Khủng hoảng tài chính Đông Á bắt đầu từ tháng 7/ 1997 tại Thái Lan sau đó lan rộng đến các thị trường chứng khoán, trung tâm tiền tệ lớn, và giá cả của một vài nước châu Á, trong đó bao
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
- -BÀI TẬP LỚN
Học phần: Kinh tế Vĩ mô
Đề tài: Cuộc khủng hoảng kinh tế Thái Lan 1997
Giảng viên hướng dẫn : TS Phan Trung Chính Sinh viên thực hiện : Đinh Hoàng Linh Mai
Ngày sinh : 31.07.2001
Hà Nội – Tháng 7/2021
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Đầu tiên, em xin được gửi lời cảm ơn đến trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội đã đưa môn Kinh tế Vĩ mô vào chương trình giảng dạy Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến giảng viên bộ môn Kinh tế Vĩ mô: TS Phan Trung Chính đã tận tâm giảng dạy, hỗ trợ cho em trong suốt thời gian học tập vừa qua Thầy không chỉ cho chúng em thật nhiều tri thức về bộ môn Kinh tế Vĩ mô, mà mỗi giờ học của thầy, chúng
em luôn cảm thấy vui vẻ, thoải mái để có thể tiếp thu được thật nhiều kiến thức bổ ích Hơn thế nữa, chúng em còn học tập được tinh thần làm việc hiệu quả, nghiêm túc và đúng giờ của thầy và cô Đó thực sự là những bài học bổ ích, giúp chúng em có một tâm thế vững vàng để trở thành những sinh viên ưu tú hơn cũng như những nhân viên
nghiêm chỉnh và làm việc hiệu quả trong tương lai gần
Bộ môn Kinh tế Vĩ mô là một môn học thú vị, khơi dậy được tính sáng tạo của sinh viên và luôn gắn liền với thực tiễn cuộc sống Trong quá trình học tập, em đã tiếp thu được rất nhiều tri thức hay và bổ ích, để phục vụ cho công việc của mình sau này Tuy nhiên, trong quá trình khảo sát và thu thập thông tin, em còn gặp một số khó khăn, cũng như do trình độ của bản thân còn hạn chế Vậy nên, bài tập lớn dưới đây của em khó tránh khỏi được những thiết sót, kính mong thầy xem xét, góp ý để bài tiểu luận của
em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 26 tháng 07 năm 2021
Sinh viên Đinh Hoàng Linh Mai
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Khủng hoảng kinh tế là vấn đề lớn nhất của kinh tế vĩ mô Nó liên tục diễn ra ở các quốc gia trên thế giới Khi gặp các vấn nạn liên quan đến khủng hoảng kinh tế, chính phủ các nước đều có xu hướng tìm cách vượt qua trong ngắn hạn, nhằm hướng tới tăng trưởng trong dài hạn Đồng thời, chính phủ các nước khác cần nhìn nhận, phân tích, đánh giá để
từ đó rút ra những bài học xương máu từ những cuộc khủng hoảng đi trước
Một trong những cuộc khủng hoảng kinh tế lớn trên thế giới, để lại hậu quả dai dẳng nhiều năm sau không chỉ đối với bản thân quốc gia đó mà còn cho toàn khu vực phải kể đến cuộc khủng hoảng kinh tế Thái Lan năm 1997 – phát triển từ cuộc khủng hoảng tài chính Đông Á Khủng hoảng tài chính Đông Á bắt đầu từ tháng 7/ 1997 tại Thái Lan sau
đó lan rộng đến các thị trường chứng khoán, trung tâm tiền tệ lớn, và giá cả của một vài nước châu Á, trong đó bao gồm những quốc gia được ví như là "những con Hổ Đông Á"
Sự kiện nhằm đánh dấu kết thúc một thời kỳ dài tăng trưởng trong suốt 13 năm và mở đầu cho một cuộc khủng hoảng mới – khủng hoảng tài chính tiền tệ và làm ảnh hưởng đến các thị trường chứng khoán, trung tâm tiền tệ lớn, và giá cả của những tài sản khác ở Thái Lan
và vài nước châu Á là sự kiện diễn ra vào tháng 7 năm 1997, khi cơ quan tiền tệ Thái Lan tuyên bố họ không có khả năng giữ giá đồng baht theo đồng đô la Mỹ nữa Trong tình hình đó, Thái Lan là một trong những nước bị ảnh hưởng mạnh nhất bởi cuộc khủng hoảng này: Người dân Thái phải hứng chịu một cuộc khủng hoảng kinh tế nặng nề, tác động đến mọi mặt trong cuộc sống, cũng như mọi tầng lớp trong xã hội
Có thể nói, hiểu được nguyên nhân và kết quả của khủng hoảng kinh tế cũng như tác động của các chính sách kinh tế vĩ mô mà chính phủ áp dụng để ứng phó với khủng hoảng kinh
tế/suy thoái kinh tế là việc làm rất cần thiết Vì vậy, em xin lựa chọn đề tài “Cuộc khủng
hoảng kinh tế Thái Lan năm 1997” làm đề tài phân tích và đánh giá.
