Bài viết trình bày mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của người bệnh suy tim cấp nhập viện; Mô tả thực trạng điều trị suy tim theo các hướng dẫn điều trị suy tim hiện hành tại Bệnh viện Tim Hà Nội.
Trang 1Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, thực trạng điều trị
bệnh nhân suy tim cấp nhập viện tại Bệnh viện Tim Hà Nội
Vũ Quỳnh Nga * , Trần Thanh Hoa, Nguyễn Văn Sơn
TÓM TẮT
Từ tháng 1.2018 đến 12.2018 có 475 người
bệnh nhập viện do suy tim cấp hoặc mất bù, gồm
63,8% là nam và 36, 2% là nữ Tuổi người bệnh
nhập viện trung bình 69,1 ± 13,8; có 63,6% được
chẩn đoán suy tim mới phát hiện; 41,4% người
bệnh có EF 40 – 50% và 58,6% người bệnh có EF
< 40%; thời gian nằm viện trung bình là 8.3 ± 6.2
ngày (1- 46 ngày); có 5 người bệnh chiếm 1.1% bị
tử vong tại viện; trong đó có 1 người bệnh điều trị
1 ngày do quá nặng nên đã tử vong; các biện pháp
can thiệp, hỗ trợ tuần hoàn và hô hấp được sử
dụng là cấy máy CRT, CRT-D, lọc máu liên tục,
IABP, phá vách liên nhĩ và ECMO Kết quả điều
trị suy tim cấp nhập viện tại bệnh viện Tim Hà Nội
là khả quan với tỷ lệ ổn định ra viện là 87,7%
Từ khóa: Suy tim cấp
CLINICAL, PARACLINICAL
CHARACTERISTICS AND REAL –WORLD
TREATMENT OF ACUTE HEART FAILURE AT HANOI HEART HOSPITAL ABSTRACT
From January 2018 to december 2018, 475 patients were hospitalized due to acute heart failure or decompensation ,63,8% male and 36, 2% female Mean age 69,1 ± 13,8; 63,6% newly discovered heart failure; 41,4% EF 40 – 50% and 58,6% EF < 40%; number of Hopital days 8.3 ± 6.2 days (1- 46 days); there are five (1.1%) patients died in hospital; among them a patient who was treated for one day due to severe illness died; we have used interventions, assisted circulation and respiration such as CRT, CRT-D, CVVH, IABP, atrial septal defect and ECMO Results of treatment of acute heart failure at Hanoi Heart Hospital is feasible with rate of discharge is 87,7%
Keyword: acute heart failure
I ĐẶT VẤN ĐỀ:
Suy tim là hậu quả của nhiều bệnh gây ra rối
loạn về cấu trúc và chức năng của tim như: bệnh
lý van tim, bệnh tim bẩm sinh, tăng huyết áp,
bệnh mach vành, nhồi máu cơ tim…
Mặc dù đã có nhiều tiến bộ trong chẩn đoán
và điều trị, tỷ lệ tử vong của suy tim là 50% trong
vòng 5 năm sau khi được chẩn đoán Trong
nghiên cứu ARIC, tỷ lệ tử vong sau nhập viện 30
ngày, 1 năm, 5 năm tương ứng là 10,4%, 22%,
42,3%[8] Còn trong nghiên cứu EFICA, tỷ lệ tử
vong sau 4 tuần và 1 năm là 27 và 46%[9].27 Suy tim cấp/ mất bù là thuật ngữ dùng để mô tả
sự thay đổi từ từ hoặc nhanh chóng các dấu hiệu, triệu chứng của suy tim dẫn đến đòi hỏi phải có điều trị cấp cứu, thường là phải nhập viện cấp cứu Trên thế giới có khá nhiều nghiên cứu sổ bộ về tình hình người bệnh suy tim nhập viện và từ đó đưa ra các
Bệnh viện Tim Hà Nội
*Tác giả liên hệ:
Vũ Quỳnh Nga -Email: vuquynhnga@timhanoi.vn – 0913008042 Ngày nhận bài: 12/11/2021 Ngày cho phép đăng: 28/12/2021
Trang 2biện pháp giúp cải thiện tình trạng điều trị suy tim
