MỞ ĐẦU Ngày nay, cải cách hành chính là vấn đề mang tính toàn cầu. Cả các nước đang phát triển và các nước phát triển đều xem cải cách hành chính như một động lực mạnh mẽ để thúc đẩy tăng trường kinh tế, phát triển dân chủ và các mặt khác của đời sống xã hội. Trong những năm gần đây (thập kỷ 80 và đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX) rất nhiều nước trên thế giới đặt vấn đề xem xét lại khu vực công về quy mô và khả năng điều hành sự phát triển của đất nước, đặc biệt một số nước như Anh, Mỹ. Những nước này đã đưa ra mô hình Quản lý công mới thay thế cho mô hình Hành chính công truyền thống, đánh dấu cho bước phát triển của cải cách hành chính trên thế giới. Và đã mang lại những kết quả tương đối khả quan. Việt Nam,cải cách hành chính là một chủ trương rất lớn, là một công việc rất hệ trọng tác động lớn trong quá trình xây dựng và đổi mới đất nước, nhất là khi đất nước đã hội nhập kinh tế quốc tế thì “Cải cách hành chính để phát triển và hội nhập” càng trở nên bức bách ..Với các nước phát triển đã áp dụng mô hình quản lý công mới và đã mang lại những kết quả tương đối khả quan, thì đối với nước ta một nước đang phát triển (ở trình độ thấp), thì khả năng vận dụng mô hình này là có thể hay không. Đây là vấn đề nóng hổi, mang tính thời sự và được nhiều nhà nghiên cứu, độc giả quan tâm. Vậy thì, mô hình quản lý công mới là gì? Nó có những đặc điểm gì mới, nổi bật và ưu thế hơn so với hành chính công truyền thống? Và khả năng vận dụng các yếu tố của mô hình này vào việc cải cách hành chính ở Việt Nam như thế nào? Chính vì những lý do cấp thiết trên mà tôi chọn đề tài: “Phân tích khả năng vận dụng các yếu tố của mô hình quản lý công mới (NPM) vào cải cách hành chính ở Việt Nam” làm tiểu luận điều kiện kết thúc Học phần: “Hành chính so sánh”.
Trang 1MỞ ĐẦU
Ngày nay, cải cách hành chính là vấn đề mang tính toàn cầu Cả cácnước đang phát triển và các nước phát triển đều xem cải cách hành chính nhưmột động lực mạnh mẽ để thúc đẩy tăng trường kinh tế, phát triển dân chủ vàcác mặt khác của đời sống xã hội
Trong những năm gần đây (thập kỷ 80 và đầu thập kỷ 90 của thế kỷXX) rất nhiều nước trên thế giới đặt vấn đề xem xét lại khu vực công về quy
mô và khả năng điều hành sự phát triển của đất nước, đặc biệt một số nướcnhư Anh, Mỹ Những nước này đã đưa ra mô hình Quản lý công mới thay thếcho mô hình Hành chính công truyền thống, đánh dấu cho bước phát triển củacải cách hành chính trên thế giới Và đã mang lại những kết quả tương đốikhả quan
Việt Nam,cải cách hành chính là một chủ trương rất lớn, là một côngviệc rất hệ trọng tác động lớn trong quá trình xây dựng và đổi mới đất nước,
nhất là khi đất nước đã hội nhập kinh tế quốc tế thì “Cải cách hành chính để phát triển và hội nhập” càng trở nên bức bách..Với các nước phát triển đã ápdụng mô hình quản lý công mới và đã mang lại những kết quả tương đối khảquan, thì đối với nước ta- một nước đang phát triển (ở trình độ thấp), thì khảnăng vận dụng mô hình này là có thể hay không Đây là vấn đề nóng hổi,mang tính thời sự và được nhiều nhà nghiên cứu, độc giả quan tâm
Vậy thì, mô hình quản lý công mới là gì? Nó có những đặc điểm gìmới, nổi bật và ưu thế hơn so với hành chính công truyền thống? Và khả năngvận dụng các yếu tố của mô hình này vào việc cải cách hành chính ở ViệtNam như thế nào? Chính vì những lý do cấp thiết trên mà tôi chọn đề tài:
“Phân tích khả năng vận dụng các yếu tố của mô hình quản lý công mới (NPM) vào cải cách hành chính ở Việt Nam” làm tiểu luận điều kiện kết
-thúc Học phần: “Hành chính so sánh”.
