đổi Đường lối đổi Đại hội vạch tác động sâu rộng đến mặt hoạt động xã hội,
có hoạt động tư pháp Các đạo luật tố tụng ban hành theo hướng mở rộng dân chủ tố tụng, có việc tăng cường bảo đảm quyền bào chữa, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cá nhân, tổ chức trước Toà án quan tố tụng khác Đó tiền đề quan Tiểu luận trọng để vực dậy mạnh mẽ nghề luật sư nước ta Trong bối cảnh đó, Pháp lệnh tổ chức luật sư ban hành ngày 18/12/1987 Có thể nói, văn pháp luật có ý nghĩa lịch sử việc khôi phục nghề luật sư mở đầu cho trình phát triển nghề luật sư nước ta thời kỳ đổi Pháp lệnh quy định rõ tiêu chuẩn công nhận luật sư, chức năng, nhiệm vụ lĩnh vực giúp đỡ pháp
lý luật sư tổ chức Đoàn luật sư tỉnh, phố trực thuộc Trung ương Chỉ sau gần 10 năm thi hành Pháp lênh, hầu hết tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thành lập Đoàn luật sư; đội ngũ luật sư nước đạt tới số hàng ngàn luật sư Hoạt động luật sư có bước phát triển đáng kể Ngoài việc tăng cường bước số lượng chất lượng tham gia tố tụng luật
sư vụ án hình sự, dân sự, luật sư bước mở rộng hoạt động hành nghề sang lĩnh vực tư vấn pháp luật thực dịch vụ pháp lý khác Khi bước sang nửa cuối thập niên 90, đất nước ta bước vào giai đoạn quan trọng trình đổi mới, nhu cầu đẩy mạnh trình xây dựng chế thị trường, yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền, mở rộng dân chủ, hội nhập quốc tế ngày trở lên sâu sắc, mức độ cao Để đáp ứng nhu cầu mới, Pháp lệnh luật sư năm 2001 ban hành Nội dung Pháp lệnh thể quan điểm cải cách mạnh mẽ tổ chức hoạt động luật sư nước ta theo hướng quy hoá, chuyên nghiệp hoá đội ngũ luật
sư, nghề luật sư, tăng cường vai trò tự quản tổ chức xã hội-nghề nghiệp luật sư, tạo sở
Trang 7pháp lý cho trình hội nhập quốc tế nghề luật sư Việt Nam Chỉ sau năm thi hành Pháp lệnh, đội ngũ luật sư tăng đáng kể số lượng chất lượng Đặc biệt, năm luật sư thành lập 1.000 tổ chức hành nghề văn phòng luật sư, công ty luật hợp danh Các Đoàn luật sư xây dựng lại củng cố để làm chức tổ chức xã hội-nghề nghiệp tự quản luật sư Hoạt động hành nghề luật sư tăng lên đáng kể phạm vi chất lượng Có thể nói, Pháp lệnh luật sư năm 2001 văn mở đầu cho trình chuyên nghiệp hoá hội nhập quốc tế nghề luật
sư Việt Nam, tạo mặt với triển vọng phát triển mạnh mẽ nghề luật sư nước ta Tiểu luận Không dừng lại đó, với bước phát triển yêu cầu xu toàn cầu hoá, công đổi hội nhập quốc tế nước ta có bước phát triển nhanh mạnh mẽ với kiện quan trọng mang tính chất đột phá Việt Nam gia nhập Tổ chức thương mại quốc tế (WTO) tạo vị hội phát triển đất nước, đồng thời đặt nhiệm vụ quan trọng phải chuyển đổi hệ thống pháp luật thiết chế chế vận hành theo lộ trình phù hợp với cam kết gia nhập WTO Trong năm 2005, 2006, 2007, Nhà nước ta ban thành số lượng lớn đạo luật thay đạo luật không phù hợp, có Luật Luật sư Quốc hội thông qua ngày 29/6/2006 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2007 Sự kiện Luật Luật sư ban hành vào đời sống góp phần nâng cao vị luật sư, tạo sở pháp lý đẩy nhanh trình xây dựng đội ngũ luật sư, nghề luật