Trang 4(Yt – Yt-1)
gt =
MỤC LỤC
CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1 CÁC KHÁI NIỆM LIÊN QUAN:
1.1 Tăng trưởng kinh tế:
•Tăng trưởng kinh tế (Economic growth) là sự gia tăng của tổng sản phẩm quốc nội
(GDP) hoặc tổng thu nhập quốc dân (GNP) trong một thời gian nhất định
Tăng trưởng kinh tế còn được định nghĩa là sự gia tăng mức sản xuất mà nền kinh
tế tạo ra theo thời gian.
•Tăng trưởng kinh tế được tính bằng phần trăm thay đổi của mức sản lượng quốc dân:
Trong đó: gt là tốc độ tăng trưởng tại thời kỳ t (gắn chặt với GDP)
Yt (hay GDPt) là sản lượng thực tế của thời kì t
Yt-1 (hay GDPt-1)là sản lượng thực tế của thời kì trước đó
1.2 Suy thoái kinh tế:
Suy thoái kinh tế (Recession hay Economic Downturn) là sự giảm mức sản xuất mà
nền kinh tế tạo ra theo thời gian Nền kinh tế lâm vào suy thoái khi GDP thực tế giảm
xuống trong khi thất nghiệp lại tăng lên
1.3 Khủng hoảng kinh tế:
Khủng hoảng kinh tế (Economic Crisis) chỉ sự suy giảm của tổng sản phẩm
quốc nội thực (GDPr) trong thời gian từ hai quý trở lên liên tiếp trong năm
• Nói cách khác, khủng hoảng kinh tế xảy ra khi tốc độ tăng trưởng kinh tế
âm liên tục trong hai quý.
• Theo Karl Marx, đó là một sự suy giảm các hoạt động kinh tế một cách trầm trọng và lâu dài hơn cả suy thoái trong chu kỳ kinh tế
2 NGUYÊN NHÂN DẪN TỚI KHỦNG HOẢNG KINH TẾ:
2.1 Nguyên nhân tổng thể:
Về mặt tổng thể, khủng hoảng kinh tế thường có 2 dạng chính: khủng hoảng theo chu kì
kinh tế (kinh doanh) và khủng hoảng do cú sốc cung (cầu).