Trang 2CHƯƠNG I:
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH
THEO MÔ HÌNH QUẢN LÝ CÔNG MỚI (NPM) 1.1 Một số khái niệm liên quan
1.1.1 Khái niệm cải cách hành chính
Nói đến cải cách là nói đến việc thay đổi cơ bản một trạng thái, một đốitượng, làm cho đối tượng đó có sự biến đổi phù hợp với yêu cầu khách quancủa quá trình phát triển, làm cho nó tốt hơn theo nhu cầu của con người
Cải cách hành chính là một sự thay đổi có kế hoạch, theo một mục tiêunhất định, được xác định bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền; Cải cách hànhchính không làm thay đổi bản chất của hệ thống hành chính, mà chỉ làm cho
hệ thống này trở nên hiệu quả hơn, phục vụ nhân dân được tốt hơn so vớitrước, chất lượng các thể chế quản lý nhà nước đồng bộ, khả thi, đi vào cuộcsống hơn, cơ chế hoạt động, chức năng, nhiệm vụ của bộ máy, chất lượng độingũ cán bộ, công chức làm việc trong các cơ quan nhà nước sau khi tiến hànhcải cách hành chính đạt hiệu quả, hiệu lực hơn, đáp ứng yêu cầu quản lý kinh
tế – xã hội của một quốc gia; Cải cách hành chính tuỳ theo điều kiện của từngthời kỳ, giai đoạn của lịch sử, yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội của mỗi quốcgia, có thể được đặt ra những trọng tâm, trọng điểm khác nhau, hướng tớihoàn thiện một hoặc một số nội dung của nền hành chính, đó là tổ chức bộmáy, đội ngũ cán bộ, công chức, thể chế pháp lý, hoặc tài chính công v.v
1.1.2 Khái niệm quản lý công mới
Mô hình Quản lí công mới (New Public Management – NPM), về bảnchất, là một cách tiếp cận mới đối với hành chính công truyền thống Mục tiêuchính của NPM là nhằm nâng cao chất lượng của hoạt động quản lí nhà nước,hướng tới xây dựng một nền hành chính năng động, linh hoạt trong điều hành,giám sát và quản lí các chủ thể khác nhau của xã hội nhằm phục vụ tốt hơn các
Trang 3quyền và lợi ích của khu vực công cộng Và vì thế, NPM đặc biệt quan tâm tớihiệu quả tác động cũng như mức độ ảnh hưởng của nền hành chính đối với xãhội - điều mà nền hành chính công truyền thống quan liêu trước đây bỏ ngỏ Yếu
tố không phải là mới, song lại được NPM đề cao đó là chức năng phục vụ mộtcách chuyên nghiệp của bản thân nền hành chính và đặc biệt là sự kết hợp, hợptác của cả hai khu vực công và tư trong điều hành hành chính
1.2 Nguyên nhân, sự ra đời của mô hình quản lý công mới
Mô hình quản lý công mới ra đời vào những năm 80 của thế kỷ XX ởcác nước phát triển, trước hết là ở Anh và Mỹ, và hiện nay được áp dụngtương đối rộng rãi ở các nước này Những người đưa ra ý tưởng này và ápdụng vào thực tiễn hành chính là Magerete Thatcher – Thủ tướng Anh vàRonald Reagan – Tổng thống Mỹ vào những cuối thập niên 70, đầu thập niên
80 của thế kỷ XX
Sự ra đời của mô hình quản lý công mới xuất phát từ những nguyênnhân khác nhau:
Thứ nhất, Qua một thời gian dài áp dụng mô hình hành chính công
truyền thống ở rất nhiều quốc gia khác nhau, mặc dù đã mang lại kết quả nhấtđịnh, bảo đảm hiệu lực cho quản lý hành chính nhưng cũng ngày càng bộc lộnhững hạn chế của nó như: mức độ quan liêu cao, bộ máy cồng kềnh, quátrình hoạt động cứng nhắc, thiếu linh hoạt, hiệu quả thấp… Vì vậy cần xemxét lại vai trò của Chính phủ
Thứ hai, Do sự khủng hoảng tài chính công ở hầu hết các quốc gia phát
