1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Công tác hòa giải ở cơ sở (Tập 2 Cẩm nang bồi dưỡng cho hòa giải viên): Phần 1 - NXB Tư Pháp

353 22 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Công tác hòa giải ở cơ sở - Tập 2. Cẩm nang bồi dưỡng cho hòa giải viên
Tác giả Nguyễn Tất Viễn, Nguyễn Huy Ngát, Phạm Thị Hoà, Lê Thành Long, Phạm Thị Lan Anh, Đặng Hoàng Oanh, Nguyễn Minh Phương, Trần Huy Liệu, Lê Thị Ngân Giang, Bùi Thị Thanh Hằng, Nguyễn Ngọc Thanh, Đào Thị ái Thi, Trần Quang Huy, Nguyễn Bá Yên, Lê Thu Hương, Trần Thị Hồng Liên
Người hướng dẫn TS. Uông Chu Lưu
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Thể loại sách
Năm xuất bản 2007
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 353
Dung lượng 919,6 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Công tác hòa giải ở cơ sở Tập 2: Cẩm nang bồi dưỡng cho hòa giải viên cung cấp cho các hòa giải viên, các bộ tư pháp các kiến thức pháp luật cần thiết trong hòa giải, hướng dẫn nghiệp vụ hòa giải, phổ biến kinh nghiệm hòa giải. Mời các bạn cùng tham khảo nội dung phần 1 cuốn sách!

Trang 1

TS Uông Chu Lưu

Bộ trưởng Bộ Tư pháp

tổ chức BIÊN SOạN Nguyễn Tất Viễn

Vụ trưởng Vụ Phổ biến, giáo dục pháp luật - Bộ Tư phápNguyễn Huy Ngát

Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế - Bộ Tư phápPhạm Thị Hoà

Phó Vụ trưởng Vụ Phổ biến, giáo dục pháp luật - Bộ Tư pháp

Chuyên viên Vụ Hợp tác quốc tế - Bộ Tư pháp

THAM GIA BIÊN SOạNTrần Huy Liệu

Phó Cục trưởng Cục Trợ giúp pháp lý - Bộ Tư pháp

Trang 2

Phó trưởng Ban Luật pháp - Trung ương Hội Liên hiệpphụ nữ Việt Nam

Bùi Thị Thanh Hằng

Trưởng bộ môn Luật Dân sự, Khoa Luật - Đại học Quốcgia Hà Nội

Nguyễn Ngọc Thanh

Giám đốc Trung tâm công tác lý luận - Uỷ ban Trung

ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Đào Thị ái Thi

Phó trưởng khoa Khoa học hành chính, Học viện hànhchính quốc gia

Trang 4

Để góp phần nâng cao năng lực cho cán bộ tư pháp thực hiệnquản lý công tác hòa giải ở cơ sở và đội ngũ hòa giải viên trên toànquốc, trên cơ sở kết quả điều tra, nghiên cứu đánh giá năng lực cán

bộ tư pháp cấp tỉnh về quản lý, hướng dẫn công tác hòa giải ở cơ sở

đã được tiến hành từ năm 2005, trong khuôn khổ Dự ánVIE/02/015 “Hỗ trợ thực thi Chiến lược phát triển hệ thống phápluật Việt Nam đến năm 2010” do Chương trình phát triển của LiênHợp quốc (UNDP), Cơ quan Hợp tác phát triển quốc tế của Chínhphủ Thuỵ Điển (Sida), Cơ quan Hợp tác phát triển quốc tế củaChính phủ Đan Mạch (DANIDA), Chính phủ Na Uy và Chính phủ

Ai Len tài trợ, Bộ Tư pháp đã tiến hành xây dựng Bộ tài liệu tậphuấn thống nhất về Công tác hòa giải ở cơ sở dành cho cán bộ tưpháp và các hòa giải viên

Cuốn sách Công tác hòa giải ở cơ sở, gồm hai tập:

Tập 1 - Hướng dẫn quản lý công tác hòa giải, giới thiệunghiệp vụ quản lý công tác hòa giải, hướng dẫn cán bộ tư pháp địaphương về phương pháp tập huấn, bồi dưỡng để tập huấn cho cáchòa giải viên

Tập 2 - Cẩm nang bồi dưỡng cho hòa giải viên, cung cấpcho các hòa giải viên, cán bộ tư pháp các kiến thức pháp luật cầnthiết trong hòa giải, hướng dẫn nghiệp vụ hòa giải, phổ biến kinhnghiệm hòa giải

Bộ tài liệu tập huấn được biên soạn dưới hình thức hướng dẫn

cụ thể, dễ hiểu, thuận tiện đối với người sử dụng

Tham gia biên soạn Bộ tài liệu là các chuyên gia có kinhnghiệm trong công tác hòa giải ở cơ sở và các lĩnh vực pháp luật cóliên quan

Trang 5

trình thực hiện công tác hòa giải

Chúng tôi xin chân thành cám ơn sự hỗ trợ tích cực của cácnhà tài trợ, sự chỉ đạo trực tiếp của Lãnh đạo Bộ Tư pháp, sự thamgia nhiệt tình của các chuyên gia luật pháp, của nhiều cán bộ, côngchức ngành tư pháp, các hòa giải viên ở cơ sở trong quá trình biênsoạn Bộ tài liệu và mong muốn tiếp tục nhận được ý kiến đóng gópcủa các độc giả để hoàn thiện Bộ tài liệu này

Thay mặt Dự án VIE/02/015, Nhà xuất bản Tư pháp xuất bảnTập 2 “Cẩm nang bồi dưỡng cho hoà giải viên”

Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc!