2.1.1 Khủng hoảng theo chu kì kinh tế:
Chu kỳ kinh tế (kinh doanh) là sự giao động của GNP thực tế xung quanh xu hướng
tăng lên của sản lượng tiềm năng
• Nói cách khác, chu kì kinh tế là các biến động tăng - giảm của GDP giữa các giai đoạn tăng trưởng và suy thoái của một nền kinh tế xung quanh xu hướng tăng trưởng của nền kinh tế đó
• Trong giai đoạn suy thoái (trầm trọng nhất là khủng hoảng), hầu hết các hoạt động kinh tế đều không tránh khỏi bị suy giảm (ngoại lệ vẫn có một số lĩnh vực riêng lẻ có thể vẫn tăng trưởng)
Trang 52.1.2 Khủng hoảng do cú sốc cầu và cú sốc cung:
2.1.2.1 Cú sốc cầu:
Cú sốc cầu (Demand Shock) là một sự kiện diễn ra bất ngờ, tạm thời làm tăng hoặc
giảm nhu cầu đối với hàng hóa hoặc dịch vụ cụ thể
• Cú sốc này diễn ra khi tổng cầu bị đẩy lên quá cao, vượt mức sản lượng tiềm năng, dẫn đến hậu quả là khủng hoảng thừa, gây ra lạm phát
• Nói cách khác, khi đường tổng cung có độ dốc dương,các cú sốc ngoại sinh tác động đến tổng cầu sẽ gây ra sự dao động của sản lượng và mức giá Điều này thường được coi là tốn kém và không mong muốn
2.1.2.2 Cú sốc cung:
Cú sốc cung (Supply Shock) là một sự kiện diễn ra bất ngờ, làm thay đổi đột ngột nguồn
cung của sản phẩm hoặc hàng hóa, dẫn đến sự thay đổi không thể lường trước về giá
• Cú sốc này xảy ra do sự thay đổi giá cả các yếu tố đầu vào hay các nguồn lực trong nền kinh tế Khi một yếu tố đầu vào mang tính chất phổ biến tăng vọt sẽ dẫn đến tình trạng khan hiếm; hậu quả là giá đầu vào cũng tăng cao
• Cú sốc cung sẽ làm dịch chuyển đường tổng cung ngắn hạn sang trái kéo theo hiện tượng lạm phát đi kèm suy thoái
2.2 Nguyên nhân cụ thể:
•Do khủng hoảng tài chính:
- Thuật ngữ này được sử dụng nhằm mô tả các tình huống mà ở đó giá trị của một định chế tài chính hay tài sản tài chính sụt giảm nhanh chóng
- Thông thường thì xu hướng này đi kèm với hiện tượng rút vốn hàng loạt ở các ngân hàng do các nhà đầu tư bán tháo tài sản hay rút tiền vì lo sợ giá trị của các tài sản này rớt giá đột ngột
- Một số tình huống khác là sự sụp đổ của thị trường cổ phiếu, sự nổ tung của các bong bóng giá tài sản tài chính, và sự vỡ nợ quốc gia
- Dưới tác động của khủng hoảng tài chính, các hoạt động thương mại, đầu tư, tiêu dùng của mỗi quốc gia đều sụt giảm mạnh, dẫn tới nguy cơ suy thoái kinh
tế và khủng hoảng kinh tếcủa mỗi nước Thậm chí, nhiều nước lâm vào tình trạng phá sản cấp quốc gia
•Do khủng hoảng thừa (sản xuất thừa hàng hóa)
Khủng hoảng thừa xảy ra khi cung hàng hóa nhiều mà cầu không đủ khiến hàng hóa thừa thải hoặc nhu cầu vẫn có những người tiêu dùng không đủ tiền để mua hay thắt chặt chi tiêu Bản thân nó cũng là khủng hoảng kinh tế và kéo dài sẽ gây ra suy thoái
•Do khủng hoảng về chi phí tăng cao
•Do khủng hoảng tiền tệ
Khủng hoảng tiền tệ là sự sụt giảm mạnh về giá trị đồng tiền của một quốc gia
Sự suy giảm về giá trị này ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế bằng cách tạo ra những bất ổn trong tỷ giá hối đoái: một đơn vị tiền tệ đó không còn mua được nhiều thứ như trước hoặc không còn trao đổi được nhiều đồng tiền khác như trước nữa
