Giáo sư Nguyễn Lân Dũng cho rằng: “Theo kinh sách của Lão Tử, hồn là cái linh, thuộc vào phần khí của con người, phách vía là cái linh, phụ thuộc vào phần hình của con người.”[5] Tổng hợ
Trang 1CƠ ĐỐC NHÂN VIỆT NAM VỚI TÍN NGƯỠNG THỜ CÚNG ÔNG BÀ TỔ TIÊN
Nguyễn Trọng Bình
(http://vibiwebsite.com/)
I. Dẫn nhập
Một trong những điều cao quý bày tỏ tinh thần Hiếu Đạo của dân tộc chúng
ta đó là tín ngưỡng thờ cúng ông bà tổ tiên Theo đạo đức truyền thống, Hiếu được
hiểu “là mối quan hệ cha trên, con dưới; suy rộng ra là đạo nghĩa của con cháu đối với cha mẹ, ông bà, tổ tiên.”[1]là sự tỏ lòng biết ơn, yêu kính cha mẹ lúc cha
mẹ còn sống cũng như khi cha mẹ qua đời (qua việc làm tang lễ) và sống thành kính có trách nhiệm với tổ tông qua việc thờ cúng Khi Tin Lành được truyền vào Việt Nam, ngay lập tức đã va đụng với một nền văn hóa hoàn toàn khác biệt, nhất
là với tín ngưỡng thờ cúng ông bà tổ tiên, một điều cao quý của dân tộc Do vậy, việc trước tiên chúng ta cần hiểu về tín ngưỡng này để có thể tìm cách đưa lời Chúa đi vào lòng dân tộc
II. Niềm tin của người Việt?
A. Với tín ngưỡng này thì người Việt tin gì?
Điều đầu tiên, chúng ta cần phải khẳng định, người Việt chúng ta không bao giờ coi việc thờ cúng ông bà tổ tiên là một thứ “Tôn Giáo” Mà hoàn toàn là từ tâm Hiếu mà ra Việc Hiếu được bắt đầu từ khi có cộng đồng loài người Với người Việt Nam, một trong những tấm gương thấm đượm tình phụ tử được ghi
chép lại trong sách Lĩnh Nam Chích Quái, xảy ra vào thời Hùng Vương thứ ba,
kể về chàng Chử Đồng Tử không nỡ chôn cất cha mình trần truồng khi cha qua đời, dù hai cha con chỉ còn có một cái khố để thay nhau mặc sau nạn cháy nhà
Cha của Chử Đồng Tử trước khi nhắm mắt đã nói: “Ta chết thì chôn lộ thể cũng được, để cái khố lại cho con mặc kẻo xấu hổ.” Nhưng “Cha chết, người con không nỡ làm thế, cứ để cả khố mà chôn Chử Đồng Tử bấy giờ thân hình trần truồng, đói rét khôn xiết…“[2]Chử Đồng Tử thà chết chứ không xem nhẹ việc tang
lễ cho cha mình Việc chôn cất của người xưa đã thể hiện niềm tin và sự thành kính, đặc biệt là với người Việt Người Việt không bao giờ chôn cất người đã khuất một cách qua loa nhưng rất cẩn trọng Ngay từ thời xưa, do không muốn cha
mẹ sống xa mình nên người xưa đã chôn cất cha mẹ tại nơi mình cư trú, không nỡ
để cha mẹ sống ở thế giới bên kia mà không có đồ đạc đem theo nên chôn đồ đạc
cùng cha mẹ Ở thời Văn hóa Sơn Vi (Phú Thọ), đây là thời “hậu kỳ thời đại đồ đá
cũ 25 đến 20 nghìn năm cách ngày nay”[3]các nhà khảo cổ đã khai quật những ngôi
mộ và thấy tư tưởng về sự chôn cất được thể hiện như sau: “người Sơn Vi tin tưởng về một thế giới bên kia, mà ở đó những người chết vẫn tiếp tục lao động Chính vì vậy họ đã chôn theo công cụ bên cạnh người chết.”[4]Vậy người Việt
mình tin gì? Đó là tin có “một thế giới sau cái chết” và “hồn” của con người
Trang 2không chết đi nhưng tồn tại với con cháu Với cha mẹ, ông bà tổ tiên thì con cháu