triển Tăng thuế là giải pháp cần thiết để làm tăng nguồn thu cho nhà nước,giúp giảm thâm hụt ngân sách, nhưng lại khiến cho quần chúng không hàilòng và do đó có thể ảnh hưởng tới sự ổn định của Chính phủ Để giải quyếttình trạng khủng hoảng tài chính công này, các nhà tư bản cần tìm kiếm giảipháp tăng cường hiệu quả hoạt động của mình, đồng thời hạn chế bớt các hoạt
Trang 4Thứ ba, Quá trình toàn cầu hóa dẫn đến việc phải nâng cao năng lực
cạnh tranh của quốc gia với quốc tế, khu vực tư và khu vực công, giữa nhữngngười thực thi công vụ trong tổ chức Và đặt hành chính công dưới nhữngthách thức mới, buộc các chính phủ phải vận động nhanh nhạy hơn, đáp ứngtốt hơn các nhu cầu cạnh tranh trên phạm vi toàn cầu
Thứ tư, Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ phát triển như vũ bão
trong thế kỷ XX khiến cho hành chính công cũng thay đổi Việc ứng dụng cácthành tựu khoa học và công nghệ vào quản lý nhà nước đặt hoạt động của cả
bộ máy hành chính và của mỗi công chức trong bối cảnh mới
Thứ năm, Do sự phát triển năng động của khu vực tư nhân ở các nước
phát triển, ngày càng mở rộng các hoạt động của mình, tăng cường vai trò vàkhả năng trong việc cung cấp các hàng hóa và dịch vụ cho xã hội và ngàycàng gây nhiểu sức ép lên khu vực công và buộc khu vực công phải thay đổicách thức quản lý để có thể đạt hiệu lực và hiệu quả cao hơn
Thứ sáu, Xu hướng dân chủ hóa đời sống xã hội do trình độ dân trí
ngày càng được nâng cao, đòi hỏi Nhà nước phải điều chỉnh nền hànhchính nhà nước thích ứng, chuyển từ hành chính “cai trị” sang hành chính
“phục vụ”
Trang 5CHƯƠNG II:
CÁC YẾU TỐ CỦA MÔ HÌNH QUẢN LÝ CÔNG MỚI (NPM)
VÀ KHẢ NĂNG VẬN DỤNG CÁC YẾU TỐ ĐÓ VÀO
CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH Ở VIỆT NAM 2.1 Khả năng vận dụng mô hình quản lý công mới ở các nước đang phát triển
Mô hình quản lý công mới đã được triển khai ứng dụng ở hầu hết cácnước phát triển và mang lại những kết quả tương đối khả quan Đã có nhiềunghiên cứu trong lĩnh vực hành chính so sánh nhằm mục đích vận dụng môhình này ở các nước chuyển đổi và các nước đang phát triển Tuy nhiên, thực
tế chỉ ra rằng mô hình này khó vận dụng một cách trọn vẹn ở các nước đangphát triển và chuyển đổi do sự khác biệt về đặc điểm phát triển của các nềnhành chính, về chính trị, thực trạng của hệ thống pháp luật và nhiều yếu tốmôi trường khác như văn hóa và truyền thống hành chính…
Mặc dù vậy, mục đích của mọi cuộc cải cách hành chính ở bất kỳ nướcnào cũng đều hướng tới việc nâng cao hiệu lực và hiệu quả của hoạt độnghành chính nên việc nghiên cứu, vận dụng các yếu tố nhất định của mô hìnhquản lý công mới vào thực tiễn cải cách hành chính ở mỗi nước là điều có thể.Việt Nam cũng không ngoại lệ
Việt Nam cũng là một nước đang phát triển (ở trình độ thấp) và đangtrong tiến trình đẩy mạnh cải cách hành chính, hội nhập ngày càng sâu rộng vàonền kinh tế của thế giới Để hội nhập thành công, ngoài sự quyết tâm về mặtchính trị, Việt Nam cần phải tự xây dựng mô hình quản lý có hiệu quả Và để cóthể áp dụng quản lý công mới trong điều kiện Việt Nam, chúng ta cần có sự tínhtoán đầy đủ và sâu sắc trên nhiều chiều hướng, trên nhiều lĩnh vực và phươngdiện khác nhau Cần căn cứ vào đặc trưng thể chế nhà nước và đặc thù chính trị,kinh tế, văn hoá, xã hội ở các giai đoạn lịch sử khác nhau để đảm bảo tính thích
Trang 6ứng của hành chính công Hội nhập và học tập là quan trọng, song đảm bảo ổnđịnh và phát triển trong điều kiện hội nhập còn quan trọng hơn nhiều.
