1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định kinh doanh của giới trẻ - bối cảnh là sinh viên trường Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh

12 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 469,24 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khởi nghiệp kinh doanh riêng là giấc mơ của thế hệ trẻ, sinh viên ở nhiều trường đại học đã nghĩ đến các các hoạt động kinh doanh riêng ngay khi còn đang theo học tại trường. Nghiên cứu này tìm cách xác định các yếu tố ảnh hưởng đến ý định kinh doanh của sinh viên. Nghiên cứu lấy mẫu gồm 304 sinh viên chuyên ngành Quản trị của trường đại học Kinh tế TP.HCM. Kỹ thuật phân tích gồm phân tích nhân tố và hồi quy đa biến để kiểm tra các yếu tố ảnh hưởng đến ý định kinh doanh.

Trang 1

BỐI CẢNH LÀ SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Thảo Nguyên*1

TÓM TẮT: Khởi nghiệp kinh doanh riêng là giấc mơ của thế hệ trẻ, sinh viên ở nhiều trường đại học đã nghĩ

đến các các hoạt động kinh doanh riêng ngay khi còn đang theo học tại trường Nghiên cứu này tìm cách xác định các yếu tố ảnh hưởng đến ý định kinh doanh của sinh viên Nghiên cứu lấy mẫu gồm 304 sinh viên chuyên ngành Quản trị của trường đại học Kinh tế TP.HCM Kỹ thuật phân tích gồm phân tích nhân tố và hồi quy đa biến để kiểm tra các yếu tố ảnh hưởng đến ý định kinh doanh Nghiên cứu chứng minh các yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến ý định kinh doanh bao gồm thái độ cá nhân đối với khởi nghiệp, xu hướng chấp nhận rủi ro, kiểm soát kết quả, chuẩn chủ quan Nghiên cứu cũng khám phá được giới tính, điểm trung bình học tập cũng

có tác động đến ý định kinh doanh của họ Từ kết quả nghiên cứu, để thúc đẩy ý định kinh doanh của người trẻ, quan trọng hơn hết vẫn là những kiến thức nhận được, những yếu tố cá nhân của người trẻ.

Từ khóa: ý định kinh doanh; xu hướng chấp nhận rủi ro; chuẩn chủ quan

1 GIỚI THIỆU

Hoạt động kinh doanh có vai trò ngày càng quan trọng trong các khía cạnh khác nhau của phát triển kinh tế và xã hội trên toàn thế giới Do đó, không có gì ngạc nhiên khi hành vi kinh doanh đã hiện diện trong rất nhiều nghiên cứu (Busenitz và cộng sự, 2003; Shane và Venkataraman, 2000; Shepherd và cộng sự, 2015) Đánh giá chung về thị trường lao động Việt Nam, quý 1/2018, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của cả nước ước tính là 55,1 triệu người, tăng 586,8 nghìn người so với cùng kỳ năm trước Theo đánh giá của Bộ trưởng thì tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm có xu hướng giảm dần qua các quý

Số người thất nghiệp trong quý 1/2018 là 1,1 triệu người, tỷ lệ thất nghiệp chung của toàn quốc khoảng 2,01% (tỷ lệ này của quý 1/2017 là 2,30%) Trong khi, tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên là trên 7% Đây

là vấn đề vì tỷ lệ thất nghiệp thanh niên cao có thể dẫn đến tuổi thọ thấp hơn, tình trạng di cư khi những người trẻ rời khỏi nơi ở của họ để tìm kiếm việc làm Điều này cũng có tác động lớn đến xã hội và nền kinh tế nói chung Khởi nghiệp đã thu hút được sự chú ý của các nhà nghiên cứu và các nhà hoạch định chính sách trong những thập kỷ qua Lý do chính của mối quan tâm này là nhu cầu ngày càng tăng đối với các doanh nghiệp để thúc đẩy phát triển kinh tế thông qua việc tạo ra những ý tưởng mới và chuyển đổi chúng thành các dự án có lợi nhuận Hoạt động kinh doanh không chỉ là vườn ươm của đổi mới công nghệ; chúng cung cấp cơ hội việc làm và tăng khả năng cạnh tranh (Reynolds, 1987; Zahra, 1999) Các nhà hoạch định chính sách nên tập trung vào câu hỏi tại sao một số người chọn nghề nghiệp kinh doanh

và những người khác thì không, tác giả muốn khám phá các yếu tố ảnh hưởng đến ý định kinh doanh của sinh viên trong nghiên cứu này