Tại Bệnh viện Tim Hà nội, những năm gần
đây, cùng với sự phát triển khoa học công nghệ,
sự phát triển các biện pháp điều trị hiện đại như
can thiệp mạch vành, phẫu thuật bắc cầu nối chủ
vành, thay van tim … đã giúp cứu sống được rất
nhiều người bệnh Tuy nhiên, các người bệnh này
vẫn còn phải tiếp tục điều trị suy tim như là biến
chứng của các bệnh ban đầu và do đó cũng làm
tăng lên số lượng người bệnh bị suy tim, cả suy
tim cấp và suy tim mất bù phải nhập viện Vì vậy
chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài với:
1 Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng
của người bệnh suy tim cấp nhập viện
2 Mô tả thực trạng điều trị suy tim theo các
hướng dẫn điều trị suy tim hiện hành tại Bệnh
viện Tim Hà Nội
II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU:
2.1 Đối tượng nghiên cứu: Bao gồm 475
người bệnh được chẩn đoán là suy tim cấp hoặc
mất bù theo tiêu chuẩn của Hội Tim mạch Châu
Âu (ESC) được nhập viện điều trị tại Bệnh viện
Tim Hà nội và có phân xuất tống máu thất trái EF
50% Những người bệnh được chẩn đoán là suy
tim cấp với đủ 3 tiêu chuẩn dựa theo tiêu chuẩn của Hội Tim mạch Châu Âu (ESC):
- Triệu chứng cơ năng: khó thở khi gắng sức, hoặc khi nghỉ ngơi, mệt mỏi, uể oải, phù mắt
cá chân
- Triệu chứng thực thể: nhịp tim nhanh, thở nhanh nông, rales ẩm đáy phổi, tràn dịch màng phổi, tĩnh mạch cổ nổi, gan to, phù ngoại biên
- Dấu chứng bất thường về cấu trúc và chức năng tim lúc nghỉ: tim to, tiếng ngựa phi, âm thổi
ở tim, siêu âm tim bất thường, xét nghiệm máu có BNP tăng
Phương pháp nghiên cứu : mô tả cắt
ngang, cỡ mẫu thuận tiện Thu thập tất cả người bệnh thỏa mãn tiêu chuẩn lựa chọn như trên được nhập viện trong thời gian nghiên cứu Tất
cả các dữ liệu thu thập được lưu trữ và phân tích bằng phần mềm thống kê SPSS 22.0 Các
số liệu thu thập được của nghiên cứu được xử
lý theo thuật toán thống kê y học bằng chương trình phần mềm STATA 12.0 p< 0.05 được coi
là có ý nghĩa thống kê
III KẾT QUẢ:
3.1 Đặc điểm dịch tễ, lâm sàng, cận lâm sàng
Bảng 3.1 Đặc điểm tuổi, giới
Nhận xét: Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về tuổi và giới cũng như tỷ lệ nam/ nữ ở 2
nhóm Có 197 người bệnh có EF 40 – 50% và 278 bênh nhân có EF < 40%
Trang 3Biểu đồ 3.1 Nguyên nhân suy tim
Trong số 475 người bệnh đợt cấp suy tim nhập viện năm 2018 có 173 người bệnh, chiếm 36,4%
đã có chẩn đoán suy tim từ trước và 302 người bệnh, chiếm 63,6% được chẩn đoán suy tim lần đầu Nguyên nhân thường gặp nhất của suy tim mới phát hiện cũng như của suy tim mạn mất bù là bệnh mạch vành, tiếp theo là bệnh cơ tim giãn
Bảng 3.2.Các yếu tố khởi phát đợt cấp
Nhận xét: Có 136 người bệnh (28,6%) không rõ yếu tố khởi phát đợt cấp Với người bệnh có thể
khai thác được yếu tố khởi phát đợt cấp, viêm phổi là yếu tố thường gặp nhất, sau đó là nhồi máu cơ tim cấp và suy thận cấp
Trang 4Bảng 3.3 Đặc điểm nhịp tim
Nhịp tim nhập viện 95,8 ± 26,4 90,6 ± 25,2 99,5 ± 26,9