2.2 Các yếu tố của mô hình quản lý công mới và khả năng vận dụng các yếu tố đó vào công cuộc cải cách hành chính ở Việt Nam hiện nay
2.2.1 Yếu tố tư nhân hóa một số nhiệm vụ của nhà nước và khả năng vận dụng vào CCHC ở Việt Nam
2.2.1.1 Tư nhân hóa một số nhiệm vụ của nhà nước
Tư nhân hoá chính là cách thức huy động mọi nguồn lực trong xã hộitham gia vào quản lí và phát triển đất nước, giải quyết các vấn đề xã hội thôngqua các hình thức đa dạng như đấu thầu, hợp đồng công vụ, hợp đồng laođộng, cổ phần hoá, tập đoàn hoá Bản chất tối ưu của tư nhân hoá là nhằmnâng cao tính cạnh tranh trong thực thi công vụ, cung cấp dịch vụ công chokhu vực công cộng - yếu tố mà trước đây chưa từng được thừa nhận trong khuvực nhà nước
2.2.1.2 Khả năng vận dụng vào CCHC ở Việt Nam
Tư nhân hóa là quá trình mở cửa một ngành hay một lĩnh vực thuộc sởhữu nhà nước, do Nhà nước nắm độc quyền, cho khu vực phi nhà nước (tưnhân, cộng đồng, thành phần nước ngoài…) tham gia với nhiều hình thức
Vấn đề tư nhân hoá, theo quan điểm của nhiều nhà nghiên cứu quốc tế,không chỉ là con đường nâng cao hiệu quả mà còn giúp nền hành chính tránhthực hiện quá nhiều chức năng, nhiệm vụ và gặp khó khăn trong việc đáp ứngyêu cầu ngày càng cao của công dân Ở đây, không chỉ đơn thuần là việcchuyển sở hữu công thành sở hữu tư mà còn bao hàm nhiều hình thức như đấuthầu, hợp đồng công vụ, hợp đồng lao động, cổ phần hoá, tập đoàn hoá nhằmtinh giản bộ máy tổ chức, nâng cao tính cạnh tranh trong thực thi công vụ Tưnhân hoá còn được nhiều học giả coi là cách thức phát huy mọi nguồn lực
Trang 7tham gia phát triển đất nước, giải quyết các vấn đề xã hội Theo ý nghĩa này,
tư nhân hoá có thể coi là một nội dung của xã hội hoá
Tư nhân hóa đã được thực hiện khá thành công ở các nước phát triểnkhi các nước này áp dụng mô hình quản lý công mới Sự thành công khi ápdụng yếu tố tư nhân hóa của mô hình này của các nước phát triển là do cácnước này có nền kinh tế - xã hội phát triển, đồng nghĩa với nó là khu vựccông của các nước này cũng rất phát triển về mọi mặt và nó đáp ứng đượcnhững yêu cầu và nhiệm vụ mà khu vực công chuyển giao cho nó thực hiện.Đây là một điều kiện rất quan trọng, bởi nếu khu vực công chưa phát triển,chưa đủ năng lực và khả năng thì không thể đáp ứng yêu cầu thực hiện cácnhiệm vụ mà nhà nước chuyển giao, và tất nhiên yếu tô tư nhân hóa cũngkhông thể thành công được khi áp dụng mô hình quản lý công mới
Như chúng ta đã biết, Việt Nam là một nước đang phát triển (ở trình độthấp), thực tế này cho thấy khu vực tư của chúng ta chưa thể phát triển, chưa
đủ năng lực và khả năng như các nước phát triển để đảm nhận tất cả nhữngnhiệm vụ, cung cấp các dịch vụ do nhà nước chuyển giao cho Vì vậy khảnăng áp dụng yếu tố tư nhân hóa ở Việt Nam không thể nói là không thểnhưng cũng vô cùng khó khăn và không hề dễ dàng