3 Ảnh hưởng và tác động đến các biến số vĩ mô cơ bản:
Khủng hoảng kinh tế tác động đến nhiều biến số vĩ mô, trong đó có 4 biến số cơ bản gồm: sản lượng GDP, thất nghiệp, lạm phát và xuất – nhập khẩu
Trang 63.1 Sản lượng GDP:
Tổng sản phẩm quốc nội GDP là thước đo để đánh giá tốc độ tăng trưởng kinh tế của
một quốc gia Sự suy giảm chỉ số GDP sẽ có tác động xấu đến nền kinh tế và có thể dẫn đến các tình trạng kinh tế suy thoái, lạm phát, thất nghiệp, đồng tiền mất giá, …
3.2 Thất nghiệp:
Thất nghiệp liên quan đến toàn dụng nguồn nhân lực: Khi toàn dụng nguồn nhân lực sẽ đạt được mức sản lượng toàn năng Yp Tại đó có tỉ lệ thất nghiệp tự nhiên:
• Tỉ lệ thất nghiệp tự nhiên dạng tích cực sẽ tạo động lực cho kinh tế phát triển
• Cứ tăng 1% thất nghiệp so với thất nghiệp tự nhiên thì GDP giảm tương ứng 2,5% Chính vì vậy, tỉ lệ thất nghiệp là số đo khá rõ nét về suy giảm sản lượng khi xảy ra khủng hoảng hoặc suy thoái kinh tế
3.3 Lạm phát:
• Tỉ lệ lạm phát càng cao thì càng gây ra biến động lớn về kinh tế trong suy thoái và khủng hoảng, làm rối loạn các quan hệ kinh tế Khi đó có càng nhiều doanh nghiệp phá sản, dẫn đến sụt giảm sản lượng
• Khi cắt giảm 1% lạm phát thực tế so với lạm phát vừa phải, GDP sẽ giảm tới 5%
3.4 Xuất – Nhập khẩu:
Về mặt lý thuyết, khi khủng hoảng, suy thoái diễn ra, sản lượng thấp, thì xuất khẩu sẽ
giảm xuống, và nhập khẩu tăng lên, dễ dẫn đến nhập siêu và mất cân bằng cán cân thương mại
Xuất khẩu ròng (NX) (Cán cân thương mại) được tính bằng hiệu của xuất khẩu với nhập
khẩu: NX = X - M
4 Các mô hình lý thuyết có thể áp dụng cho việc chính phủ sử dụng các
chính sách kinh tế vĩ mô nhằm khôi phục nền kinh tế:
Nhằm chống biến động kinh tế và suy giảm kinh tế trong ngắn hạn, người ta thường sử dụng các mô hình sau:
4.1 Mô hình IS– LM:
• Thực chất, đây là mô hình cân bằng tổng thể hàng – tiền
• Với điều kiện: IS = LM
- Đường IS được hình thành tù sự cân bằng thị trường hàng hóa: Y=AE
(Khi tập hợp các tổ hợp khác nhau giữa lãi suất và thu nhập phù hợp với sự cân
bằng của thị trường hàng hóa, ta sẽ được đường IS)
Công thức: IS = a – br = Y
(với Y là sản lượng cân bằng hàng của thị trường hàng hóa)
- Đường LM được hình thành từ sự cân bằng của thị trường tiền tệ: MD=MS
(Khi tập hợp các tổ hợp khác nhau giữa lãi suất và thu nhập phù hợp với cân bằng của thị trường tiền tệ, ta sẽ được đường LM)
Công thức: LM = c + DY = r
(với r là lãi suất cân bằng của thị trường tiền)
• Nguyên lý dịch chuyển:
- Nguyên lí dịch chuyển của IS:
+ r thay đổi -> trượt dọc IS
+ AD tăng -> dịch chuyển song
song IS sang phải
AD giảm -> dịch chuyển song
- Nguyên lí dịch chuyển của LM:
+ r thay đổi -> trượt dọc LM
+ MS tăng -> dịch chuyển song song sang phải
MS giảm -> dịch chuyển song song sang
Trang 7song IS sang trái
+ G tăng, T giảm -> dịch chuyển
song song IS sang phải
G giảm, T tăng -> dịch chuyển
song song IS sang trái
trái
