1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thành tựu chủ yếu của văn hóa ĐNA

6 27 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 32,51 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CÁC THÀNH TỰU CHỦ YẾU CỦA VĂN HÓA ĐÔNG NAM Á Là cộng đồng các cư dân nông nghiệp trồng lúa nước, Đông Nam Á không những bao chứa những nét tương đồng trong canh tác với hệ thống thủy lợi, mà còn có đời sống văn hóa tinh thần hết sức phong phú trong đó bao trùm tất cả là chu trình của đời sống nông nghiệp lúa nước. Vì thế từ những truyện thần thoại đến lễ hội; từ phong tục tập quán đến âm nhạc nghệ thuật, kể cả múa hát... đều ít nhiều chịu ảnh hưởng và phản ánh đời sống của cư dân nông nghiệp trồng lúa nước. 1, Tôn giáo và tín ngưỡng: a, Tín ngưỡng: Khi mà nhà nước chưa ra đời thì cư dân Đông Nam Á cũng chưa có hệ thống tôn giáo hoàn chỉnh. Những người này đã dùng thuyết “vạn vật hữu linh” để chỉ tất cả những hình thức tín ngưỡng, thờ tự ở Đông Nam Á trước khi Phật giáo, Hồi giáo và Kito giáo truyền bá tới khu vực này. Trong số các hình thức tín ngưỡng nguyên thủy thì “bái vật giáo” (những ý niệm về sức mạnh siêu nhiên của tự nhiên) xuất hiện sớm hơn cả. Cư dân Đông Nam Á thờ phụng rất nhiều vị thần như thần núi, thần sông, thần lửa,… Trong đó, thần đất – vị thần bảo hộ, phù trợ cho nông nghiệp – bao giờ cũng là vị thần tối cao. Cũng bắt nguồn từ quan niệm “vạn vật hữu linh”, các dân tộc Đông Nam Á đều cho rằng mỗi người không phải có một mà là cả một nhóm hồn, ma. Ví dụ như người Thái đen (ở Việt Nam) tin rằng mỗi người có 120 hồn; người Khơme tin rằng mỗi người có 9 hồn chính; người Mường 90; người Thái ở Bắc Lào 32 hoặc 34; người Việt cho rằng mỗi người có 3 hồn và đàn ông có 7 vía, đàn bà có 9 vía. Vì thế họ cũng tin tằng cuộc sống không chấm dứt sau khi chết đó chỉ là sự chia tay tạm thời của người chết với những người đang sống. Bởi vậy con cháu thờ phụng tổ tiên không chỉ để tỏ lòng tri ân và thương nhớ những người đã khuất mà còn là sự mong muốn tổ tiên tham gia và phù trợ cho mình trong mọi công việc. Do cuộc sống gắn liền với yêu cầu phát triển nông nghiệp trồng lúa nên bên cạnh việc sùng bái tự nhiên, tín ngưỡng phồn thực với nghi thức cầu mong được mùa, cầu cho các giống loài sinh sôi nảy nở… cũng rất phát triển ở Đông Nam Á vào buổi đầu lịch sử. Trên mặt trống đồng, xen kẽ giữa các tia mặt trời là các hình tượng sinh thực khí nam nữ cách điệu hóa những hình cóc trên mặt trống làm rõ ý nghĩa cầu mưa của những trống sấm thời Đông Sơn. Cụ thể hơn nữa, trên nóc thạp đồng Đào Thịnh có 4 cặp nam nữ giao phối vừa rất tự nhiên, vừa có ý nghĩa của nghi lễ phồn thực. b, Tôn giáo: Những TK đầu Công nguyên: Hinđu giáo và Phật giáo đã được truyền bá vào Phù Nam, Champa, sau đó phát triển ở các dân tộc Khome, Campuchia thời kì Ăngco, Myamar, Thái Lan, Malaysia... Tuy nhiên, trong thời kỳ đầu, Hinđu giáo có phần thịnh hành hơn. TK XIII: dòng Phật giáo Tiểu thừa được phổ biến ở nhiều nước Đông Nam Á, nhưng đã có mặt rất sớm từ những TK đầu công nguyên ở Thái Lan và miền Trung Thái Lan. TK XIIXIII: Hồi giáo du nhập vào Đông Nam Á, trước tiên là ở một số vùng ở quần đảo Mã Lai, sau đó được truyền bá vào Indonexia, Malaixia, Xingapo,…. TK XVI: đạo Kito cũng xuất hiện và dần dần thâm nhập vào khu vực này. 2, Văn học: a, Văn hóa dân gian: Nói đến văn học Đông Nam Á là phải nói đến sức mạnh dân gian hoá. Nền tảng của sức mạnh dân gian hoá đó là nền văn hoá dân gian còn đang bao trùm hầu như toàn bộ đời sống tinh thần của họ. Văn học dân gian là một trong những cội nguồn của văn học dân tộc. Trước khi tiếp xúc với những nền văn hoá lớn của Phương Đông như Ấn Độ, Trung Quốc, thì văn học Đông Nam Á đã được hình thành trên cơ tầng văn hoá nói chung của Đông Nam Á thời tiền sử, đó là nền văn minh nông nghiệp lúa nước. Sự ra đời các nghi lễ nông nghiệp ban đầu còn gắn với tôn giáo , mang ý nghĩa tôn giáo và dần dần trở thành các sinh hoạt văn nghệ, văn học dân gian. ( từ các hình thức diễn xướng đám rước, múa thiêng, lễ ca, lễ nhạc đến các nghi thức tế tự đều có mối tương tác đan xen với các hình thức hát giao duyên, múa vui, diễn trò tạo nên một sự đồng nhất giữa đạo và đời, giữa cái thánh thiện và cái trần tục. Vì vậy, nghệ thuật diễn xướng bao giờ cũng gắn với tôn giáo và giải trí). Văn học dân gian thời kỳ này mang màu sắc nguyên sơ của các cộng đồng làm nông nghiệp, trồng trọt, săn bắn, đánh cá. Thần thoại, truyền thuyết phản ánh rõ nét các sinh hoạt nghi lễ tín ngưỡng của các cư dân Đông Nam á trước sức mạnh của thiên nhiên và những quan niệm cổ sơ của họ về vũ trụ, về thế giới bao quanh mình. Thần thoại về lụt, về nguồn gốc dân tộc, về các nhân vật văn hoá phổ biến ở các nước Đông Nam Á. Nhân vật văn hoá là những anh hùng của thị tộc, bộ lạc. Họ là những nhân vật có công lao, có tài hơn người khác. Những người anh hùng ấy được quần chúng bộ lạc tôn thờ, tô vẽ, phóng đại, thêu dệt thành những thần thoại vì họ là những ông tổ giúp loài người, dạy loài người làm ăn sinh sống. ở Đông Nam á ta bắt gặp nhân vật văn hoá lên trời lấy thóc giống đem về mặt đất gieo trồng. Điều đó phản ánh một hiện thực là văn hoá nông nghiệp hình thành, con người đã biết lấy lúa về để canh tác. Những thần thoại còn lại đến ngày nay như Sự tích cây lúa, tục lệ thờ cúng cây lúa, các sản phẩm làm ra từ lúa...(Sự tích Bánh chưng bánh dày của Việt Nam).