* Trường đại học Kinh tế TP.HCM, 59c Nguyễn Đình Chiểu, Quận 3, TP.HCM, Việt Nam, Tác giả nhận phản hồi: Tel.: +84 983

637 812, E-mail address: nguyennt@ueh edu.vn

Trang 2

2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT

Ý định kinh doanh có thể được định nghĩa là ý định của một cá nhân để bắt đầu một doanh nghiệp mới (N F Krueger, 2017) Nó đại diện cho một định hướng tinh thần như mong muốn, và hy vọng để giải quyết

sự lựa chọn của cá nhân đối với ý định kinh doanh (Peng và cộng sự, 2012) Ý định kinh doanh là một quá trình mà thông qua đó các cá nhân xác định các cơ hội, phân bổ nguồn lực và tạo ra giá trị Việc tạo ra giá trị này thường thông qua việc xác định các nhu cầu chưa được đáp ứng hoặc thông qua việc xác định các

cơ hội để thay đổi (Turker và Sonmez Selcuk, 2009) Ý định được coi là chỉ báo tốt nhất về hành vi thực tế (Ajzen, 1991) và ý định kinh doanh là trung tâm để hiểu rõ hơn về hành vi kinh doanh trong quá trình khám phá, tạo và khai thác các cơ hội (Gartner và cộng sự, 1994)

Có hai mô hình lý thuyết chính về ý định kinh doanh Một trong những mô hình xuất hiện sớm nhất

là mô hình ý định kinh doanh (Shapero, 1975; Shapero và Sokol, 1982) Dựa trên mô hình này, ý định kinh doanh phụ thuộc vào ba tiền đề chính: nhận thức mong muốn, xu hướng hành động, và nhận thức tính khả thi Một mô hình lý thuyết quan trọng khác của ý định kinh doanh được ứng dụng từ lĩnh vực tâm lý xã hội

Nó được gọi là Lý thuyết hành vi được lên kế hoạch Lý thuyết này được phát triển bởi Ajzen (1991) như

là một khuôn mẫu có thể được áp dụng cho các bối cảnh hành vi khác nhau, và nó đã được giới thiệu với bối cảnh ý định kinh doanh của N F Krueger và Carsrud (1993) Theo mô hình này, các biến ảnh hưởng đến ý định kinh doanh bao gồm: thái độ đối với ý định kinh doanh, chuẩn chủ quan và kiểm soát hành vi nhận thức Ngoài ra, cũng có những nỗ lực để phát triển các mô hình lý thuyết mới về ý định kinh doanh (Davidsson, 1995; N Krueger và cộng sự, 2000) và tích hợp chúng thành một mô hình đơn nhất (L Shook

và Bratianu, 2010; Schlaegel và Koenig, 2014)

Một số nhà nghiên cứu chủ yếu tập trung vào tác động của đặc điểm cá nhân trong quá trình ra quyết định (Bonnett và Furnham, 1991; Brockhaus, 2000) Mặc dù các kết quả khác nhau giữa các nghiên cứu, chúng thường chỉ ra mối liên hệ giữa ý định kinh doanh và một số yếu tố tính cách, chẳng hạn như sự tự tin, khả năng chấp nhận rủi ro, mong muốn đạt thành tích, và kiểm soát kết quả Tuy nhiên, con người được bao quanh bởi văn hóa, xã hội, kinh tế, chính trị, nhân khẩu học và các yếu tố công nghệ Do đó, những đặc điểm cá nhân không thể cô lập từ những yếu tố ngữ cảnh này Trong các nghiên cứu trước, có một số nghiên cứu có tính đến vai trò của các yếu tố này Ví dụ, theo Hisrich (1990), mọi người có thể bị đẩy hoặc kéo bởi các yếu tố tình huống, có liên quan đến nguồn gốc cá nhân và cuộc sống hiện tại của họ Từ quan điểm rộng hơn, các khuôn khổ văn hóa và thể chế cũng ảnh hưởng đến ý định kinh doanh (Thurik và Wennekers, 1999) Thật vậy, bối cảnh là quan trọng và điều này có thể quan trọng hơn đối với các nước đang phát triển như Việt Nam Lüthje và Franke (2003) đã thêm xu hướng chấp nhận rủi ro và kiểm soát kết quả như các biến cá nhân bổ sung cho mô hình Segal và cộng sự (2005) đưa nhận thức rủi ro vào phân tích ý định kinh doanh của họ, trong khi Carr và Sequeira (2007); Peng và cộng sự (2012) bao gồm kinh nghiệm trước khi kinh doanh (cá nhân và/hoặc gia đình) Nghiên cứu của tác giả liên kết ý định kinh doanh với thái độ và yếu tố cá nhân sẽ giúp hiểu rõ hơn về ý định kinh doanh của người trẻ Kết quả nghiên cứu có thể giúp các nhà hoặch định chính sách và sự giáo dục tại các trường đại học sẽ đáp ứng tốt nhất và thúc đẩy ý định kinh doanh cho người trẻ