phải có trách nhiệm để hồn luôn ở nơi mình sinh sống, ở trong nhà mình để có thể
gần gũi, thưa chuyện, thờ cúng Đây là mấu chốt của vấn đề
1. Hồn, vía theo tín ngưỡng người Việt là gì?
Điều thứ hai cần khẳng định, người Việt tin chắc vào “hồn” và “một thế
giới sau cái chết” mà không cần giải thích cho niềm tin, không cần phân tích,
chứng minh, dạy bảo và khi thực hành lễ thì làm tất cả những gì để lòng thanh thản không thất lễ với người đã khuất dù đó là người trong gia đình hay người ngoài Khi nhắc đến “hồn”, người Việt không thể không nhắc đến “vía” vì hai thứ này là thứ khiến con người ta sống được “Ba hồn bảy vía” là cụm từ mà chúng thường nghe nhiều nhất, khi có những người ở tình trạng vừa chết, gần chết, hay bất tỉnh, với mong muốn cứu người sống lại, người thân sẽ lấy
áo người chết trước kia thường mặc rồi hú đại loại như: ba hồn bảy vía anh Nguyễn Văn … thì về với vợ con…với người nữ thì gọi “ba hồn chín vía” Ngày nay ở ngoài đường, chúng ta vẫn thường thấy người Việt “đốt vía” người này người nọ để xua đi cái xui xẻo của người xung quanh do quá “nặng vía”, “độc vía”
để mong có thể bán được hàng Người Việt cũng hay dùng từ “trộm vía” để tránh khen trẻ con cách trực tiếp Vậy “hồn” là gì, “vía” là gì? Giáo sư Nguyễn Lân
Dũng cho rằng: “Theo kinh sách của Lão Tử, hồn là cái linh, thuộc vào phần khí của con người, phách (vía) là cái linh, phụ thuộc vào phần hình của con
người.”[5]
Tổng hợp các quan điểm của cha Leopold Cadiere khi nghiên cứu về tín ngưỡng người Việt thì “hồn” là nguyên lý sự sống, những nguyên lý thượng đẳng của sự sống và có liên quan đến các từ như: hơi, hơi thở, khí, khí bốc lên[6]Còn
“vía” là nguyên lý sự sống hạ đẳng có liên hệ mật thiết với những triển nở của thân thể [7], là “lối mở, lối cửa, cửa mở của thể xác”[8]Với người Nam thì có “Thất Khiếu” (bảy “lối mở”), bảy vía: hai tai, hai mắt, hai lỗ mũi và miệng Với nữ có thêm 2 vía là vú Cũng có quan điểm khác 2 vía là: “hậu môn, lỗ sinh dục”[9]Còn với ba hồn: Sinh hồn, giác hồn, thần hồn Cha Leopold Cadiere giải thích Sinh hồn (nguyên lý sự sống đơn giản), Giác hồn (nguyên lý sống thuộc về cảm giác), thần hồn (hay linh hồn), cây cỏ không có vía, hồn, loài vật cũng không có vía, hồn, chỉ có “giác hồn” mà thôi và tùy từng trường hợp mà có chuyện người Việt cho rằng một số cây cỏ, loài vật biến thành ma, quỷ, thần, về vấn đề này xin không bàn luận tại tiểu luận này.[10]
Theo Giáo sư Trần Ngọc Thêm, ba hồn là: “Tinh, Khí, Thần” và quyết định về tình trạng của con người Nếu hồn “tinh” mất con người sẽ bị hôn mê, nếu mất thêm hồn “khí” thì không thể cử động và nếu mất thêm cả hồn “thần” thì con
Trang 3Theo quan điểm người Việt, linh hồn tiếp tục sống mãi mãi sau khi người ta qua đời Người Việt thường không dùng từ “linh hồn” mà chỉ dùng từ “hồn” để mô
tả cái phần thiêng liêng, phi vật chất, siêu hình ở trong mỗi con người và chỉ dùng
từ này cho con người Ngày nay, khi nói đến “hồn”, người Việt cũng không còn
đặt nặng việc đến việc “ba hồn” hay mấy hồn… mà chỉ quan tâm đến hồn là “linh hồn” của ông bà, tổ tiên vẫn còn sống, đang hiện diện trong nhà với con cháu
2. Sau khi chết Hồn, vía đi đâu và hồn người đã khuất làm gì?
Theo Giáo sư Nguyễn Lân Dũng “Hồn là phần khinh thanh (nhẹ) phách
(vía) là phần trọng trọc (nặng) Vì vậy, khi nguời ta chết, hồn bay về trời, còn phách (vía) thì tiêu xuống đất theo thể xác Hồn thì tồn tại mãi mãi, phách và xác thì sẽ tiêu tan.[12] Còn Giáo sư Trần Ngọc Thêm cũng có tư tưởng “Khi chết thì hồn
và vía đều lìa khỏi xác, nhưng vía gần với thể xác hơn (nặng hơn!) nên bay là là mặt đất rồi tiêu tan, còn hồn nhẹ hơn nên tiếp tục tồn tại trong một cõi khác.”[13]Vậy “cõi khác”, “thế giới bên kia” là gì? Người Việt chúng ta chịu ảnh hưởng từ Trung Quốc nên vẫn quan niệm về thế giới biên kia là “Âm phủ”,
“Cõi âm”, “Chín suối”… Tuy nhiên từ ngàn xưa, như đã chưng dẫn cách đây 20 nghìn năm, người Việt đã quan niệm về “một thế giới bên kia” là cõi dành cho người chết mà tại đó vẫn có sự sống, sinh hoạt bình thường, vẫn phải lao động, làm việc, vẫn phải cần những vật dụng cần thiết, và phải chu cấp, thỏa mãn nhu cầu cho họ qua sự thờ cúng… đây mới chính là tư tưởng, niềm tin của người Việt