Nhịp tim ra viện 78,7 ± 16,9 77,9 ± 16,7 79,3 ± 17,2
Bảng 3.4 Đặc điểm huyết áp và phân độ NYHA
Nhận xét: Nhịp tim khi nhập viện khá cao, trung bình 95,8 ± 26,4 Phần lớn người bệnh đợt cấp
suy tim nhập viện có NYHA III Có 17 người bệnh có ngừng tuần hoàn trong quá trình nằm viện
Bảng 3.5 Đặc điểm cận lâm sàng
Tổng EF 40- 50 % EF <40% p
NT Pro- BNP (M±SD) 7643.9 ± 9531,3 5363,7 ± 7925,7 9222,3 ± 10170,7 0.000
Creatinin(M±SD) 114,7 ± 90,7 104,2 ± 62,2 122,5 ± 106,3 0.0491
Nhận xét: NT ProBNP tăng cao ở người bệnh đợt cấp suy tim nhập viện, không có sự khác
biệt ở nhóm có EF < 40% hay từ 40 – 50% Creatinin cao hơn ở nhóm có EF < 40% Có 28 người
bệnh chiếm 5.9% có tình trạng hạ Natri máu Có 26 người bệnh chiếm 5.5% có tình trạng tăng Kali
máu
Trang 53.2 Thực trạng và hiệu quả điều trị
Bảng 3.6 Sử dụng các thuốc trợ tim và vận mạch
Tổng EF 40- 50 % EF <40%
Dobutamin+Adrenalin+ Noradrenalin 23 4,8 6 3,1 17 6,1
Nhận xét: Tỷ lệ sử dụng các thuốc trợ tim và vận mạch cũng tương đối cao và không có sự khác
biệt giữa nhóm có EF < 40% và nhóm EF 40 – 50%
Bảng 3.7 Can thiệp mạch vành qua da
Tổng EF 40- 50 % EF <40%
PCI(Can thiệp mạch vành qua da) 285 60,0 133 67,5 152 54,7
Nhận xét: Can thiệp mạch vành qua da cao (285 người bệnh tương đương 60%), tỉ lệ can thiệp
mạch vành qua da không có sự khác biệt có ý nghĩa ở hai nhóm
Bảng 3.8 Các biện pháp can thiệp hoặc hỗ trợ tuần hoàn và hô hấp
Tổng EF 40- 50 % EF <40%
IABP(Bóng đối xung động mạch chủ) 16 3,4 5 2,5 11 3,9
ECMO + phá vách liên nhĩ + Lọc máu 2 0.4 0 0 2 0.8 ECMO + Lọc máu +IABP+ phá vách liên nhĩ 1 0.2 0 0 1 0.4
Nhận xét: Các biện pháp hỗ trợ tuần hoàn hô hấp được sử dụng nhiều hơn ở nhóm EF <40%
Trang 6Bảng 3.9 Sử dụng các nhóm thuốc điều trị cải thiện tiên lượng
ARNI(ức chế kép angiotensin và neprilysin) 1 0,2 17 3,8
Ức chế men chuyển + Chẹn Beta giao cảm 32 6,9 135 30,0
Aldacton + Ức chế men chuyển + Chẹn Beta giao cảm 16 7.8 82 22.34
Aldacton + Ức chế thụ thể + Chẹn Beta giao cảm 11 5.3 19 5.17
Nhận xét: Các thuốc điều trị suy tim mạn theo khuyến cáo (Ức chế men chuyển / Ức chế thụ thể
Angiotensin, chẹn beta, kháng Aldosteron) đều được sử dụng và tỷ lệ kê các thuốc này được cải thiện khi
người bệnh xuất viện Các thuốc tác động đến hệ RAS được sử dụng với tỷ lệ cao nhất Tỷ lệ sử dụng
nhóm chẹn beta giao cảm còn thấp cả khi nhập viện và khi xuất viện( tương ứng là 12,7% và 40%) Tỷ
lệ người bệnh được sử dụng cả 3 nhóm thuốc vẫn cần được cải thiện ARNI là nhóm thuốc mới có mặt ở
Việt Nam nên mới có 17 người bệnh suy tim cấp được sử dụng khi xuất viện trong năm 2018
Bảng 3.10 Sử dụng các nhóm thuốc điều trị cải thiện triệu chứng
Nhận xét: Lợi tiểu quai phần lớn được sử dụng đường tĩnh mạch khi nội viện và được chuyển
sang đường uống khi xuất viện Có 295 người bệnh ( 63,4%) được sử dụng Furosemide đường tĩnh
mạch khi nhập viện
Trang 7Bảng 3.11 Kết quả điều trị
Tổng EF 40- 50 % EF <40%
Tiến triển tốt Ra viện 414 87,7 171 88,2 243 87,4