3 KHÁI NIỆM VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU

Mô hình nghiên cứu của tác giả dựa trên lý thuyết hành vi có kế hoạch và bổ sung các biến cá nhân (kiểm soát kết quả và xu hướng chấp nhận rủi ro) và biến ngữ cảnh (các rào cản được nhận thức và các yếu tố hỗ trợ được cảm nhận) Tác giả cũng đưa vào những yếu tố chính sách về ý định kinh doanh Ngoài ra, tác giả cũng

Trang 3

đặt giả thuyết mối quan hệ giữa những yếu tố nhân khẩu học như giới tính, số năm học tại trường đại học, thu nhập, điểm số với Ý định kinh doanh Mô hình nghiên cứu của tác giả được trình bày trong Hình 1

Hình 1 Mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến ý định kinh doanh

Thái độ cá nhân đối với khởi nghiệp, chuẩn chủ quan và Kiểm soát hành vi được nhận nhận thức là các biến tiền đề cơ bản của ý định kinh doanh và chúng đại diện cho các yếu tố nguyên thủy của lý thuyết hành

vi có kế hoạch (Ajzen, 1991) Thái độ cá nhân đối với khởi nghiệp đề cập đến mức độ mà cá nhân nhận định tích cực hoặc tiêu cực về việc trở thành một doanh nhân (Linan và Chen, 2009) Chuẩn chủ quan thể hiện áp lực xã hội thừa nhận để thực hiện hoặc không thực hiện hành vi kinh doanh Nó đề cập đến nhận thức rằng

“người tham khảo” sẽ chấp nhận quyết định trở thành một doanh nhân, hay không (Linan và Chen, 2009) Kiểm soát hành vi được nhận thức được định nghĩa là nhận thức về sự dễ dàng hoặc khó khăn của việc trở thành một doanh nhân

Ba biến này về mặt lý thuyết được coi là những yếu tố dự báo chính về ý định trong bất kỳ ngữ cảnh hành vi nào, không chỉ là kinh doanh (Ajzen, 1991) Có rất nhiều nghiên cứu sử dụng mô hình này trong các thiết lập khác nhau, và với kết quả hơi mâu thuẫn N Krueger và cộng sự (2000) đã tìm thấy bằng chứng thực nghiệm về mối quan hệ tích cực giữa Thái độ cá nhân đối với khởi nghiệp và Kiểm soát hành vi nhận thức với ý định kinh doanh, và họ không thể tìm thấy bằng chứng thực nghiệm về mối quan hệ giữa chuẩn chủ quan và ý định kinh doanh Autio và cộng sự (2001) cũng không thể xác nhận thực nghiệm mối quan hệ tích cực giữa chuẩn chủ quan và ý định kinh doanh Mặt khác, một số nghiên cứu đã tìm thấy bằng chứng thực nghiệm cho mối quan hệ tích cực giữa cả ba biến tiền đề cơ bản và ý định kinh doanh (Kolvereid, 1996; Kolvereid và Isaksen, 2006; Tkachev và Kolvereid, 2010) Do đó, tác giả đề xuất các giả thuyết sau:

H1: Thái độ cá nhân đối với khởi nghiệp ảnh hưởng tích cực đến Ý định kinh doanh.