Mặt khác người Việt tin rằng sau khi chết người đã khuất còn có thêm nhiều quyền lực, khả năng siêu nhiên có thể phù hộ cho con cháu phát tài, có thể bảo
vệ con cháu trước thế lực của “thế giới bên kia”, có thể trừng phạt, trách cứ, thậm chí “vật” chết con cháu vì tội lỗi trong quá khứ, hiện tại, tương lai nếu không bày
tỏ sự “Hiếu Đạo” qua sự thờ cúng
Ngoài ra với những “cô hồn” là hồn của những người chết: bị bỏ rơi, chết đói, bị sát hại, binh lính, chết non, chết chết sơ sinh, phá thai, chết oan, chết đuối, chết ngoài đường ngoài chợ, bị tan nạn giao thông, tử tù, bị thú dữ ăn thịt… và vô vàn những cô hồn không thể đếm được, người Việt nghĩ vẫn phải tỏ lòng thành kính vì họ không có người thân chu cấp, chăm sóc, vì sợ họ sẽ quấy rầy gia đình mình, mang đến điều dữ cho gia đình mình Bởi thế mà ngay khi thấy một người bị chết do tai nạn giao thông ngoài đường thì ngay lập tức có một bát hương được thắp lên mà không cần đắn đo suy nghĩ Và chính từ những vong linh lang thang này mà người Việt cho rằng ma quỷ phát sinh từ đây, có cả một đạo binh ma quỷ đông vô số mang đến mọi điều ác độc đến cho con người và ma có thể ban sự giàu có cho những kẻ xấu làm theo sự ác độc của chúng Kẻ ác chết thì cũng thành
ma, hồn ma cũng như hồn tốt cũng có thể nhập vào người đang sống,… Bài luận này cũng không đi chi tiết vào chủ đề Ma quỷ của người Việt nhưng cũng chính lý
do vì sợ, mà người Việt ngoài việc thờ các “Thần” còn thờ cả ma quỷ
Trang 4Đối với những gia đình khi biết ông bà, cha mẹ hấp hối, không thể sống thêm được nữa, thì con cháu sẽ chuẩn bị mọi thứ để có thể rước linh hồn của tổ tiên vào “hồn bạch” “Hồn Bạch” là một dải “lụa bạch”, dài khoảng 7 khuỷu tay (cho nam), 9 khuỷu tay (cho nữ) rồi đặt lên ngực của tổ tiên cho đến khi đã khuất Sau đó dùng “lụa bạch” này kết thành hình nhân, có đầu, mình, tứ chi rồi đặt vào
“Linh sàng”, “Linh tọa” đã chuẩn bị từ trước “Linh sàng”[14]là chỗ cho vong linh người chết nằm như khi còn sống có đầy đủ chăn, gối, đệm được kê bên tay phải linh cữu, “Linh tọa” [15]là chỗ cho vong linh người chết ngồi như khi còn sống Người Việt xem “hồn bạch” chính là linh hồn của ông bà tổ tiên Sau một khoảng
100 ngày và tiếp đến là một loạt những nghi thức hiếu kính, cẩn trọng, đến lúc đưa táng, lấp huyệt mộ được một nửa “Hồn bạch” sẽ được thay thế bằng “Bài vị”, khi nét bút cuối cùng được hoàn thành thì kể từ đây vong linh tổ tiên đã nhập vào “bài vị”, con cháu sẽ mang bài vị vào từ đường nhà của con trưởng nam, để thờ cúng
Về mặt thể xác thì tổ tiên có thể xa gia đình nhưng về mặt linh hồn thì tổ tiên vẫn như đang có mặt trong nhà cùng con cháu Theo phong tục cổ truyền thì có năm đời tống giỗ, đến 5 đời thì chôn thần chủ), làm giỗ cha mẹ (đời 2), ông bà (đời 3),
cụ ông cụ bà (đời 4), kỵ (đời 5) , cao hơn kỵ thì gọi chung là tiên tổ thì không cúng giỗ nữa, mà rước chung vào một nhà để mỗi năm tế một lượt.[16]Trách nhiệm thờ cúng sẽ được giao cho con trai trưởng, cháu trưởng, chắt trưởng… các con thứ, phải đến nhà con trưởng và góp lễ cùng thờ cúng Đến ngày nay thì khác, bài
vị được thay bằng chân dung, để tránh bất tiện thì các con bất kể là trưởng hay thứ đều có thể tự lập bàn thờ để thờ cúng tại nhà mình Kể cả trường hợp con gái đã đi làm dâu, trên bàn thờ vẫn có ảnh của bố chồng và bố đẻ mình Mỗi năm vẫn thường về quê để thăm nhà thờ họ
Bài viết này chỉ mô tả cách sơ lược về niềm tin của người Việt về tín ngưỡng thờ cúng ông bà tổ tiên, để hiểu ngọn ngành chúng ta phải tìm hiểu thêm về văn hóa, phong tục tập quán của người Việt
B. Suy ngẫm và thực hành với niềm tin Cơ Đốc?
Giáo Sư Reimer đã chia sẻ lời khuyên của mình cho những nhà truyền giáo,
những Cơ Đốc Nhân đang sống tại Việt Nam, cần phải đối diện “gặp gỡ” với những người thờ cúng ông bà tổ tiên, cần phải “giảng dạy” để “sửa lại” những cách hiểu sai về linh hồn trên “lẽ thật” và xây dựng “giá trị Cơ Đốc tích cực” với
việc bày tỏ lòng hiếu kính với ông bà tổ tiên cho phù hợp với Kinh Thánh [17]làm như vậy mới có thể đưa lời Chúa gần gũi với người Việt Chúng ta tin vào Kinh
Thánh lời Chúa: “Giê-hô-va Đức Chúa Trời bèn lấy bụi đất nắn nên hình người,
hà sanh khí vào lỗ mũi; thì người trở nên một loài sanh linh.”(Sáng thế ký 2:7).