Bên cạnh đó, trong điều kiện thực tế của Việt Nam là một nước xã hộichủ nghĩa, hành chính công không chỉ bao gồm hoạt động của các cơ quanhành pháp, mà trong hầu hết trường hợp còn gồm cả hoạt động của các cơquan đảng và đoàn thể chính trị - xã hội nữa, vì vậy nó mang tính chính trị sâusắc và chịu sự lãnh đạo thống nhất của Đảng cộng sản Việt Nam Vì vậy, cónhững công việc, nhiệm vụ mà các nước phát triển, các nước tư bản có thểchuyển giao cho tư nhân thực hiện nhưng ở Việt Nam tư nhân hóa chỉ có thểthực hiện được ở một số ngành, lĩnh vực nhất định chứ không thể như cácnước phát triển và các nước tư bản được Điều này để đảm bảo đúng địnhhướng chính trị và sự lãnh đạo thống nhất của Đảng Do vậy, việc áp dụng
Trang 8yếu tố tư nhân hóa trong cải cách hành chính ở Việt Nam sẽ có những điểmkhác biệt, đặc thù nhất định.
Tuy khu vực tư nước ta chưa phát triển mạnh nhưng vẫn có thể vậndụng các phương pháp và kỹ thuật quản trị kinh doanh như: hướng dẫn, phốihợp, đánh giá theo kết quả đầu ra, kiểm soát theo chu trình quản lí chất lượng,khuyến khích vật chất, động viên tinh thần và một số nghệ thuật quản lý conngười để nâng cao hiệu quả công vụ
Ở nước ta, tư nhân hoá được hiểu là chuyển giao việc cung ứng dịch vụcông cho các khu vực ngoài nhà nước; huy động đóng góp và động viên sựtham gia rộng rãi của công dân và các tổ chức xã hội, nghề nghiệp vào quátrình cung ứng dịch vụ công Dù dưới hình thức nào thì Nhà nước vẫn làngười chịu trách nhiệm trước xã hội về việc bảo đảm đáp ứng nhu cầu củanhân dân ở mức cao nhất
2.2.2 Yếu tố luôn chú trọng tới mục tiêu đạt hiệu quả trong hoạt động quản lí và khả năng vận dụng vào CCHC ở Việt Nam
2.2.2.1 Luôn chú trọng tới mục tiêu đạt hiệu quả trong hoạt động quản lý
Sự phát triển của nền kinh tế thị trường với các yêu cầu tính toán cao vềchi phí - kết quả, về việc coi “khách hàng là thượng đế”, đặc biệt là sự thaotúng của “bàn tay vô hình” đòi hỏi vai trò điều hành của Nhà nước phải có sựthay đổi Yêu cầu của quản lí công là cần tôn trọng sự vận hành của thịtrường, sự điều tiết của “bàn tay vô hình”, còn sự điều tiết của “bàn tay hữuhình” của Nhà nước chỉ nên dừng lại ở những biện pháp can thiệp thực sự phùhợp – thông qua công cụ pháp luật và điều tiết vĩ mô, chủ yếu mang tính địnhhướng, tháo gỡ, giúp đỡ, hợp tác, lôi cuốn nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế,đảm bảo công bằng xã hội; Nhà nước nên hạn chế tối đa việc sử dụng quyềnlực cưỡng chế, áp đặt
2.2.2.2 Khả năng vận dụng vào CCHC ở Việt Nam
Trang 9Nền hành chính phát triển luôn đề cao mục tiêu hiệu quả của hoạt độngquản lí Khu vực công của các nước phát triển cũng như đang phát triển đềuđứng trước những thách thức lớn từ xu hướng toàn cầu hoá, sự tiến bộ vượtbậc của khoa học - công nghệ, mối quan hệ ngày càng đa dạng, phức tạp giữachính trị – hành chính – thị trường, sự phát triển của kinh tế tri thức và trình
độ dân trí được nâng cao về mọi mặt Các nền hành chính chịu nhiều sức ép
về hiệu quả sử dụng nguồn lực nhà nước và sự cạnh tranh để đáp ứng yêu cầungày càng cao của công dân cả về số lượng và chất lượng dịch vụ