Nhận xét: Tỷ lệ người bệnh ổn định ra viện khá cao, 414 người bệnh ( 87,7%) Tỷ lệ nặng lên
hoăc tử vong là 5,1% Thời gian nằm viện trung bình là 8.3 ± 6.2 ngày ( 1- 46 ngày) Người bệnh nằm
1 ngày do quá nặng nên đã tử vong
IV BÀN LUẬN:
4.1 Đặc điểm chung bênh nhân suy tim
nhập viện
Trong thời gian từ tháng 1.2018 đến tháng
12.2018, chúng tôi lấy vào nghiên cứu 475 người
bệnh suy tim cấp/ mất bù nhập viện Trong số
người bệnh suy tim nhập viện, nam giới chiếm
63,8%, tương tự trong nghiên cứu EHFS II tỷ lệ
nam là 61% Tỷ lệ này cao hơn với tỷ lệ nam:nữ
là 1:1 trong nghiên cứu của H.T.Kiều [1] năm
2018 hoặc trong nghiên cứu EFFICA [4], hay
nghiên cứu Thai ADHERE ghi nhận tỉ lệ nam
chiếm 49.6%[6]
Tuổi trung bình trong nghiên cứu của chúng
tôi là 69,1 ± 13,8, tương tự trong nghiên cứu của
H.T.Kiều là 65,75 ±15,99 và Thai ADHERE (64
± 14 tuổi) Theo thống kê sổ bộ về suy tim cấp
(ADHERE [7], OPTIMIZE-HF [2], EHFS II [3]),
hầu hết các người bệnh nhập viện vì suy tim là
trên 70 tuổi Tỷ lệ này cao hơn trong các nghiên
cứu trên thế giới như trong các nghiên cứu THAI
ADHERE, EHFSI, EHFS II lần lượt là 23.7%,
30%, 30%, 21%.[6][3][5]
Trong số 475 người bệnh suy tim nhập viện
năm 2018 có 173 người bệnh, chiếm 36,4% đã
được chẩn đoán suy tim từ trước và 302 bệnh
nhân, chiếm 63,6% được chẩn đoán suy tim lần đầu Tỉ lệ suy tim từ trước trong nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn các nghiên cứu trên thế giới như Thai ADHERE (66,5%), ADHERE (75– 77%) hay EHFS II, tỷ lệ suy tim trước đó trong
12 tháng là 44,5%[6][7][5]
Tỷ lệ bệnh mạch vành trong nghiên cứu của chúng tôi là 64,6% Tỷ lệ này cao hơn ở các nghiên cứu Thai ADHERE, US ADHERE và EHFSF II tương ứng là 47%, 57% và 53.6% Đây
là nguyên nhân chính của suy tim gặp trong hầu hết các nghiên cứu, và cũng là yếu tố khởi phát của suy tim mới phát hiện Có 79 người bệnh (16,6%) kèm rung nhĩ Tỷ lệ này thấp hơn trong nghiên cứu Thai ADHERE, US ADHERE và EHFSF II ( tương ứng là 24.1%, 31% và 38.7%),
Có 44 người bệnh (9,3%) có tiền sử đột quỵ, tương
tự trong các nghiên cứu ADHERE và EHFSF II (tương ứng là 12.1%, 17% và 13.3%)[7][5] Tỷ lệ bệnh van tim trong nghiên cứu của chúng tôi là 6,4% (31 người bệnh), thấp hơn trong nghiên cứu Thai ADHERE Tỷ lệ bệnh cơ tim là 28,0% cao hơn trong nghiên cứu của Thai ADHERE (14%)[6] Điều này một lần nữa cho thấy xu hướng bệnh suy tim hiện nay đã có sự thay đổi, tỉ
lệ bệnh lý van tim ít hơn và tỉ lệ bệnh mạch vành cao hơn, và điều này cũng giải thích cho xu hướng
Trang 8tuổi người bệnh suy tim cao hơn và tỉ lệ người
bệnh lớn hơn 75 tuổi cũng nhiều hơn với các
nghiên cứu của những thập kỉ trước
Các yếu tố khởi phát đợt cấp suy tim thường
gặp nhất trong nghiên cứu của chúng tôi là nhồi
máu cơ tim cấp (35,4%), nhiễm trùng hô hấp
(49,4%) và suy thận cấp tương tự trong nghiên
cứu Thai ADHERE[6] Tỷ lệ nhiễm trùng nói
chung trong nghiên cứu EFICA là nghiên cứu
tiến hành ở châu Âu thì thấp hơn (3%), điều này
có thể lý giải do nước ta nằm trong khu vực