Hà Nội, tháng 6 năm 2007nhà xuất bản tư pháp

Trang 6

L ờ i g i ớ i t h i ệ u

Phần IHƯớNG DẫN NGHIệP Vụ HOà GIảI ở CƠ Sở

A KHáI QUáT CHUNG

Về CÔNG TáC HòA GIảI ở CƠ Sở

I Khái niệm, bản chất hoà giải ở cơ sở

II ýnghĩa, vai trò của công tác hoà giải ở cơ sở

B Tổ CHứC HòA GIảI ở CƠ Sở

I Tổ hoà giải ở cơ sở

II Tổ viên Tổ hoà giải

1 Tiêu chuẩn tổ viên Tổ hoà giải

2 Tổ viên Tổ hoà giải có các quyền hạn, nhiệm vụ

III Tổ trưởng Tổ hoà giải

IV Thủ tục bầu tổ viên, tổ trưởng Tổ hoà giải

1 Hình thức bầu tổ viên Tổ hoà giải

2 Yêu cầu đối với cuộc họp bầu tổ viên Tổ hoà giải

3 Công nhận tổ viên Tổ hoà giải

4 Bầu tổ trưởng Tổ hòa giải

7

17

1717212222242425262727272828

Trang 7

1 Những trường hợp tổ viên Tổ hoà giải bị miễn nhiệm do không còn

đủ tiêu chuẩn

2 Thủ tục miễn nhiệm tổ viên Tổ hòa giải

C HOạT ĐộNG HòA GIảI ở CƠ Sở

I Phạm vi hoà giải

1 Những việc được hoà giải

2 Những việc không được tiến hành hoà giải

II Nguyên tắc hoà giải

1 Phù hợp với đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà

nước, đạo đức xã hội và phong tục, tập quán tốt đẹp của nhân dân

2 Tôn trọng sự tự nguyện của các bên; không bắt buộc, áp đặt các

bên tranh chấp phải tiến hành hoà giải

3 Khách quan, công minh, có lý, có tình; giữ bí mật thông tin đời tư

của các bên tranh chấp; tôn trọng quyền, lợi ích hợp pháp của người

khác; không xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng

4 Kịp thời, chủ động, kiên trì nhằm ngăn chặn vi phạm pháp luật,

hạn chế những hậu quả xấu khác có thể xảy ra và đạt được kết quả

hoà giải

III Tiến hành việc hoà giải và người tiến hành hoà giải

1 Tiến hành hòa giải

2 Người tiến hành hòa giải

IV Hoà giải tranh chấp mà các đương sự ở các cụm dân cư

khác nhau

V Các bước tiến hành hoà giải

1 Bước 1: Trước khi hoà giải

2 Bước 2: Trong khi hoà giải

2829

2929293335

36

36

37

40414143

44444548

Trang 8

VI Một số điểm cần lưu ý khi tiến hành hoà giải

1 Cần hiểu rõ tâm lý và cách ứng xử của các bên tranh chấp

2 Quan hệ với các bên tranh chấp

3 Một số hành vi không được thực hiện khi hòa giải

D Một số Kỹ NĂNG HòA GIảI ở CƠ Sở

I Khái niệm kỹ năng hòa giải ở cơ sở

II Một số kỹ năng hòa giải ở cơ sở

1 Kỹ năng gặp gỡ đối tượng và nghe đối tượng trình bày

2 Kỹ năng yêu cầu các bên tranh chấp cung cấp các chứng cứ, tài

liệu liên quan đến vụ việc

3 Kỹ năng tra cứu tài liệu tham khảo

4 Kỹ năng xem xét, xác minh vụ việc

5 Kỹ năng giải thích, thuyết phục, cảm hoá, hướng dẫn các bên tự

nguyện giải quyết tranh chấp

Phần IIMột số quy định pháp luật vận dụng trong hòa giải ở cơ sở

A PHáP LUậT Về DÂN Sự

I Quyền nhân thân của cá nhân

II Chủ thể của quan hệ luật dân sự (cá nhân, pháp nhân, hộ gia

đình, tổ hợp tác) và giao dịch dân sự

III Tài sản và quyền sở hữu

IV Nghĩa vụ dân sự và hợp đồng dân sự

V Thừa kế tài sản

52525354

54545757

616364

65

686868

82113141171

Trang 9

I Kết hôn

II Quan hệ vợ chồng

III Quan hệ cha mẹ và con

IV Quan hệ giữa ông bà nội, ông bà ngoại và cháu; giữa anh, chị,

em và giữa các thành viên trong gia đình

V Cấp dưỡng

VI Xác định cha, mẹ, con

VII Con nuôi

VIII Ly hôn

C PHáP LUậT Về ĐấT ĐAI

I Các nội dung cơ bản về sở hữu, quản lý đất đai

1 Các quy định chung

2 Các vấn đề quản lý nhà nước về đất đai

II Các loại đất liên quan đến người dân

1 Nhóm đất nông nghiệp

2 Đất phi nông nghiệp

III Quyền của người sử dụng đất

1 Quyền của tổ chức kinh tế ở trong nước

2 Quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân

IV Các quy định về giải quyết tranh chấp đất đai và xử lý vi phạm

pháp luật

1 Giải quyết tranh chấp đất đai

2 Xử lý vi phạm pháp luật đất đai

V Một số vấn đề cán bộ cấp xã cần quan tâm khi áp dụng các

văn bản pháp luật đất đai phù hợp với địa phương mình

191210230

237239248251259

266266266269297297302305305306

310310324

328

Trang 10

I Vấn đề cấp phép xây dựng công trình

1 Trường hợp phải xin phép xây dựng

2 Công trình không phải cấp phép xây dựng

II Vấn đề bồi thường giải phóng mặt bằng xây dựng công trình

1 Yêu cầu về giải phóng mặt bằng xây dựng công trình

2 Nguyên tắc bồi thường giải phóng mặt bằng để xây dựng

công trình

3 Triển khai việc giải phóng mặt bằng xây dựng công trình

III Vấn đề bồi thường thiệt hại do việc xây dựng gây hậu quả bất

lợi cho người khác

IV Vấn đề đảm bảo vệ sinh môi trường trong thi công xây dựng

công trình

V Vấn đề khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực xây dựng

Phần IIIKinh nghiệm hòa giải thông qua những tình huống hòa giải

điển hình trong thực tế

A TìNH HUốNG HòA GIảI TRONG LĩNH VựC DÂN Sự

1 Chỉ vì sự cạnh tranh không lành mạnh

2 Nguồn nước tưới không của riêng ai

3 Rừng là tài sản quốc gia

4 Tình cảm gia đình đã được hàn gắn

5 Khi hai đàn ngan gặp nhau…

6 Việc gia đình nhà chồng đòi lại tài sản đã cho khi chồng chết

331332335339339

341342

346

350351

357357357359360362363365

Trang 11

8 Không lấy cái sai để chống lại cái sai

9 Từ chuyện cây bưởi

10 Bức tường rào

11 Chuyện con trâu phá ruộng ngô

12 Hoà giải không chỉ ngăn chặn xung đột bên ngoài

13 Tranh chấp bình tro cốt

14 Chỉ vì con gà trống lạc

15 Con bò đã lành vết thương

16 Gà cùng một mẹ

17 Bác Pao lập di chúc

18 Con dại bố mang

19 Chỉ tại con nghé hiếu động

20 Trẻ con mất lòng người lớn

21 Bản di chúc để lại cho ba người con gái

22 Tình cảm gia đình cần được tôn trọng

23 Lợi nhuận từ chiếc xe đạp cầm cố

24 Mâu thuẫn giữa bà và cháu dâu

25 Món nợ và tình làng xóm

26 Ba tấn lúa biến mất

27 Tranh chấp về việc hưởng lợi khi bắt được gia súc thất lạc

28 Một giọt máu đào

29 Con đã cho làm con nuôi có phải là con?

30 Bản hợp đồng miệng

31 Người con trai đã nhận ra lỗi lầm

369371373375376379380382383385386388390392394396397399401402403405407408

Trang 12

6 Cả hai vợ chồng cùng phải sửa

7 Vợ xin ly hôn - chồng xin hoà giải

8 Hậu quả của lời cảnh báo thiếu cân nhắc

9 Những cuộc chơi và nguy cơ tan vỡ gia đình

10 Bố mẹ ly hôn, con ở với ai?

11 Ghen quá hoá không tỉnh táo

c TìNH HUốNG HòA GIảI TRONG LĩNH VựC ĐấT ĐAI

1 Không được chôn người chết trong vườn nhà mình

2 Việc chỉ có thế

3 Ôi! Giá đất, giá mà

4 Mượn đất rừng nhưng không muốn trả

5 Cuộc hoà giải qua điện thoại

6 Chỉ tại cái cột mốc chôn quá sâu

410412413415418420422425427429431433435438440442444444446447450452454

Trang 13

8 Mộ hai cụ tam đại

9 Tình nghĩa mẹ con

10 Kỷ lục về thời gian hoà giải

11 Cần phải đo lại cả hai mảnh đất

12 Vắng cha còn chú

13 Bạch đàn làm hại lúa

456459460464465468

Trang 14

P h ầ n I HƯớNG DẫN NGHIệP Vụ HOà GIảI ở CƠ Sở

I Khái niệm, bản chất hoà giải ở cơ sở

Trong khoa học cũng như trong thực tiễn có nhiều quan niệm

về hoà giải tùy theo cách tiếp cận phù hợp với từng loại hình hoàgiải Một số luật gia cho rằng hoà giải là chế định pháp luật về hoàgiải, coi hoà giải như một nguyên tắc, trình tự, thủ tục giải quyếtcác vụ án dân sự, hôn nhân gia đình, kinh tế, lao động của Toà án;còn các nhà thực tiễn thì coi hoà giải là những hành vi thuyết phụccác bên tranh chấp xoá bỏ những tranh chấp, mâu thuẫn, bất đồng Trên thế giới có nhiều quan niệm về hoà giải Theo Hiệp hộihoà giải Hoa Kỳ thì “Hoà giải là một quá trình, trong đó bên thứ

ba giúp hai bên tranh chấp ngồi lại với nhau để cùng giải quyếtvấn đề của họ”(1) Theo quan niệm này, người hoà giải không

(1) Tài liệu hướng dẫn tập huấn Trọng tài lao động, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, tháng 5 năm 1997.

A KHáI QUáT CHUNG

Về CÔNG TáC HòA GIảI ở CƠ Sở

Trang 15

tham gia vào quá trình hoặc vào việc thoả thuận các giải pháp Vaitrò chủ yếu của người hoà giải là người trung gian giúp cho hai bêntranh chấp tự nguyện ngồi lại với nhau, tạo điều kiện cho họ duytrì đối thoại và thương lượng giải quyết mâu thuẫn, bất đồng.Theo Từ điển thuật ngữ của ILO/EASMAT về quan hệ lao

động và các vấn đề liên quan coi “Hoà giải là sự tiếp nối của quátrình thương lượng trong đó các bên cố gắng làm điều hoà những ýkiến bất đồng Bên thứ ba đóng vai trò người trung gian hoàn toàn

độc lập với hai bên , không có quyền áp đặt , hành động như mộtngười môi giới, giúp hai bên ngồi lại với nhau và tìm cách đưa cácbên tranh chấp tới những điểm mà họ có thể thoả thuận được”(1).Theo Từ điển tiếng Việt của Nhà xuất bản Khoa học xã hộiphát hành năm 1995, thì hoà giải được hiểu là “hành vi thuyếtphục các bên đồng ý chấm dứt xung đột hoặc xích mích một cách

ổn thoả”(2) Quan niệm này nêu lên phương thức và mục đích củahoà giải, nhưng chưa khái quát được bản chất, nội dung và các yếu

tố cấu thành các loại hình hoà giải Trên thực tế, cả trong lý luậncũng như trong thực tiễn, các luật gia cho rằng khó có thể đưa ramột khái niệm hoà giải chung cho tất cả các loại hình hoà giảitrong đời sống xã hội, vì mỗi một loại hình hoà giải đều có đốitượng là các tranh chấp có tính chất, đặc trưng riêng của mình;trình tự, thủ tục tiến hành hoà giải, chủ thể tham gia quan hệ hoàgiải của mỗi loại hình hoà giải cũng khác nhau, mặc dù, các loạihình hoà giải cũng có một số đặc trưng chung giống nhau (hiểutheo nghĩa rộng)

ở nước ta hiện nay có những hình thức hoà giải khác nhau:hoà giải tại Toà án theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự,

(1) Tài liệu đã dẫn

(2) Từ điển tiếng Việt Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1995.