+ Bất cứ yếu tố nào như tỉ lệ dự trữ quá mức, tỉ lệ dự trữ bắt buộc, tỉ lệ tiền trong dân cư so với tiền gửi trong ngân hàng thay đổi -> MS thay đổi
->LM dịch chuyển
•Suy thoái diễn ra khi YCB < Yp , nên nhằm đạt mục đích ổn định lãi suất tiền tệ r, YCB =
Yp, thường sử dụng giải pháp kết hợp cả hai chính sách tiền tệ và tài khóa rộng mở để tăng sản lượng:
- Khi ngân hàng nhà nước mua trái phiếu trên thị trường mở, giảm tỉ lệ dự trữ bắt buộc và giảm lãi suất chiết khấu, đường LM dịch chuyển song song sang phải
- Khi G tăng, đồng thời thuế (T) giảm, đường IS sẽ dịch chuyển song song sang phải
- Cần ổn định thị trường tiền tệ (r) bởi nếu sử dụng cả 2 chính sách thay đổi r và thay đổi sản lượng thì r sẽ tác động ngay tới đầu tư Y của doanh nghiệp, làm thay đổi tổng cầu AD, dẫn tới thay đổi chiến lục IS; gây phản tác dụng đối với chính sách tài khóa mở rộng
4.2 Mô hình AD – AS ngắn hạn (mô hình tổng cung – tổng cầu):
MÔ HÌNH TỔNG CẦU AD MÔ HÌNH TỔNG CUNG AS
Khái
niệm
- Là đòi hỏi của các tác nhân
trong xã hội về các loại hàng
hoá và dịch vụ ở mỗi mức giá
chung
- Toàn bộ các hàng hoá dịch vụ
được mua:
+ Hàng tiêu dùng cá nhân
+ Hàng đầu tư
+ Hàng hoá công cộng
- Là tổng khối lượng hàng hoá mà các doanh nghiệp trong nước mong muốn và có khả năng cung cấp tương ứng với mỗi mức giá chung
- Là sản lượng thực tế
- Tổng cung dài hạn và ngắn hạn
Cơ sở
hình
thành
Cân bằng tổng thể hàng - tiền Mức giá chung và khối lượng hàng hoá
Phương
trình
AD = C + I + G + NX
C: Tiêu dùng của các hộ gia
đình
I: Đầu tư của doanh nghiệp
G: Chi tiêu của Chính phủ
NX = X – M: Xuất khẩu ròng
Y = Y* + a(P – Pe)
Y: sản lượng thực tế Y*=Yp=hằng số: sản lượng tiềm năng P: mức giá thực tế
Pe: mức giá kỳ vọng a: hệ số nhạy cảm giữa giá cả và giá thực tế
Đồ thị
- Xây dựng trên cơ sở Mức cung
tiền cho trước
- Độ dốc âm, dốc xuống
- Nguyên nhân:
+ Hiệu ứng Của cải
+ Hiệu ứng Lãi suất
+ Hiệu ứng Tỷ giá
- Trong dài hạn là đường thẳng đứng tại mức sản lượng tiềm năng Yp
- Trong ngắn hạn, độ dốc dương, dốc lên trên Nguyên nhân (4 mô hình):
+ Lý thuyết tiền lương cứng nhắc + Mô hình giá cả cứng nhắc + Lý thuyết về nhận thức sai lầm của công nhân
+ Lý thuyết thông tin hoàn hảo Nguyên
lí dịch
chuyển
song
song
- Các yếu tố của AD (C, I, T, G,
NX)
+ Tăng: C, I, G, NX
+ T giảm
- Thay đổi cung tiền
- Các yếu tố dịch chuyển tổng cung trong dài hạn cũng như trong ngắn hạn
+ Tư bản (K) + Lao động (L) + Tài nguyên thiên nhiên (R)
Trang 8- Kì vọng
- Thị trường thế giới + Công nghệ (T) + Phát hiện tài nguyên mới
•Trong ngắn hạn, nếu mức giá dự báo P* gần đúng với mức giá thực tế P thì đường tổng cùng thoải, gần như nằm ngang Đây là điều kiện tốt để kinh tế có động lực phát triển
- Ngược lại, nếu mức giá dự báo P* chênh lệch lớn với mức giá thực tế P thì đường tổng cung có độ dốc Độ dốc của đường tổng cung ngắn hay dài phụ thuộc vào mức giá dự báo lệch nhiều hay ít so với mức giá thực tế
- Với đường tổng cung ít dốc, kết hợp thay đổi tổng cầu trong ngắn hạn có gây ra biến động nhưng là biến động rất nhỏ về giá và rất lớn về số lượng, tới mức có thể gây ra lạm phát