nhiệt đới, nguy cơ mắc các bệnh liên quan đến
bội nhiễm cao hơn và vệ sinh dịch tễ cũng như tỉ
lệ tiêm phòng cúm cũng như phế cầu của chúng
ta chưa cao[4]
4.2 Đặc điểm lâm sàng và đặc điểm cận
lâm sàng
Tần số tim trung bình khi nhập viện khá cao
95,8 ± 26,4 ( chu kỳ/phút) và cao hơn có ý nghĩa
thống kê ở nhóm có EF < 40% ( 99,5 ± 26,9 chu
kỳ/phút) Tần số tim nhanh là 1 yếu tố tiên lượng
xấu ở bệnh nhân suy tim nói chung và người
bệnh suy tim cấp/ mất bù nhập viện nói riêng và
cần được tìm nguyên nhân để điều trị hoặc nếu
nhịp nhanh do cường giao cảm cũng cần được
điều trị thuốc Sau thời gian điều trị nội trú nhịp
tim khi ra viện giảm có ý nghĩa, tần số tim trung
bình khi ra viện là 78,7 ± 16,9 chu kỳ/phút,
không có sự khác biệt có ý nghĩa tần số tim khi
ra viện giữa 2 nhóm EF <40% (79,3 ± 17,2 chu
kỳ/phút) và nhóm EF 40-50% (77,9 ± 16,7 chu
kỳ/phút) Tần số tim khi ra viện còn cao, điều
này có thể giải thích rằng người bệnh vừa trải
qua một đợt mất bù, thời gian nằm viện không
quá dài để có thể tối ưu thuốc chẹn beta và tần
số tim sẽ dần được tối ưu cho những lần khám
lại điều trị ngoại trú sau ra viện
Huyết áp tâm thu trung bình khi nhập viện là 128,9 ± 26,4 mmHg và không có sự khác biệt có
ý nghĩa thống kê giữa nhóm có EF < 40% và nhóm EF 40 – 50% Mức huyết áp tâm thu trung bình này tương tự nghiên cứu EFICA (126 ± 39 mmHg) Có 54 bệnh nhân (11,4%) có huyết áp thấp dưới 100 mmHg và 169 người bệnh ( 35,6%) có huyết áp cao hơn 140 mmHg
NT ProBNP tăng cao ở các người bệnh đợt cấp suy tim nhập viện, không có sự khác biệt ở nhóm có EF < 40 hay từ 40 – 50% (bảng 3.8)
Creatinin cao hơn ở nhóm có EF < 40% Có 28 người bệnh chiếm 5.9% có tình trạng hạ Natri máu Có 26 người bệnh chiếm 5.5% có tình trạng kali máu cao hoặc ở ngưỡng cao Đây là những chỉ số cần quan tâm khi điều trị người bệnh suy tim cấp/ mất bù và cũng ảnh hưởng đến tiên lượng bệnh
4.3 Thực trạng điều trị
Sử dụng các trợ tim, vận mạch
Chúng tôi ghi nhận tỷ lệ điều trị bằng Dobutamin là 26,1%, trong đó có 23 bệnh nhân
sử dụng cả Dobutamin, noradrenalin và Adrenalin chiếm 4.8%, và hầu hết là ở nhóm người bệnh có
EF < 40% Tỷ lệ này cao hơn trong nghiên cứu Thai ADHERE (Dobutamine 22,8%), nghiên cứu ADHERE (9%)[6][7]
Sử dụng các biện pháp can thiệp, các biện pháp hỗ trợ tuần hoàn và hô hấp
Trong nghiên cứu này có 285 người bệnh (60%) được can thiệp mạch vành qua da, trong đó
có 133 người bệnh (67,5%) nhóm EF 40-50% và
152 người bệnh (54,7%) nhóm EF < 40% Tỉ lệ này cao hơn trong nghiên cứu EHFS II có 38%
người bệnh được can thiệp mạch vành qua da và 4% được phẫu thuật bắc cầu chủ vành[5] Các
Trang 9người bệnh can thiệp mạch vành phần lớn là các
trường hợp suy tim mới mắc, do nhồi máu cơ tim
hoặc người bệnh suy tim phân xuất tống máu
giảm được chỉ định chụp động mạch vành để tìm
nguyên nhân suy tim
Các biện pháp hỗ trợ tuần hoàn và hô hấp
hiện đại đã được áp dụng điều trị cho người bệnh
suy tim tại Bệnh viện Tim Hà Nội như thở máy,
lọc máu liên tục cấp cứu, đặt bóng đối xung động
mạch chủ, tuần hoàn ngoài cơ thể và phá vách
liên nhĩ Trong nghiên cứu của chúng tôi có 65
người bệnh (13,7%) được thở máy, trong đó 48
người bệnh (10,1%) thở máy xâm nhập, 17 người
bệnh (3,6%) thở máy không xâm nhập Tỉ lệ này
thấp hơn các nghiên cứu trên thế giới như trong
nghiên cứu Thai ADHERE, ADHERE tỉ lệ thở
máy lần lượt là 20% và 22%[6][7]
Thuốc điều trị suy tim theo guideline
Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỉ lệ người
bệnh được điều trị ức chế men chuyển, ức chế
men chuyển hoặc ức chế thụ thể tại thời điểm
nhập viện lần lượt là 49,3% và 58,1% Tỉ lệ này
cao hơn trong nghiên cứu THAI ADHERE
(25,7%; 28,1%), tương đương với các nghiên cứu
ADHERE (44%; 56%) và EHFSII (55%; 63,1%)
Tỉ lệ này khi ra viện trong nghiên cứu của chúng
tôi là 66,1% và 86,8% cao hơn các nghiên cứu thế
giới như THAI ADHERE (35,2%;47,7%),
ADHERE (54%; 68%) và EHFSII (71%;
80,6%)[6] [7] [5]
Có 12,7% người bệnh tại thời điểm nhập
viện và 40% người bệnh tại thời điểm ra viện
được dùng chẹn beta giao cảm Tỉ lệ này lớn hơn
trong nghiên cứu THAI ADHERE ( 26,1%;
24%), thấp hơn các nghiên cứu ADHERE (56%;
64%) và EHFSII (43,2%; 61,4%)[6][7][5] Điều
này có thể do rào cản do lo sợ các tác dụng phụ
của nhóm chẹn beta Và các người bệnh vừa trải qua một đợt mất bù, thời gian nằm viện không quá dài nên các bác sỹ còn e ngại trong việc kê đơn chẹn beta Nhóm thuốc thuốc chẹn beta là nhóm thuốc đã được chứng minh cải thiện tiên lượng ở các người bệnh suy tim mạn tính và đã được đưa vào khuyến cáo sử dụng thuốc của hội tim mạch Hoa kỳ ( ACC), hội tim mạch châu Âu ( ESC) và hội tim mạch Việt Nam Do đó các thuốc thuộc nhóm này đã có bằng chứng lâm sàng nên được kê đơn và tối ưu hóa liều cho những lần khám lại điều trị ngoại trú sau khi ra viện
Tỉ lệ người bệnh được sử dụng Aldacton trong nghiên cứu của chúng tôi tại thời điểm nhập viện và ra viện lần lượt là 49,9% và 60,8% Tỉ lệ này cao hơn trong nghiên cứu THAI ADHERE (17,1%; 12,5%)[6] Nhóm thuốc này có thể gây tăng Kali máu ở những người bệnh suy tim kèm suy thận mạn, nhất là khi dùng phối hợp với nhóm ƯCMC hoặc ƯCTT Vì vậy cần theo dõi chặt chức năng thận và điện giải đồ trong giai đoạn đầu dùng thuốc Trong nghiên cứu của chúng tôi có 101 người bệnh tương ứng với 27,51% được sử dụng cả 3 nhóm thuốc chẹn beta giao cảm, Aldacton và ƯCMC/ƯCTT
4.4 Kết quả điều trị
Trong nghiên cứu của chúng tôi có 414 người bệnh (87,7%) người bệnh tiến triển tốt, 34 người bệnh (7,2%) không thay đổi, 5 người bệnh (1,1%) tử vong tại viện, 19 người bệnh (4%) nặng
về Tỉ lệ nặng – tử vong trong nghiên cứu chúng tôi cao hơn nghiên cứu ADHERE (3,8%)[7], thấp hơn trong nghiên cứu sổ bộ ở Thái Lan ADHF (5,5%) và nghiên cứu EHFS II (6,75%)[5][6] Thời gian nằm viện trung bình là 8.3 ± 6.2 ngày ( 1- 46 ngày) Người bệnh nằm 1 ngày do quá nặng nên đã tử vong Người bệnh nằm dài
Trang 10nhất do sau khi điều trị tạm ổn suy tim đã được
phẫu thuật và tiếp tục được điều trị suy tim sau
phẫu thuật Thời gian nằm viện trung vị là 6 ngày
Thời gian này ngắn hơn trong các nghiên cứu
THFR (7,5 ngày), EHFS II (9 ngày) và dài hơn
trong nghiên cứu ADHERE (4,3 ngày) [5][7]
V KẾT LUẬN:
Qua nghiên cứu 475 người bệnh nhập viện
do suy tim cấp hoặc mất bù từ tháng 1.2018 đến
12.2018, chúng tôi nhận thấy kết quả điều trị suy
tim cấp người bệnh tại Bệnh viện Tim Hà Nội,
người bệnh ổn định ra viện là 87,7% Người bệnh
suy tim cấp/mất bù nhập viện có tỉ lệ trên 75 tuổi,
nam giới, tỉ lệ bệnh mới phát hiện cao Nguyên
nhân ST phần lớn là bệnh mạch vành và bệnh cơ
tim Người bệnh nhập viện thường có NYHA III,
nhịp tim nhanh, NT ProBNP cao BN suy tim EF
<40% có NT ProBNP và Creatinin cao hơn nhóm
có EF từ 40 – 50% Các thuốc trợ tim, vận mạch
cũng như các biện pháp hỗ trợ nâng cao (Bóng
đối xung động mạch chủ (IABP),Oxy hóa máu
bằng màng ngoài cơ thể (ECMO), phá vách liên
nhĩ, lọc máu, CRT đã được sử dụng ở người bệnh
suy tim nặng Khi xuất viện, tỷ lệ sử dụng ức chế
men chuyển hoặc ức chế thụ thể Angiotensin II là
86,8% ; Tỷ lệ sử dụng chẹn beta là 40% Tỷ lệ sử
dụng kháng aldosterone là 60,9% ARNI mới
được đưa vào sử dụng và còn ở mức thấp
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Phạm Nguyễn Vinh, Huỳnh Thanh Kiều,
Nguyễn Ngô Thanh Phương (2018) Nghiên cứu
về sST2 trong suy tim cấp ở người Việt Nam
Chuyên đề Tim mạch học Tháng 5.2018
2 Jonsson A, Edner M, Alehagen U et al
(2010) Heart failure registry: a valuable tool
for improving the management of patients with
heart failure European Journal of Heart
Failure: 12, 25-31
3 Maggioni AP, Dahlstro U, Filippatos G et al (2010) EURObservational Research Programme:
The Heart Failure Pilot Survey (ESC-HF Pilot) Eur
J Heart Fail.:12(10):1076-84
4 Zannad F Mebazaa A, Juilliere Y ( 2006)
Clinical profile, contemporary management and one-year mortality in patients with severe acute
heart failure syndromes: The EFICA study Eur J
of Heart Failure; 8: 697 – 705
5 Markku S et al (2006) EuroHeart Failure Survey II (EHFS II): a survey onhospitalized acute heart failure patients:description of population European Heart Journal (2006)27, 2725–2736
6 Prasart Laothavorn et al (2010) Thai Acute Decompensated Heart Failure Registry (Thai ADHERE) CVD Prevention and Control (2010) 5, 89–95
7 Gheorghiade M and Filippatos G et al
(2005) Reassessing treatment of acute heart
failure syndromes: the ADHERE Registry Eur
Heart J Supplements 7 (Supplement B), B13–B19
8 Patricia P Chang etal(2018) Trends in Hospitalizations and Survival of Acute Decompensated Heart Failure in Four US Communities (2005-2014): The Atherosclerosis Risk
in Communities (ARIC) Study Community
Surveillance Circulation 2018 July 03; 138(1):12-24
doi:10.1161/CIRCULATIONAHA.117.027551
9 D Logeart et al (2013) Current aspects of the spectrum of acute heart failure syndromes in a real-life setting: the OFICA study Eur J Heart
Fail., 15 (2013), pp 465-476