Nghiên cứu này được thực hiện để phân tích sự ảnh hưởng của năng lực kinh doanh của đội ngũ nữ doanh nhân đến kết quả hoạt động kinh doanh của các DNNVV trên cơ sở tiếp cận 200 nữ doanh nhân tại địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế. Thông qua việc sử dụng kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng, 9 giả thuyết nghiên cứu được ủng hộ.
Trang 1NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
Hoàng La Phương Hiền*1- Trương Tấn Quân - Dương Đắc Quang Hảo
TÓM TẮT: Nghiên cứu này được thực hiện để phân tích sự ảnh hưởng của năng lực kinh doanh của đội ngũ nữ
doanh nhân đến kết quả hoạt động kinh doanh của các DNNVV trên cơ sở tiếp cận 200 nữ doanh nhân tại địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế Thông qua việc sử dụng kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng,
9 giả thuyết nghiên cứu được ủng hộ Kết quả nghiên cứu cho thấy 9 nhóm năng lực kinh doanh thành phần bao gồm: Năng lực nắm bắt cơ hội, năng lực thiết lập quan hệ, năng lực định hướng chiến lược, năng lực cá nhân, năng lực cam kết, năng lực học tập, năng lực tổ chức - lãnh đạo, năng lực nhận thức và năng lực đạo đức ảnh hưởng trực tiếp cùng chiều đến kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Trong đó, năng lực
cá nhân có ảnh hưởng lớn nhất đến kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp với hệ số hồi quy chuẩn hóa 0,209 Kết quả nghiên cứu này có ý nghĩa quan trọng trong việc gợi mở các định hướng chính sách và giải pháp giúp các nữ doanh nhân, các cơ sở đào tạo và nhà hoạch định chính sách xác định và phát triển những nhóm năng lực kinh doanh phù hợp để nâng cao kết quả hoạt động kinh doanh của DNNVV.
Từ khóa: Năng lực kinh doanh, nữ doanh nhân, kết quả hoạt động kinh doanh.
1 GIỚI THIỆU
Nữ doanh nhân là một trong những yếu tố động lực quan trọng và góp phần tạo đà tăng trưởng cho nền kinh tế quốc gia nói chung và Tỉnh Thừa Thiên Huế nói riêng Do đó, phát triển đội ngũ nữ doanh nhân có bản lĩnh, năng lực kinh doanh tốt, hội nhập quốc tế sâu rộng là một trong những yêu cầu bức thiết nhằm thực hiện chiến lược quốc gia về bình đẳng giới, đưa tỷ lệ nữ làm chủ doanh nghiệp chiếm trên 35% vào năm 2020
Số lượng các nữ doanh nhân khởi nghiệp từ bàn tay và khối óc tăng lên một cách đáng kể trong những năm gần đây Theo Ngân hàng Thế giới (WB), số doanh nghiệp do nữ sở hữu và điều hành chiếm khoảng 25-35% tổng số doanh nghiệp tư nhân trên toàn thế giới Tính đến hết năm 2014, ước tính có khoảng 126 triệu phụ nữ khởi nghiệp hoặc điều hành doanh nghiệp; 98 triệu phụ nữ tham gia quản lý các doanh nghiệp đang hoạt động tại 67 nền kinh tế trên toàn cầu Tuy nhiên, theo thống kê, sự tự tin, chỉ số đổi mới sáng tạo, định hướng kinh doanh quốc tế tại doanh nghiệp của nữ doanh nhân thấp hơn so với doanh nghiệp do nam giới làm chủ Tại Việt Nam, theo báo cáo của Tổng cục Thống kê năm 2014, trong số những người đang khởi sự kinh doanh tại Việt Nam, có 58% là nam giới và 42% là nữ giới Đến giai đoạn kinh doanh
đã phát triển tỷ lệ nam giới và nữ giới là gần như ngang nhau Tuy nhiên, theo báo cáo Chỉ số khởi nghiệp toàn cầu – chuyên đề phụ nữ năm 2014 thì chỉ số đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp do nữ làm chủ thấp hơn so với nam giới (chỉ có 35% so với tỷ lệ 45% của nam giới) Mặc dù phụ nữ tự tin hơn nam giới khi bắt
* Trường Đại học Kinh tế, Đại học Huế, 99 Hồ Đắc Di, Thành phố Huế, 491, Việt Nam, tác giả nhận phản hồi: Hoàng La Phương Hiền, Tel +84905301357, Email: hlphien@hce.edu.vn
Trang 2đầu khởi nghiệp nhưng lại có tâm lý sợ thất bại hơn Trong báo cáo thảo luận về các vấn đề doanh nghiệp
do nữ làm chủ đang phải đối mặt, trong đó tập trung vào khó khăn trong tiếp cận tài chính năm 2014 cũng
đề cập doanh nghiệp do nữ làm chủ cũng gặp phải nhiều hạn chế khác nhau, từ việc hoàn toàn không thể tiếp cận nguồn vốn hay chỉ có thể nhận được với những điều khoản ít có lợi Trong đó, cùng với thực trạng chung được phản ánh về năng lực kinh doanh của nữ doanh nhân cả nước thì số lượng nữ doanh nhân Thừa Thiên Huế ngày càng phát triển, tuy nhiên những đóng góp của họ vào sự thịnh vượng của nền kinh tế địa phương vẫn còn nhiều hạn chế và triển vọng phát triển của kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