H2: Kiểm soát hành vi được nhận thức ảnh hưởng tích cực đến Ý định kinh doanh.

Trang 4

H3: Chuẩn chủ quan ảnh hưởng tích cực đến ý định kinh doanh.

Yếu tố tiếp theo tác giả muốn đưa vào mô hình là hỗ trợ giáo dục Rõ ràng là giáo dục trong các trường đại học là một cách hiệu quả để có được kiến thức cần thiết về ý định kinh doanh Mặc dù, trong nghiên cứu của Wang và Wong (2004) chủ yếu tập trung vào đặc điểm cá nhân của sinh viên, họ cũng chỉ ra rằng thực

tế là những giấc mơ kinh doanh của nhiều sinh viên bị cản trở bởi sự chuẩn bị không đầy đủ Tuy nhiên, đôi khi các trường đại học bị chỉ trích là quá lý thuyết và và kiến thức kinh doanh thì không đủ Tác giả đưa giả thuyết mối quan hệ giữa hỗ trợ giáo dục và Ý định kinh doanh:

H4: Hỗ trợ giáo dục được nhận thức ảnh hưởng tích cực đến Ý định kinh doanh

Kiểm soát kết quả và xu hướng chấp nhận rủi ro đại diện cho hai biến bổ sung Chúng đại diện cho các biến cá nhân và có thể cho phép khám phá sự khác biệt về tính cách ảnh hưởng đến ý định kinh doanh Kiểm soát kết quả đại diện cho mức độ mà cá nhân tin rằng họ có quyền kiểm soát kết quả của các sự kiện trong cuộc sống của họ (Lumpkin, 1985; Rotter, 1966) Chấp nhận rủi ro là xu hướng của cá nhân để tham gia vào các hoạt động được coi là rủi ro (Brockhaus, 2000) Có một số nghiên cứu trước đây cung cấp bằng chứng thực nghiệm về sự tồn tại của mối quan hệ tích cực giữa hai biến này và ý định kinh doanh (Bonnett và Furnham, 1991; Hisrich và P Peters, 2005; Lüthje và Franke, 2003) Do đó, tác giả đề xuất các giả thuyết sau:

H5: Kiểm soát kết quả ảnh hưởng tích cực đến Ý định kinh doanh.

H6: Xu hướng chấp nhận rủi ro ảnh hưởng tích cực đến Ý định kinh doanh.

Một tập hợp các biến khác được thêm vào mô hình thể hiện các biến theo ngữ cảnh Biến ngữ cảnh bao gồm các yếu tố ngữ cảnh khác nhau: kinh tế, xã hội và văn hóa Chúng là các yếu tố hỗ trợ được nhận thức và các rào cản được nhận thức đã được phát triển bởi Lüthje và Franke (2003) Các nghiên cứu trước

đó còn cho thấy tầm quan trọng của các biến ngữ cảnh xã hội, văn hóa, thể chế và kinh tế khác nhau cho quá trình hình thành ý định kinh doanh ở cấp độ cá nhân Các nghiên cứu trước đây đã khám phá ảnh hưởng của các biến ngữ cảnh như thái độ đối với ý định kinh doanh trong xã hội, sự sẵn có của các trung tâm hỗ trợ khởi nghiệp, tài trợ, nội dung truyền thông đại chúng (Hisrich và P Peters, 2005; Lüthje và Franke, 2003) Những yếu tố này đã được tìm thấy có mối liên hệ mạnh mẽ với các hoạt động kinh doanh Do đó, các giả thuyết sau đây được đề xuất:

H7: Các yếu tố hỗ trợ được nhận thức ảnh hưởng tích cực đến Ý định kinh doanh.

H8: Các rào cản được nhận thức ảnh hưởng tiêu cực đến Ý định kinh doanh.