- Như vậy, theo mô hình 1 thì không có sự biến động trong ngắn hạn Nhưng thực
tế lại có biến động, dẫn đến suy thoái và khủng hoảng Vì vậy đường AS dài hạn không thể nằm ngang
•Với mô hình AD – AS, khủng hoảng xảy ra khi có sốc cung và sốc cầu
- Nhằm giải quyết khủng hoảng kinh tế do sốc cung, sốc cầu, thường sử dụng chính sách chống biến động kinh tế trong ngắn hạn Vì đường AD dễ thay đổi hơn đường AS, do đó chính sách tác động lên AS chậm hơn và chủ yếu tác động đến AD
- 2 trường hợp sử dụng chính sách chống biến động với AD:
+ Khi Y<Yp: phương pháp chung: tăng mức cung tiền Tức là sử dụng đồng thời
2 chính sách tài khoá mở rộng và tiền tệ mở rộng nhằm kích cầu
+ Khi Y>Yp: phương pháp chúng: giảm mức cung tiền Tức là sử dụng kết hợp
2 chính sách tài khoá thắt chặt và tiền tệ thắt chặt
4.3 Mô hình chống lạm phát và thất nghiệp trong ngắn hạn (đường cong
Phillips):
• Lạm phát và thất nghiệp là 2 yếu tố gây biến động lớn, là biểu hiện của suy thoái
và khủng hoảng kinh tế
• Theo đường Phillips, lạm phát và thất nghiệp có quan hệ tỉ lệ nghịch:
- Đường Phillips chỉ ra rằng không thể có bất kì điểm nào thỏa mãn cả thất nghiệp
và lạm phát đều thấp: Bằng sách sử dụng các chính sách tài khóa và tiền tệ mở rộng thì có thể cắt giảm được thất nghiệp nhưng đồng thời phải chấp nhận lạm phát cao hơn Ngược lại nếu thắt chặt các chính sách tiền tệ và tài khóa sẽ cho phép cắt giảm lạm phát, nhưng đồng thời phải chấp chận tỉ lệ thất nghiệp cao hơn
- Vì vậy, cần chống lạm phát trước Khi AD có thuyết kỳ vọng hợp lí thì thất nghiệp sẽ không tăng hoặc tăng rất ít
5 Những chính sách kinh tế vĩ mô gì để khôi phục kinh tế:
5.1 Chính sách gợi mở tài khóa:
Chính sách tài khóa chỉ việc Chính phủ điều tiết mức chi tiêu chung của nền kinh tế bằng
cách sử dụng thuế tài khóa và chi tiêu công cộng
Trong điều kiện nền kinh tế có dấu hiệu của suy thoái hay sự phát triển quá mức (còn gọi
là phát triển nóng) thì nó lại được sử dụng như là một công cụ để giúp đưa nền kinh tế về trạng thái cân bằng
Trang 95.2 Chính sách tiền tệ:
Chính sách tiền tệ là chính sách được thực hiện bởi Ngân hàng Trung Ương nhằm ổn
định nền kinh tế và thúc đẩy tăng trưởng và phát triển (cụ thể là ổn định giá cả, tăng trưởng GDP, giảm thất nghiệp) bằng cách sử dụng các công cụ của hoạt động tín dụng và ngoại hối để ổn định tiền tệ
5.3 Chính sách kinh tế đối ngoại:
Chính sách kinh tế đối ngoại gồm các quan điểm, nguyên tắc, công cụ và phương pháp
mà Nhà nước sử dụng để quản lí các hoạt động kinh tế đối ngoại của quốc gia nhằm đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội trong từng thời kì
CƠ SỞ THỰC TẾ
Trong bài thu hoạch này, dựa vào cơ sở lý thuyết đã nêu trên, tôi lựa chọn trường hợp của cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1997 của Thái Lan làm cơ sở thực tế để phân tích
Trang 10MÔ TẢ TÌNH HUỐNG