sư mang tính chuyên nghiệp, ngang tầm với luật sư nghề luật sư nước tiên tiến giới Có thể nói, Luật Luật sư mốc son đánh dấu bước phát triển vượt bậc pháp luật luật sư Việt Nam, qua mở nhiều triển vọng mẽ cho nghề luật sư Từ thấy luật sư nghề luật sư với hình thái ban đầu biện hộ, đời nhu cầu tự thân người Tuy nhiên, trình phát triển phụ thuộc vào yếu tố như: trị, kinh tế,văn hóa, tôn giáo, truyền thống… Trong yếu tố chất nhà nước cầm quyền (yếu tố trị) trình độ phát triển kinh tế (yếu tố kinh tế ) yếu tố chủ yếu quan trọngnhất Khái niệm luậtsư nghề luật sư 2.1 Luật sư Theo pháp luật Việt Nam, để trở thành luật sư cần đáp ứng tiêu chuẩn sau đây: Công dân Việt Nam trung thành với Tổ Quốc, tuân thủ pháp luật, có đạo đức tốt, có cử nhân luật nhà nước Việt Nam thừa nhận, qua đào tạo nghề, qua tậpsự Hiện nay, hiểu với rằng: luật sư chức danh tư pháp độc lập, người có đủ điều kiện hành nghề chuyên nghiệp theo quy định pháp luật nhằm thực việc tư vấn pháp luật, đại diện theo ủy quyền, bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho cá nhân, tổ chức nhà nước trước tòa án thực dịch vụ Tiểu luận pháp
lý khác Điều Luật Luật sư năm 2006 quy định: “Luật sư người có đủ tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề theo quy định Luật luật sư, thực dịch vụ pháp lý theo yêu cầu cá nhân, quan, tổ chức” Tiêu chuẩn luật sư quy định Điều 10 Luật Luật sư năm 2006 sau:
“Công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc, tuân thủ Hiến pháp pháp luật, có phẩm chất đạo đức tốt, có Cử nhân Luật, đào tạo nghề luật sư, qua thời gian tập hành nghề luật sư, có sức khoẻ bảo đảm hành nghề luật sư trở thành Luật sư” Lưu ý rằng, người
có đủ tiêu chuẩn quy định Điều 10 Luật luật sư muốn hành nghề luật sư phải có Chứng hành nghề luật sư gia nhập Đoàn luật sư 2.2 Nghề luật sư Nghề luật sư Việt Nam trước hết nghề luật, luật sư kiến thức pháp luật mình, độc lập thực hoạt động phạm vi hành nghề theo quy định pháp luật quy chế trách nhiệm nghề nghiệp, nhằm mục đích phụng công lý, góp phần bảo vệ pháp chế xây dựng Nhà nước pháp quyền
Trang 8Việt Nam Theo nhiều nhà nghiên cứu, nghề luật sư không giống nghề bình thường khác yêu cầu kiến thức trình độ chuyên môn việc hành nghề luật sư phải tuân thủ theo quy chế đạo đức nghề nghiệp Điều tạo nên nét đặc thù riêng nghề luật sư nét đặc thù tác động sâu sắc đến kỹ hành nghề, đặc biệt kỹ tranh tụng luật sư Xét tính chất, hiểu nghề luật sư có ba tính chất sau: Thứ nhất, tính chất trợ giúp: Nói đến trợ giúp nghĩa nói đến giúp đỡ, bênh vực không vụ lợi luật sư cho người vào vị thấp Những người trợ giúp thường người bị ức hiếp, bị đối xử bất công trái pháp luật xã hội hay người nghèo, người già cô đơn, người chưa thành niên mà đùm bọc gia đình Do đó, tính chất thể hoạt động nghề luật sư không bổn phận mà thước đo lòng nhân đạo đức luật sư Thứ hai, tính chất hướng dẫn: Thông thường, luật sư thực việc hướng dẫn cho khách hàng hiểu tinh thần nội dung pháp luật, để từ họ biết cách tháo gỡ vướng Tiểu luận luật sư xã hội, để khẳng định vị luật sư Việt Nam bình diện quốc tế II Những hạn chế
tổ chức hoạt động hành nghề luật sư Việt Nam Về tổ chức hoạt động luật sư 1.1 Về số lượng, chất lượng luật sư Hiện nay, số lượng luật sư có so với dân số thấp có phát triển cân đối lớn khu vực thành thị khu vực miền núi, trung du Mặc dù thời gian qua,
số lượng luật sư nước ta phát triển nhanh tỷ lệ luật sư số dân mức trung bình luật sư/14.000 người dân, tỷ lệ Thái Lan 1/1.526, Singapore 1/1.000, Nhật Bản 1/4546, Pháp 1/1.000, Mỹ 1/250 Số lượng luật sư chủ yếu tập trung thành phố lớn thành phố
Hà Nội (1.754 luật sư) thành phố Hồ Chí Minh (3.075 luật sư), đó, số địa phương có
số lượng luật sư Kon Tum (05 luật sư), Hà Giang, Bắc Cạn, Hà Nam (06 luật sư), Sơn
La, Hậu Giang (07 luật sư) Thậm chí có địa phương chưa có đủ 03 luật sư để thành lập Đoàn luật sư tỉnh Lai Châu Số lượng luật sư nước ta chưa đủ để đáp ứng nhu cầu dịch vụ pháp lý ngày tăng quan, tổ chức, cá nhân, hoạt động quan tiến hành tố tụng Trên thực tế, khoảng 20% vụ án hình nước có tham gia luật sư Ở nhiều địa phương, đặc biệt tỉnh miền núi, vùng sâu, vùng xa, số lượng luật sư chưa đủ để bào chữa vụ án bắt buộc có tham gia luật sư (án định) mà phải mời luật sư địa phương khác tham gia làm nhiều vụ án phải tạm hoãn, kéo dài, gây khó khăn cho quan tiến hành tố tụng Sự thiếu vắng luật sư nhiều vụ án hình (còn 78%) không bảo đảm nguyên tắc tranh tụng, quyền bào chữa người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, ảnh hưởng đến chất lượng giải vụ án Ngoài số lượng chất lượng đội ngũ luật sư nhiều hạn chế, yếu Hơn 2.000 luật sư theo Pháp lệnh tổ chức luật sư năm 1987 không đào tạo cách kỹ hành nghề, đạo đức ứng
xử nghề nghiệp luật sư Chất lượng tham gia tố tụng luật sư chưa đáp ứng yêu cầu tranh tụng phiên theo tinh thần cải cách tư pháp Các luật sư thiếu kinh nghiệm việc thu thập tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan đến trình bào chữa, tranh luận, đưa yêu cầu, kiến nghị Tiểu luận phiên Một số luật sư có thái độ ứng xử nghề nghiệp chưa mực quan hệ với quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng luật sư đồng nghiệp, làm ảnh hưởng đến uy tín đội ngũ luật sư nói chung Nhiều luật sư trẻ đào tạo thiếu kinh nghiệm, kỹ hành nghề Số lượng luật sư thông thạo ngoại ngữ, am hiểu pháp luật quốc
tế, đủ khả tham gia đàm phán, ký kết hợp đồng, giải tranh chấp quốc tế Bên cạnh số lượng luật sư chuyên sâu lĩnh vực đầu tư, kinh doanh, thương mại (sở hữu trí tuệ, tài
Trang 9ngân hàng, hàng không, hàng hải, bảo hiểm, thương mại quốc tế…) ít, chiếm tỷ lệ 1,2% Thời gian qua, phần lớn vụ tranh chấp thương mại quốc tế, quan, tổ chức Việt Nam phải thuê luật sư nước làm đại diện, tư vấn bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp Trong
số luật sư chưa thực quan tâm có ý thức trách nhiệm việc tuân thủ thực quy định Luật Luật sư, tìm hiểu thực pháp luật có liên quan lao động, thuế, tài chính, thống kê Thực
tế dẫn đến tình trạng số luật sư có hành vi vi phạm quy định Luật Luật sư trách nhiệm, nghĩa vụ luật sư, tổ chức hành nghề luật sư quy định pháp luật khác có liên quan Việc tuân thủ quy tắc đạo đức nghề nghiệp kỷ luật hành nghề luật sư chưa nhận thức cách đầy đủ, chưa trở thành ý thức tự giác cá nhân luật sư hành nghề sống Trên thực tế, số luật sư vi phạm đạo đức nghề nghiệp, chí có luật sư vi phạm pháp luật nghiêm trọng đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình (thoả hiệp với số cán thoái hoá, biến chất quan tiến hành tố tụng để làm sai lệch vụ án chạy án) Trong thời gian qua, có 53 luật sư, người tập hành nghề luật sư bị xử lý kỷ luật, 30 trường hợp bị xoá tên khỏi danh sách luật sư, người tập hành nghề luật sư Một số luật sư có biểu lệch lạc tư tưởng trị, dễ bị phần tử phản động nước hội trị nước lôi kéo Thực tế thời gian qua xuất số luật sư viết phương tiện thông tin đại chúng thể quan điểm sai trái, ảnh hưởng không tốt đến an ninh quốc gia Có 02 luật sư thuộc Đoàn luật sư thành phố Hà Nội Nguyễn Văn Đài Lê Thị Công Nhân 01 luật sư thuộc Đoàn luật sư thành phố Hồ Chí Minh Lê Công Định
bị truy cứu trách nhiệm hình tội tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
1.2 Về tổ chức hoạt động hành nghề luật sư Tiểu luận
Mặc dù số lượng tổ chức hành nghề luật sư nhiều chủ yếu tập trung thành phố Hà Nội, TP Hồ Chí Minh (1.805 tổ chức hành nghề), chiếm tới 63,76% tổ chức hành nghề luật sư nước, khu vực miền núi phía Bắc, Tây Nguyên số tổ chức hành nghề luật sư (khoảng 3% so với toàn quốc) Trong hoạt động hành nghề luật sư, tổ chức hành nghề luật sư chưa mang tính chuyên nghiệp, số luật sư hành nghề kiêm nhiệm công việc khác cao, chiếm 20% Đa số tổ chức hành nghề luật sư Việt Nam văn phòng luật sư với quy mô nhỏ (chiếm 72,48%), sở vật chất thiếu thốn, nghèo nàn, trụ sở thường đặt nhà riêng cá nhân luật sư, công tác quản trị, điều hành lỏng lẻo, thiếu tính chuyên nghiệp Số tổ chức hành nghề luật sư chuyên sâu lĩnh vực pháp luật, lĩnh vực pháp luật kinh doanh, thương mại, tài chính, ngân hàng v.v Hoạt động hành nghề luật sư chủ yếu tham gia tố tụng Ở địa phương có kinh tế - xã hội phát triển, hoạt động hành nghề luật sư chủ yếu tham gia vụ án theo yêu cầu quan tiến hành tố tụng, số lượng vụ việc khách hàng yêu cầu Hoạt động tham gia tố tụng số luật sư chưa bảo đảm thực tốt nguyên tắc tranh tụng phiên toà, chưa quan tiến hành tố tụng đánh giá ghi nhận việc đưa định, án Ta thấy việc sử dụng dịch vụ tư vấn pháp lý quan, tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp thấp so với yêu cầu thực tế, có khoảng 30% doanh nghiệp sử dụng dịch
vụ pháp lý luật sư, số có chưa đến 19,5% doanh nghiệp ký hợp đồng sử dụng dịch vụ thường xuyên, lại hợp đồng theo vụ việc Vì vậy, lĩnh vực tư vấn pháp luật chưa trọng phát triển theo hướng chuyên môn hoá Hoạt động tư vấn pháp luật dịch vụ pháp lý
Trang 10khác luật sư chưa trở thành công cụ thật cho cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp việc tạo lập môi trường đầu tư, kinh doanh minh bạch, lành mạnh theo pháp luật, đồng thời hỗ trợ tích cực việc chuyển dịch cấu kinh tế, phát triển thị trường dịch vụ, giải việc làm