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu được thực hiện thông qua 2 giai đoạn: Giai đoạn nghiên cứu sơ bộ được thực hiện thông qua: Thảo luận tay đôi với 18 sinh viên chuyên ngành Quản trị, thông qua bước này tác giả sẽ khám phá

và thu thập thêm 1 số yếu tố quan trọng tác động đến Ý định kinh doanh, kết hợp với các biến quan sát trong các nghiên cứu trước đây về Ý định kinh doanh mà tác giả tổng hợp được, xây dựng thang đo Giai đoạn Nghiên cứu định lượng chính thức tác giả sử dụng phương pháp lấy mẫu ngẫu nhiên phân tầng để lựa chọn 304 sinh viên chuyên ngành quản trị từ tổng thề sinh viên trường đại học kinh tế TP.HCM Thông qua phương pháp phỏng vấn trực tiếp sinh viên dựa trên câu hỏi đã soạn sẵn Số quan sát hợp lệ là 304 Tác giả thực hiện kiểm định thang đo nghiên cứu bằng hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá EFA, và kiểm định giả thuyết thông qua hồi quy đa biến bằng phần mềm SPSS 20

Trang 5

5 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

5.1 Mô tả mẫu nghiên cứu

Bảng 1 Mô tả mẫu nghiên cứu:

Tổng số 304 quan sát hợp lệ: trong đó sinh viên năm 3 chiếm 51,6% và sinh viên năm tư chiếm 48,4%

Về giới tính 63,6% là sinh viên nữ, 36,5% là sinh viên nam 18,2% sinh viên ở gia đình có công ty riêng Hơn 1 nữa đáp viên từng tham gia các khóa học về khởi nghiệp

Bảng 2 Mã hóa thang đo

Kiểm soát kết quả (Locus of Control_LOC)

LOC1 Khi tôi lên kế hoạch, tôi gần như chắc chắn rằng tôi có thể khiến chúng hoàn thành

LOC2 Tôi muốn mọi người hoàn thành công việc theo năng lực chứ không phải dựa vào may mắn LOC3 Điều gì xảy ra với tôi là do việc làm của tôi quyết định

LOC4 Có được một công việc tốt phụ thuộc vào đúng nơi và đúng thời điểm

Xu hướng chấp nhận rủi ro (Risk taking propensity_RTP)

RTP1 Khi tôi đi du lịch, tôi có xu hướng chọn các lộ trình mới

RTP2 Tôi thích thử những thứ mới (ví dụ: đồ ăn lạ hoặc đi đến những địa điểm mới)

RTP3 Tôi thích mạo hiểm

RTP4 Tôi chấp nhận rủi ro khi cần thiết để đạt được mục tiêu quan trọng

RTP5 Tôi hứng thú với các trò chơi mạo hiểm

RTP6 Tôi đưa ra quyết định mạo hiểm một cách nhanh chóng mà không cần quá nhiều thời gian RTP7 Để đạt được điều gì đó trong cuộc sống, người ta phải chấp nhận rủi ro

RTP8 Với một cơ hội lớn tôi có thể chấp nhận rủi ro cao

RTP9 Để đạt được lợi nhuận cao doanh nghiệp phải chấp nhận rủi ro cao

Rào cản được nhận thức (Perceived Barriers_PB)

PB1 Các ngân hàng không dễ dàng cho vay tín dụng để khởi nghiệp

PB2 Luật pháp (các quy tắc và quy định, thuế) gây cản trở việc mở một công ty

PB3 Thật khó để tìm thấy một ý tưởng kinh doanh mà chưa được thực hiện trước đây

PB4 Cơ sở hạ tầng (điện, nước, đường xá…) vẫn còn hạn chế

PB5 Sự thay đổi nhanh về công nghệ khiến cho các doanh nghiệp không thể theo kịp

PB6 Chi phí áp dụng công nghệ ở các doanh nghiệp cao

Các yếu tố hỗ trợ được nhận thức (Perceived Support Factors_PSF)

PSF1 Doanh nhân luôn có một hình ảnh tích cực trong xã hội

PSF2 Thành phố HCM có các chuyên gia Tư vấn và dịch vụ hỗ trợ cho các công ty mới

Trang 6

PSF3 Xu hướng đổi mới sáng tạo trong xã hội truyền cảm hứng để phát triển ý tưởng cho các doanh nghiệp mới.