Trang 16

hôn nhân và gia đình, hoà giải các tranh chấp lao động, hoà giảibằng trọng tài thương mại, hoà giải các tranh chấp nhỏ tại cộng

đồng dân cư thông qua hoà giải ở cơ sở

Điều 127 Hiến pháp năm 1992 ghi nhận: “ở cơ sở, thành lậpcác tổ chức thích hợp của nhân dân để giải quyết những vi phạmpháp luật và những tranh chấp nhỏ trong nhân dân theo quy địnhcủa pháp luật”

Cụ thể hóa Hiến pháp, Điều 1 Pháp lệnh số UBTVQH10 ngày 25-12-1998 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về tổchức và hoạt động hòa giải năm 1998 (sau đây viêt tắt là Pháp lệnh

09/1998/PL-về tổ chức và hoạt động hòa giải năm 1998) quy định: “Hòa giải ởcơ sở được thực hiện thông qua hoạt động của Tổ hòa giải hoặc các

tổ chức thích hợp khác của nhân dân ở thôn, xóm, bản, ấp, tổ dânphố và các cụm dân cư khác để hướng dẫn, giúp đỡ, thuyết phục cácbên tranh chấp đạt được thỏa thuận, tự nguyện giải quyết với nhaunhững vi phạm pháp luật và tranh chấp nhỏ nhằm giữ gìn đoàn kếttrong nội bộ nhân dân, phòng ngừa, hạn chế vi phạm pháp luật, bảo

đảm trật tự, an toàn xã hội trong cộng đồng dân cư”(1)

Cụ thể hoá Điều 1 Pháp lệnh về tổ chức và hoạt động hòa giải

ở cơ sở năm 1998, Điều 2 Nghị định số 160/1999/NĐ-CP ngày 10-1999 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Pháp lệnh

18-về tổ chức và hoạt động hoà giải ở cơ sở quy định: “Hòa giải ở cơ sở

là việc hướng dẫn, giúp đỡ, thuyết phục các bên tranh chấp đạt đượcthỏa thuận, tự nguyện giải quyết với nhau những vi phạm phápluật và tranh chấp nhỏ nhằm giữ gìn đoàn kết trong nội bộ nhândân, củng cố, phát huy những tình cảm và đạo lý truyền thống

(1) Điều 2 Nghị định số 160/1999/NĐ-CP ngày 18-10-1999 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Pháp lệnh về tổ chức và hoạt động hoà giải

ở cơ sở; Điều 1 Pháp lệnh về tổ chức và hoạt động hòa giải năm 1998.

Trang 17

tốt đẹp trong gia đình và cộng đồng dân cư, phòng ngừa, hạn chế

vi phạm pháp luật, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội trong cộng đồngdân cư”

Trên cơ sở lý luận và thực tiễn hoạt động hoà giải ở cơ sở trongthời gian qua cho chúng ta thấy hoà giải ở cơ sở có một số đặc điểmsau đây:

- Hoà giải là một hình thức giải quyết những tranh chấp giữacác bên theo quy định của pháp luật, nghĩa là hoạt động hoà giảichỉ được thực hiện khi có tranh chấp về quyền và lợi ích giữa cácbên tranh chấp Theo quy định của pháp luật, những tranh chấpnày được giải quyết bằng hình thức hoà giải theo ý chí, nguyệnvọng của các bên tranh chấp

- Trong hoạt động hoà giải, các bên tranh chấp cần đến mộtbên thứ ba làm trung gian hoà giải, giúp các bên đạt được thoảthuận, chấm dứt tranh chấp, bất đồng Bên thứ ba ở đây là Hoàgiải viên (hoặc cũng có thể là một cá nhân có uy tín, có sức thuyếtphục, cảm hoá các bên tranh chấp) trực tiếp tham gia trong quan

hệ hoà giải, nhưng có vai trò trung lập và độc lập với các bên tranhchấp Người làm trung gian chỉ có quyền giải thích, thuyết phục,cảm hoá hai bên tranh chấp thương lượng, thoả thuận chấm dứttranh chấp, mâu thuẫn hay xung đột, mà không được áp đặt hoặccan thiệp vào nội dung thoả thuận của các bên

- Hoà giải trước hết là sự thoả thuận, thể hiện ý chí và quyền

định đoạt của chính các bên tranh chấp Hay nói cách khác, chủthể của quan hệ hoà giải phải chính là các bên tranh chấp vì họchính là chủ thể của các tranh chấp, các mâu thuẫn, nên họ có toànquyền định đoạt để giải quyết các mâu thuẫn, tranh chấp đó, chứkhông phải là ai khác Điều này thể hiện ý chí mong muốn và khảnăng của mỗi bên trên cơ sở đường lối, chính sách của Đảng, phápluật của Nhà nước và truyền thống đạo đức xã hội, trên cơ sởnguyên tắc tự nguyện của mỗi bên

Trang 18

- Nội dung thoả thuận của các bên tranh chấp không được tráivới quy định của pháp luật và phải phù hợp với đạo đức xã hội,phong tục, tập quán tốt đẹp của nhân dân ta Dù cho thoả thuận

đó thể hiện ý chí tự nguyện của các bên tranh chấp, nhưng nộidung của thoả thuận đó không phù hợp với quy định của pháp luật,trái đạo đức xã hội, thì sẽ không được công nhận

Như vậy, hoà giải là quá trình các bên tranh chấp tự nguyệnthỏa thuận giải quyết những tranh chấp, bất đồng Trong quátrình hoà giải cần đến một bên thứ ba với vai trò trung lập, làmtrung gian, giúp các bên tranh chấp giải quyết được những bất

đồng và đạt được một thoả thuận phù hợp với quy định của phápluật, đạo đức xã hội và tự nguyện thực hiện những thoả thuận đó

Từ những đặc điểm của hoạt động hoà giải của Tổ hoà giải đãphân tích trên đây, có thể nói rằng hoà giải ở cơ sở là quá trìnhHoà giải viên vận dụng pháp luật, đạo đức xã hội và bằng tấmgương của mình để giải thích, hướng dẫn, giúp đỡ, thuyết phục cácbên tranh chấp tự nguyện giải quyết với nhau những vi phạm phápluật và tranh chấp nhỏ nhằm xoá bỏ mâu thuẫn, bất đồng và đạt

được thoả thuận phù hợp với pháp luật và đạo đức xã hội, góp phầnxây dựng tinh thần đoàn kết trong nội bộ nhân dân, tương thân,tương ái, giữ gìn đạo đức, tình làng nghĩa xóm, giữ gìn an ninhchính trị, trật tự, an toàn xã hội trong cộng đồng dân cư, chủ độngphòng ngừa và hạn chế những hành vi vi phạm pháp luật ở cơ sở

II ý nghĩa, vai trò của công tác hoà giải ở cơ sở

Với hiệu quả thiết thực của mình, công tác hoà giải ở cơ sở thực

sự có vai trò quan trọng trong đời sống cộng đồng ở cơ sở

Thứ nhất, việc hoà giải các vi phạm pháp luật và các tranhchấp, mâu thuẫn, bất đồng giữa các thành viên trong gia đình,giữa các cá nhân trong cộng đồng dân cư đã góp phần giữ gìn đoàn

Trang 19

kết trong nội bộ nhân dân, củng cố, phát huy những tình cảm và

đạo lý truyền thống tốt đẹp trong gia đình và cộng đồng dân cư,phòng ngừa, hạn chế vi phạm pháp luật, bảo đảm trật tự, an toànxã hội trong cộng đồng dân cư

Thứ hai, hoạt động hoà giải ở cơ sở góp phần tích cực trong việchạn chế đơn thư khiếu nại, tố cáo tràn lan, vượt cấp, kéo dài Mỗi

vụ việc xảy ra ở cơ sở, nếu được hoà giải, giải quyết kịp thời sẽ tiếtkiệm được thời gian, công sức, tiền bạc của chính các bên tranhchấp, cũng như của các cơ quan nhà nước như chính quyền địaphương, Toà án

Thứ ba, hoạt động hoà giải ở cơ sở có ý nghĩa quan trọng đốivới công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho nhân dân Bằng việcvận dụng những quy định của pháp luật để giải thích, phân tích,thuyết phục các bên tranh chấp, tổ viên Tổ hoà giải góp phần nângcao hiểu biết pháp luật và quan trọng hơn là cảm hoá, giáo dục ýthức nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật cho các bên

I Tổ hoà giải ở cơ sở

Điều 2 Pháp lệnh về tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở năm

1998 quy định: “Hoà giải ở cơ sở được thực hiện thông qua hoạt

động của Tổ hoà giải hoặc các tổ chức thích hợp khác của nhân dân

ở thôn, xóm, bản, ấp, tổ dân phố và các cụm dân cư khác phù hợpvới pháp luật, đạo đức xã hội và phong tục, tập quán tốt đẹp củanhân dân”

Như vậy, có hai mô hình tổ chức có thể thực hiện việc hoà giải

ở cơ sở là:

- Tổ hoà giải ở cơ sở:

B Tổ CHứC HòA GIảI ở CƠ Sở

Trang 20

Tổ hoà giải ở cơ sở là tổ chức tự quản của nhân dân được thànhlập ở thôn, xóm, bản, ấp, tổ dân phố và các cụm dân cư khác đểthực hiện hoặc tổ chức thực hiện việc hoà giải những việc vi phạmpháp luật và tranh chấp nhỏ trong nhân dân theo quy định củapháp luật.