Tiến trình thực hiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và mở rộnghội nhập kinh tế quốc tế ở nước ta đòi hỏi sự thay đổi vai trò điều hành củaNhà nước Mặc dù không thể bỏ qua vai trò quản lí, bao gồm các biện pháptrực tiếp hay gián tiếp, nhưng Nhà nước cần quan tâm đến cách thức, phạm vi,lĩnh vực hoạt động cho hợp lý Và tuy phải tôn trọng sự vận hành của thịtrường, nhưng trong nhiều trường hợp, Nhà nước cần có những hành độngcan thiệp phù hợp, nhanh nhạy để nâng cao hiệu quả kinh tế và đảm bảo côngbằng xã hội
Tuy nhiên, Nhà nước phải tránh bao biện, làm thay mà thông qua nềnhành chính của mình, tập trung quản lí bằng pháp luật và các công cụ điều tiết
vĩ mô nhằm định hướng, lôi cuốn các thành phần kinh tế, các tổ chức xã hội,nghề nghiệp cùng tham gia phục vụ các quyền, lợi ích hợp pháp của công dân
Nhà nước phải vận dụng các yếu tố cạnh tranh tích cực của thươngtrường, những nội dung văn hoá doanh nghiệp phù hợp, phương pháp quản lýlinh hoạt và cách thức sử dụng ngân sách một cách kinh tế, hiệu quả của khuvực tư vào các lĩnh vực công vụ, nhưng không làm lu mờ tính công quyền,tính thứ bậc và chức năng phục vụ công của nền hành chính Cán bộ, côngchức không đơn thuần thừa hành mệnh lệnh, thực thi nhiệm vụ theo nhữngchu trình có sẵn mà chủ động lập và thực hiện kế hoạch hoàn thành các mụctiêu của cơ quan, tổ chức Để tạo điều kiện cho công tác đánh giá, cần tiến
Trang 10hành song song việc áp dụng các quy trình, thể thức công vụ với việc xâydựng hệ thống chỉ số đánh giá mức độ hoàn thành công tác theo hướng địnhlượng được.
Có thể lấy dẫn chứng từ việc triển khai thí điểm mô hình Hệ thốngquản lý theo kết quả (PMS) tại 3 Sở và 2 Quận, Huyện tại TP Hồ Chí Minh,
và có thể rút ra kết luận đối với việc áp dụng mô hình PMS tại các cơ quanhành chính nhà nước như sau:
Việc thực hiện hệ thống quản lý theo kết quả được coi là khâu đột phámới trong cách tiếp cận quản lý đối với công tác hành chính nhà nước và đãthu được những kết quả bước đầu đáng khích lệ Cụ thể:
-Trong giai đoạn thiết kế, hệ thống quản lý theo kết quả đã giúp đơn vịchủ trì hình dung ra tất cả điều kiện khó khăn và các điều kiện cần và đủ đểthực hiện mục tiêu công việc
- Trong quá trình triển khai, có xây dựng hệ thống kiểm tra và giám sátcác đầu ra xem có bị vướng mắc, phát sinh để có giải pháp giải quyết kịp thời
- Chú trọng quản lý theo kết quả hơn là quản lý số lượng Chất lượngnội dung công việc có tăng lên do có phân công tách bạch nhiệm vụ của cácđơn vị liên quan
- Cơ chế báo cáo khá đơn giản, súc tích và nhanh gọn, giúp lãnh đạođánh giá nhanh kết quả
- Thu thập số liệu để đánh giá kết quả hoàn thành có chính xác hơn,không dùng số liệu ước tính, không có cơ sở
- Công tác phối hợp nội bộ tốt và rõ ràng hơn
Tính khả thi để nhân rộng mô hình: theo kết quả đánh giá, Mô nhìnhnày có thể áp dụng được sang các đơn vị khác thuộc TP Hồ Chí Minh và ápdụng sang các Bộ, ngành trung ương và các tỉnh, thành phố khác trên cả nước