Sự tham gia luật sư dự án đầu tư, giao dịch kinh doanh, thương mại khiêm tốn, đặc biệt hạn chế việc giải tranh chấp có yếu tố nước Nguyên nhân hạn chế, bất cập 2.1 Nguyên nhân khách quan Tiểu luận Tính chất nghề luật sư nghề tự do, hoạt động luật
sư điều tiết theo chế thị trường nên hoạt động luật sư trước hết phụ thuộc vào nhu cầu
xã hội Do điều kiện kinh tế - xã hội nước ta phát triển, mức thu nhập người dân chưa đồng đều, nhận thức quan nhà nước, tổ chức, người dân, cộng đồng doanh nghiệp vị trí, vai trò luật sư chưa đầy đủ, chưa toàn diện Đặc biệt, tỉnh miền núi, vùng sâu, vùng
xa có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, mức thu nhập người dân thấp, nhận thức người dân vai trò luật sư thấp, nhu cầu của cá nhân, tổ chức việc sử dụng dịch vụ pháp
lý luật sư chưa cao, nên nghề luật sư địa phương không phát triển, luật sư chưa sống hoạt động nghề nghiệp Điều có tác động không nhỏ đến việc phát triển nghề luật sư, phát triển số lượng luật sư nước nói chung, chênh lệch số lượng luật sư vùng miền thiếu luật sư tỉnh có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn Thể chế tổ chức, hoạt động luật sư bước hoàn thiện, song tồn số bất cập Một nguyên nhân quan trọng hạn chế, yếu nêu số quy định Luật Luật sư bộc lộ bất cập so với thực tiễn Một số quy định tiêu chuẩn, điều kiện trở thành luật sư chưa chặt chẽ, rõ ràng có phần dễ dãi quy định việc miễn đào tạo nghề, miễn, giảm thời gian tập sự, chế độ tập hành nghề Nội dung, chương trình đào tạo nghề luật sư chưa gắn kết với việc đào tạo chức danh tư pháp khác nên chưa tạo liên thông chức danh luật sư, thẩm phán, kiểm sát viên theo tinh thần cải cách tư pháp Thủ tục để luật sư tham gia tố tụng việc cấp Giấy chứng nhận tham gia tố tụng rườm rà, chưa tạo điều kiện thuận lợi cho luật sư hành nghề Quy định điều kiện thành lập tổ chức hành nghề luật sư đơn giản nên dẫn đến tổ chức hành nghề luật sư phát triển nhanh số lượng, đa phần manh mún nhỏ lẻ Chưa có quy định chế độ bồi dưỡng bắt buộc luật sư để nâng cao lực, chất lượng hành nghề Còn thiếu sách phù hợp khuyến khích đào tạo luật sư hội nhập quốc tế, phát triển luật sư vùng miền Tổ chức xã hội - nghề nghiệp luật sư củng cố thành hệ thống từ Trung ương đến địa phương, cấu tổ chức chưa thống nhất, chưa sử dụng chung Điều lệ nên tình trạng “cát cứ”, chưa thông suốt triển khai hoạt động Còn thiếu số quy định để phát huy vai trò tự quản tổ chức xã hội nghề nghiệp luật sư Quy định quản lý nhà nước nghề luật sư sơ
hở, chưa rõ ràng phần hạn chế hiệu quản lý nhà nước luật sư hành nghề Tiểu luận luật
sư Ngày 12/5/2009, Liên đoàn luật sư Việt Nam, tổ chức xã hội - nghề nghiệp luật sư phạm vi toàn quốc thành lập đánh dấu bước phát triển nghề luật sư Việt Nam Hơn nữa, để thành lập Liên đoàn luật sư Việt Nam, ngày 31/12/2008 Chính phủ ban hành Nghị định 131/2008/NĐCP hướng dẫn số quy định Luật Luật sư tổ chức xã hội -nghề nghiệp luật sư Để bảo đảm tính pháp chế thống quy định mang tính nguyên tắc Nghị định 131/2008/NĐ-CP cần luật hóa Một số quy định pháp luật tố tụng mở rộng đáng kể quyền luật sư tham gia tố tụng chưa có đồng với quy định Luật Luật sư, đặc