Tổ hoà giải không phải là một cơ quan hành chính, tổ chứcmang tính quyền lực như Toà án tiến hành hoà giải trong thời hạnchuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự, hôn nhân gia đình, hay như

tổ chức trọng tài thương mại là tổ chức phi chính phủ có tư cáchpháp nhân có con dấu và tài khoản riêng, hoặc Hội đồng hoà giảilao động cơ sở hoặc hoà giải viên lao động của cơ quan lao độngquận, huyện

Tính chất tự quản của Tổ hoà giải thể hiện ở chỗ các tổ viên tổhoà giải là những người được nhân dân bầu và họ tự điều hành,quản lý công việc của mình

Tổ hoà giải có tổ trưởng và các tổ viên do Uỷ ban Mặt trận Tổquốc xã, phường, thị trấn phối hợp với các tổ chức thành viên củaMặt trận lựa chọn, giới thiệu để nhân dân bầu và do Uỷ ban nhândân cùng cấp công nhận

Số lượng tổ viên Tổ hoà giải không ấn định cụ thể Tuy nhiên,mỗi Tổ hoà giải phải có ít nhất 3 hoà giải viên

Tổ hoà giải có thể được thành lập ở từng thôn, xóm, bản, ấp, tổdân phố và cũng có thể được thành lập ở những cụm dân cư khácnhư các chợ cố định, tụ điểm du lịch, khu vui chơi giải trí

Căn cứ đặc điểm, tình hình cụ thể của cụm dân cư và kết quảcuộc họp thôn, xóm, bản, ấp, tổ dân phố, kết quả cuộc họp chủ hộhoặc kết quả phiếu lấy ý kiến chủ hộ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dânxã, phường, thị trấn quyết định số lượng Tổ hoà giải ở địa phương

- Các tổ chức thích hợp khác của nhân dân ở thôn, xóm, bản,

ấp, tổ dân phố và các cụm dân cư: hòa giải của các thành viên trong

Trang 21

gia đình, họ tộc, hòa giải của các tổ chức tự quản của nhân dân, các

đoàn thể xã hội…

II Tổ viên Tổ hoà giải

1 Tiêu chuẩn tổ viên Tổ hoà giải (Điều 9 Pháp lệnh về tổ chức

và hoạt động hòa giải ở cơ sở năm 1998):

Tổ viên Tổ hòa giải do Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc xã, phường,thị trấn phối hợp với các tổ chức thành viên của Mặt trận đề cửhoặc tự mình ứng cử vào danh sách bầu tổ viên Tổ hoà giải để nhândân bầu và được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn ra quyết

định công nhận Tổ viên Tổ hòa giải là công dân từ 18 tuổi trở lên,

- Có khả năng thuyết phục, vận động nhân dân thực hiệnchính sách, pháp luật

- Tự nguyện tham gia tổ chức hoà giải, có tinh thần tráchnhiệm, nhiệt tình trong công tác hoà giải

Tổ viên Tổ hoà giải, Hoà giải viên là người giúp cho các bên cótranh chấp phân biệt được phải trái, đúng sai Vì vậy, để tiếng nóicủa tổ viên Tổ hoà giải thực sự “có trọng lượng” thì tổ viên Tổ hoàgiải phải là người có uy tín trong nhân dân Trước hết, đó phải làngười gương mẫu trong lối sống đạo đức, nghiêm chỉnh chấp hànhchủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước Nhữngngười “có uy tín trong nhân dân” không phải lúc nào cũng là nhữngngười cao tuổi Thực tế cho thấy, nhiều tổ viên Tổ hoà giải mặc dùtuổi đời còn rất trẻ, nhưng đã hoà giải thành nhiều mâu thuẫn gay

Trang 22

gắt giữa các bên tranh chấp

Khác với các Thẩm phán hoà giải tại Toà án, các thành viênHội đồng hoà giải lao động cơ sở, hay các trọng tài viên, tổ viên Tổhoà giải làm việc trên tinh thần tự nguyện “Ăn cơm nhà, vác tù vàhàng tổng” là hình ảnh vẫn thường được ví với những người làmcông tác hoà giải Công việc họ làm không có lương bổng, lại đòi hỏinhiều công sức và thời gian vật chất Vì vậy, nếu thiếu sự tựnguyện, không có lòng nhiệt tình và sự tận tâm, hoà giải viên khó

có thể hoàn thành công việc của mình

2 Tổ viên Tổ hoà giải có các quyền hạn, nhiệm vụ (Điều 11Nghị định số 160/1999/NĐ-CP ngày 18-10-1999 của Chính phủquy định chi tiết một số điều của Pháp lệnh về tổ chức và hoạt độnghòa giải ở cơ sở):

- Hoà giải các vụ việc theo quy định của pháp luật

Không phải bất kỳ một tranh chấp, vụ việc vi phạm pháp luậtnào xảy ra tại địa bàn là hoà giải viên cũng có quyền hoà giải Phápluật quy định cụ thể nhóm vụ việc được hoà giải và những việckhông được hoà giải ở cơ sở (được trình bày trong phần “Phạm vihoà giải”) Tổ viên Tổ hoà giải phải tuân thủ nghiêm chỉnh quy

định này

- Mục tiêu hướng tới của hoà giải:

Giúp người dân nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, hạn chế

đến mức thấp nhất các tranh chấp, mâu thuẫn, vi phạm pháp luậtxảy ra Đối với hoà giải viên, một nhiệm vụ không kém phần quantrọng so với trực tiếp thực hiện hoà giải là thông qua hoạt động hoàgiải, tuyên truyền, vận động nhân dân nghiêm chỉnh chấp hànhpháp luật

Để làm được điều này, đòi hỏi hoà giải viên phải có kiến thứcpháp luật không chỉ là những quy định liên quan đến vụ việc mìnhhoà giải, mà còn những hiểu biết pháp luật trong nhiều lĩnh vực

Trang 23

khác nhau, nhất là những lĩnh vực gắn với cuộc sống ở địa phương

và luôn có ý thức kết hợp việc phổ biến, tuyên truyền pháp luật chonhân dân trong quá trình hoà giải

Đối với những tranh chấp không thuộc phạm vi hoà giải có thể

ảnh hưởng đến trật tự, an ninh ở địa phương, thì tổ viên Tổ hoàgiải phải báo cáo Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn để xem xét

và có biện pháp giải quyết

III Tổ trưởng Tổ hoà giải

Tổ trưởng Tổ hoà giải do các tổ viên Tổ hoà giải bầu Tổ trưởng

Tổ hoà giải phụ trách Tổ hoà giải, đồng thời, tham gia hoạt độnghoà giải với tư cách tổ viên

Tổ trưởng Tổ hoà giải có các quyền hạn, nhiệm vụ (Điều 8Pháp lệnh về tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở năm 1998; Điều

10 Nghị định số 160/1999/NĐ-CP ngày 18-10-1999 của Chính phủquy định chi tiết một số điều của Pháp lệnh về tổ chức và hoạt độnghòa giải ở cơ sở):

- Phân công, điều hoà, phối hợp hoạt động của tổ viên Tổhoà giải

- Phối hợp với các tổ hoà giải trong việc nâng cao nghiệp vụ vàtrong hoạt động hoà giải tranh chấp liên quan đến địa bàn hoạt

động của các Tổ hoà giải đó

- Tổ chức các cuộc họp định kỳ và đột xuất để rút kinh nghiệm

về công tác hoà giải và đề xuất với Uỷ ban nhân dân xã, phường,thị trấn về các biện pháp nâng cao hiệu quả của công tác hoà giải,cung cấp tài liệu và các thông tin nâng cao nghiệp vụ hoà giải

- Báo cáo định kỳ và đột xuất về công tác hoà giải cho Uỷban nhân dân xã, phường, thị trấn và Uỷ ban Mặt trận Tổ quốccùng cấp

Trang 24

- Đại diện cho Tổ hoà giải trong quan hệ với Trưởng thôn, xóm,bản, ấp, Tổ trưởng tổ dân phố, cụm dân cư và với các cơ quan nhànước, tổ chức chính trị - xã hội ở cơ sở.