do họ làm chủ vẫn chưa thực sự bền vững và lâu dài Theo Stoke (2006) thì nữ nghiệp chủ gặp rất nhiều gian truân trong tiến trình tiếp cận nguồn lực kinh doanh bởi sự hạn chế về trình độ, rào cản của môi trường kinh tế - văn hóa – xã hội và đặc biệt là năng lực kinh doanh
Có thể thấy rằng, do một số hạn chế về năng lực kinh doanh của các nữ doanh nhân cả nước nói chung
và trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế nói riêng đã tước đi cơ hội tiếp cận và mở rộng thị trường trong nước cũng như là thế giới trước thềm hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng của các nữ chủ doanh nghiệp Do đó, việc nâng cao hiểu biết về năng lực kinh doanh của nữ doanh nhân trong tiến trình kinh doanh sẽ góp phần phát triển và hoàn thiện hơn năng lực kinh doanh của họ và đến lượt nó thì kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp sẽ được nâng cao (Churchill, 1983; Low, 1988)
Về mặt lý luận, các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế về mối quan hệ giữa năng lực kinh doanh của doanh nhân và kết quả hoạt đông kinh doanh của doanh nghiệp đã nhận được sự quan tâm của một số học giả trên thế giới tuy nhiên, vẫn chưa có sự thống nhất về mô hình nghiên cứu và một số nghiên cứu chỉ dừng lại ở góc độ đề xuất mô hình lý thuyết và phần lớn là tập trung vào các doanh nhân (chủ doanh nghiệp) nói chung nhưng chưa có một định hướng nghiên cứu trong nước nào đi sâu vào việc tìm hiểu một cách đầy đủ về vấn đề này trên đối tượng là nữ nghiệp chủ Xuất phát từ những lý do trên, bài viết này hướng đến phân tích sự ảnh hưởng của năng lực kinh doanh của nữ doanh nhân đến kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế
2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở lý thuyết
2.1.1 Nữ doanh nhân
Quan điểm về doanh nhân và nữ doanh nhân khá đa dạng, tùy thuộc vào góc độ nhìn nhận và đánh giá Trên cơ sở tiếp cận các quan điểm khác nhau về doanh nhân của các tác giả Cantillon (1755), Schumpeter (1934), Hoselitz’s (1951), Drucker (1985), Ehrlich (1986), Hébert và Link (1989), Zimmerer và Scarborough (2005), Hoàng Văn Hoa (2010), nữ doanh nhân trong nghiên cứu này được hiểu là một bộ phận của đội ngũ doanh nhân, là người chủ doanh nghiệp, người trực tiếp lãnh đạo, quản lý và điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhằm mục tiêu lợi nhuận; phải luôn đương đầu với rủi ro và sự không chắc chắn trong tiến trình khởi nghiệp để đạt được sự tăng trưởng và huy động những nguồn lực cần thiết; đồng thời họ cũng phải là người gắn liền với quá trình sáng tạo và đổi mới để thành công trên cơ sở của việc nhận thức những cơ hội kinh doanh có giá trị
2.1.2 Năng lực kinh doanh của nữ doanh nhân
Từ việc tổng quan các tài liệu tham khảo về chủ đề năng lực kinh doanh trong các công trình khoa học của Bird (1995), Man và cộng sự (2002), Muzychenko và Saee (2004), Ahmad (2007), Mitchelmore và Rowley (2010), trong khuôn khổ của nghiên cứu này năng lực kinh doanh của nữ doanh nhân là sự hợp nhất
Trang 3giữa kiến thức, kỹ năng, hành vi, thái độ và một số đặc điểm cá nhân khác của nữ doanh nhân nhằm đáp ứng những yêu cầu của hoạt động kinh doanh từ đó giúp họ đạt được và duy trì sự thành công trong kinh doanh
2.1.3 Kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Theo Carlos và cộng sự (2011), các quan niệm và chỉ tiêu đo lường kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp ngày càng được cải tiến và có ý nghĩa quan trọng với doanh nghiệp Có rất nhiều cách định nghĩa và đo lường khác nhau về kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong nghiên cứu của Neely và cộng sự (1995), Otley (1999), Maisel (2001), Atkinson và cộng sự (2007) Trong số đó, Kaplan