Đây chính là điều mà chúng ta tin
1. Linh hồn theo quan điểm Kinh Thánh
Theo quan điểm của Kinh Thánh, Chúa dựng nên con người gồm phần vật chất vàphi vật chất Ở tiểu luận này, chỉ xin mô tả ba phần quan trọng của con
Trang 5người: Thân,Hồn, Linh : rf’B’ Basar (Sáng thế ký 2:21): Thân, ứng với từ Hy lạp là: sw/ma Soma;vp,n< Nephesh (Sáng thế ký 2:7): Hồn, ứng với từ Hy lạp là: yuch, Psuche), x;Wr Ruwach(Truyền đạo 12:7): Linh, ứng với từ Hy lạp là: pneu/ma Pneuma).
Tất cả những từ ngữ này đều có nhiều nghĩa, Tuy nhiên, chúng ta cần chú
tâm vào Nephesh (yuch, Psuche), Ruwach (pneu/ma Pneuma) Với Basar (sw/ma Soma), chúng ta hiểu cách đơn giản là: xác thịt (Flesh), thân thể
(Body) Basar, phần vật chất của loài người được Chúa dùng bụi đất nắn nên,
Basar được dùng cả thảy 273 lần và có 104 lần dùng từ này cho thú vật và Kinh Thánh không dùng Basar để chỉ về xác chết [18] Trong Sáng thế 2:7, chúng ta
biết Chúa đã hà hm’v’n> (neshamah)sanh khí, là những nguyên lý của sự sống,
nó được sử dụng ở nhiều nghĩa: hơi thở của sự sống (chiếm đa số); linh (Gióp 34:14; Châm ngôn 20:27); linh hồn (Ê-sai 57:16 – KJV); luồng khí, gió; nguồn cảm hứng, linh cảm
Từ Nephesh (yuch, Psuche): Hồn, “sanh linh” (Sáng 2:7), với nghĩa “sự
sống đơn giản hạ đẳng” (được dùng cho cả người và loài vật: Sáng thế 1:20…,
dùng khá nhiều); Hồn (Soul, rất nhiều); thân thể (Body, xác chết, Dân số 6:6); sinh
vật (sự sống của sinh vật có máu, Lê-vi 17:11); người; tấm lòng; dùng như đại từ nhân xưng để chỉ về chính mình, người khác (Sáng 12:5); “con người” bên trong con người; thuộc về hay ra bởi hơi thở; sống nhờ bởi sinh khí nhận được… Nephesh (Hồn) là phần phi vật chất của con người
Từ x;Wr Ruwach (pneu/ma Pneuma), được dùng chủ yếu với nghĩa là: Linh (Spirit), Dân số 27:16, Thi Thiên 51:10… ; tâm thần; hơi thở, khí
(với nghĩa hơi, khí của sự sống đơn giản hạ đẳng thì được dùng cho cả loài vật đặc
biệt ở Truyền Đạo 3:19, 21); gió; luồng khí; linh của con người; linh của Chúa (Sáng 1:2),… Một điều đặc biệt, người ta không hề dùng Basar cho Chúa, ít dùng
từ Nephesh để chỉ về Chúa Nhưng từ Ruawch xuất hiện 389 lần trong Kinh Thánh thì đến 136 lần chỉ về Ruawch của Chúa Nhắc đến Ruwach là nhắc quan hệ con người với Chúa trong góc cạnh cao quý, thiêng liêng.[19] Đây là phần phi vật chất của con người
Như vậy, qua Kinh Thánh chúng ta thấy rằng cái Basar (thể xác) của chúng
ta lúc ban đầu chỉ đơn giản gần như chỉ hơn một cục đất, có hình người: đầu và tứ chi, bên trong thì có thịt bắp, mạch, não… nhưng hoàn toàn không có sự sống, cũng chính vì vậy, không ai bảo “cái không bao giờ có sự sống” là chết cả
Nó có sống bao giờ đâu mà chết Đó là lý do Kinh Thánh không dùng từ Basar
để chỉ về “xác” chết Nhưng dùng từ Nephesh (Hồn) để nói về cái thân xác chết (Dân số 6:6) Vì Kinh Thánh muốn chỉ cái “Hồn sống” (cái sự sống) bây giờ không còn ở cái “Thân xác” nên cái thân xác dần trở về trạng thái ban đầu là chỉ hơn cục đất, không có sự sống và gọi là cái “Hồn chết” Nephesh “Hồn sống” không
còn ở trong Thân xác nữa, đây được coi là sự chết lần thứ nhất “Theo như đã
Trang 6định cho loài người phải chết một lần, rồi chịu phán xét.” (Hê-bơ-rơ 9:27) Vậy
cái Hồn sống này làm lên cái “con người” của loài người
Khi Đức Chúa Trời thổi Neshamah (Sanh khí) của Ngài vào Basar (Thân xác) của loài người đã mang theo cái Nephesh (Hồn sống) sống động Nephesh
không phải là cái loài người có hay sở hữu, mà là cái “toàn bộ con người phi vật chất, siêu hình” (cái nguyên lý sống thượng đẳng) được Chúa thổi vào Cái “toàn
bộ con người phi vật chất, siêu hình” này: có lý trí, trí khôn, cảm xúc, ước
muốn, cảm nhận, đón nhận các thông tin, có sự suy nghĩ, trí nhớ… Tại Lê-vi 17:11 thì nói rõ cái Nephesh (Hồn) của Basar (Thân xác) nằm ở trong huyết, đây là lý do chúng ta không được ăn huyết vì trong huyết có “sinh mạng”, có ”sự