IV Thủ tục bầu tổ viên, Tổ trưởng Tổ hoà giải

(Điều 8 Nghị định số 160/1999/NĐ-CP ngày 18-10-1999 củaChính phủ quy định chi tiết một số điều của Pháp lệnh về tổ chức

và hoạt động hòa giải ở cơ sở)

Tổ viên Tổ hoà giải do nhân dân bầu Công dân từ 18 tuổi trởlên, có năng lực hành vi dân sự và có đủ các tiêu chuẩn của tổ viên

Tổ hoà giải đều có quyền đề cử, ứng cử vào danh sách bầu tổ viên

Tổ hoà giải

Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc xã, phường, thị trấn phối hợp với các

tổ chức thành viên của Mặt trận lựa chọn, giới thiệu người để nhândân bầu tổ viên tổ hoà giải

1 Hình thức bầu tổ viên Tổ hoà giải

Việc bầu tổ viên Tổ hoà giải được tổ chức ở thôn, xóm, bản, ấp,

tổ dân phố và cụm dân cư nơi Tổ hoà giải hoạt động và được tiếnhành theo một trong các hình thức sau:

- Họp nhân dân bàn, biểu quyết công khai hoặc bỏ phiếu kín

- Họp chủ hộ trong thôn, xóm, bản, ấp, tổ dân phố, biểu quyếtcông khai hoặc bỏ phiếu kín

- Trong trường hợp không tổ chức họp được thì phát phiếu lấy

ý kiến của chủ hộ gia đình

2 Yêu cầu đối với cuộc họp bầu tổ viên Tổ hoà giải

- Những người tham gia họp nhân dân hoặc đại diện cho chủ

hộ trong cuộc họp chủ hộ phải là người từ 18 tuổi trở lên và có nănglực hành vi dân sự

Trang 25

- Các cuộc họp nói trên được tiến hành khi có ít nhất 2/3 sốngười trong diện họp tham dự.

Trưởng thôn, xóm, bản, ấp, tổ dân phố tổ chức và chủ trì cáccuộc họp nhân dân, họp chủ hộ để bầu tổ viên Tổ hoà giải hoặc tổchức việc phát phiếu lấy ý kiến chủ hộ

3 Công nhận tổ viên Tổ hoà giải

Người được bầu là tổ viên Tổ hoà giải phải được quá nửa sốngười tham gia bầu tán thành

4 Bầu tổ trưởng Tổ hòa giải

Tổ trưởng Tổ hoà giải do các tổ viên tổ hoà giải bầu trong số tổviên của tổ

Kết quả các cuộc họp nhân dân, họp chủ hộ, kết quả lấy ý kiếnchủ hộ bầu tổ viên Tổ hoà giải và việc bầu tổ trưởng Tổ hoà giảiphải được lập thành biên bản

Các biên bản này phải được gửi đến Chủ tịch Uỷ ban nhân dânxã, phường, thị trấn xem xét để công nhận thành phần Tổ hoà giải

V Miễn nhiệm tổ viên Tổ hoà giải

Theo quy định tại Điều 9 Nghị định số 160/1999/NĐ-CP ngày18-10-1999 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Pháplệnh về tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở, thì việc miễn nhiệm

tổ viên Tổ hoà giải được thực hiện đối với tổ viên Tổ hoà giảikhông còn đủ tiêu chuẩn hoặc theo nguyện vọng cá nhân xin rútkhỏi Tổ hoà giải

1 Những trường hợp tổ viên Tổ hoà giải bị miễn nhiệm dokhông còn đủ tiêu chuẩn

- Có hành vi vi phạm pháp luật;

Trang 26

- Có hành vi trái đạo đức xã hội;

- Thiếu nhiệt tình trong hoạt động hoà giải

Tổ viên Tổ hoà giải có thể được miễn nhiệm khi có nguyện vọngxin rút khỏi Tổ hoà giải vì lý do sức khỏe hoặc vì những điều kiện,hoàn cảnh khác mà không thể tiếp tục tham gia công tác hoà giải

2 Thủ tục miễn nhiệm tổ viên Tổ hòa giải

Việc miễn nhiễm tổ viên Tổ hoà giải được thực hiện thông quahọp nhân dân, họp chủ hộ trong thôn, xóm, bản, ấp, tổ dân phố.Trong trường hợp không tổ chức họp được thì phát phiếu lấy ý kiếncủa chủ hộ

Trưởng thôn, xóm, bản, ấp, tổ dân phố tổ chức và chủ trì cáccuộc họp nhân dân, họp chủ hộ về việc miễn nhiệm tổ viên Tổ hoàgiải hoặc tổ chức việc phát phiếu lấy ý kiến chủ hộ

Căn cứ biên bản các cuộc họp nhân dân, họp chủ hộ hoặc kếtquả phiếu lấy ý kiến chủ hộ, Ban Tư pháp đề nghị bằng văn bản

để Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cùng cấp xem xét quyết định việcmiễn nhiệm tổ viên Tổ hoà giải

I Phạm vi hoà giải

(Điều 3 Pháp lệnh về tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở năm

1998 và Điều 4 Nghị định số 160/1999/NĐ-CP ngày 18-10-1999của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Pháp lệnh về tổchức và hoạt động hòa giải ở cơ sở)

1 Những việc được hoà giải

Hoà giải ở cơ sở là việc hướng dẫn, giúp đỡ, thuyết phục các

C HOạT ĐộNG HòA GIảI ở CƠ Sở

Trang 27

bên đạt được thoả thuận, tự nguyện giải quyết với nhau những việc

vi phạm pháp luật và tranh chấp nhỏ

Như vậy, không phải tất cả mọi vụ việc xảy ra ở địa bàn thôn,xóm, bản, ấp, tổ dân phố, cụm dân cư đều có thể được tiến hành hoàgiải Theo quy định của pháp luật chỉ những vi phạm pháp luật vàtranh chấp nhỏ mới được hoà giải ở cơ sở Phạm vi “nhỏ” của tranhchấp không phải là về giá trị vật chất của tranh chấp Các tranhchấp và vi phạm pháp luật được hoà giải ở cơ sở không yêu cầu phải

được giải quyết theo các trình tự thủ tục tố tụng bắt buộc của cơquan nhà nước có thẩm quyền, cơ quan tiến hành tố tụng Mặc dùcác vi phạm, tranh chấp không gây hậu quả nghiêm trọng ngay tứcthì, nhưng nếu không được giải quyết dứt điểm sẽ dẫn đến mất ổn

định trật tự trong nội bộ nhân dân Với sự giúp đỡ của hoà giải viên,các bên tranh chấp có thể thoả thuận, giải quyết mâu thuẫn dựatrên cơ sở tình cảm (gia đình, làng xóm), các quy tắc đạo đức, luân

lý, tập quán, phong tục tốt đẹp ở địa phương, nhằm giữ gìn đoàn kếttrong nội bộ nhân dân, phòng ngừa, hạn chế vi phạm pháp luật, bảo

đảm trật tự, an toàn xã hội trong cộng đồng dân cư

Hoà giải được tiến hành đối với việc vi phạm pháp luật vàtranh chấp nhỏ trong cộng đồng dân cư giữa các thành viên trongmột hộ gia đình, các hộ gia đình với nhau hoặc các cá nhân vớinhau Cụ thể:

- Mâu thuẫn, xích mích giữa các cá nhân với nhau: trong cuộcsống hàng ngày, có thể nảy sinh mâu thuẫn, xích mích giữa cácthành viên trong gia đình như cha mẹ và con cái, ông bà với cáccháu, giữa anh, chị, em do khác nhau về quan niệm sống, lối sống,tính tình không hợp hoặc mâu thuẫn, xích mích giữa các cá nhântrong quan hệ xóm giềng như sử dụng lối đi qua nhà, sử dụng

điện, nước sinh hoạt, công trình phụ, giờ giấc sinh hoạt, gây mất

vệ sinh chung

Trang 28

Ví dụ: Nhà ông A và nhà bà B ở cùng khu tập thể Nhà ông

A ở tầng 1, bà B ở tầng 5 Bà B có trồng mấy chậu hoa ở ban công Mỗi khi bà tưới hoa, nước lại chảy từ các chậu cây xuống nhà ông A Mặc dù ông A đã nhắc nhở nhiều lần, nhưng bà B không tiếp thu, vẫn để nước chảy xuống nhà ông

A Giữa hai bên thường xuyên to tiếng, cãi vã nhau vì chuyện này, gây mất trật tự trong khu tập thể.

- Tranh chấp về quyền, lợi ích phát sinh từ quan hệ dân sự nhưtranh chấp phát sinh từ các quan hệ về tài sản, quan hệ hợp đồngdân sự, nghĩa vụ dân sự, thừa kế, quyền sử dụng đất (thực hiệnnghĩa vụ khi vay, mượn tài sản, tranh chấp đối với gia súc, gia cầm

bị thất lạc, tranh chấp giữa những người được hưởng thừa kế…)

Ví dụ: Ông C cho người em họ là anh K mượn chiếc xe

đạp Khi biết anh K ngày nào cũng dùng chiếc xe đạp đó để chở hành ra Hà Nội bán, bà M vợ ông C đã sang nhà anh K

đòi chiếc xe về Anh K không trả xe cho M vì cho rằng xe là

do ông C cho anh mượn nên anh chỉ trả cho ông C mà thôi Không đòi được xe, bà M đã lớn tiếng chửi anh K ầm cả xóm.

