1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

BÌNH LUẬN về TIÊU CHÍ THỊ PHẦN TRONG VIỆC xác ĐỊNH vị TRÍ THỐNG LĨNH THỊ TRƯỜNG THEO QUY ĐỊNH của LUẬT CẠNH TRANH 2018

19 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 192,97 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BÌNH LUẬN VỀ TIÊU CHÍ THỊ PHẦN TRONG VIỆC XÁC ĐỊNH VỊ TRÍ THỐNG LĨNH THỊ TRƯỜNG THEO QUY ĐỊNH CỦA LUẬT CẠNH TRANH 2018 Nguyễn Thị Hoài Phúc - K195022057 Sinh viên Khoa Luật Kinh tế, Chu

Trang 1

BÌNH LUẬN VỀ TIÊU CHÍ THỊ PHẦN TRONG VIỆC XÁC ĐỊNH VỊ TRÍ THỐNG LĨNH THỊ TRƯỜNG THEO QUY ĐỊNH CỦA LUẬT CẠNH

TRANH 2018

Nguyễn Thị Hoài Phúc - K195022057 Sinh viên Khoa Luật Kinh tế, Chuyên ngành Luật Thương mại quốc tế

Trường Đại học Kinh tế - Luật Tóm tắt:

Thị phần được xem là một yếu tố quan trọng khi được sử dụng là một trong những tiêu chí để xác định doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh trong thị trường Có thể nói, thị phần sẽ phần nào thể hiện được khả năng tác động của doanh nghiệp đó lên thị trường liên quan với những quyết định và hành vi của mình Bài viết sẽ phân tích tiêu chí thị phần trong việc xác định vị trí thống lĩnh thị trường theo quy định của pháp luật cạnh tranh Việt Nam, cụ thể là Luật Cạnh Tranh 2018 Thông qua việc phân tích các quy định trong pháp luật Việt Nam liên quan đến tiêu chí thị phần, bài viết sẽ đưa ra một số hạn chế còn tồn tại trong quy định hiện nay, từ đó thể hiện được những điểm cần hoàn thiện trong quy định về tiêu chí thị phần này trong quá trình xác định vị trí thống lĩnh của doanh nghiệp trên thị trường

Từ khóa: thị phần, vị trí thống lĩnh thị trường, Luật cạnh tranh, lạm dụng vị trí

thống lĩnh thị trường, hạn chế cạnh tranh

Abstract:

Market share is considered an important factor when used as one of the criteria to determine which enterprises have a dominant position in the market It can be said that market share will partly show the ability of that business to influence the relevant market with its decisions and behaviour The article will analyze the market share criteria in determining the dominant market position in accordance with the provisions of Vietnam's competition law, specifically the Competition Law 2018 Through the analysis of the provisions in Vietnamese law related to market share criteria, the article will present some limitations that still exist in the current

Trang 2

regulations, thereby showing the points that need to be improved in the current regulations

Keywords: market share, dominant position, competition law, abuse of the

dominant position

1 Đặt vấn đề:

Trong thị trường kinh tế hiện nay, thông qua quá trình mà các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau, sẽ có các doanh nghiệp vượt lên với vai trò dẫn đầu trong lĩnh vực hoạt động đó mà không bị phụ thuộc hay bị chi phối bởi các quy luật thông thường của thị trường, các doanh nghiệp sẽ đạt được một vị trí thống lĩnh thị trường (VTTLTT) và có những tác động nhất định đối với thị trường bằng các quyết định của họ Chính vì vậy, việc xác định VTTLTT của một doanh nghiệp sẽ giúp cho các cơ quan cạnh tranh có thể nhận định được mức ảnh hưởng của các doanh nghiệp này trên thị trường từ đó đánh giá và kiểm soát được các hành vi của doanh nghiệp này nếu hành vi trên có ảnh hưởng tiêu cực đến thị trường và làm hạn chế cạnh tranh đối với các đối thủ khác

Ở một số quốc gia khác, pháp luật cạnh tranh có các quy định về định nghĩa khái niệm về VTTLTT của doanh nghiệp thông qua các văn bản hướng dẫn hoặc thông quá các hoạt động giải thích, thực thi của cơ quan cạnh tranh các nước.1 Điển hình là kinh nghiệm xét xử đến từ khu vực EU, ECJ (Tòa án Công lý Châu Âu) đã xây dựng một định nghĩa cho VTTLTT của doanh nghiệp là vị trí mà doanh nghiệp

“có khả năng ngăn ngừa sự cạnh tranh có hiện quản trên thị trường liên quan và

hành xử độc lập với đối thủ cạnh tranh, khách hàng và người tiêu dùng2”

Nhưng nếu không quy định cụ thể về định nghĩa VTTLTT thì việc đưa ra các dấu hiệu cụ thể, các căn cứ để nhận diện loại doanh nghiệp này cũng là một trong

1 Trần Thùy Linh, “Kiểm soát hành vi lạm dụng VTTLTT theo pháp luật cạnh tranh ở Việt Nam hiện nay”, Luận án Tiến sĩ Luật học, Hà Nội, 2020, Tr.74

2 EUR, “Summary of the JudgmentJudgment of the Court (Third Chamber), Tomra Systems ASA and Others

v European Commission, Appeal — Competition — Dominant position — Abuse — Market for machines for the collection of used beverage containers — Decision finding an infringement of Article 82 EC and Article 54 of the EEA Agreement — Exclusivity agreements, quantity commitments and loyalty rebates”, Case C-549/10 P, 19 April 2012

Trang 3

những giải pháp được một số quốc gia lựa chọn Trong một số hệ thống pháp luật như Đức, Úc, Ấn Độ thì các căn cứ được dùng để xác định VTTLTT sẽ được quy định trong Luật Cạnh Tranh cua quốc gia Trong khi đó pháp luật cạnh tranh ở một

số quốc gia khác như Hòa Kì hay EU thường xác định các căn cứ trên thông qua các

án lệ hoặc thực tiễn xét xử của vụ việc thực tế.3 Hiện nay, trong pháp luật cạnh tranh Việt Nam, cụ thể là Luật Cạnh tranh 2018 không quy định cụ thể về định nghĩa như thế nào là một doanh nghiệp có VTTLTT mà chỉ xác định chủ thể này thông quá các dấu hiệu nhận diện hoặc các căn cứ quy định trong pháp luật

Các căn cứ được sử dụng trong việc xác định VTTLTT của doanh nghiệp là những yếu tố có khả năng đo lường được năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp đặt trong mối quan hệ tương quan với năng lượng của các đối thủ cạnh tranh khác trong thị trường liên quan được xác định từ trước4 Một số căn cứ phổ biến được sử dụng như thị phần doanh nghiệp, rào cản gia nhập thị trường, quy mô của các đối thủ cạnh tranh, năng lực tài chính của doanh nghiệp,… Đặc biệt với pháp luật Cạnh tranh Việt Nam, cụ thể là Luật Cạnh tranh 2018 hiện nay với quy trình để nhận diện

và xác định VTTLTT của một doanh nghiệp bao gồm : (i) xác định thị trường liên quan5; (ii) xác định thị phần của doanh nghiệp trong thị trường liên quan6 hoặc xác định sức mạnh thị trường đáng kể của doanh nghiệp7 Hai căn cứ chính mà Việt Nam sử dụng là thị phần và sức mạnh thị trường đáng kể 8 để xác định VTTLTT của doanh nghiệp Đối với trong các quy định của Luật Cạnh tranh hiện nay, tiêu chí thị phần được xem như là một trong những tiêu chí tiên quyết để xem xét vị trí thống lĩnh của một doanh nghiệp trên thị trường liên quan thông qua các điều khoản quy định trong Luật Cạnh tranh 2018 liên quan đến tiêu chí này9 và một số hướng dẫn chi tiết tại Nghị định 35/2020/NĐ-CP ban hành ngày 24/3/202010 Cụ thể ở bài viết này, tiêu chí thị phần sẽ được phân tích và bình luận về cách thức sử dụng cũng

3 Trần Thùy Linh, Tlđd, Tr.74

4 OECD, Abuse of Dominance and Monopolisation, Policy Roundtables, 1996

5 Điều 9 Luật Cạnh tranh 2018

6 Khoản 1 Điều 10 Luật Cạnh tranh 2018

7 Điều 26 Luật Cạnh tranh 2018 và Khoản 1 Điều 12 Nghị định 35/2020/NĐ-CP ngày 24/3/2020 hướng dẫn thi hành Luật Cạnh Tranh

8 Điều 24 Luật Cạnh tranh 2018

9 Khoản 1 Điều 10 , Điều 24, Điểm a Khoản 1 Điều 26 Luật Cạnh tranh 2018, 12/6/2018

10 Điểm a Khoản 1 Điều 12 Nghị định 35/2020/NĐ-CP ngày 24/3/2020 hướng dẫn thi hành Luật Cạnh Tranh

Trang 4

như quy định tiêu chí này để làm căn cứ xác định VTTLTT của doanh nghiệp Việt Nam hiện nay

Theo đó, tại phần II tác giả sẽ phân tích, đánh giá về tiêu chí thị phần trong việc xác định VTTLTT tại Việt Nam Từ đó, những bất cập còn tồn tại trong các quy định về tiêu chí thị phần trong việc xác định vị trí thống lĩnh thị trường của doanh nghiệp sẽ được tác giả sẽ chỉ ra trong phần III của bài viết Qua đó đưa ra một số đề xuất trong quá trình đánh giá những hạn chế mà quy định Việt Nam đang gặp phải

2 Quy định về tiêu chí thị phần trong việc xác định VTTLTT ở pháp luật Việt Nam.

Thị phần hiện nay được định nghĩa theo rất nhiều cách, theo nhiều góc độ khác nhau Thị phần có thể phản ánh được phần sản phẩm tiêu thụ của riêng doanh nghiệp so với tổng sản phần tiêu thụ trên thị trường liên quan Như vậy, theo định nghĩa trên, thị phần sẽ thể hiện được phần nào về mối quan hệ của một doanh nghiệp với các đối thủ kinh doanh khác trên thị trường Trong việc xác định VTTLTT của doanh nghiệp, thị phần sẽ có vai trò phản ánh được quy mô doanh nghiệp đó trong một thị trường nhất định từ đó sẽ đánh giá được tầm ảnh hưởng của doanh nghiệp đó trên thị trường mà nó đang hoạt động.11 Theo OECD đã nhận định

về thị phần như sau: “Thị phần là thước đô quy mô tương đối của một công ty trong

một ngành hoặc một thị trường nhất định dựa trên tỷ trọng của tổng sản lượng, doanh số hoặc công suất mà nó chiếm…12”

Hiện tại trong pháp luật cạnh tranh ở Việt Nam, cụ thể là Luật Cạnh tranh

2018 vẫn chưa có một quy định nào định nghĩa cụ thể về thị phần nhưng tại khoản 1 Điều 10 Luật này có quy định về cách xác định thị phần của doanh nghiệp trong thị trường liên quan

Quy định này của Luật Cạnh tranh 2018 đã kế thừa được một số điểm từ Luật Cạnh tranh 2004 về việc quy định về doanh số bán ra và thu vào nhưng đã bổ

11 Paul Blom and Philip Kotler, “Strategies for High Market - Share Companies”, Risk Management,

Harvard Business Review https://hbr.org/1975/11/strategies-for-high-market-share-companies , 20/8/2021

12 OECD, Glossary of Industrial Organization Economics and Competition Law, 1993, Pg 57

Trang 5

sung thêm nội dung tính thị phần dựa trên tỷ lệ số đơn vị hàng hóa và dịch vụ của doanh nghiệp Có thể thấy việc bổ sung này đã khắc phục được hạn chế ở Luật cũ

về những khó khăn trong việc xử lý số liệu để tính toán danh thu trên một số thị trường liên quan mang tính đặc thù như thị trường dịch vụ internet, thị trường truyền hình cáp, thị trường vận tải hành khách,…13 Việc sử dụng số đơn vị sản phẩm và dịch vụ được bán ra hay thu vào thể hiện được đặc trưng của ngành sẽ dễ dàng cho các cơ quan cạnh tranh hoặc các cơ quan có thẩm quyền khác tính toán và xác định được thị phần của một doanh nghiệp trong thị trường liên quan Đây được xem như là một điểm mới của Luật Cạnh tranh 2018, giúp khắc phục được sự thiếu sót của quy định cũ từ Luật Cạnh tranh 2004 Các phương thức xác định thị phần quy định tại Khoản 1 Điều 10 Luật Cạnh tranh 2018 chỉ là nguyên tắc chung cho việc xác định thị phần của doanh nghiệp, các vấn đề chi tiết khác liên quan đến việc xác định thị phần của một doanh nghiệp trong thị trường đặc biệt nào khác sẽ theo quy định tại Khoản 5 Điều này và thuộc trách nhiệm của Chính phủ

Ở quy định này, thị phần được xác định theo bốn yếu tố liên quan sau: (i) doanh thu bán ra; (ii) doanh số thu vào; (iii) số đơn vị hàng hóa, dịch vụ bán ra; (iv)

số đơn vị hàng hóa, dịch vụ mua vào của doanh nghiệp với tất cả các doanh nghiệp trên thị trường liên quan Tuy nhiên, thay vì sử dụng doanh số bán ra và doanh số mua vào như các nước thì Luật Cạnh tranh lại sử dụng yếu tố doanh thu mua vào và doanh số bán ra để thực hiện việc xác định và tính toán thị phần cho các doanh nghiệp trong thị trường liên quan Rõ ràng về mặt định nghĩa, doanh thu và doanh

số là khác nhau Doanh số là số lượng sản phẩm được bán ra trong một tháng, một quý hay một năm của doanh nghiệp Doanh thu là tổng giá trị lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được trong kỳ kế toán, phát sinh từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh thông thường của doanh nghiệp Yếu tố này sẽ được xác định bằng giá trị hợp lý của các khoản đã thu được hoặc sẽ thu được (doanh số bán ra sau khi đã trừ các khoản chiết khẩu thương mại, chiết khấu thanh toán, giảm giá hàng bán và gía trị hàng bán bị trả lại14 và doanh thu sẽ phản ánh giá trị kinh tế mà doanh nghiệp đã thu

13 Thanh Hằng, Một số quy định mởi của Luật Cạnh tranh 2018, Cổng thông tin điện tử Viện Kiểm sát Nhân

Dân Tối Cao, 27/07/2018, https://vksndtc.gov.vn/tintuc/Pages/lists.aspx?Cat=8&ItemID=1231

14 Quyết định số 149/2001/QĐ-BTC ban hành về Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 14 (VAS 14) về doanh thu

và thu nhập khác

Trang 6

về được sau khi cung ứng dịch vụ và hàng hóa cho khách hàng.15 Về cơ bản thì doanh số sẽ lớn hơn doanh thu Luật cạnh tranh ở các nước khác đều sử dụng danh

số bán ra, mua vào hoặc số đơn vị bán ra, mua vào để tính toán thị phần khi đó mức thị phần sau khi tính toán sẽ phản ánh đúng được sức mạnh thị trường của doanh nghiệp đó và việc hầu hết các nước áp dụng cách thức tính toán như trên sẽ tạo ra một sự đồng nhất trong việc đánh giá thị phần của các doanh nghiệp.16

Quy định này của Luật Cạnh tranh 2018 về cách thức xác định thị phần như trên vẫn chưa tương thích với quy định của các nước và có thể gây ra những bối rối trong việc không thống nhất được về yếu tố xác định thị phần Gỉa định trường hợp doanh nghiệp Việt Nam có xảy ra những tranh chấp nước ngoài mà cần phải xác định thị phần thì sẽ gặp khá nhiều khó khăn vì sự không thống nhất trong việc xác định thị phần ở thị trường liên quan giữa pháp luật Việt Nam và nước ngoài, cụ thể

là quốc gia mà Việt Nam đang xảy ra tranh chấp

Theo cách xác định thị phần trên thị trường liên quan như trên thì Khoản 1 Điều 24 đã quy định về tiêu chí thị phần của một doanh nghiệp có VTTLTT như

sau: “Doanh nghiệp được coi là có VTTLTT nếu có sức mạnh thị trường đáng kể

được xác định theo quy định tại Điều 26 của Luật này hoặc có thị phần từ 30% trở lên trên thị trường liên quan.” Tiêu chí thị phần từ 30% trở lên của quy định này là

một quy định mang tính định lượng trong việc xác định vị trí thống lĩnh của doanh nghiệp

Theo như quy định trên thì đối với trường hợp doanh nghiệp đó có thị phần

từ 30% trở lên sẽ mặc nhiên được xem là một doanh nghiệp có VTTLTT mà không cần phải xem xét thêm yếu tố nào khác Ngưỡng thị phần 30% trong quy định trên được xem là ngưỡng thị phần thống lĩnh17 cho các doanh nghiệp trong cùng một thị trường Như vậy có thể thấy tiêu chí thị phần 30% trở lên của điều khoản này mang tính định lượng, ngoài ra ở điều khoản này cũng đề cập đến việc doanh nghiệp đó

15 Mục số 4, Nội dung chuẩn mực của Quyết định số 149/2001/QĐ-BTC ban hành về Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 14 (VAS 14) về doanh thu và thu nhập khác

16 Trần Thùy Linh, Tlđd, Tr.75

17 “Ngưỡng thị phần thống lĩnh là ngưỡng thị phần quy định nếu các công ty vượt quá mức đó thì sẽ được coi

là giữa vị trí thống lĩnh hoắc có sức mạnh thị trường đáng kể” Xem thêm tại OECD, “Hướng dẫn cơ bản về Cạnh tranh dành cho các Quan tòa ASEAN”, Mục 6.2, Tr.6, 9/2018

Trang 7

có sức mạnh thị trường đáng kể mang tính định tính 18 Mặc dù, trong một số trường hợp, ngưỡng thị phần này cũng có thể chấp nhận trong bối cảnh nền kinh tế hiện nay ở Việt Nam, khi hầu hết các doanh nghiệp đều kinh doanh với quy mô vừa và nhỏ trong thị trường liên quan nhưng việc quy định một mức thị phần cụ thể như trên chưa phải là một giải pháp tốt trong việc xác định VTTLTT của một doanh nghiệp.19 Điểm hạn chế này sẽ được tác giả đề cập và phân tích cụ thể tại phần ba của bài viết này

Tiếp theo, tiêu chí thị phần lại được sử dụng với hình thức là thị phần kết hợp của nhóm doanh nghiệp có VTTLTT tại Khoản 2 Điều 24 nhưng đối với tiêu chí thị phần ở Khoản 2 này lại được xem xét với tiêu chí sức mạnh thị trường và cùng một hành động gây hạn chế cạnh tranh trên thị trường thì nhóm doanh nghiệp này mới thuộc trường hợp có VTTLTT Điều khoản này đã kết hợp yếu tố định lượng (thị phần kết hợp của nhóm doanh nghiệp) và yếu tố định tính (sức mạnh thị trường đáng kể) để xác định vị trí thống lĩnh của doanh nghiệp Đây được xem là một điểm mới cải thiện hơn so với quy định cũ trong Luật Cạnh tranh 2014 khi thay thế yếu tố khả năng gây hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể thành yếu tố sức mạnh thị trường đáng kể Bên cạnh đó, việc bổ sung thêm quy định cho nhóm doanh nghiệp có từ năm doanh nghiệp trở lên tại Điểm d Khoản 2 Điều này đã sửa đổi được điểm hạn chế trong quy định cũ khi không hạn chế số lượng doanh nghiệp tối đa trong một nhóm doanh nghiệp thống lĩnh 20

Ngoài ra, tại Khoản 3 Điều 24 cũng đã loại bỏ việc doanh nghiệp có thị phần

ít hơn 10% trong thị trường liên quan mà nằm trong nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh Mức thị phần 10% được xem là thị phần bến an toàn (safe harbour)21 cho các doanh nghiệp đạt mức thị phần này trong việc miễn trừ trách nhiệm liên quan đến nhóm doanh nghiệp này Quy định này được xem là hợp lý vì nếu một doanh

18 Thùy Linh, “8 điểm mới của Luật Cạnh tranh 2018”, Tạp chí Pháp luật, 20/9/2018

https://plo.vn/kinh-te/8-diem-moi-cua-luat-canh-tranh-2018-793152.html

19 Trần Quang Tuyến - Lê Văn Đạo, “Tiêu chí về nền kinh tế thị trường đầy đủ, hiện đại và hội nhập quốc tế: Những vấn đề đặt ra cho Việt Nam trong hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xác hội chủ nghĩa”, Tạp chí Cộng sản, 07/12/2020

20 Nguyễn Thanh Vinh, “Hành vi lạm dụng của doanh nghiệp có VTTLTT theo pháp luật cạnh tranh Việt Nam”, Tóm tắt Luận văn Thạc sĩ Luật học, Thừa Thiên Huế, 2020, Tr 8

21 “Thị phần bến an toàn (safe harbour) có thể được quy định là một mức thị phần mà bất cứ doanh nghiệp nào có mức thị phần dưới mức bến an toàn sẽ được coi là không giữ vị trí thống lĩnh hay có sức mạnh thị trường đáng kể” Xem thêm tại OECD, “Hướng dẫn cơ bản về Cạnh tranh dành cho các Quan tòa ASEAN”, Mục 6.2, Tr.6, 9/2018

Trang 8

nghiệp có mức thị phần trên thị trường liên quan nhỏ hơn 10% nằm trong nhóm doanh nghiệp có VTTLTT thì việc đánh giá tác động của hành vi mà doanh nghiệp này như các doanh nghiệp khác trong nhóm doanh nghiệp này như nhau là điều không hợp lý Vì thế 10% này được xem như là một thị phần bến an toàn dành cho các doanh nghiệp nhỏ trong các thị trường hiện nay, đảm bảo việc đưa đánh giá khách quan nhất về những tác động của doanh nghiệp trên thị trường và các đối thủ cạnh tranh khác

Tiếp theo, sức mạnh thị trường đáng kể được nhắc đến như là một tiêu chí thứ hai trong việc xác định doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh tại Khoản 1 Điều 24 thì thị phần cũng có mối quan hệ chặt chẽ với yếu tố này Hai yếu tố này rõ ràng có sự tương tác qua lại với nhau, phản ánh lẫn nhau nên cần được sử dụng kết hợp lại để đánh giá vị trí thống lĩnh của một doanh nghiệp trong một thị trường liên quan Thị phần sẽ tỉ lệ thuận với sức mạnh thị trường của một doanh nghiệp trong thị trường liên quan Thị phần của doanh nghiệp càng cao thì mức độ ảnh hưởng của doanh nghiệp đó trong thị trường càng lớn.22 Chính vì mối quan hệ này mà tiêu chí thị phần lần nữa trở thành một trong các yếu tố được sử dung để xác định sức mạnh thị trường đáng kể của một doanh nghiệp thống lĩnh thị trường tại Điểm a Khoản 1 Điều 26 thông qua việc xác định tương quan thị phần giữa các doanh nghiệp trên thị trường liên quan và được giải thích cụ thể tại Điểm a Khoản 1 Điều 12 trong Nghị

định 35/2020/NĐ-CP ban hành ngày 24/3/2020 như sau: “Tương quan thị phần

giữa các doanh nghiệp trên thị trường liên quan được đánh giá trên cơ sở so sánh thị phần giữa các doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp trên thị trường liên quan.”

Như vậy, yếu tố thị phần trong trường hợp trên thể hiện phần nào về mối quan hệ của các doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp trên thị trường liên quan Từ đó

có thể đánh giá được mức độ ảnh hưởng qua lại giữa các chủ thể này trong cùng một thị trường với nhau Điều này cũng sẽ phản ánh được sức mạnh thị trường của mỗi doanh nghiệp và khả năng chi phối của doanh nghiệp trong thị trường hoạt động cùng với các đối thủ cạnh tranh khác Nhìn nhận từ mối quan hệ của hai yếu tố này thì việc sử dụng cả hai yếu tố này để đánh giá và xác định VTTL của doanh

22 Đào Ngọc Báu và Vũ Văn Tấn, “Vai trò của thị phần trong việc xác định VTTLTT của doanh nghiệp”, Tạp

chí Nghiên cứu lập pháp, Số 21 (325), tháng 11/2016

Trang 9

nghiệp được cho là biện pháp mang tính chính xác cao trong một thị trường kinh tế năng động như ở Việt Nam.23

Thông qua các điều luật sử dụng yếu tố thị phần của Luật Cạnh tranh 2018

để xác định VTTLTT của doanh nghiệp, có thể thấy được vai trò quan trọng của yếu tố này cũng như mối quan hệ giữa hai yếu tố thị phần và sức mạnh thị trường trong việc xác định VTTLTT của doanh nghiệp trong pháp luật cạnh tranh Việt Nam Xác định tiêu chí này một cách khách quan và chính xác sẽ phản ánh đúng được khả năng tác động đến thị trường từ các quyết định của doanh nghiệp, việc phát hiện và xử lý các hành vi lạm dụng VTTLTT, gây hạn chế cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường liên quan Tuy nhiên, trong quy định hiện này của Luật Cạnh tranh, vẫn còn một số hạn chế nhất định về cách thức xác định và quy định liên quan đến tiêu chí thị phần này

3 Một số hạn chế trong quy định về tiêu chí thị phần trong việc xác định VTTLTT của doanh nghiệp:

Thông qua quá trình phân tích các quy định của pháp luật cạnh tranh Việt Nam, cụ thể là các quy định trong Luật Cạnh tranh 2018 về yếu tố thị phần làm điều kiện để xác định một doanh nghiệp có VTTLTT đã thể hiện ra một mặt hạn chế còn tồn tại trong cách quy định và sử dụng tiêu chí này

Thứ nhất, theo quy định tại Khoản 1 Điều 24 của Luật Cạnh tranh 2018,

doanh nghiệp có VTTLTT là doanh nghiệp thuộc một trong hai trường hợp sau: (i) doanh nghiệp có thị phần từ 30% trở lên trong thị trường liên quan hoặc (ii) doanh nghiệp có sức mạnh thị trường đáng kể, quy định tại Điều 26 Luật Cạnh tranh 2018 Như vậy, chỉ cần là doanh nghiệp thuộc một trong hai trường hợp trên thì mặc nhiên

là doanh nghiệp đó có vị trí thống lĩnh trên thị trường Tiêu chí thị phần và sức mạnh thị trường đáng kể chỉ là một trong nhiều yếu tố được xem xét để đánh giá khả năng tác động đến thị trường của một doanh nghiệp Việc xác định VTTLTT của một doanh nghiệp hoặc một nhóm doanh nghiệp mà chỉ dựa vào tiêu chí thị

23 Xêm thêm tại David Parker and Colin Kirkpatric, “Measuring Regulatory Performance - The Economic

Impact of Regulatory Policy: A Literature Review of Quantitative Evidence”, Expert Paper No.3, August 2012

Trang 10

phần hoặc chỉ dựa vào việc xem xét doanh nghiệp có sức mạnh thị trường đáng kể như quy định trên sẽ không thể nào đưa ra một đánh giá toàn diện, đầy đủ và chính xác được vị trí của doanh nghiệp trên thị trường Khi xem xét đến vị trí thống lĩnh của một doanh nghiệp trên thị trường thì phải xem xét kết hợp nhiều yếu tố với nhau chứ không thể tách riêng biệt từng yếu tố như quy định trên Chính vì vậy, tiêu chí thị phần không thể được xem như một tiêu chí riêng biệt, tuyệt đối để xác định VTTLTT của một doanh nghiệp

Mặc dù, trong một vài trường hợp, thị phần cũng thể hiện được phần nào đó sức mạnh của doanh nghiệp Ví dụ như theo nhận định của Tòa án Châu Âu trong

vụ việc Hoffman-La Roche như sau: “Mặc dù thị phần có thể thay đổi theo từng thị

trường khác nhau, trừ những trường hợp mà thị trường mang tính đặc thù, thị phần đặc biệt cao trong một thị trường chính là một chứng cứ của vị trí chi phối thị trường Nếu một doanh nghiệp trên thị trường liên quan nắm giữ thị phần đặc biệt cao trong một khoảng thời gian dài thì việc doanh nghiệp đó sử dụng quy mô sản xuất và tiêu thụ của mình như một loại sức mạnh, sức mạnh này sẽ khiến doanh nghiệp này tham gia thị trường một cách hiển hách và tạo điều kiện cho các quyết định của doanh nghiệp trên không chịu bất kỳ sự hạn chế nào trong một thời gian tương đối dài Sức mạnh này chính là VTTLTT Trong trường hợp này, doanh nghiệp có thị phần rất nhỏ không thể trong một thời gian ngắn có thể thỏa mãn được nhu cầu thị trường như doanh nghiệp có VTTLTT có thể thỏa mãn”24 Theo nhận định trên ở tình huống của Hoffmann-La Roche, thị phần cao cũng đồng nghĩa với sức mạnh thị trường lớn, có tầm ảnh hưởng đối với các đối thủ cạnh tranh khác trong cùng một thị trường Tuy nhiên, điều này chỉ đúng trong trường hợp doanh nghiệp mang thị phần cao này có đủ các điều kiện và yếu tố cần thiết để duy trì và khống chế các yếu tố cạnh tranh trên thị trường trong một khoảng thời gian nhất định

Nếu đem tiêu chí này xem xét trong một tình huống giả định mà OECD đưa

ra như sau: “Một nhà cung cấp một sản phẩm hoàn toàn mới có thể nắm thị phần

100%, vẫn chật vật phát triển thị trường cho sản phẩm của mình Trái lại, trong

24 EUR, “Judgment of the Court of 13 February 1979, Hoffmann-La Roche & Co AG v Commission of the European Communities, Dominant position”, Case 85/76, Rn 41, Tr.521

Ngày đăng: 18/01/2022, 23:58

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
8. David Parker and Colin Kirkpatric, “Measuring Regulatory Performance - The Economic Impact of Regulatory Policy: A Literature Review of Quantitative Evidence”, Expert Paper No.3, August 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Measuring Regulatory Performance - TheEconomic Impact of Regulatory Policy: A Literature Review of QuantitativeEvidence
12. OECD, “The Role and Measurement of Quality in Competition Analysis”, Policy Roundtables, 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Role and Measurement of Quality in Competition Analysis
16. Ahmet Fatih ệzkan, “The Competition Law Review”, ISSN 1745-68X (Online), December 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Competition Law Review
17. Trần Thùy Linh, “Kiểm soát hành vi lạm dụng VTTLTT theo pháp luật cạnh tranh ở Việt Nam hiện nay”, Luận án Tiến sĩ Luật học, Hà Nội, 2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiểm soát hành vi lạm dụng VTTLTT theo pháp luật cạnhtranh ở Việt Nam hiện nay
18. Thanh Hằng, “Một số quy định mởi của Luật Cạnh tranh 2018”, Cổng thông tin điện tử Viện Kiểm sát Nhân Dân Tối Cao, 27/07/2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số quy định mởi của Luật Cạnh tranh 2018
19. OECD, “Hướng dẫn cơ bản về Cạnh tranh dành cho các Quan tòa ASEAN”, 9/2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn cơ bản về Cạnh tranh dành cho các Quan tòa ASEAN
20. Thùy Linh, “8 điểm mới của Luật Cạnh tranh 2018”, Tạp chí Pháp luật, 20/9/2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 8 điểm mới của Luật Cạnh tranh 2018
22. Trần Quang Tuyến - Lê Văn Đạo, “Tiêu chí về nền kinh tế thị trường đầy đủ, hiện đại và hội nhập quốc tế: Những vấn đề đặt ra cho Việt Nam trong hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xác hội chủ nghĩa”, Tạp chí Cộng sản, 07/12/2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiêu chí về nền kinh tế thị trường đầy đủ,hiện đại và hội nhập quốc tế: Những vấn đề đặt ra cho Việt Nam trong hoàn thiệnthể chế kinh tế thị trường định hướng xác hội chủ nghĩa
23. Nguyễn Thanh Vinh, “Hành vi lạm dụng của doanh nghiệp có VTTLTT theo pháp luật cạnh tranh Việt Nam”, Tóm tắt Luận văn Thạc sĩ Luật học, Thừa Thiên Huế, 2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hành vi lạm dụng của doanh nghiệp có VTTLTT theopháp luật cạnh tranh Việt Nam
24. Đào Ngọc Báu và Vũ Văn Tấn, “Vai trò của thị phần trong việc xác định VTTLTT của doanh nghiệp”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, Số 21 (325), tháng 11/2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của thị phần trong việc xác địnhVTTLTT của doanh nghiệp
25. OECD, “Đánh giá OECD về Luật và Chính sách cạnh tranh Việt Nam”, 2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá OECD về Luật và Chính sách cạnh tranh Việt Nam
26. Đào Ngọc Báu, “Quyền tự do cạnh tranh của doanh nghiệp và kết cấu thị trường cạnh tranh”, Tạp chí Nghiên cứu Lập cứu Lập pháp, Số 20 (420), tháng 10/2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyền tự do cạnh tranh của doanh nghiệp và kết cấu thị trườngcạnh tranh

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w