Thái độ cá nhân đối với khởi nghiệp (Personal Attitude toward Entrepreneurship_PATE)

PATE1 Khởi nghiệp có nhiều thuận lợi hơn là bất lợi

PATE2 Khởi nghiệp hấp dẫn đối với tôi

PATE3 Nếu tôi có cơ hội và điều kiện, tôi muốn mở 1 công ty

PATE4 Trở thành doanh nhân đem đến cho tôi sự thỏa mãn tuyệt vời

PATE5 Trong số các lựa chọn khác nhau, tôi muốn là một doanh nhân

Kiểm soát hành vi được nhận thức (Perceived Behavioral Control_PBC)

PBC1 Tôi phải lên kế hoạch cụ thể trước khi khởi nghiệp

PBC2 Tôi có thể kiểm soát quá trình khởi nghiệp của tôi

PBC3 Tôi biết các yếu tố cần thiết để khởi nghiệp

PBC4 Tôi biết cách phát triển một dự án kinh doanh

PBC5 Nếu tôi cố gắng bắt đầu một công ty, tôi có khả năng thành công cao

PBC6 Khi xây dựng 1 kế hoạch tôi luôn có phương án dự trù khi kế hoạch thất bại

Chuẩn chủ quan (Subjective Norm_SN)

SN1 Nếu tôi quyết định khởi nghiệp, gia đình,người thân của tôi sẽ ủng hộ tôi

SN2 Nếu tôi quyết định khởi nghiệp, bạn bè của tôi sẽ ủng hộ tôi

SN3 Nếu tôi khởi nghiệp xã hội sẽ tôn trọng tôi

Hỗ trợ giáo dục được nhận thức (Perceived Educational Support_PES)

PES1 Giáo dục Đại học khuyến khích tôi phát triển những ý tưởng sáng tạo để trở thành một doanh nhân PES2 Trường đại học cung cấp những kiến thức cần thiết cho ý định kinh doanh của tôi

PES3 Trường đại học phát triển kỹ năng và khả năng kinh doanh của tôi

Ý định kinh doanh (Entrepreneurial Intention_EI)

EI1 Tôi sẵn sàng làm bất cứ điều gì để trở thành một doanh nhân

EI2 Mục tiêu chính của tôi là trở thành một doanh nhân

EI3 Tôi sẽ cố gắng hết sức để bắt đầu và điều hành công ty riêng

EI4 Tôi quyết tâm tạo ra một công ty trong tương lai

EI5 Tôi đã rất nghiêm túc nghĩ đến việc bắt đầu một công ty

EI6 Tôi có ý định vững chắc để bắt đầu một công ty một ngày nào đó

5.2 Kiểm tra độ tin cậy thang đo

Hệ số của Cronbach là một phép kiểm định thống kê về mức độ chặt chẽ mà các mục hỏi trong thang

đo tương quan với nhau Kết quả kiểm định thang đo Cronbach’s Alpha của các thành phần được trình bày trong Bảng 3 Tất cả các thang đo được thể hiện qua 45 biến quan sát, sau đi bỏ đi các biến LOC1, RTP5, RTP6, RTP9, PB1, PB6, PATE1, PBC1,PBC6, PES3 do có trương quan với biến tổng thấp (<0,3), kết qua sau khi loại biến được trình bày trong Bảng 3 các hệ số Cronbach’s Alpha đều đạt yêu cầu

Trang 7

Bảng 3 Kết quả kiểm tra độ tin cậy thang đo của các khái niệm nghiên cứu

Biến quan

sát Trung bình thang đo nếu loại biến Phương sai thang đo nếu loại biến Tương quan biến tổng Cronbach’s Alpha nếu loại biến Kiểm soát kết quả: Cronbach’s alpha = 0,685

Xu hướng chấp nhận rủi ro: Cronbach’s alpha = 0,687

Rào cản được nhận thức: Cronbach’s alpha = 0,691

Các yếu tố hỗ trợ được nhận thức: Cronbach’s alpha = 0,652

Thái độ cá nhân đối với khởi nghiệp: Cronbach’s alpha = 0,735

Kiểm soát hành vi được nhận thức: Cronbach’s alpha = 0,656

Chuẩn chủ quan: Cronbach’s alpha = 0,698

Hỗ trợ giáo dục được nhận thức: Cronbach’s alpha = 0,745

Ý định kinh doanh : Cronbach’s alpha = 0,822

Trang 8

Biến quan

sát Trung bình thang đo nếu loại biến Phương sai thang đo nếu loại biến Tương quan biến tổng Cronbach’s Alpha nếu loại biến