& Norton (1993) cho rằng hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được xác định từ 4 nhóm thành phần cơ bản, bao gồm: Tài chính, khách hàng, quy trình nội bộ và học tập phát triển Nó xây dựng cơ sở để chuyển nội dung chiến lược kinh doanh thành các điều kiện thực hiện Định nghĩa này được sử dụng trong nghiên cứu này bởi nó có tính tổng hợp cao và đảm bảo được sự cân bằng giữa các phương diện hoạt động, giữa mục tiêu ngắn hạn và chiến lược dài hạn, giữa các đối tác hữu quan bên trong và bên ngoài, giữa phương diện tài chính và phi tài chính của doanh nghiệp
2.1.4 Ảnh hưởng của của năng lực kinh doanh của doanh nhân đến kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Quan điểm dựa vào nguồn lực (Resource Based View - RBV) cho rằng năng lực doanh nhân được xem như là nguồn lực quý giá, hiếm hoi mà đối thủ khó có thể sao chép hay bắt chước nên sẽ góp phần tạo ra lợi thế cạnh tranh bền vững và giá trị gia tăng cho doanh nghiệp (Tehseen và Ramayah, 2015) Theo Drago
và Clements (1999), doanh nhân là người định hướng và hành động để dẫn dắt hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Những quyết định kinh doanh của họ chịu sự ảnh hưởng của đặc điểm cá nhân, kiến thức,
kỹ năng và khả năng Do đó, doanh nhân cần phải có kiến thức, kỹ năng đa dạng và tổng hợp để làm tròn những vai trò phức tạp của họ trong doanh nghiệp (Sadler – Smith & ctg, 2003) Trong nghiên cứu của Chandler và Jansen (1992), doanh nhân các DNNVV phải đồng thời đảm trách ba vai trò cơ bản đó là vai trò của nhà kinh doanh, nhà quản lý và nhà chuyên môn Do đó, việc phát triển một các đúng đắn và toàn diện các các nhóm năng lực kinh doanh thành phần cấu thành năng lực kinh doanh chung của doanh nhân
sẽ góp phần nâng cao kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Dựa trên kết quả nghiên cứu của các tác giả như Man và cộng sự (2002), Baum và cộng sự (2001), Sony và Iman (2005), Man và cộng sự (2008), Ahmad và cộng sự (2010), Sánchez (2011), Ng và Kee (2013), Bendary và Minyawi (2015), Tehseen và Ramayah (2015), mối quan hệ giữa các biến nghiên cứu được đề xuất như sau:
H1: Tồn tại mối quan hệ cùng chiều giữa năng lực định hướng chiến lược của nữ doanh nhân và kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
H2: Tồn tại mối quan hệ cùng chiều giữa năng lực nhận thức của nữ doanh nhân và kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
H3: Tồn tại mối quan hệ cùng chiều giữa năng lực nắm bắt cơ hội của nữ doanh nhân và kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
H4: Tồn tại mối quan hệ cùng chiều giữa năng lực tổ chức - lãnh đạo của nữ doanh nhân và kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
H5: Tồn tại mối quan hệ cùng chiều giữa năng lực thiết lập quan hệ của nữ doanh nhân và kết quả hoạt đông kinh doanh của doanh nghiệp
H6: Tồn tại mối quan hệ cùng chiều giữa năng lực cam kết của nữ doanh nhân và kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Trang 4H7: Tồn tại mối quan hệ cùng chiều giữa năng lực học tập của nữ doanh nhân và kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
H8: Tồn tại mối quan hệ cùng chiều giữa năng lực cá nhân của nữ doanh nhân và kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
H9: Tồn tại mối quan hệ cùng chiều giữa năng lực đạo đức của nữ doanh nhân và kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
2.2 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu định tính được triển khai đầu tiên thông qua việc sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu 10
nữ doanh nhân trên địa bàn nghiên cứu bằng bảng hỏi bán cấu trúc nhằm khám phá, điều chỉnh và bổ sung các thành phần của thang đo năng lực kinh doanh của nữ doanh nhân và kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp cho phù hợp với điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội đặc thù của Việt Nam và của đối tượng nghiên cứu đặc biệt – lực lượng nữ doanh nhân Thừa Thiên Huế
Tiếp theo, phương pháp nghiên cứu định lượng với kỹ thuật phân tích nhân tố khám phá (EFA), phân tích nhân tố khẳng định (CFA), kiểm định độ tin cậy thang đo Chronbach alpha được sử dụng trên qui mô mẫu đủ lớn để chứng minh về mặt thống kê về mức độ phù hợp của thang đo các biến nghiên cứu được đề xuất Tiếp đến, mô hình cấu trúc tuyến tính SEM được sử dụng để nghiên cứu sự ảnh hưởng của năng lực kinh doanh của nữ doanh nhân đến kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Mẫu điều tra là 200 nữ doanh nhân trên địa bàn nghiên cứu được chọn ra theo kỹ thuật chọn mẫu phát triển mầm (một trong những
kỹ thuật chọn mẫu cụ thể thuộc nhóm kỹ thuật chọn mẫu phi xác suất) Việc tiếp cận và có được sự hợp tác
từ phía đối tượng khảo sát là các nữ doanh nhân (vừa làm chủ và vừa trực tiếp điều hành doanh nghiệp) là rất khó khăn do đó thông qua mối quan hệ và sự giới thiệu của người thân, bạn bè cũng như sự phối hợp của hội doanh nhân trẻ, hội doanh nghiệp tỉnh Thừa Thiên Huế để phát triển và mở rộng kích thước mẫu là cần thiết Số liệu sơ cấp được xử lý bằng phần mềm SPSS phiên bản 20
Về thang đo các biến nghiên cứu thì trên cơ sở kế thừa kết quả của Man (2001), Ahmad (2007), và một số tác giả khác để xây dựng thang đo năng lực kinh doanh của nữ doanh nhân trên địa bàn Tỉnh Thừa Thiên Huế với 9 nhóm năng lực kinh doanh thành phần Thang đo kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được phát triển trên cơ sở tiếp cận nghiên cứu của Kaplan và Norton (2001) và Lê Thị Phương Thảo (2016) với kết quả hoạt động của 4 phương diện được phản ánh: Phương diện tài chính, khách hàng, quy trình nội bộ, học tập – phát triển
3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Kết quả của giai đoạn nghiên cứu định tính
Trên cơ sở phỏng vấn sâu 10 nữ doanh nhân trên địa bàn nghiên cứu thì một số từ ngữ trong thang đo nháp cho 2 nhóm biến nghiên cứu “năng lực kinh doanh của nữ doanh nhân” và “kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp” đề xuất từ quá trình tổng hợp lý thuyết được điều chỉnh để đảm bảo giá trị về mặt nội dung, phù hợp hơn với cách hiểu của đối tượng được khảo sát Trong đó, với nhóm năng lực cá nhân thì
có thêm 2 yếu tố được bổ sung vào thang đo này đó là: Bền bỉ cả về thể chất lẫn tinh thần và cân bằng giữa gia đình và công việc kinh doanh Nhóm năng lực thực hiện chuẩn mực đạo đức cũng được bổ sung thêm
2 yếu tố để phản ánh toàn diện hơn khái niệm nghiên cứu này đó là: Quan tâm đến phúc lợi của nhân viên, tạo ra cơ hội việc làm cho cộng đồng
Trang 53.2 Kết quả của giai đoạn nghiên cứu định lượng
3.2.1 Đặc điểm mẫu nghiên cứu
Trong 200 nữ doanh nhân trên địa bàn nghiên cứu tham gia khảo sát thì có đến 130 người, chiếm 65.0% trong tổng số ở độ tuổi vào khoảng từ 36 đến 50 tuổi Các nữ doanh nhân này có trình độ học vấn không cao với 5,5% trong tổng mẫu điều tra có trình độ đại học trở lên, có số năm hoạt động kinh doanh chủ yếu trên 10 năm (63,5%) Phần lớn họ đều có người thân sở hữu doanh nghiệp (90%), đã tham gia một số chương trình đào tạo (51,5%) liên quan đến lĩnh vực quản trị doanh nghiệp, quản trị tài chính, quản trị nhân
sự, phổ cập kiến thức luật lao động, luật doanh nghiệp; đã từng làm công việc kinh doanh trước khi làm chủ
và quản lý doanh nghiệp hiện tại (97,5); có thời gian trung bình mỗi ngày dành cho hoạt động kinh doanh
từ 8 đến 12 tiếng (90,0%); ngoài làm chủ DN hiện tại thì có tham gia hoạt động kinh doanh khác (75,0%) Khi được điều tra về động cơ khởi nghiệp kinh doanh thì 42,5% nữ doanh nhân tham gia kinh doanh để làm giàu và tận hưởng cuộc sống độc lập về mặt tài chính, 30,0% để tận hưởng cuộc sống tự do khi làm chủ, 27,5% để thoát khỏi sự nhàm chán khi đi làm thuê Xét về đặc điểm doanh nghiệp do nữ doanh nhân làm chủ thì hình thức sở hữu doanh nghiệp tư nhân và công ty TNHH là chiếm đa số với tỷ lệ lần lượt là 48,5%
và 47,0% một cách tương ứng trong mẫu khảo sát và các doanh nghiệp này chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ (97%) với quy mô lao động phổ biến là từ 10 đến 200 lao động (85%)
3.2.2 Kiểm định thang đo
Kết quả phân tích EFA cho thấy, giá trị kiểm định KMO lần lượt là 0,833; 0,756 lớn hơn 0,5 và p –
value (Sig.=0,000) của kiểm định Barlett đều bé hơn 0,05 dó đó thang đo năng lực kinh doanh của nữ doanh nhân và kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đều đảm bảo các điều kiện để tiến hành phân tích nhân tố khám phá EFA
Về thang đo năng lực kinh doanh của nữ doanh nhân với số lượng 9 nhân tố được rút trích tương ứng với 9 nhóm năng lực kinh doanh thành phần được đề xuất trong mô hình lý thuyết từ 64 biến quan sát ban đầu, tổng phương sai trích của phân tích EFA thu được là 81,766% (>50%), tất cả các nhân tố mới được rút trích đều đảm bảo các điều kiện về giá trị Eigenvalue lớn hơn 1, phương sai trích, cũng như điều kiện về hệ
số tải nhân tố đều lớn hơn 0.5 (Bảng 1) Về thang đo kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, 13 biến quan sát được đưa vào phân tích đã rút trích ra được 4 nhân tố tương ứng với 4 phương diện của kết quả hoạt động kinh doanh, với tổng phương sai trích là 82,012% (>50%), tất cả các nhân tố mới được rút trích đều đảm bảo các điều kiện về giá trị Eigenvalue lớn hơn 1, các hệ số tải nhân tố của các biến quan sát trong từng yếu tố được rút trích đều lớn hơn 0,5 (Bảng 1) Do đó, thang đo các biến nghiên cứu đều thỏa mãn cả 2 tiêu chí về tính hội tụ (convergent validity) và tính biệt hóa (discriminant validity)
Kết quả kiểm định độ tin cậy thang đo (bảng 1) cho thấy, thang đo các nhân tố thuộc 2 nhóm biến
nghiên cứu đều đảm bảo độ tin cậy với hệ số Cronbach Alpha lớn hơn 0,8
Kết quả phân tích nhân tố khẳg định (CFA) cho thang đo năng lực kinh doanh của nữ doanh nhân
cho thấy các chỉ số đánh giá: CMIN/DF= 2,025 (<3), GFI= 0,708 (< 0,9), TLI= 0,890 (≈ 0,9), CFI= 0,898 (≈ 0,9) và RMSEA= 0,056 (< 0,08) Đối với thang đo kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thì CMIN/DF= 1,974 (<3), GFI= 0,921 (> 0,9), TLI= 0,969 (> 0,9), CFI= 0,976 (> 0,9) và RMSEA= 0,057 (< 0,08) đều thỏa mãn điều kiện Do vậy, có thể kết luận thang đo các biến nghiên cứu là phù hợp với dữ liệu thị trường
Ngoài ra, thang đo của các biến nghiên cứu đều đáng tin cậy, đạt giá trị hội tụ trong từng nhóm thang
đo, đạt tính đơn nguyên và thỏa mãn yêu cầu về giá trị phân biệt
Trang 6Bảng 1 Tổng hợp kết quả phân tích thang đo các biến nghiên cứu
Thang đo loadingFactor Eigenvalue Phương sai trích AlfaĐộ tin cậy thang đoCR AVE
Năng lực tổ chức và lãnh đạo (TCLD) 4,922 10,701 0,836 0,837 0,581
Năng lực định hướng chiến lược (DHCL) 3,588 7,799 0,830 0,835 0,644
HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP (HDDN)
Phương diện quy trình nội bộ (QTNB) 4,555 35,038 0,917 0,917 0,690
Trang 7QTNB5 0,783
Phương diện đào tạo và phát triển (DTPT) 1,886 14,510 0,892 0,894 0,739
Chú thích:
Alfa - Hệ số Cronbach’s alpha
CR (Composite Reliability) - Độ tin cậy tổng hợp
AVE (Average variance extracted) - Trung bình phương sai rút trích
3.2.3 Ảnh hưởng của năng lực kinh doanh của nữ doanh nhân đến kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế
Sau khi xem xét độ phù hợp của mô hình, nghiên cứu thu được mô hình ước lượng cuối cùng Dựa trên kết quả trong bảng 2 cho thấy, 9 mối quan hệ được kiểm định đều có ý nghĩa thống kê (P-value <0,05) Trong đó, kết quả hoạt động của doanh nghiệp chịu sự chi phối mạnh nhất của nhóm năng lực cá nhân, tiếp đến là nhóm năng lực đạo đức và nhóm năng lực thiết lập quan hệ với hệ số hồi quy chuẩn hóa lần lượt là 0,209; 0,159 và 0,141
Bảng 2 Kết quả phân tích mối quan hệ giữa các biến nghiên cứu
Mối quan hệ tương quan giữa các
Ghi chú: Estimate: giá trị ước lượng; S.E.: sai lệch chuẩn; C.R.: giá trị tới hạn,
*** - tương đương với giá trị 0,000
Kết quả nghiên cứu này chứng minh sự ảnh hưởng của 9 nhóm năng lực kinh doanh thành phần của các nữ doanh nhân đến kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp do họ làm chủ Việc hoàn thiện và phát triển các nhóm năng lực này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc giúp họ vượt qua những rào cản
về giới, về khả năng tiếp cận nguồn lực và chinh phục các thách thức trong bối cảnh áp lực cạnh tranh ngày càng khốc liệt để gặt hái được những thành tự kinh doanh tốt đẹp Kết quả nghiên cứu cũng đã chỉ ra được nhiều điểm tương đồng với các nghiên cứu của Man và cộng tác giả (2002), Baum và cộng sự (2001), Sony