- Tranh chấp về quyền, lợi ích phát sinh từ quan hệ hôn nhân

và gia đình như thực hiện các quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng;quyền và nghĩa vụ của cha mẹ và con; nhận nuôi con nuôi; ly hôn;yêu cầu cấp dưỡng

Ví dụ: Bà H năm nay đã ngoài 70 tuổi, bà sống với vợ chồng anh P con trai cả của bà Tuy nhiên, do vợ anh P thường nói hỗn và đối xử không tốt với bà H nên cô L, con gái

bà H muốn đón bà về ở với vợ chồng cô Khi cô L tới nói chuyện thì vợ chồng anh P đã phản đối rất gay gắt, họ cho rằng cô L đón bà về nuôi là mong sau này bà để lại cho ngôi nhà Không những thế, vợ anh P còn khoá trái cửa buồng bà

Trang 29

H lại, không cho bà ra ngoài gặp con gái Mâu thuẫn giữa vợ chồng anh P và cô L ngày càng gay gắt.

Hoà giải viên chỉ có quyền thuyết phục, giải thích để các bên

có tranh chấp tự nguyện thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mìnhnhư vợ chồng tôn trọng lẫn nhau, giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhauphát triển về mọi mặt…; nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng,nghĩa vụ và quyền giáo dục giữa cha mẹ và con cái, nghĩa vụ vàquyền của ông bà nội, ông bà ngoại và cháu, nghĩa vụ và quyền củaanh, chị, em, nghĩa vụ và quyền của bố dượng, mẹ kế và con riêng,quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi… Đối với việc lyhôn, hoà giải viên thực hiện việc hoà giải, giúp đôi vợ, chồng tựhàn gắn tình cảm, giữ gìn hạnh phúc gia đình Hoà giải viên không

được phép giải quyết, phân xử việc ly hôn, chẳng hạn cho vợ, chồng

Ví dụ: Vườn sau nhà ông D có mấy cây ổi Đến mùa ổi chín, cháu N hàng xóm nhà ông rủ bạn bè về nhà rồi dùng sào chọc trộm ổi nhà ông D làm rụng ổi nhà ông Ông D đã nhiều lần nhắc nhở nhưng bọn trẻ vẫn không nghe lời Ông D

đã sang nhà nói chuyện với anh B là bố cháu N Anh B cho rằng trẻ con đùa nghịch là chuyện hoàn toàn bình thường.

Trang 30

Giữa hai nhà đã phát sinh mâu thuẫn, “chuyện trẻ con làm mất lòng người lớn”.

2 Những việc không được tiến hành hoà giải

Có những vụ việc Tổ hoà giải không được phép tiến hành hoàgiải Những trường hợp này đều phải do cơ quan nhà nước có thẩmquyền xử lý hoặc phải được xử lý theo các trình tự, thủ tục theo quy

định của pháp luật, cụ thể:

- Hành vi vi phạm pháp luật hình sự bị coi là tội phạm

Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong

Bộ luật Hình sự năm 1999, do người có năng lực trách nhiệm hình

sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủquyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độchính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng, an ninh, trật

tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạmtính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, cácquyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnhvực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa Các tội phạm đượcquy định cụ thể trong Bộ luật Hình sự năm 1999 từ Chương XI đếnChương XXIV (Phần Các tội phạm)

Riêng đối với các hành vi vi phạm pháp luật hình sự mà người

bị hại đã không yêu cầu hoặc rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sựtheo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, Viện Kiểm sát hoặc Toà

án không tiếp tục tiến hành việc tố tụng và không bị cơ quan nhànước có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính theo quy định củapháp luật đối với các hành vi như: cố ý gây thương tích hoặc gâytổn hại cho sức khoẻ của người khác thì có thể hoà giải

- Hành vi vi phạm pháp luật bị xử lý vi phạm hành chính, bao gồm:

+ Hành vi cố ý hoặc vô ý vi phạm các quy tắc quản lý nhà nước

Trang 31

mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự và theo quy địnhcủa pháp luật phải bị xử lý vi phạm hành chính;

+ Hành vi vi phạm pháp luật về an ninh, trật tự, an toàn xãhội, nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự và theoquy định của pháp luật phải bị áp dụng các biện pháp xử lý viphạm hành chính như: giáo dục tại xã, phường, thị trấn; đưa vàotrường giáo dưỡng; đưa vào cơ sở giáo dục; đưa vào cơ sở chữa bệnh

- Các vi phạm pháp luật và tranh chấp mà theo quy định củapháp luật không được hoà giải, bao gồm:

+ Kết hôn trái pháp luật: theo quy định của Luật Hôn nhân

và Gia đình năm 2000, thì kết hôn trái pháp luật là việc xác lậpquan hệ vợ chồng có đăng ký kết hôn, nhưng vi phạm các điềukiện kết hôn, cụ thể: nam, nữ chưa đủ tuổi đăng ký kết hôn (namdưới 20 tuổi, nữ dưới 18 tuổi); việc kết hôn do một hoặc cả hai bên

bị ép buộc, lừa dối, cưỡng ép hoặc bị cản trở; việc kết hôn thuộcmột trong những trường hợp cấm kết hôn khi nam, nữ là người

đang có vợ hoặc có chồng, người mất năng lực hành vi dân sự,giữa những người có dòng máu trực hệ, có họ trong phạm vi ba

đời, giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹnuôi với con nuôi, bố chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, bốdượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng, giữanhững người cùng giới tính

+ Các vi phạm gây thiệt hại đến tài sản nhà nước: người nào cónhiệm vụ trực tiếp trong công tác quản lý tài sản nhà nước, vì thiếutrách nhiệm mà để mất mát, hư hỏng, lãng phí gây thiệt hại cho tàisản của Nhà nước có giá trị từ 50 triệu đồng trở lên, thì bị xử lý hình

sự theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 (tội thiếu tráchnhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước).+ Tranh chấp phát sinh từ giao dịch trái pháp luật: giao dịchdân sự trái pháp luật là giao dịch không đủ các điều kiện có hiệulực của giao dịch theo quy định của pháp luật, cụ thể:

Trang 32

Người tham gia giao dịch không có năng lực hành vi dân sự(người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người

bị hạn chế năng lực hành vi dân sự);

Mục đích và nội dung của giao dịch vi phạm điều cấm của phápluật, trái đạo đức xã hội;

Người tham gia giao dịch bị lừa dối, ép buộc;

Không đảm bảo hình thức giao dịch khi pháp luật có quy định

về hình thức đối với loại giao dịch đó

+ Tranh chấp về lao động: tranh chấp về lao động bao gồmtranh chấp giữa cá nhân người lao động hoặc tập thể người lao

động với người sử dụng lao động về quyền và lợi ích liên quan đếnviệc làm, tiền lương, thu nhập và các điều kiện lao động khác, vềthực hiện hợp đồng lao động, thoả ước tập thể và trong quá trìnhhợc nghề

Các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao

động gồm:

Đối với tranh chấp lao động cá nhân: Hội đồng hoà giải lao độngcơ sở hoặc hoà giải viên lao động của cơ quan lao động cấp huyện nơikhông có Hội đồng hoà giải lao động cơ sở, Toà án nhân dân

Đối với tranh chấp lao động tập thể: Hội đồng hoà giải lao độngcơ sở hoặc hoà giải viên lao động của cơ quan lao động cấp huyện

đối với những nơi không có Hội đồng hoà giải lao động cơ sở, Hội

đồng trọng tài lao động cấp tỉnh, Toà án nhân dân

II Nguyên tắc hoà giải

Theo quy định tại Điều 4 Pháp lệnh về tổ chức và hoạt độnghòa giải ở cơ sở năm 1998, thì việc hoà giải được tiến hành theo cácnguyên tắc sau đây:

Trang 33

1 Phù hợp với đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhànước, đạo đức xã hội và phong tục, tập quán tốt đẹp của nhân dân

Khi thực hiện nhiệm vụ của mình, hoà giải viên phải luôn dựavào đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đểgiải quyết tranh chấp giữa các bên, coi đó là cơ sở suốt quá trìnhhoà giải, không được giải thích tuỳ tiện, theo ý chủ quan Để có thểvận dụng một cách linh hoạt các quy định của pháp luật trong từngtrường hợp cụ thể đòi hỏi người hoà giải phải nắm vững các quy

định về quyền và nghĩa vụ của công dân trong một số lĩnh vực như:hôn nhân và gia đình (chủ trương về xây dựng gia đình văn hoá,những nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình, các quy

định về điều kiện kết hôn, quan hệ giữa vợ và chồng, nghĩa vụ vàquyền của cha mẹ và con, quan hệ giữa anh, chị, em và các thànhviên trong gia đình ), dân sự (năng lực hành vi dân sự của cánhân, các quyền nhân thân, giao dịch dân sự, một số quy định vềquyền sở hữu, thực hiện nghĩa vụ dân sự, bồi thường thiệt hại ),