sống”, “Tiếng của máu em ngươi từ dưới đất kêu thấu đến ta” (Sáng 4:10b),
huyết lại được dùng để chuộc tội do chính Nephesh mình gây ra (Cựu Ước) Nephesh tiếp tục tồn tại sau kể cả khi người ta chết lần thứ nhất
Cũng như vậy, khi Đức Chúa Trời thổi Neshamah (Sanh khí, nguyên lý sống thượng đẳng) của Ngài vào Basar (Thân xác) của loài người đã không chỉ mang theo cái Nephesh (Hồn sống), mà mang theo “một phần thiêng liêng” mà tại đó
người có thể liên hệ với nhau, đây là phần thiêng liêng cao quý của con người,đó
là:Ruwach (pneu/ma Pneuma): Linh Người Việt chúng ta vẫn thường sử dụng câu
“Thiên sinh vạn vật duy nhân tối linh” có nghĩa là chỉ duy có con người là có Linh.
Linh là cái kết nối với Đức Chúa Trời Giăng 4:24 chép: Vì Đức Chúa Trời là
một pneu/ma Pneuma (Linh) nên ai thờ phượng Ngài cũng phải thờ phượng bằng pneu/ma Pneuma (Linh) Nhờ cái Linh mà con người ở bất kỳ đâu trên thế
giới, trong một khoảng khắc nào đó, cũng sẽ hướng tới một sự suy tư đến Đấng Tạo Hóa, thần thánh Linh của con người (Nhân Linh) cũng chính là thứ mà ma quỷ thèm muốn, Tà linh luôn muốn “thông linh” với Nhân Linh để chiếm hữu cả con người Còn chúng ta thì thông linh với Thánh Linh Như vậy để cho cái Basar loài người “sống động” có thì Chúa đã phải thổi Nephesh vào và để cho cái Nephesh trở nên thực sự sống động trọn vẹn có sự kết nối với Đức Chúa Trời, thì đồng thời Chúa đã phải thổi Ruwach để con người toàn vẹn có thể kết nối với Ngài Do vậy Con người trở nên sống động trọn vẹn nhờ Thân, Hồn, Linh Ba cái này không thể tách rời nhau: Vì không có Thân xác thì Hồn, Linh không có chỗ
cư trú, Không có Hồn, thì Thân xác chết I Các Vua 17:22 Không có Linh thì Thân
cũng chết Gia-cơ 2:26 chép: “Xác” (rf’B’ Basar – sw/ma Soma: body) không có
“Linh” (Spirit, pneu/ma Pneuma – x;Wr Ruwach)thì chết – bản dịch cũ dịch là
“hồn” không chính xác
Các sách Phúc Âm không ghi Chúa Giê-xu trút “hồn” mà trút “linh” (Spirit), cũng như vậy với Ê-tiên (Công vụ7:59) Do đó, chính cái Spirit làm cho cái Soul thực sự “thiêng liêng” Nhưng việc quyết định cái Spirit (Linh) thông linh với ai thì không do Spirit quyết định dù Spirit của con người là trung tâm của nhiều
Trang 7đặc điểm, cảm xúc, hoạt động khác nhau: suy ngẫm, hồi tưởng, khiêm nhường, ăn năn hối lỗi, kiêu căng, ghen tỵ, bối rối.[20]Nhưng sự lựa chọn này là ý chí tự do ở trong Tấm Lòng (nơi Đức Chúa Trời ngự, muốn ngự) của Soul (Hồn) lựa chọn, do vậy Hồn mới là tiêu điểm quan trọng của sự cứu chuộc và tăng trưởng thuộc linh Còn “Linh” là nơi mà tại đó diễn ra sự thăng hoa của sự thờ phượng, liên hệ, kết nối với Chúa, nơi Chúa thể hiện sự thần cảm, xuất thần, Chúa chiếm hữu, ThánhLinh cảm bày tỏ quyền năng kinh ngạc, bày tỏ sự mạc khải, sự ban cho khác như: tâm thần mạnh mẽ, nói tiên tri, tiếng lạ, chữa lành, làm dấu lạ… Ruwach
(Spirit, Linh), “Nơi thể hiện quyền năng thần thánh,…trong đó con người dường
như bị đưa ra khỏi bản thân họ – không phải là sự trào dâng sức sống, nhưng là
sự chiếm hữu của một năng lực siêu nhiên Đặc biệt là với các nhà lãnh đạo thần cảm trong thời kỳ đầu tiên (Quan 3:10; 6:34; 11:29; 13:25; 14:6, 19; 15:14; 1Sa 11:6) và các tiên tri thuở xưa – cũng cùng một Ruwach, thần thánh đem đến tình trạng xuất thần và nói tiên tri (Dân 24:2; 1Sa10:6, 10; 19:20,23tt.)” [21] đây có
thể coi là giây phút, là nơi thiêng liêng nhất, đầm ấm của Cha và con Trong thân thể có huyết khí Thân, Hồn, Linh hiệp một (phần vật chất và phi vật chất) Hồn,
Linh được dùng đồng nhất với nhau “Lu-ca 1:46-47… Những thành phần cơ bản của con người được gọi tên là hồn và thân trong Ma-thi-ơ 6:25 và 10:28 nhưng lại được gọi là linh và thân trong Truyền Đạo 12:7 và 1 Cô-rinh-tô 5:3-5.