và Iman (2005), Man và cộng sự (2008), Ahmad và cộng sự (2010), Sánchez (2011), Ng và Kee (2013), Bendary và Minyawi (2015), Tehseen và Ramayah (2015) khi tìm ra được bằng chứng thống kê cho sự tác động của các nhóm năng lực kinh doanh thành phần đến kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Trang 8Ngoài ra, quan điểm phụ thuộc vào nguồn lực (Resource Base View – RBV) cũng được ủng hộ khi cho rằng năng lực doanh nhân là nguồn lực khan hiếm và vô giá của doanh nghiệp nên nó là một trong những nhân
tố quan trọng ảnh hưởng đến kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Có thể nói rằng sức mạnh cá nhân là một trong những nhóm năng lực đặc biệt để các doanh nhân hoàn thành mọi vai trò khác nhau trong doanh nghiệp (Man, 2001) Kết quả nghiên cứu này đã chứng minh được rằng kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp chịu sự tác động lớn nhất của nhóm năng lực cá nhân của đội ngũ nữ doanh nhân trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế Tương tự với nghiên cứu của Ahmad ( 2007), năng lực cá nhân của nữ doanh nhân là chìa khóa thành công của doanh nghiệp và nó được biểu hiện qua thái độ lạc quan trong kinh doanh, việc sử dụng hiệu quả thời gian của bản thân , nhận diện được điểm mạnh và điểm yếu của bản thân, dám chấp nhận rủi ro trong kinh doanh, bền bỉ cả về thể chất lẫn tinh thần, cân bằng giữa gia đình và công việc kinh doanh Chính nhóm năng lực kinh doanh này đã giúp đội ngũ nữ doanh nhân Thừa Thiên Huế vượt qua những định kiến xã hội và quan niệm truyền thống hà khắc về vai trò
“tề gia nội trợ” của người phụ nữ, chinh phục những rào cản về sự bất bình đẳng giới và cơ hội tiếp cận các nguồn lực kinh doanh Do đó, việc sở hữu nhóm năng lực cá nhân sẽ trang bị họ có được những kiến thức,
kỹ năng và thái độ phù hợp để khởi nghiệp kinh doanh thành công
Trong kinh doanh, đích đến của một doanh nhân là kiếm tìm lợi nhuận Tuy nhiên, điều đó vẫn chưa
đủ để tạo ra sự phát triển lâu dài, toàn diện và cân bằng giữa các phương diện được phản ánh trong kết quả kinh doanh của doanh nghiệp do đó, để đảm bảo sự phát triển bền vững trong bối cảnh hội nhập và cạnh tranh trên phạm vi toàn cầu thì đòi hỏi các doanh nhân phải ý thức được rằng ngoài việc làm giàu cho bản thân, họ còn phải có năng lực thực hiện hành vi đạo đức với đội ngũ của mình, với khách hàng, với các đối tác kinh doanh, với cộng đồng xã hội và môi trường sinh thái Kết quả nghiên cứu cho thấy, đội ngũ nữ doanh nhân Huế được đánh giá cao về khả năng thực hiện các hành vi và tuân thủ các chuẩn mực đạo đức trong kinh doanh ví dụ như sẵn lòng thừa nhận lỗi lầm và phản ánh đúng sự thật về sản phẩm hay dịch vụ kinh doanh; luôn tôn trọng lợi ích của khách hàng, nhân viên và các đối tác kinh doanh, tạo ra nhiều cơ hội việc làm cho người dân… Nhóm năng lực này tạo ra những tác động tích cực, bền vững và dài hạn lên kết quả kinh doanh của doanh nghiệp Ormeand Ashton (2003) cũng đã bàn luận rằng, hành vi đạo đức trong kinh doanh là thành tố quan trọng của khung lý thuyết về năng lực kinh doanh của doanh nhân và là khung xương quyết định sự trường tồn của doanh nghiệp trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập sâu rộng Thực tế trên địa bàn nghiên cứu cho thấy hoạt động kinh doanh của các DNNVV thường phụ thuộc nhiều và mạng lưới các mối quan hệ với các đối tác hữu quan như là khách hàng, nhà cung ứng, người lao động, quan chức chính quyền, đối thủ cạnh tranh, cổ đông hay nhà đầu tư để nắm bắt thông tin và tiếp cận nguồn lực Khả năng đáp ứng của các doanh nhân trên địa bàn nghiên cứu đối với nhóm năng lực này là 3,88 nên đây là một trong những lợi thế của đội ngũ nữ doanh nhân Do đó, khách hàng sẽ hài lòng và trung thành, người lao động sẽ thỏa mãn và cam kết gắn bó lâu dài, quy trình nội bộ sẽ được hoàn thiện trong phạm vi doanh nghiệp
Năng lực định hướng chiến lược phản ánh khả năng của người đứng đầu tổ chức trong việc phát triển tầm nhìn và thực thi chiến lược trong tương lai (Stonehouse & Pemberton, 2002) Một khi doanh nhân có được tầm nhìn tốt thì họ sẽ hành động và quyết định phù hợp để giúp doanh nghiệp đạt được những lợi thế cạnh tranh vượt trội so với đối thủ Chính doanh nhân là người sẽ xây dựng những chiến lược để kết nối giữa các nguồn lực doanh nghiệp và và năng lực kinh doanh của chính doanh nhân để tạo ra những chuyển biến tích cực trong kết quả hoạt động của doanh nghiệp Tuy nhiên, khả năng đáp ứng của các doanh nhân trên địa bàn nghiên cứu đối với nhóm năng lực này là thấp nhất trong 9 nhóm năng lực kinh doanh thành phần
Trang 9(điểm trung bình đánh giá là 3,47) Tương tự với nghiên cứu của Nguyễn Thành Long (2016) thì nghiên cứu này đã tìm ra được bằng chứng thống kê thuyết phục về sự tác động trực tiếp của năng lực này đến kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Nghiên cứu của Man and Lau (2005) cũng cho thấy rằng mức
độ đáp ứng của doanh nhân Hồng Kong đối với nhóm năng lực này là không cao và họ đánh giá rằng mục tiêu kinh doanh của họ chưa rõ ràng và họ không cần đến nhóm năng lực này
Các nữ doanh nhân được khảo sát cho rằng để tạo ra sự bùng nổ trong kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thì năng lực nhận thức hay năng lực phân tích - sáng tạo bao gồm khả năng khám phá và thương mại hóa được các ý tưởng, tạo ra sự khác biệt trong kinh doanh, đánh giá được các rủi ro tiềm ẩn là cần thiết nhưng trên thực tế họ vẫn chưa có được các ý tưởng kinh doanh tốt để thu được lợi nhuận từ các
ý tưởng đó và vẫn chưa thực sự chủ động, còn lúng túng khi một vài rủi ro tiềm ẩn có thể xảy ra trong tiến trình kinh doanh (điểm trung bình đánh giá về khả năng đáp ứng của nhóm năng lực này là 3,29) Man và cộng sự (2002), Sánchez (2011) cũng đã chứng minh được sự tồn tại của mối quan hệ giữa 2 biến nghiên cứu này trong đề tài của họ
Trong phạm vi DNNVV trên địa bàn nghiên cứu, thay vì có bộ phận nhân sự chuyên trách và hỗ trợ trong công tác tổ chức nhân sự thì phần lớn chủ doanh nghiệp thường phải là người trực tiếp tương tác và làm việc với người lao động Do đó, đội ngũ nữ doanh nhân Thừa Thiên Huế ý thức cao về vai trò và tầm quan trọng của việc lập kế hoạch kinh doanh, tổ chức nguồn lực, phối hợp công việc, giám sát, lãnh đạo, động viên cấp dưới và ủy quyền trong quản trị nhưng khả năng đáp ứng hiện tại của họ đối với nhóm năng lực này vẫn còn nhiều hạn chế (điểm trung bình đánh giá là 3,12) Kết quả nghiên cứu thực hiện bởi Ahmad (2007) cho thấy rằng phần lớn các doanh nhân ở Australia và Malaysia dành nhiều thời gian và cho công tác hoặc định và tổ chức nguồn lực cho doanh nghiệp và họ cũng ý thức cao về vai trò quan trọng của nhóm năng lực này trong việc tạo ra kết quả kinh doanh của doanh nghiệp Kết quả này có nhiều điểm tương đồng với nghiên cứu của Ngô Quý Nhâm (2013) khi cho rằng trong tất cả các kỹ năng tổ chức và lãnh đạo, kỹ năng trao quyền cho cấp dưới được đánh giá là có mức độ đáp ứng, tần suất sử dụng chưa cao đối với các giám đốc điều hành ở Việt Nam
Kết quả nghiên cứu cho thấy, các nữ doanh nhân Thừa Thiên Huế khi vào vai người chủ của các doanh nghiệp nhỏ và vừa thì bản thân họ phải trực tiếp gắn liền với những hoạt động đánh giá và khai thác các cơ hội kinh doanh trên thị trường, tìm kiếm sản phẩm hay dịch vụ mới và thậm chí là tạo ra xu hướng để nâng cao giá trị gia tăng cho người tiêu dùng và đến lượt nó sẽ giúp cải thiện các chỉ tiêu tài chính và phi tài chính cho doanh nghiệp Tuy nhiên, việc phát hiện và khai thác được những cơ hội kinh doanh phụ thuộc rất lớn vào năng lực nắm bắt cơ hội của họ Cũng như một số nghiên cứu của Man và cộng tác giả (2002), Sony
và Iman (2005), Bendary và Minyawi (2015), nghiên cứu này đã tìm ra được những bằng chứng thống kê thuyết phục cho sự tồn tại của mối quan hệ giữa năng lực nắm bắt cơ hội và kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Từ kết quả phân tích, năng lực nắm bắt cơ hội làm một trong số nhóm năng lực mà bản thân các nữ doanh nhân Thừa Thiên Huế đã phần nào đáp ứng tốt với điểm trung bình đánh giá là 3,92 và đây là một tín hiệu vui cho các DNNVV trên địa bàn nghiên cứu trên lộ trình nâng cao kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Năng lực cam kết là một trong những năng lực quan trọng của doanh nhân thành đạt (Chandler &
Jansen, 1992) Nhóm năng lực này có mức độ quan trọng (điểm trung bình đánh giá là 3,55) và khả năng đáp ứng (điểm trung bình đánh giá là 3,77) cũng khá cao so với các nhóm năng lực kinh doanh khác theo đánh giá của các nữ doanh nhân trên địa bàn nghiên cứu Điều này chứng tỏ họ đã thực sự kiên trì với mục tiêu, luôn nỗ lực hết mình vì sự nghiệp kinh doanh và không để hoạt động kinh doanh thất bại khi vẫn còn
Trang 10có cơ hội và điều này sẽ giúp duy trì và phát triển kết quả kinh doanh của doanh nghiệp Kết quả này có nhiều điểm tương đồng với nghiên cứu của Man và cộng sự (2008) khi cung cấp được bằng chứng thống kê ủng hộ sự tồn tại của mối quan hệ này
Năng lực học tập thể hiện thông qua khả năng học tập từ nhiều cách thức khác nhau (học từ trường lớp
và từ thực tế công việc), chủ động học tập, cập nhật những vấn đề mới trong kinh doanh, áp dụng các kiến thức và kỹ năng vào hoạt động kinh doanh Khả năng đáp ứng hiện tại của đội ngũ nữ doanh nhân trên địa bàn nghiên cứu đối với nhóm năng lực này là chưa thực sự tốt (điểm trung bình đánh giá là 3,51) Ðiều này được lý giải do ở nước ta nói chung và Tỉnh Thừa Thiên Huế nói riêng, các DN phần lớn đi lên từ các mô hình sản xuất gia đình, cá thể nhỏ lẻ, khi có cơ hội làm ăn thì thành lập doanh nghiệp và các doanh nhân trở thành giám đốc; một bộ phận khác làm giám đốc doanh nghiệp theo con đường “cha truyền con nối” mà chưa trải qua một trường lớp đào tạo nào Con đường trở thành chủ doanh nghiệp khá đơn giản này thuờng xuất hiện ở các DNNVV và điều này sẽ dẫn đến những hạn chế về tầm nhìn, tâm lý làm ăn chụp giật, thiếu kiến thức kinh doanh trong, thiếu am hiểu luật pháp quốc tế của đội ngũ nữ doanh nhân này
4 KẾT LUẬN
Thông qua một số phương pháp nghiên cứu định tính như tổng hợp tài liệu, thảo luận sâu đối với các chuyên gia kết hợp các kỹ thuật phân tích định lượng như kỹ thuật phân tích nhân tố khám phá (EFA) và phân tích nhân tố khẳng định (CFA) trên quy mô mẫu 200 nữ doanh nhân, nghiên cứu này bước đầu đã thành công trong việc phát triển thang đo phù hợp để đánh giá năng lực kinh doanh của đội ngũ nữ doanh nhân và đo lường kết quả hoạt động kinh doanh của các DNNVV trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế Trên
cơ sở đó, việc áp dụng mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM) đã tìm ra những bằng chứng thống kê để chứng
bắt cơ hội, năng lực thiết lập quan hệ, năng lực định hướng chiến lược, năng lực cá nhân, năng lực cam kết, năng lực học tập, năng lực tổ chức - lãnh đạo, năng lực nhận thức và năng lực đạo đức) và kết quả hoạt động kinh doanh của DNNVV trên địa bàn nghiên cứu Trong đó, kết quả kinh doanh của doanh nghiệp chịu sự tác động mạnh nhất của năng lực cá nhân, năng lực đạo đức, năng lực thiết lập quan hệ
Có thể kết luận rằng, nghiên cứu này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng việc giúp các nữ doanh nhân nhận thức rõ hơn tầm quan trọng của năng lực cá nhân đối với việc nâng cao kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Từ đó, họ sẽ có những định hướng học tập và tìm kiếm các chương trình đào tạo phù hợp để phát huy các nhóm năng lực kinh doanh cần thiết Về phía các đơn vị đào tạo trên địa bàn cần có sớm giới thiệu và lồng ghép các chương trình đào tạo sáng tạo khởi nghiệp ngắn hạn cũng như dài hạn trên cơ sở nhu cầu và sự thiếu hụt của doanh nghiệp và doanh nhân đã được phản ánh trong nghiên cứu này Ngoài ra, đối với các sở ban ngành ở địa phương cũng cần ban hành các chủ trương, chính sách hỗ trợ, phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp và đồng hành với các cơ sở giáo dục hình thành các vườn ươm doanh nghiệp để góp phần tiếp lửa và nâng cao năng lực kinh doanh cho đội ngũ nữ doanh nhân trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế
TÀI LIỆU THAM KHẢO
English
Ahmad, N (2007), A Cross-Cultural Study of Entrepreneurial Competencies and Entreprenuerial Success in SMEs in Australia and Malaysia, The University of Adelaide, Phd thesis.
Atkinson, A.A., Waterhouse, J.H., and Wells, R.B., (2007), A stakeholder approach to strategic performance
measurement, Sloan Management Review, 38 (3): 25-37.