đất đai, bảo vệ môi trường, hình sự

Tuy nhiên, hoà giải không phải là việc phân xử, phán xét nênnếu chỉ đưa ra những quy định của pháp luật thì chưa thể “gỡ rối” sựviệc Người Việt Nam vốn sống trọng tình, nặng nghĩa Vì vậy, cho dùcác mâu thuẫn có gay gắt đến đâu thì giữa các bên tranh chấp vẫncòn một sợi dây gắn bó, đó là cái nghĩa giữa các thành viên trong gia

đình, là cái tình xóm giềng “tối lửa, tắt đèn” Một trong những yếu tốquan trọng làm nên thành công của hoà giải là việc hoà giải viên dựavào các chuẩn mực đạo đức, các phong tục, tập quán tốt đẹp của địaphương để động viên, khuyên nhủ các bên dàn xếp mâu thuẫn, tranhchấp Việc vận dụng các câu ca dao, tục ngữ, phong tục, tập quánphải có sự chọn lọc cho phù hợp, tránh các giáo lý, hủ tục lạc hậu

2 Tôn trọng sự tự nguyện của các bên; không bắt buộc, áp đặtcác bên tranh chấp phải tiến hành hoà giải

Nhiệm vụ của hoà giải viên là thuyết phục, giúp các bên tranh

Trang 34

chấp tìm được tiếng nói chung để tự giàn xếp mâu thuẫn một cách

ổn thỏa Vì lẽ đó, trước hết hoà giải viên phải tôn trọng sự tựnguyện của các bên, tôn trọng ý chí của họ Hòa giải viên chỉ đóngvai trò là người trung gian hướng dẫn, giúp đỡ, thuyết phục các bêngiải quyết tranh chấp bằng con đường hòa giải chứ không áp đặt,bắt buộc các bên phải tiến hành hòa giải Nếu các bên không chấpnhận việc hoà giải, thì hoà giải viên không thể dùng ý chí chủ quancủa mình mà bắt buộc họ phải tiến hành hoà giải Lúc này, Tổ hoàgiải có trách nhiệm báo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để xử

lý kịp thời Kể cả trường hợp hoà giải thành, nếu việc thực hiệnthoả thuận giữa các bên có khó khăn thì hoà giải viên động viên,thuyết phục các bên thực hiện thoả thuận và có thể đề nghị trưởngthôn, xóm, bản, ấp, tổ dân phố hoặc kiến nghị với Uỷ ban nhân dânxã, phường, thị trấn tạo điều kiện để các bên tự nguyện thực hiệnthoả thuận đã đạt được mà không áp dụng biện pháp cưỡng chế thihành những thoả thuận của họ, bởi họ vẫn có quyền yêu cầu các cơquan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp của họ Vì vậy, mọi tác

động đến sự tự do ý chí của các bên như cưỡng ép, làm cho mộttrong hai bên bị lừa dối hay nhầm lẫn đều không thể hiện đầy đủtính tự nguyện của các bên

3 Khách quan, công minh, có lý, có tình; giữ bí mật thông tin đờitư của các bên tranh chấp; tôn trọng quyền, lợi ích hợp pháp củangười khác; không xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng

Khi thực hiện hoà giải, hoà giải viên phải đảm bảo nguyên tắckhách quan, công minh nhằm bảo đảm giải quyết tranh chấp mộtcách công bằng, bình đẳng, quan tâm đến lợi ích của các bên tranhchấp Là người trung gian, hoà giải viên không được thiên vị, không

định kiến hay nể nang bên nào, mà cần lắng nghe cả đôi bên tranhchấp trình bày ý kiến, để họ được bày tỏ nguyện vọng của mình Hoạt động hoà giải ở cơ sở đòi hỏi phải tuân thủ nguyên tắc có

lý, có tình, nghĩa là hoà giải phải dựa trên cơ sở pháp luật và đạo

Trang 35

đức xã hội Trước hết cần đề cao yếu tố tình cảm, dựa vào đạo đứcxã hội để phân tích, khuyên nhủ các bên ứng xử phù hợp với chuẩnmực đạo đức: như con cái phải có hiếu với cha mẹ; anh chị em phảibiết thương yêu, đùm bọc lẫn nhau “như thể tay chân”, “chị ngã,

em nâng”, “máu chảy ruột mềm”, “môi hở răng lạnh”; vợ chồngsống với nhau phải có tình, có nghĩa, “đạo vợ, nghĩa chồng”, “gái cócông, chồng chẳng phụ”, tất cả vì con cái; xóm giềng thì “tối lửa tắt

đèn có nhau”, “vắng anh em xa có láng giềng gần” và “thương ngườinhư thể thương thân Cùng với việc giải thích, thuyết phục cácbên ứng xử phù hợp với các quy tắc đạo đức xã hội, hoà giải viênphải dựa vào pháp luật để phân tích, tư vấn pháp luật, đưa ranhững lời khuyên và hướng dẫn các bên thực hiện các quyền vànghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật nhằm giữ gìn đoànkết trong nội bộ nhân dân, củng cố, phát huy những tình cảm và

đạo lý truyền thống tốt đẹp trong gia đình và cộng đồng, phòngngừa, hạn chế vi phạm pháp luật, bảo đảm trật tự, an toàn xã hộitrong cộng đồng dân cư

Để thực hiện hoà giải thành, hoà giải viên phải tìm hiểu rõngọn ngành của vụ việc: nguyên nhân phát sinh, diễn biến của vụviệc, thái độ của các bên Trong số các thông tin cần thiết đó, đôikhi có những thông tin liên quan đến bí mật đời tư của các bêntranh chấp Khi được các bên tranh chấp tin tưởng và thổ lộ thôngtin thầm kín về đời tư của mình cho hòa giải viên, thì hoà giải viêncần tôn trọng và không được phép tiết lộ những thông tin này ở

đây, cũng cần phân biệt giữa bí mật thông tin đời tư cá nhân vànhững thông tin mà các bên tranh chấp che dấu về hành vi viphạm pháp luật của mình

Ví dụ: Thời gian gần đây, chị B nhận thấy những biểu hiện khác thường ở anh A, chồng chị ở nhà, anh trở nên lạnh nhạt, ít nói hơn và anh hay cáu gắt với vợ con hơn trước Chị B sinh nghi chồng mình có quan hệ với người phụ

Trang 36

nữ khác, hai vợ chồng thường to tiếng với nhau Chị B ôm con về nhà mẹ đẻ

Giả thiết xảy ra hai trường hợp sau:

Trường hợp thứ nhất: sau khi gặp gỡ anh A, hoà giải viên biết được nguyên nhân sự thay đổi tính tình, thái độ với vợ con của anh A Do một lần tụ tập với bạn bè, không làm chủ được bản thân anh đã có quan hệ với một tiếp viên ở nhà hàng Khi biết tin cô gái này bị HIV, anh A vô cùng lo lắng là mình cũng

đã bị lây nhiễm Anh vừa lo sợ cho bản thân, vừa thấy ân hận với vợ con nhưng không biết phải làm thế nào Trong trường hợp này hoà giải viên nên khuyên anh A đi xét nghiệm và không được phép tiết lộ thông tin anh A có thể bị lây nhiễm HIV, vì thông tin này có thể làm ảnh hưởng xấu tới cuộc sống của bản thân anh A cũng như gia đình anh.

Trường hợp thứ hai: sau khi tìm hiểu sự việc, hoà giải viên biết được việc anh A đang có quan hệ tình cảm với một người phụ nữ khác, thường xuyên qua lại nhà người phụ nữ đó Đây chính là nguyên nhân mà anh có thái độ lạnh nhạt với vợ con Trong trường hợp này hành vi của anh A là vi phạm quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình.

Trong quá trình hoà giải, ngoài việc đảm bảo lợi ích của cácbên, hoà giải viên cũng phải tính đến lợi ích của của những người

có liên quan, đặc biệt không xâm phạm lợi ích nhà nước, lợi íchcông cộng

Ví dụ: khi hoà giải về tranh chấp giữa hai hộ gia đình về lối

đi chung, cần phải xem xét việc giải quyết tranh chấp đó có làm ảnh hưởng tới những hộ gia đình khác cũng sử dụng lối

đi đó hay không.

Bên cạnh đó, việc hòa giải phải tuân thủ nguyên tắc tôn trọng

Trang 37

quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, không xâm phạm lợi íchcủa Nhà nước và lợi ích công cộng, nghĩa là việc hoà giải không chỉnhằm giải quyết tranh chấp, bảo vệ, khôi phục quyền và lợi ích củacác bên mà còn phải bảo đảm lợi ích chung của xã hội, của Nhànước và của người khác Trong mọi trường hợp, hoà giải viên khôngchỉ giúp các bên giải quyết tranh chấp mà còn góp phần giáo dục ýthức tôn trọng pháp luật của công dân Khi hướng dẫn các bên thoảthuận giải quyết tranh chấp không được trái với quy định của phápluật và không lợi dụng hoà giải để làm thiệt hại đến lợi ích củangười thứ ba, lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng

Đối với hoà giải ở cơ sở, các tranh chấp, xích mích trong đờisống sinh hoạt hàng ngày liên quan đến sử dụng lối đi qua nhà, sửdụng điện, nước sinh hoạt, đổ rác thải làm mất vệ sinh môitrường, trong cộng đồng dân cư thường liên quan đến nhiềungười khác ngoài các bên tranh chấp Hoà giải viên không thể vìmục đích đạt được hoà giải thành của các bên tranh chấp mà làm

ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của bất kỳ người nào khác.Mặt khác, đối với các trường hợp xích mích, tranh chấp liên quan

đến quyền và lợi ích của người khác như thường thấy trong đờisống sinh hoạt hàng ngày, cần phải vận dụng đến đạo lý, tình cảm

để khơi dậy tinh thần tương thân, tương ái nhằm cảm hoá, thuyếtphục các bên tranh chấp hoà giải đạt được kết quả

4 Kịp thời, chủ động, kiên trì nhằm ngăn chặn vi phạm phápluật, hạn chế những hậu quả xấu khác có thể xảy ra và đạt được kếtquả hoà giải

Trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày có thể xảy ra những vachạm, xích mích, tranh chấp nhỏ giữa các thành viên trong gia

đình, họ tộc, hàng xóm… với nhau mà nếu không được giải quyếtkịp thời, có lý, có tình thì có thể từ những va chạm, xích mích, mâuthuẫu nhỏ sẽ dễ trở thành những mâu thuẫn lớn Từ những tranhchấp, mâu thuẫn trong quan hệ dân sự, hôn nhân - gia đình có thể

Trang 38

chuyển thành vụ án hình sự… Vì vậy, hòa giải viên cần chủ động,kịp thời tiến hành hòa giải, ngăn chặn hậu quả xấu, phòng ngừa

vi phạm pháp luật và tội phạm hình sự có thể xảy ra, giữ gìn tình

đoàn kết trong gia đình, cộng đồng

Khác với các loại hình hoà giải khác, pháp luật không quy địnhthời hạn tiến hành việc hoà giải một tranh chấp do Tổ hoà giảithực hiện Việc hoà giải chỉ kết thúc khi các bên đã đạt được thoảthuận và tự nguyện thực hiện thoả thuận đó Thực tiễn hoạt độnghoà giải cho thấy có nhiều việc tranh chấp trong cộng đồng dân cưdiễn ra trong một thời gian dài, đòi hỏi hoà giải viên phải kiên trì,dành thời gian, công sức tìm hiểu kỹ sự việc, theo dõi sát diễn biến

sự việc để có những biện pháp tiếp cận được với các bên tranh chấp,tìm được phương thức hoà giải phù hợp nhất Hòa giải viên có thể

đến gặp gỡ từng bên để lắng nghe, thuyết phục Sau khi tìm hiểu

đầy đủ sự việc, lắng nghe ý kiến của các bên, người hòa giải phảibằng tất cả sự cảm thông, khéo léo phân tích, thuyết phục các bên

đạt tới thỏa thuận phù hợp với pháp luật, đạo đức xã hội Tuỳ theotừng trường hợp cụ thể, việc hoà giải có thể phải kéo dài trongnhiều tháng hoặc lâu hơn cho đến khi các bên đạt được thoả thuận

và tự nguyện thực hiện thỏa thuận đó

III Tiến hành việc hoà giải và người tiến hành hoà giải

1 Tiến hành hòa giải

Theo quy định tại Điều 10 Pháp lệnh về tổ chức và hoạt độnghòa giải ở cơ sở năm 1998 và Điều 12 Nghị định số 160/1999/NĐ-

CP ngày 18-10-1999 của Chính phủ quy định chi tiết một số điềucủa Pháp lệnh về tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở, thì việc hoàgiải do các tổ viên Tổ hoà giải tiến hành hoặc tổ chức tiến hànhtrong các trường hợp sau đây:

- Hoà giải viên chủ động tiến hành hoà giải hoặc một người

Trang 39

ngoài Tổ hoà giải nhưng có uy tín thực hiện việc hoà giải theo sángkiến cuả mình:

Khi hoà giải viên trực tiếp chứng kiến tranh chấp, xung độtgiữa các bên đang xảy ra (ví dụ: tranh chấp đường đi, lối lại giữahai gia đình liền kề nhau, họ đang chửi mắng, to tiếng với nhau…)

và nhận thức rằng nếu không kịp thời hoà giải, ngăn chặn thì cóthể dẫn tới xô sát, đánh nhau gây thương tích, gây thù ghét lẫnnhau Trong trường hợp này, hoà giải viên có thể theo sáng kiếncủa mình, tự mình chủ động gặp gỡ ngay các bên tranh chấp đểthực hiện hoà giải Việc chủ động có mặt của hoà giải viên trongkhi xảy ra tranh chấp là rất cần thiết để kịp thời ngăn chặn việc

vi phạm pháp luật và giải quyết kịp thời những tranh chấp nhỏtrong cộng đồng dân cư, tránh để chuyện bé xé ra to, “cái sảy nảycái ung”, từ tranh chấp dân sự chuyển thành phạm tội hình sự.Trong trường hợp hoà giải viên tự nhận thấy khó có thể thuyếtphục các bên tranh chấp, thì có thể đứng ra tổ chức việc hoà giảitheo sáng kiến của mình, mời người ngoài Tổ hoà giải như ngườicao tuổi trong dòng họ, già làng, trưởng bản… có uy tín thực hiệnviệc hoà giải để thuyết phục, cảm hoá các bên tranh chấp giảiquyết mâu thuẫn, bất đồng

- Thực hiện việc hoà giải theo sự phân công của tổ trưởng Tổhoà giải, theo đề nghị của các cơ quan, tổ chức và cá nhân:

Bên cạnh việc chủ động tiến hành hoặc tổ chức tiến hành hoàgiải, hoà giải viên còn thực hiện việc hoà giải theo sự phân côngcủa tổ trưởng hay theo đề nghị của cơ quan, tổ chức hoặc cá nhânkhác Trong trường hợp này, hoà giải viên cần phải phải gặp gỡ cácbên tranh chấp, tìm hiểu rõ tâm lý, bản chất tranh chấp, nguyênnhân dẫn đến tranh chấp, dự kiến thời gian, địa điểm và cách thứchoà giải cũng như việc có cần mời người ngoài Tổ hoà giải có uy tíntham gia hoà giải, giải quyết tranh chấp hay không để việc hoà giải

đạt được kết quả tốt nhất

Trang 40

- Thực hiện việc hoà giải theo yêu cầu của một bên hoặc các bêntranh chấp:

Khi các bên tranh chấp tìm đến Tổ hòa giải hoặc gặp gỡ hòagiải viên để yêu cầu thực hiện hòa giải tranh chấp, mâu thuẫn của

họ, thì hoà giải viên phải lưu ý tìm hiểu kỹ xem vụ việc đó có thuộcphạm vi hoà giải hay không Trên thực tế, có những trường hợp cácbên tranh chấp muốn được hoà giải nhằm lẩn trốn trách nhiệm đốivới những hành vi phạm pháp của mình Theo quy định của phápluật, mọi hành vi lợi dụng việc hoà giải để trốn tránh xử lý bằngbiện pháp hình sự, hành chính đều bị nghiêm cấm

Trường hợp vụ, việc không thuộc phạm vi hoà giải, thì Tổ hoàgiải hoặc hoà giải viên hướng dẫn các bên giải quyết tranh chấptheo quy định của pháp luật và ứng xử phù hợp với pháp luật và

đạo đức xã hội

2 Người tiến hành hòa giải

Theo quy định tại Điều 11 Pháp lệnh về tổ chức và hoạt độnghòa giải ở cơ sở năm 1998 và Điều 12 Nghị định số 160/1999/NĐ-

CP ngày 18-10-1999 của Chính phủ quy định chi tiết một số điềucủa Pháp lệnh về tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở, thì việc hoàgiải có thể do một hoặc một số tổ viên Tổ hoà giải tiến hành Khácvới thủ tục hoà giải trong tố tụng tại Toà án hoặc hoà giải của tổchức trọng tài, theo đó pháp luật quy định cụ thể số lượng thẩmphán hoặc trọng tài viên tham gia hoà giải vụ việc Đối với hoà giải

ở cơ sở, số lượng hoà giải viên tham gia hoà giải là tuỳ thuộc vàotính chất của từng tranh chấp, mâu thuẫn

Không chỉ có thành viên tổ hòa giải mới được tham gia hòa giải

Tổ viên Tổ hoà giải có thể mời người ngoài Tổ hoà giải thựchiện việc hoà giải hoặc cùng tham gia hoà giải Người được mời cóthể là người có trình độ pháp lý, có kiến thức xã hội, có uy tín đốivới các bên tranh chấp Trong từng trường hợp cụ thể, người được

Ngày đăng: 18/01/2022, 09:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w