Sự chết được mô tả như trút bỏ hồn (Sáng thế ký 35:18; 1 Vua 17:21, Công vụ 15:26) và trút bỏ linh (Thi Thiên 31:5; Lu-ca 23:46).Kinh Thánh có khi gọi Linh bị bối rối (Sáng 41:8, Giăng 13:21) và khi thì hồn bị bối rối (Thi Thiên 42:6, Giăng 12:27)” [22]
Mặt khác, Kinh Thánh còn ghi nhận nhiều nơi đồng nhất hóa Neshamah
(Sinh Khí, do Đức Chúa Trời hà hơi, Sáng 2:7) với Ruwach (Spirit, Linh) như:
Sáng thế 7:22; Ê-sai 42:5; 57:16; Gióp 34, 14).[23]Điều này càng cho thấy sự kết nối Ruwach của Đức Chúa Trời với Ruwach của con người, càng cho thấy việc chúng ta quá phân tích: Thân, Hồn, Linh chỉ là để khẳng định chúng khác nhau, không phải là một nhưng hiệp một dính đến nỗi không thể tách cái này với cái kia
Vì vậy, khi ta nói yêu Chúa hết cả “Hồn” yuch,Psuche, (Mác 12:30, bản dịch cũ
là “linh hồn”) thì chúng ta còn phải hiểu thêm là yêu hết với cả sự kết nối, kết dính không thể tách dời của “Hồn” với “Linh” tới Chúa để dẫn đến sự đầy dẫy Thần của Chúa Và sự kết dính của “Hồn” với “Thân” bởi “Thân thể” của Cơ Đốc Nhân là
“Đền thờ của Đức Thánh Linh” (I Cô-rinh-tô 6:19) Không có gì tách nổi Thân,
Hồn, Linh Lời Chúa “sống” và “linh nghiệm”, sắc hơn gươm 2 lưỡi (Hê-bơ-rơ
4:12) không phải là chia cắt Hồn, Linh, Cốt Tủy làm 2 phần nhưng nói đến việc Lời Chúa có khả năng dò xét, “phân vùng” mọi thứ của con người dù chúng dính chặt với nhau để dò xét tất cả mọi sự kể cả tư tưởng sâu kín nhất trong lòng người
Có thể nói tóm gọn về loài người khi được Chúa yêu một cách đặc biệt bởi trong các tạo vật chỉ có loài người được tạo dựng theo “Hình Tượng”của Đức
Trang 8Chúa Trời (Sáng 1:26) vì vậy mang trong mình những “nguyên lý sống thượng
Một trong những biểu hiện của tình yêu của Chúa là Chúa Giê-xu đã giáng trần để mang lấy hình hài con người, trở nên con người 100%, những vừa cũng là Đức Chúa Trời 100%, Ngài đến thế gian để cứu con người khỏi hình phạt của tội lỗi đó
là sự chết lần thứ hai
Như đã trình bày, Hồn chính là tiêu điểm của sự cứu chuộc “Nầy, mọi linh
hồn (Nephesh, Hồn) đều thuộc về ta; ‘Nephesh’ (Hồn) của cha cũng
như ‘Nephesh’ (Hồn) của con, đều thuộc về ta; Nephesh (Hồn) nào phạm tội thì sẽ chết.”, “…Con sẽ không mang sự gian ác của cha, và cha không mang sự gian ác của con.” (Ê-xê-chi-ên 18:4,20).
Vì con người là những hữu thể vừa thuộc linh vừa thuộc thể do vậy Nephesh (Hồn) ở đâu thì Spirit (Linh) cũng ở đó Kinh Thánh chỉ ra mọi người đều đã phạm
tội (Rô-ma 3:23), có nghĩa tất cả các Nephesh (Hồn) đều phạm tội dù nhỏ hay lớn: Suy đồi về tình dục bỉ ổi, đồng tính luyến ái, “…tâm trí hư hỏng để làm những điều trái đạo đức, xấu xa, tham lam, gian ác, đầy lòng ganh ghét, sát nhân, tranh cãi, man trá, hiểm độc, nói hành, gièm chê, thù ghét, xấc xược, kiêu căng, khoác lác, khéo bày việc ác, không vâng phục cha mẹ, u mê, thất tín, vô tâm, bất nhân chẳng những họ làm những điều đó mà thôi, nhưng còn tán thành cho những kẻ khác làm nữa.” (Ro-ma 1:26-32) Và ai cũng phải chết một lần rồi chịu
sự đoán xét Có 2 nơi dành cho Nephesh (Hồn): “Rồi những kẻ nầy sẽ vào hình phạt đời đời, còn những người công bình sẽ vào sự sống đời đời.” (Ma-thi-ơ
25:46) Tội lỗi là thứ mà con người không thể lấy gì để có thể trả được Nhưng Đức Chúa Trời vì yêu con người đã hoạch định chương trình cứu chuộc cho tội nhân qua Chúa Giê-xu Chúa Giê-xu đã giáng thế để gánh mọi điều kinh tởm của tất cả các Nephesh trên thập tự giá, Ngài chịu chết, sống lại, nắm quyền xét đoán
và sẽ trở lại để kết thúc cái ác Những ai đặt đức tin nơi Chúa Giê-xu thì được sự sống đời đời (Giăng 3:16), được ghi vào sách sự sống, không bị hình phạt sự chết thứ 2 là Hồ Lửa đời đời không hề tắt (Khải Huyền 20:14) Khi Chúa Giê-xu trở lại những người tin Chúa sẽ được sống lại, Khải Huyền 20:4 mô tả các Nephesh (Hồn) giữ vững đức tin nơi Chúa được phục sinh và trị vì 1000 năm bình an với Chúa, đó
là sự sống lại lần thứ nhất, sau đó sẽ là trời mới, đất mới và sự sống đời đời
Còn tất cả những người chết không tin Chúa (Nephesh tội lỗi) sẽ sống lại sau 1000 năm bình an và đều đứng trước Ngai Lớn và Trắng của Chúa, các người chết đều bị xét đoán về những việc mình làm trong quá khứ, những tội lỗi đều được ghi vào các sách, những người chết này không có tên trong Sách Sự Sống sẽ cùng với Sa-tan, ma quỷ mà bị quăng vào Hồ Lửa đời đời Đây là sự chết lần thứ 2 Đây là sự chết kinh khủng cho những Nephesh (Hồn) tội lỗi Mãi mãi xa cách với Đức Chúa Trời trong sự đau đớn
Trang 9Ryrie cho rằng trong thời Cựu Ước, các thánh đồ khi chết sẽ đi thẳng vào sự hiện diện của Chúa.[24]Còn trong thời Tân Ước với những người tin Chúa sau cái chết sẽ đến một nơi gọi là Ba-ra-đi (Lu-ca:23:43, một nơi tạm vui vẻ) cho những Nephesh (Hồn) thuộc về Chúa chờ đợi ngày Chúa trở lại Những người không tin Chúa sau cái chết sẽ bị giam cầm trong Âm Phủ (Hades), nơi của sự tối tăm, khóc lóc để chờ đợi ngày “sống lại để bị phán xét” Ngoài ra còn có cách lý giải về
“Thuyết hai ngăn Âm Phủ” trong đó có ngăn “Địa ngục” (Gehenna) dành cho Nephesh (Hồn) tội lỗi, ngăn “Ba-ra-đi” cho những người thuộc về Chúa.[25]
Đoạn I Cô-rinh-tô 15, cho chúng ta một bức tranh về sự phục sinh, đặc biệt
là thân thể Trong khi người không tin Chúa thì sẽ sống lại với thân thể phù hợp với sự phán xét đời đời nơi hồ lửa còn những người tin Chúa được sống lại với thân thể được Chúa biến hóa, đổi mới thiêng liêng đầy vinh hiển Vậy cả Thân, Hồn, Linh đều được nên thánh trọn vẹn bởi Chúa Với phân đoạn Kinh Thánh trên chúng ta có thể khẳng định Cho dù thân thể của một người Cơ Đốc bị thiêu, chỉ còn lại tro và thậm chí bị rắc trên sông, cá nuốt đi nữa thì đến ngày Chúa Giê-xu trở lại Ngài cũng phục hồi lại thân thể cho những người tin Ngài Con người sau này ở Thiên Đàng sẽ có phần giống với thiên sứ là không sinh con (Ma-thi-ơ 22:30) nhưng lúc này sẽ cao cấp hơn thiên sứ (I Cô-rinh-tô 6:3)
Có thể thấy rằng, trong các tài liệu viết về Thân, Hồn, Linh của con người, không có sách nào trả lời chi tiết, đầy đủ như Kinh Thánh về chung cuộc của con người Chúng ta cần thấy rằng niềm tin thờ cúng ông bà tổ tiên của dân tộc
ta, vì xuất phát từ tâm Hiếu, nên dân tộc chúng ta luôn muốn Ông bà bố mẹ sẽ
ở trong nhà mình cùng con cháu Vì vậy, cách nhìn về cuộc sống sau cái chết đã thiên lệch theo quan điểm chủ quan của mỗi gia đình và đã dẫn đến sự thực hành: thờ cúng, gọi hồn,… Trong khi đó chúng ta biết rằng ma quỷ có thể biến hóa thành những ai mà chúng muốn, thậm chí là cả thiên sứ (II Cô-rinh-tô 11:14-15) Chúng
có thể biến thành hồn của những người thân trong gia đình chúng ta Chúng lại biết mọi chuyện về chính chúng ta, từng thành viên trong gia đình chúng ta, kể cả những người đã khuất Chúng biết những chuyện trong quá khứ của loài người Nên chúng ta không còn lạ gì khi chứng kiến những cảnh thông linh trong các buổi gọi hồn là những cuộc thông linh tiềm ẩn đầy nguy hiểm vì ma quỷ luôn muốn chiếm hữu Linh của con người
Trang 10Những điểm cần khai thác: Chúng ta thấy Người Việt tin rằng Đấng Tạo Hóa tạo ra phần Linh của con người, Linh Hồn chỉ có ở con người (Thiên sinh vạn
vật, duy nhân tối linh) “Thư Kinh 書經: Duy nhân, vạn vật chi linh 惟人, 萬物之
靈 (Thái thệ thượng 泰 誓 上 ) Chỉ người là bậc tinh anh trên hết muôn
“súc sinh” (loài súc vật) Trong con người có “Linh Khí” ( 靈 氣 ) của Đấng Tạo
nhiệm mầu, kỳ diệu, hơi thở thần linh…”[27]Đây chính là cái Ruwach mà chúng ta
đã nhắc đến Mặt khác, Chúa dạy chúng ta về Đạo Hiếu một cách cẩn trọng cùng với đó là giá trị về tình yêu Cơ Đốc là điều hoàn toàn gần gũi với người Việt Nam nếu như không muốn nói là “điều quyết định” để thay đổi “ngộ nhận bỏ ông bỏ bà” khỏi lòng dân tộc
Vậy điều chúng ta cần làm là gì? Chắc chắn chúng ta sẽ không vừa thắp
hương thờ cúng ông bà bố mẹ, Tổ Tiên và vừa thờ phụng Chúa Vì chính người
Công Giáo đã áp dụng và chính họ đã phải khẳng định rằng: “Năm 1964, Tòa Thánh đã giải tỏa lệnh cấm về việc thờ cúng Tổ Tiên nhưng mãi đến nay, nửa thế
kỷ trôi qua, thành kiến bỏ ông bỏ bà vẫn chưa được gột sạch”[28] Khi người Công Giáo mang Tin Mừng đến nước ta, họ đã phải đối diện điều này trước, những người Tin Lành chúng ta đến sau vì vậy cũng bị ảnh hưởng bởi sự ngô nhận: “Đạo
bỏ ông bỏ bà” Việc hóa giải điều này là trách nhiệm của cả người Tin Lành và Công Giáo Để hóa giải điều này, điều trước tiên chúng ta phải xây dựng mối quan
hệ, thân thiện, yêu thương với mọi người dân Việt tại nơi mình sinh sống Vì chỉ có tình yêu mới lay động được trái tim của họ Phải quan tâm, lắng nghe, phải biết chấp nhận, biết chia sẻ niềm tin, biết khuyên dạy, biết can dự và khích lệ mọi người Điều tiếp theo chúng ta cần quan tâm đến dòng họ của mình Gần đây người Tin Lành chúng ta cũng đang học tập từ những người Công Giáo về việc truy tìm lại cội nguồn dòng họ của mình, lập gia phả,… đây là việc khó khăn cho
cả người lương lẫn giáo nhưng chúng ta hãy cầu nguyện xin Chúa soi sáng và giúp đỡ Tìm đến những người Trưởng Tộc và tham gia vào những việc quan tâm đến họ hàng Nếu chúng ta có phải thực hành nghi lễ nào ở Từ Đường, Bàn Thờ,
… thì trước mỗi lần như vậy chúng ta phải cầu nguyện và chúng ta không dùng
“hương” nhưng thay bằng “nến”, “hoa” Chúng ta luôn phải ghi nhớ đặt mọi sự trên nền tảng Kinh Thánh Chúng ta cầu nguyện với Chúa chứ không nói chuyện với người đã khuất
Việc quan trọng là nối lại được tình thân với cả dòng họ, vì một trong những
tư tưởng đẹp của người Việt Nam đó là tư tưởng “Về cội”, chính vì vậy khi chúng
ta thực hành việc lập gia phả là bước đệm cho công việc đưa họ hàng, con cháu về với cội nguồn vĩnh cửu, là Đức Chúa Trời, Cha chung của mọi người Khi kết nối với họ hàng cần ghi chép lại lịch sử, chép lại những điều tốt của các chi, những