Sau khi kiểm định thang đo, tác giả tiến hành phân tích nhân tố EFA đối với nhóm các biến yếu tố ảnh hưởng đến ý định kinh doanh, sử dụng phương pháp trích Principal Components với phép xoay Varimax

Hệ số KMO = 0,656 > 0,5, kết quả kiểm định Bartlett’s là 1972,917 với mức ý nghĩa < 0,05: Phân tích nhân

tố thích hợp với dữ liệu nghiên cứu Kết quả ma trận xoay nhân tố được trình bày trong Bảng 4

Bảng 4 Ma trận nhân tố cho các yếu tố ảnh hưởng đến Ý định kinh doanh

Nhân tố

Phần trăm phương sai tích lũy 18,36 28,43 37,32 44,77 51,06 56,13 60,95 65,38

Kết quả phân tích EFA cho ý định kinh doanh: Hệ số KMO = 0,793 > 0,5; kết quả kiểm định Bartlett’s 657,186 với mức ý nghĩa < 0,05 à Phân tích nhân tố thích hợp với dữ liệu nghiên cứu

Kết quả phân tích nhân tố được tổng hợp trong Bảng 5

Trang 9

Bảng 5 Tóm tắt kết quả phân tích nhân tố

5.3 Phân tích hồi quy đa biến

Sau khi kiểm định thang đo Cronbach’s alpha và phân tích nhân tố khám phá EFA, tác giả đã xác định

8 yếu tố ảnh hưởng đến ý định kinh doanh bao gồm: Rào cản được nhận thức (PB), Thái độ cá nhân đối với khởi nghiệp (PATE), Chuẩn chủ quan (SN), Kiểm soát hành vi được nhận thức (PBC), Kiểm soát kết quả (LOC), Các yếu tố hỗ trợ được nhận thức (PSF), Hỗ trợ giáo dục được nhận thức (PES), Xu hướng chấp nhận rủi ro (RTP); kết hợp với các biến cá nhân như giới tính, năm học, điểm số, thu nhập…tác giả tiến hành phân tích hồi quy đa biến với biến phụ thuộc là ý định kinh doanh, kết quả được trình bày trong Bảng 6

Bảng 6 Kết quả phân tích hồi quy đa biến

Mô hình Hệ số chưa chuẩn hóa Bêta Std Error Hệ số chuẩn hóa Giá trị T Sig.

a Dependent Variable: EI

R2= 0,651

R2 hiệu chỉnh=0,634

Với mức ý nghĩa 7%, kết quả hồi quy ủng hộ giả thuyết H1, H3 H5 và H6 và H7 Tuy nhiên, giả thuyết H2, H4, H8 bị loại bỏ Tác động đáng kể và tích cực của thái độ cá nhân đối với khởi nghiệp lên ý định kinh doanh là phù hợp với nghiên cứu trước đây ở các quốc gia khác (Krueger, Reilly và Carsrud, 2000; Kolvereid và Isaksen, 2006) Nhận thức là một yếu tố quyết định quan trọng của hành vi ảnh hưởng đến kết quả Do đó kiểm soát kết quả, xu hướng chấp nhận rủi ro mạo hiểm là những tố chất để trở thành 1 doanh

Trang 10

nhân tác động tích cực đến ý định kinh doanh của sinh viên Mặc khác chuẩn chủ quan và các yếu tồ hỗ trợ cũng tác động tích cực đền ý định kinh doanh Các yếu tố hỗ trợ được nhận thức đề cập đến sự hỗ trợ về thể chế và hình ảnh chung tích cực của các doanh nhân trong xã hội đóng vai trò quan trọng đối với ý định kinh doanh Phù hợp với phát hiện này, pháp luật và hỗ trợ ngân hàng không phải là những trở ngại đáng