Năm 1997, kinh tế Thái Lan lâm vào tình trạng trì trệ Ngày 2/7/1997, Thái Lan quyết định thả nổi đồng bath, đánh dấu cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ dẫn đến khủng hoảng kinh tế ở Thái Lan và một số nước Đông Nam Á Trong những năm 1997-1998, nền kinh
tế Thái Lan bị suy giảm nghiêm trọng tăng trưởng GDP giảm xuống 0,4%/1997 và
-10,5%/1998; giá trị đồng baht giảm từ 26 bath/1USD xuống 45 baht/1USD; nợ nước ngoài trên 95 tỷ USD (trong đó khu vực tư nhân nợ 74 tỷ USD, nợ ngắn hạn 34,9 tỷ USD,
nợ khó đòi khoảng 35 tỷ USD); 58 công ty tài chính phải ngừng hoạt động
Cuộc khủng hoảng tài chính 1997 đã tác động sâu sắc đến các hoạt động xã hội bởi trên 7.550 cơ sở sản xuất trong cả nước phải ngừng hoạt động (riêng Băng - cốc trên 5.000); nhiều ngành sản xuất bị ngưng trệ, nhất là các ngành dệt, xây dựng, kinh doanh nhà đất, lắp ráp ô tô nhiều dự án, kế hoạch bị chậm lại, hoặc tạm dừng như khu chế xuất ở Chỗn-bu-ri, Ra-dông, khoảng 2 triệu người bị thất nghiệp Thủ tướng Chao-va-lít phải từ chức
NGUYÊN NHÂN
Thời kỳ công nghiệp hóa đất nước ở Thái Lan bắt đầu từ năm 1961, khi đồng thời kế hoạch phát triển năm năm lần thứ nhất được tiến hành Thái Lan khi ấy có tốc độ tăng trưởng GDP khá ổn định: khoảng 8%/năm trong thập niên 60, khoảng 7%/năm trong thập niên 70 và khoảng 8%/năm trong thập niên 80 Như vậy, nhìn vào tốc độ tăng trưởng GDP của Thái Lan suốt hơn ba thập kỷ từ 1961 đến 1996, tốc độ GDP bình quân hàng năm luôn tăng Thái Lan lúc này được cả thế giới khâm phục và ví như một “con hổ của châu Á” Tuy nhiên, do quá phụ thuộc vào vay nợ từ nước ngoài để tài trợ cho doanh nghiệp trong nước, cũng như xuất khẩu bị kìm hãm, nhập khẩu được khuyến khích khi tỷ giá danh nghĩa gần như cố định (25 Baht/USD), lạm phát trong nước cao hơn so với ở Mỹ làm cho đồng Baht bị lên giá so với đồng USD, Thái Lan dần bước vào cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ nghiêm trọng
Cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1997 của Thái Lan là hậu quả của cuộc khủng hoảng tiền
tệ và cuộc khủng hoảng tài chính Khi cuộc khủng hoảng tiền tệ ở Thái Lan lan rộng ra các nước Đông Nam Á và sang Hàn Quốc thì cuộc khủng hoảng tiền tệ đã trở thành một cuộc khủng hoảng tài chính Cuộc khủng hoảng tài chính này lại biến thành cuộc khủng hoảng kinh tế Ở Thái Lan, quá trình chuyển đổi này hầu như không bị gián đoạn, thậm chí còn được thúc đẩy bởi các cuộc khủng hoảng ở các lĩnh vực khác đi kèm
- Sự rối loạn về tài chính tiền tệ và hoạt động đầu cơ tiền tệ không thể kiểm soát được Chính phủ Thái Lan đã thực hiện cùng lúc chính sách hồi đoại cố định và chính sách mở cửa thị trường cho vốn nước ngoài tràn vào tự do trong khi ng nước ngoài chồng chất (gần
100 tỷ USD), khiến cho giá đồng Baht giảm mạnh, dự trữ ngoại tệ giảm sút mạnh
- Khủng hoảng trong việc điều hành của chính phủ sử dụng nguồn vốn vay của nước ngoài Lợi dụng nguồn vốn đầu tư nước ngoài chảy vào Thái Lan ồ ạt, một số chính trị gia
đã vay một lượng lớn ngoại tệ với lãi suất thấp để đầu cơ vào các địa ốc, khách sạn và các công ty tài chính nhằm thu lợi cho cả nhân,