Trang 1

CÁC THÀNH TỰU CHỦ YẾU CỦA VĂN HÓA ĐÔNG NAM Á

Là cộng đồng các cư dân nông nghiệp trồng lúa nước, Đông Nam Á không những bao chứa những nét tương đồng trong canh tác với hệ thống thủy lợi, mà còn có đời sống văn hóa tinh thần hết sức phong phú trong đó bao trùm tất cả là chu trình của đời sống nông nghiệp lúa nước Vì thế từ những truyện thần thoại đến

lễ hội; từ phong tục tập quán đến âm nhạc nghệ thuật, kể cả múa hát đều ít nhiều chịu ảnh hưởng và phản ánh đời sống của cư dân nông nghiệp trồng lúa nước

1, Tôn giáo và tín ngưỡng:

a, Tín ngưỡng:

Khi mà nhà nước chưa ra đời thì cư dân Đông Nam Á cũng chưa có hệ thống tôn giáo hoàn chỉnh Những người này đã dùng thuyết “vạn vật hữu linh” để chỉ tất

cả những hình thức tín ngưỡng, thờ tự ở Đông Nam Á trước khi Phật giáo, Hồi giáo và Kito giáo truyền bá tới khu vực này Trong số các hình thức tín ngưỡng nguyên thủy thì “bái vật giáo” (những ý niệm về sức mạnh siêu nhiên của tự nhiên) xuất hiện sớm hơn cả Cư dân Đông Nam Á thờ phụng rất nhiều vị thần như thần núi, thần sông, thần lửa,… Trong đó, thần đất – vị thần bảo hộ, phù trợ cho nông nghiệp – bao giờ cũng là vị thần tối cao Cũng bắt nguồn từ quan niệm “vạn vật hữu linh”, các dân tộc Đông Nam Á đều cho rằng mỗi người không phải có một

mà là cả một nhóm hồn, ma Ví dụ như người Thái đen (ở Việt Nam) tin rằng mỗi người có 120 hồn; người Khơme tin rằng mỗi người có 9 hồn chính; người Mường 90; người Thái ở Bắc Lào 32 hoặc 34; người Việt cho rằng mỗi người có 3 hồn và đàn ông có 7 vía, đàn bà có 9 vía Vì thế họ cũng tin tằng cuộc sống không chấm dứt sau khi chết - đó chỉ là sự chia tay tạm thời của người chết với những người đang sống Bởi vậy con cháu thờ phụng tổ tiên không chỉ để tỏ lòng tri ân và

thương nhớ những người đã khuất mà còn là sự mong muốn tổ tiên tham gia và phù trợ cho mình trong mọi công việc

Do cuộc sống gắn liền với yêu cầu phát triển nông nghiệp trồng lúa nên bên cạnh việc sùng bái tự nhiên, tín ngưỡng phồn thực với nghi thức cầu mong được mùa, cầu cho các giống loài sinh sôi nảy nở… cũng rất phát triển ở Đông Nam Á vào buổi đầu lịch sử Trên mặt trống đồng, xen kẽ giữa các tia mặt trời là các hình tượng sinh thực khí nam nữ cách điệu hóa những hình cóc trên mặt trống làm rõ ý nghĩa cầu mưa của những "trống sấm" thời Đông Sơn Cụ thể hơn nữa, trên nóc thạp đồng Đào Thịnh có 4 cặp nam nữ giao phối vừa rất tự nhiên, vừa có ý nghĩa của nghi lễ phồn thực

Trang 2

b, Tôn giáo:

Những TK đầu Công nguyên: Hinđu giáo và Phật giáo đã được truyền bá vào Phù Nam, Champa, sau đó phát triển ở các dân tộc Khome, Campuchia thời kì Ăngco, Myamar, Thái Lan, Malaysia Tuy nhiên, trong thời kỳ đầu, Hinđu giáo có phần thịnh hành hơn

TK XIII: dòng Phật giáo Tiểu thừa được phổ biến ở nhiều nước Đông Nam

Á, nhưng đã có mặt rất sớm từ những TK đầu công nguyên ở Thái Lan và miền Trung Thái Lan

TK XII-XIII: Hồi giáo du nhập vào Đông Nam Á, trước tiên là ở một số vùng ở quần đảo Mã Lai, sau đó được truyền bá vào Indonexia, Malaixia, Xingapo,

TK XVI: đạo Kito cũng xuất hiện và dần dần thâm nhập vào khu vực này

2, Văn học:

a, Văn hóa dân gian:

Nói đến văn học Đông Nam Á là phải nói đến sức mạnh dân gian hoá Nền tảng của sức mạnh dân gian hoá đó là nền văn hoá dân gian còn đang bao trùm hầu như toàn bộ đời sống tinh thần của họ Văn học dân gian là một trong những cội nguồn của văn học dân tộc Trước khi tiếp xúc với những nền văn hoá lớn của Phương Đông như Ấn Độ, Trung Quốc, thì văn học Đông Nam Á đã được hình thành trên cơ tầng văn hoá nói chung của Đông Nam Á thời tiền sử, đó là nền văn minh nông nghiệp lúa nước Sự ra đời các nghi lễ nông nghiệp ban đầu còn gắn với tôn giáo , mang ý nghĩa tôn giáo và dần dần trở thành các sinh hoạt văn nghệ, văn học dân gian ( từ các hình thức diễn xướng đám rước, múa thiêng, lễ ca, lễ nhạc đến các nghi thức tế tự đều có mối tương tác đan xen với các hình thức hát giao duyên, múa vui, diễn trò tạo nên một sự đồng nhất giữa đạo và đời, giữa cái thánh thiện và cái trần tục Vì vậy, nghệ thuật diễn xướng bao giờ cũng gắn với tôn giáo

và giải trí) Văn học dân gian thời kỳ này mang màu sắc nguyên sơ của các cộng đồng làm nông nghiệp, trồng trọt, săn bắn, đánh cá Thần thoại, truyền thuyết phản ánh rõ nét các sinh hoạt nghi lễ tín ngưỡng của các cư dân Đông Nam á trước sức mạnh của thiên nhiên và những quan niệm cổ sơ của họ về vũ trụ, về thế giới bao quanh mình Thần thoại về lụt, về nguồn gốc dân tộc, về các nhân vật văn hoá phổ biến ở các nước Đông Nam Á Nhân vật văn hoá là những anh hùng của thị tộc, bộ lạc Họ là những nhân vật có công lao, có tài hơn người khác Những người anh hùng ấy được quần chúng bộ lạc tôn thờ, tô vẽ, phóng đại, thêu dệt thành những

Trang 3

thần thoại vì họ là những ông tổ giúp loài người, dạy loài người làm ăn sinh sống

ở Đông Nam á ta bắt gặp nhân vật văn hoá lên trời lấy thóc giống đem về mặt đất gieo trồng Điều đó phản ánh một hiện thực là văn hoá nông nghiệp hình thành, con người đã biết lấy lúa về để canh tác Những thần thoại còn lại đến ngày nay như Sự tích cây lúa, tục lệ thờ cúng cây lúa, các sản phẩm làm ra từ lúa (Sự tích Bánh chưng bánh dày của Việt Nam)

b, Văn học:

Từ đầu Công nguyên (thậm chí còn sớm hơn) cho đến nay, Đông Nam Á là nơi tiếp xúc và chịu ảnh hưởng của các nền văn hoá lớn như Ấn Độ, Trung Quốc,

Ả Rập, Ba Tư, Tây Âu 10 thế kỷ đầu sau Công nguyên, Đông Nam Á chịu ảnh hưởng của văn hoá Ấn Độ, văn hoá Trung Quốc qua các con đường, những cách thức khác nhau Người ấn Độ thâm nhập vào vùng Đông Nam á đem tới đây các tôn giáo (Bàlamôn giáo; Phật giáo ) và các loại hình văn hoá của Ấn Độ, trong đó

có văn học Các dân tộc ở Đông Nam Á đã tiếp thu một cách đầy sáng tạo các đề tài, cốt truyện, các phong cách nghệ thuật của Ấn Độ và biến cải nó cùng với vốn văn hoá của mình để rồi tạo nên những công trình điêu khắc kiến trúc đồ sộ như Bôrôbuđua; ĂngcoVat, những áng văn học đậm đà tính chất dân gian lấy từ Jataka, Panchatantra, Ramayana, Mahabrrahata Mối quan hệ qua lại giữa văn học nói và văn học viết là một trong những đặc trưng cơ bản của nền văn học Trung đại Đông Nam Á.Hầu như văn học Đông Nam Á đều hình thành hai bộ phận: văn học bằng tiếng vay mượn (Sanskrit, Pali, Hán, Ả rập, Tây Ban Nha) và văn học bằng tiếng dân tộc

10 thế kỷ đầu sau Công nguyên, các nước ở Đông Nam Á chưa có chữ viết, trong khi đó tôn giáo Ấn Độ và Phật giáo du nhập & phát triển ở các quốc gia Đông Nam Á Tiếng Pali, Sanskrit, tiếng Hán không những đóng vai trò ngôn ngữ trong truyền giáo mà còn đóng vai trò ngôn ngữ văn học ở các quốc gia Đông Nam

Á ban đầu các quốc gia ở Đông Nam Á đã vay mượn trực tiếp các chữ viết của ấn

Độ, Trung Quốc Sau đó cư dân Đông Nam á mới dựa trên những mẫu chữu đó để sáng tạo ra chữ viết riêng của mình Thứ chữ viết này chủ yếu dùng trong công việc hành chính ở các quốc gia cổ đại Đông Nam Điểm mốc văn học viết của Đông Nam Á bắt đầu khoảng thế kỷ XII-XIII, tuy có nước văn học viết xuất hiện sớm hơn và có nước văn học viết xuất hiện muộn hơn Đông Nam Á thực sự tạo ra nền văn học viết phải tính từ thế kỷ XIV trở đi Tuy nhiên, ranh giới giữa văn học viết

và văn học truyền miệng ở Đông Nam Á nhiều khi không rõ rệt Những tác phẩm văn học viết nổi tiếng lại chính là những tác phẩm văn học dân gian đã từng được lưu truyền qua các thế hệ và trở nên nổi tiếng Sau đó, văn học viết dân tộc ngày

Trang 4

càng phát triển, mang đậm tính dân tộc, đó chính là sự kế thừa, tiếp nối và sáng tạo văn học dân gian Văn học viết truyền thống của Đông Nam Á được nuôi dưỡng từ

ba nguồn lớn: văn học dân gian, văn học lịch sử, văn học nước ngoài Có thể nói không nơi nào sức sống của văn học dân gian mãnh liệt và bền vững như ở vùng Đông Nam Á này

3, Chữ viết:

Chữ viết xuất hiện ở ĐNA khá sớm, khoảng đầu công nguyên Ban đầu, hệ thống chữ viết của các quốc gia ĐNA được sử dụng dựa vào các chữ viết cổ của

Ấn Độ(chữ Phạn, Sanskrit, chữ Pali) và Trung Quốc (chữ Hán) Tuy nhiên, dù sao chữ Sanskrit hay chữ Pali, chữ Hán không chỉ là văn tự mà còn là ngoại ngữ, ngôn ngữ bác học cần cho việc viết văn bia hay bày tỏ ý nguyện với thần thánh, chỉ hợp với một số ít người trong xã hội Do đó, các học giả đã cải biên mẫu tự Sanskrit, mẫu tự Hán xây dựng một hệ thống chữ viết để ghi ngôn ngữ bản địa của mình Từ thế kỉ IV đến thế kỉ VII, lần lượt ra đời các chữ viết cổ riêng của các dân tộc ĐNA như: chữ Chăm cổ, Khmer cổ, Môn cổ, Pyu cổ, Mã Lai cổ, Miến cổ, Nôm của Việt Nam….đến thế kỉ XIII các hình thức cổ nhất của chữ Thái cũng ra đời Chữ Ấn Độ

cổ hay chữ Hán cổ vẫn được dùng song hành đến khoảng thế kỉ X trở đi mới được thay thế dần bằng chữ cổ bản địa Ngày nay, các quốc gia ở ĐNA đều sử dụng các dạng chữ Viết theo mẫu tự Latinh

4, Kiến trúc, điêu khắc:

a, Kiến trúc:

Kiến trúc Đông Nam Á chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của kiến trúc Ấn Độ (kiến trúc Hinđu và Phật giáo) và kiến trúc Hồi giáo Điển hình của kiểu kiến trúc Hinđu

ở Đông Nam Á là tháp Chàm ở Việt Nam và Ăngco Vát ở Campuchia Kiến trúc Phật giáo thì có thể được chia làm 2 loại: chùa hang và kiểu kiến trúc tháp -

Xtuppa Ở Đông Nam Á phổ biến là kiểu kiến trúc tháp Xtuppa điển hình là tổng thể kiến trúc Bôrôbuđua ở Inđônêxia và Thạt Luông ở Lào Kiểu kiến trúc chùa hang đào trong núi chưa gặp ở Đông Nam Á nhưng thờ Phật trong hang lại khá phổ biến Kiểu kiến trúc Hồi giáo vào Đông Nam Á muộn hơn và phổ biến ở những vùng mà Hồi giáo chiếm ưu thế Tuy nhiên, như trên đã nói, nghệ thuật kiến trúc Đông Nam Á chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của kiến trúc Ấn Độ, song không phải

là sự "rập khuôn" Trên nền chung của kiến trúc Ấn Độ, mỗi dân tộc, mỗi khu vực, thậm chí mỗi di tích kiến trúc lại có những nét riêng độc đáo của mình Khi nói tới những di tích kiến trúc nổi tiếng ở Đông Nam Á giai đoạn trước thế kỉ VIII không

Trang 5

thể không nói tới khu di tích Mỹ Sơn của người Chăm và tổng thể kiến trúc

Bôrôbuđua ở Inđônêxia

b, Điêu khắc:

Cũng như kiến trúc, việc tiếp nhận văn minh Ấn Độ trên cơ sở một nền văn minh bản địa đã phát triển làm nở rộ ở Đông Nam Á hàng loạt các nền điêu khắc nổi tiếng Song nhìn chung, các đề tài thường gặp, hầu hết mang tính chất tôn giáo

- ảnh hưởng của đạo Phật và đạo Hinđu Với những loại hình chủ yếu là các bức phù điêu - chạm nổi và tượng miêu tả Thần Phật và tượng thú vật

5, Lễ hội:

Lễ hội truyền thống của các nước Đông Nam Á đều tương đối giống nhau về nguồn gốc phát sinh và phát triển, về hình thức và nội dung cũng như về mặt cấu trúc của lễ hội: lễ hội của các nước Đông Nam Á đều gồm có 2 phần - phần lễ và phần hội - đan xen hòa quyện với nhau rất khăng khít Phần lễ bao gồm các nghi lễ của tín ngưỡng dân gian và các tôn giáo cùng với các đồ vật được sử dụng làm đồ cúng lễ mang tính thiêng liêng, được chuẩn bị rất nghiêm ngặt và chu đáo Thông qua các nghi lễ này con người giao cảm với thế giới siêu nhiên Phần hội bao gồm các trò vui, trò diễn và các diễn sướng dân gian Đó là các trò vui chơi giải trí, các đám rước, dân nhạc, dân ca, dân vũ Mức độ "lễ", "hội" của từng lễ hội cụ thể không giống nhau Lễ hội còn gắn liền và hòa quyện với phong tục tập quán riêng của mỗi dân tộc Các lễ hội phổ biến ở tất cả các dân tộc Đông Nam Á như Tết cổ truyền (người Việt - khoảng tháng hai; người Lào, Campuchia, Thái Lan đều vào trung tuần tháng tư dương lịch) Tết năm mới của người Lào còn được gọi là

Bunpincay hay hội té nước, mà thực chất là lễ hội đón mừng mùa mưa, cầu cho mưa thuận gió hòa để sản xuất nông nghiệp Ở Campuchia, Thái Lan hay Mianma

lễ hội năm mới cũng có ý nghĩa tương tự như vậy Ở Campuchia các lễ hội về đề tài nông nghiệp được tổ chức hầu như quanh năm, tháng nào cũng có: hội thả diều (lễ cầu nắng) vào tháng giêng, lễ đóng oản, lễ dâng lửa, hội ném cầu lửa vào tháng hai hoặc ba

Ngày đăng: 18/01/2022, 16:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w