kể cho ý định kinh doanh

6 KẾT LUẬN

Nghiên cứu ý định kinh doanh trong bối cảnh sinh viên kinh tế cung cấp cái nhìn tham khảo về thái độ và hành vi của các doanh nhân trẻ ở Việt Nam Thái độ cá nhân đối với khởi nghiệp chủ yếu là tích cực và nó có ảnh hưởng đáng kể đến ý định kinh doanh Tác động đáng kể và tích cực của Thái độ

cá nhân và chuẩn chủ quan đến ý định kinh doanh phù hợp với các nghiên cứu trước đây ở các bối cảnh khác (Linan và Chen, 2009 và Ajzen, 1991) Tuy nhiên, tác động của yếu tố kiểm soát hành vi được nhận thức lại không được trong nghiên cứu này Giống như vậy yếu tố cá nhân là rất quan trọng như xu hướng chấp nhận rủi ro và khả năng kiểm soát kết quả Kết quả này cũng phù hợp với các nghiên cứu trước đây

về sự tồn tại của mối quan hệ tích cực giữa hai biến này và ý định kinh doanh (Brockhaus, 1987; Bonnett and Furnham, 1991; Hisrich and Peters, 1995; Luthje và Franke, 2003) Những người trẻ nói chung tự tin hơn và có vẻ như là sẵn sàng quyết định cho ý định kinh doanh, đặc biệt mẫu của tác giả là sinh viên ngành quản trị đã có kiến thức về phát triển dự án và quản lý doanh nghiệp Ý kiến của một bên thứ ba (bạn bè hoặc gia đình), tức là chuẩn xã hội có tầm quan trọng lớn đối với quyết định bắt đầu một doanh nghiệp Quan hệ xã hội là quan trọng đối với một người sống trong nền văn hóa tập thể như Việt Nam, mọi người bị chi phối bởi xã hội và ý định kinh doanh của người trẻ có thể bị ảnh hưởng bởi các mối quan

hệ trong gia đình và nhìn nhận của xã hội Để thúc đẩy ý định kinh doanh nên nhắm đến công chúng, xã hội nói chung hơn

Ngoài vai trò của gia đình và xã hội, nghiên cứu cũng tìm thấy vai trò hỗ trợ tư vấn của những chuyên gia trong nhiều lĩnh vực để có thể truyền kinh nghiệm, chuyên môn là những điều mà người trẻ rất cần và đang thiếu trong quá trình hình thành ý định kinh doanh Các nghiên cứu trước đó cũng cho thấy tầm quan trọng của các biến ngữ cảnh xã hội, văn hóa, thể chế và kinh tế khác nhau cho quá trình hình thành ý định kinh doanh ở cấp độ cá nhân Shapero, 1984; Hisrich and Peters, 1995; Pennings and Kimberly , 1997; Luthje và Franke, 2003) Các nhà hoạch định chính sách và các trường đại học nên ưu tiên cao nhất cho các hỗ trợ, định hướng cho người trẻ, xây dựng các phương pháp giảng dạy đổi mới như các chương trình

tư vấn khởi nghiệp

Trong nghiên cứu này cũng cho thấy sinh viên nam sẽ có ý định kinh doanh cao hơn sinh viên nữ, sinh viên năm cuối có ý định kinh doanh cao, ngoài ra điểm số và thu nhập cũng có ý nghĩa trong ý định kinh doanh của sinh viên

Với phạm vi nghiên cứu của tác giả, tập trung vào các sinh viên quản trị một phần hạn chế trong việc

mở rộng các kết luận cho tổng thể người trẻ nói chung Nghiên cứu trong tương lai có thể bao gồm những người trẻ với nền giáo dục khác nhau để mở rộng đặc điểm của mẫu, và bao gồm nghiên cứu theo chiều dọc

để hiểu rõ hơn về mối quan hệ nhân quả giữa các yếu tố ảnh hưởng và ý định kinh doanh Thêm vào đó, sẽ rất thú vị khi hỏi các doanh nhân trẻ đã thành lập doanh nghiệp của họ là những yếu tố chính mà họ theo đuổi trong khi phát triển các dự án kinh doanh của họ Tác giả cũng khuyên nên tìm hiểu thêm về vai trò của các biến kinh tế và môi trường ở Việt Nam, điều này có thể ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa các yếu

tố nêu trên và ý định kinh doanh

Ngày đăng: 18/01/2022, 10:43

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm