Sự ra đời và phát triển của giáo dục học Giáo dục với tư cách là một hiện tượng xã hội, không những chịu ảnh hưởngcủa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất mà còn chịu ảnh hưởng của các
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY NGUYÊN
Đắk Lắk, 2020
Trang 2PHẦN 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ GIÁO DỤC HỌC
CHƯƠNG 1 GIÁO DỤC HỌC LÀ MỘT KHOA HỌC
Mục tiêu:
Sau khi học xong chương này sinh viên phải đạt được các mục tiêu sau:
* Về kiến thức: Nắm vững và hiểu được các vấn đề:
- Khái niệm hiện tượng giáo dục và các tính chất của giáo dục;
- Lịch sử ra đời, đối tượng, nhiệm vụ của giáo dục học;
- Khái niệm quá trình giáo dục tổng thể, quá trình giáo dục, quá trình dạy học,giáo dưỡng;
- Các phương pháp nghiên cứu giáo dục học; hệ thống khoa học giáo dục, mốiquan hệ giữa khoa học giáo dục và các khoa học khác
* Về kỹ năng: Phát triển các kỹ năng nhận định, đánh giá, phân tích, tổng hợp,
so sánh, vận dụng kiến thức vào thực tiễn
* Về thái độ: Người học đánh giá đúng đắn vai trò của môn học đối với bản
thân, có thái độ đúng đắn và nghiêm túc trong quá trình học tập môn học, bồi dưỡnglòng yêu nghề
1.1 Giáo dục là một hiện tượng đặc trưng của xã hội loài người
1.1.1 Quan niệm về giáo dục
Trong xã hội loài người luôn luôn xảy ra một hiện tượng: Thế hệ trước truyềnlại cho thế hệ sau những kinh nghiệm (trong lao động sản xuất,trong chinh phục tựnhiên, giao tiếp,…) hiện tượng đó gọi là giáo dục
Giáo dục là hiện tượng xã hội trong đó diễn ra sự truyền lại kinh nghiệm giữathế hệ trước cho thế hệ sau Thế hệ sau sử dụng những kinh nghiệm này để lao độngsản xuất, chinh phục tự nhiên, đấu tranh xã hội, tham gia vào đời sống
1.1.2 Giáo dục là một hiện tượng xã hội
- Xuất hiện do nhu cầu của xã hội loài người
- Nảy sinh, tồn tại và phát triển cùng với xã hội loài người
- Nảy sinh trong quan hệ người – người
- Nội dung của giáo dục mang tính xã hội rõ nét
1.1.3 Giáo dục là một hiện tượng đặc trưng của xã hội loài người
- Chỉ có trong xã hội loài người, không có ở động vật
Trang 3- Giáo dục tồn tại cùng với sự tồn tại của xã hội loài người Giáo dục ra đời, tồntại và phát triển cùng với sự ra đời, tồn tại và phát triển của xã hội loài người Hay nóicách khác, giáo dục ra đời từ khi xã hội loài người ra đời, nó chỉ mất đi khi không còn
xã hội loài người, vì vậy giáo dục mang tính vĩnh hằng.
- Giáo dục là một hiện tượng phổ biến và tất yếu
+ Phổ biến: Giáo dục tồn tại trong bất kỳ chế độ xã hội nào và trong bất kỳ giaiđoạn lịch sử nào Ở đâu có con người ở đó có giáo dục
+ Tất yếu: Giáo dục ra đời do đòi hỏi tất yếu của xã hội Vì xã hội muốn tồn tại
và phát triển thì cần phải tổ chức lao động, chinh phục tự nhiên, đấu tranh xã hội và tổchức các quan hệ cuộc sống
1.1.4 Các tính chất của giáo dục
- Giáo dục mang tính lịch sử cụ thể: Giáo dục là một hoạt động gắn liền với tiếntrình đi lên của xã hội, ở mỗi giai đoạn phát triển của lịch sử đều có nền giáo dụctương ứng, khi xã hội chuyển từ hình thái kinh tế xã hội này sang hình thái kinh tế xãhội khác thì nền giáo dục tương ứng cũng sẽ có sự biến đổi
+ Mỗi quốc gia, mỗi địa phương khác nhau thì trình độ phát triển của giáo dụccũng khác nhau
+ Trong một chế độ xã hội, giáo dục cũng phát triển khác nhau qua từng giaiđoạn lịch sử, tương ứngvới sự phát triển kinh tế trong các giai đoạn lịch sử đó
- Giáo dục mang tính giai cấp: Trong xã hội có giai cấp giáo dục tất yếu mangtính giai cấp
+ Giáo dục là công cụ phục vụ và bảo vệ quyền lợi của giai cấp thống trị, đồngthời cũng là phương tiện để đấu tranh giai cấp Giai cấp thống trị sử dụng giáo dục đểtruyền bá những quan điểm, chủ trương, đường lối, chính sách của mình đến toàn xãhội; sử dụng giáo dục để đào tạo những con người phục vụ, bảo vệ cho quyền lợi củagiai cấp thống trị
+ Tính giai cấp thể hiện đậm nét trong tất cả các mặt khác nhau của nền giáo dục,đặc biệt là trong mục đích giáo dục, nội dung giáo dục, phương pháp giáo dục,…
+ Nền giáo dục xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam vẫn mang tính giai cấp thể hiện ởtính dân chủ rộng rãi, nhân văn sâu sắc và hướng đến sự phát triển toàn diện của mỗi
cá nhân
- Giáo dục mang tính kế thừa:
Trang 4+ Giáo dục tiếp nhận có chọn lọc những yếu tố tích cực của nền giáo dục cũlàm cho nó phù hợp hơn với hoàn cảnh mới
+ Giáo dục xoá bỏ, loại trừ, những yếu tố lạc hậu, lỗi thời, thay thế vào đónhững yếu tố mới mẻ, tích cực và tiên tiến của thế giới; để xây dựng một nền giáo dụcvừa hiện đại vừa mang tính truyền thống
Trong quá trình giáo dục người giáo dục cần phải có sự sáng tạo, thay đổi saocho phù hợp với hoàn cảnh, đối tượng…khi chuyển tải nội dung, sử dụng phương pháp
và phương tiện giáo dục; tránh sự rập khuôn, máy móc
1.2 Giáo dục học là một khoa học
1.2.1 Sự ra đời và phát triển của giáo dục học
Giáo dục với tư cách là một hiện tượng xã hội, không những chịu ảnh hưởngcủa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất mà còn chịu ảnh hưởng của các tư tưởnggiáo dục được nảy sinh và phát triển trong các thời kỳ lịch sử
Nếu như giáo dục được xuất hiện cùng với sự xuất hiện của xã hội loài ngườithì giáo dục học với tư cách là một khoa học về giáo dục con người lại được hìnhthành muộn hơn nhiều
- Thời kỳ cổ đại, những kinh nghiệm giáo dục đã bắt đầu được tổng kết, songmới ở dạng những tư tưởng giáo dục Có điều đáng chú ý là những tư tưởng giáo dụcnày được hình thành với những tư tưởng triết học và được trình bày trong những hệthống triết học Chẳng hạn, những tư tưởng triết học của Xôcrat (469-399 tr.CN),Đêmôcrit (460-370 tr.CN), Aristốt (384-322 tr CN) Trong các hệ thống triết học này
đã đề cập những tư tưởng có liên quan đến những vấn đề giáo dục con người, hìnhthành nhân cách, xác định vị thế của họ trong xã hội…
- Đến thời kỳ trung cổ thì giáo dục chịu ảnh hưởng rất to lớn của nhà thờ.Những tư tưởng giáo dục được phát triển trong khuôn khổ thần học Người ta chủtrương kết hợp và dung hoà lý trí, sự phát triển trí tuệ với niềm tin tôn giáo
- Trong thời kỳ phục hưng, các nhà tư tưởng, các nhà giáo dục tiến bộ đã kịchliệt phê phán, chống lại giáo dục nhà thờ, đòi hỏi phải xây dựng một nền giáo dụcnhân văn thoát khỏi thần học, con người không bị đè nén, áp đặt mà còn được pháttriển toàn diện qua con đường giáo dục Giáo dục phải được giải phóng khỏi thần học
Ở đây chúng ta có thể nói đến T.More (1478-1535) T.Campanenlla (1568-1639)
- Đến đầu thế kỷ thứ XVII, giáo dục học với tư cách là một khoa học lần đầu
Trang 5tiên mới được tách ra từ triết học Bêcơn (1561-1626) - nhà triết học, nhà tự nhiên họcngười Anh, vào năm 1623 có ý định phân loại các khoa học, trong đó có giáo dục học
mà lúc đó được hiểu giản đơn là “Hướng dẫn đọc sách”
Song, giáo dục học thực sự trở thành một khoa học độc lập gắn liền với tên tuổicủa J.A.Cômenxki - nhà giáo dục học người Sec vĩ đại (1592-1670) Tác phẩm lớnnhất của ông là “Phép giảng dạy vĩ đại” được coi là cuốn sách khoa học giáo dục đầutiên Có thể nói rằng, nội dung của nó rất phong phú Trong đó ông đã trình bày mộtcách có hệ thống những quan điểm chặt chẽ về vai trò và ý nghĩa của học vấn rộng rãicần thiết cho mọi đứa trẻ Nhiều nguyên tắc và hình thức tổ chức dạy học do ông đềxuất cho đến nay vẫn còn giá trị Ví dụ, nguyên tắc trực quan, nguyên tắc hệ thống,nguyên tắc phát huy tính tích cực nhận thức của học sinh,…và đặc biệt là hình thức tổchức dạy học trên lớp (hình thức dạy học theo lớp)
Kế theo J.A.Cômenxki, nhiều nhà hoạt động xuất sắc tiếp tục góp phần pháttriển giáo dục như J.Lôc - nhà triết học ở Anh (1632-1704), Rutxô (1712-1778),Usinki (1824-1870),…
- Đến giữa thế kỷ XIX, với sự xuất hiện chủ nghĩa Marx - học thuyết mang tínhkhoa học và mang tính cách mạng cao đã vạch ra những quy luật khách quan của sựvận động và phát triển xã hội, hình thành nhân cách; đã mở ra những khả năng thực tếcho sự nghiệp cải tiến xã hội và con người, giáo dục đã thực sự trở thành một khoa học
về giáo dục con người có cơ sở phương pháp luận đúng đắn và vững chắc
Ở đây cần nhấn mạnh rằng, Marx và Ăngghen đã xây dựng được học thuyết vềgiáo dục với tư cách là một bộ phận hữu cơ của học thuyết chủ nghĩa cộng sản khoahọc Marx đã tạo ra một bước ngoặt cơ bản trong lý thuyết giáo dục, đã giải phóng nókhỏi chủ nghĩa siêu hình, khỏi tình trạng tách rời cuộc sống, đã vũ trang phương phápkhoa học nhằm giúp chúng ta phát hiện những quy luật của giáo dục như là một hiệntượng xã hội
Như vậy giáo dục đã được hình thành và và phát triển qua một quá trình lịch sửlâu dài Cho đến nay, giáo dục đã phát triển, trở thành một hệ thống khoa học giáo dục,phát triển nhanh và góp phần rất đắc lực cho sự nghiệp phát triển giáo dục, đáp ứngyêu cầu phát triển của xã hội
Trang 61.2.2 Đối tượng và nhiệm vụ của giáo dục học
1.2.2.1 Đối tượng của giáo dục học
Giáo dục học là một hiện tượng xã hội, có tính phức tạp về nhiều mặt, nhiềukhía cạnh, có nhiều khoa học đi vào nghiên cứu như Kinh tế học, Xã hội học, Triếthọc, Chính trị học,…
Sự đóng góp của nhiều khoa học trong việc nghiên cứu giáo dục như là mộthiện tượng đặc trưng của xã hội đã khẳng định giá trị của nó, tuy nhiên những khoahọc này không đề cập tới bản chất của giáo dục, tới những mối quan hệ của các quátrình phát triển con người như một nhân cách, tới sự phối hợp giữa nhà giáo dục vớingười được giáo dục trong quá trình phát triển đó, cùng với các điều kiện đảm bảo cho
sự phát triển Việc nghiên cứu các khía cạnh nêu trên cần phải có khoa học chuyênngành nghiên cứu, đó là Giáo dục học
- Giáo dục học là ngành khoa học nghiên cứu quá trình giáo dục con người vớihàm nghĩa rộng, bao quát toàn bộ các tác động giáo dục và dạy học được định hướngtheo mục đích xác định, được tổ chức một cách hợp lý và khoa học nhằm hình thành
và phát triển nhân cách cho người học
- Giáo dục học nghiên cứu bản chất, quy luật, các khuynh hướng và tương laiphát triển quá trình giáo dục, với các nhân tố và phương tiện phát triển con người nhưmột nhân cách trong suốt toàn bộ cuộc sống Trên cơ sở đó, Giáo dục học nghiên cứu
lý luận và cách tổ chức quá trình đó, các phương pháp, hình thức hoàn thiện hoạt độngcủa nhà giáo dục, các hình thức hoạt động của người được giáo dục
1.2.2.2 Nhiệm vụ của giáo dục học
Bất kỳ một lý thuyết khoa học nào cũng là một hệ thống các luận điểm, thựchiện các nhiệm vụ sau đây:
- Giải thích bản chất, nguồn gốc phát sinh, quy luật phát triển của các hiệntượng mà khoa học lấy làm đối tượng nghiên cứu
- Nghiên cứu các trường phái khác nhau trong lý thuyết, dự đoán các xu hướngphát triển của khoa học và thực tiễn chuyên ngành
- Tìm tòi các phương pháp và phương tiện nghiên cứu lĩnh vực chuyên ngành
- Nghiên cứu ứng dụng các luận điểm khoa học vào thực tiễn
Giáo dục học là một lý thuyết khoa học, bao gồm một hệ thống các luận điểm
về quá trình giáo dục, nó có các nhiệm vụ sau:
Trang 7- Giải thích nguồn gốc phát sinh, phát triển và bản chất của hiện tượng giáo dục,phân biệt các mối quan hệ có tính chất quy luật và tính ngẫu nhiên Tìm ra các quy luậtchi phối quá trình giáo dục để tổ chức chúng đạt hiệu quả tối ưu.
- Xây dựng chương trình giáo dục và đào tạo dựa trên cơ sở dự đoán xu hướngphát triển của xã hội hiện đại, khả năng phát triển của khoa học và công nghệ trongtương lai
- Nghiên cứu, tìm tòi các phương pháp và phương tiện giáo dục mới trên cơ sởcác thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại nhằm nâng cao chất lượng giáo dục vàđào tạo
- Nghiên cứu xây dựng các lý thuyết giáo dục mới và khả năng ứng dụng củacác lý thuyết ấy vào thực tiễn giáo dục
Tóm lại: Nhiệm vụ của giáo dục học là nghiên cứu bản chất và các quy luật củaquá trình giáo dục để xây dựng các lý thuyết khoa học giáo dục và chỉ ra con đườngứng dụng chúng vào thực tiễn
1.2.3 Một số khái niệm của giáo dục học
- Giáo dục (theo nghĩa rộng): Là quá trình tác động có mục đích, có tổ chức, có
kế hoạch, có nội dung và bằng phương pháp khoa học của nhà giáo dục tới người đượcgiáo dục trong các cơ quan giáo dục, nhằm hình thành nhân cách cho họ
Giáo dục theo nghĩa rộng hay còn gọi là quá trình sư phạm tổng thể Đây là mộtquá trình tác động tổng thể trong các cơ quan giáo dục chuyên biệt nhằm hình thànhnhân cách toàn vẹn cho người học
Nếu xem xét một cách khái quát thì giáo dục tổng thể có:
+ Quá trình giáo dục (theo nghĩa hẹp): Là quá trình hình thành cho người
được giáo dục lý tưởng, động cơ, tình cảm, niềm tin, những nét tính cách của nhâncách, những hành vi, thói quen cư xử đúng đắn trong xã hội thông qua việc tổ chứccho họ các hoạt động và giao lưu
+ Quá trình dạy học: Là hoạt động thống nhất giữa người dạy và người học,
trong đó dưới vai trò chủ đạo của người dạy, người học tích cực, tự giác chiếm lĩnh trithức khoa học, rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo nhằm phát triển trí tuệ và các phẩm chấtnhân cách
Trang 8Dạy học là con đường cơ bản để thực hiện mục đích giáo dục xã hội Học tập là
cơ hội quan trọng giúp mỗi cá nhân phát triển, tiến bộ và thành đạt
QTGD (nghĩa rộng) = QTDH + QTGD (nghĩa hẹp)
Quá trình giáo dục theo nghĩa rộng hay các quá trình bộ phận của nó cũng nhưquá trình giáo dục theo nghĩa hẹp và dạy học đều có một cấu trúc bao gồm các nhântố: mục đích, nhiệm vụ, nội dung, phương pháp và phương tiện, chủ thể, khách thể vàkết quả
Trong quá trình giáo dục các yếu tố này có mối quan hệ mật thiết, tác động qualại lẫn nhau tạo nên một hệ thống trọn vẹn, ổn định, bền vững
- Giáo dưỡng:
Có hai cách hiểu về giáo dưỡng:
Cách hiểu 1: Giáo dưỡng bao gồm giáo dục và nuôi dưỡng Nhà trường giáodưỡng vừa thực hiện chức năng nuôi dưỡng vừa thực hiện chức năng giáo dục
Cách hiểu 2: Giáo dưỡng là quá trình cung cấp kiến thức khoa học, hình thànhphương pháp nhận thức và kỹ năng thực hành sáng tạo cho học sinh thông qua con đườngdạy học Như vậy giáo dưỡng là quá trình bồi dưỡng học vấn cho học sinh
- Tự giáo dục: Tự giáo dục là kết quả của giáo dục Tự giáo dục là quá trình cá
nhân tự đề ra mục đích, tự tổ chức thực hiện, tự kiểm tra, tự đánh giá, tự điều khiển, tựđiều chỉnh và tự hoàn thiện
- Giáo dục lại: Trong quá trình giáo dục thì giáo dục đã khó, giáo dục lại còn khó
hơn nhiều lần Giáo dục lại là quá trình sửa đổi, cải biến lại những hành vi, thói quenkhông đúng đã được hình thành ở người được giáo dục
Muốn giáo dục lại có kết quả phải tìm hiểu rõ nguyên nhân, phải đề ra biện pháphợp lý, tạo môi trường tốt và phải giáo dục bằng tình thương, đòi hỏi nhà giáo dục phảithật kiên trì, nhẫn nại
1.2.4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu giáo dục học
1.2.4.1 Phương pháp luận nghiên cứu giáo dục học
Phương pháp là cách thức hoạt động của con người để đạt được mục đích nàođó
Phương pháp nghiên cứu của giáo dục học là cách thức mà các nhà khoa học sửdụng để khám phá bản chất và quy luật của quá trình giáo dục nhằm vận dụng chúng
để cải tạo thực tiễn giáo dục
Trang 9Phương pháp luận là lý luận về phương pháp, thực chất là những quan điểm, tưtưởng chỉ đạo quá trình nghiên cứu Các quan điểm phương pháp luận mang màu sắcTriết học Những quan điểm phương pháp luận là kim chỉ nam hướng dẫn các nhàkhoa học tìm tòi, nghiên cứu khoa học, có thể đề cập đến một số quan điểm phươngpháp luận nghiên cứu giáo dục như:
- Quan điểm duy vật biện chứng: Khi nghiên cứu, các nhà khoa học phải xem xét
sự vật, hiện tượng, quá trình giáo dục trong các mối quan hệ phức tạp của chúng, đồngthời khi nghiên cứu phải xem xét đối tượng trong sự vận động và phát triển
- Quan điểm lịch sử - logic: Phải phát hiện nguồn gốc nảy sinh, quá trình diễn
biến của đối tượng nghiên cứu trong không gian, thời gian với những điều kiện vàhoàn cảnh cụ thể
- Quan điểm thực tiễn: Xuất phát từ thực tiễn, tìm ra quy luật phát triển của
chúng từ thực tiễn, kết quả nghiên cứu được kiểm nghiệm trong thực tiễn và phải đượcứng dụng trong thực tiễn
- Quan điểm hệ thống: Phải phân tích chúng thành những bộ phận để xem xét
một cách sâu sắc và toàn diện, phải phân tích mối quan hệ giữa các bộ phận trong từng
sự vật, hiện tượng và quá trình đó
1.2.4.2 Các phương pháp nghiên cứu giáo dục học
a Các phương pháp nghiên cứu lý luận
Là các phương pháp được sử dụng để nghiên cứu tài liệu lý luận
- Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết:
Phân tích lý thuyết là thao tác phân chia tài liệu lý thuyết thành các đơn vị kiếnthức, cho phép ta có thể tìm hiểu những dấu hiệu đặc thù
Tổng hợp lý thuyết là sự liên kết các yếu tố, các thành phần để tạo thành mộttổng thể
- Phương pháp phân loại tài liệu:
- Phương pháp mô hình hoá: Dựa vào mô hình tương tự như đối tượng nghiên
cứu và tái hiện lại những mối liên hệ cơ cấu, chức năng, nhân quả của đối tượng
b Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Là các phương pháp dùng để nghiên cứu thực tiễn giáo dục
* Quan sát sư phạm:
Trang 10- Định nghĩa: Quan sát là cách thức sử dụng các giác quan để thu thập các sốliệu, dữ kiện nghiên cứu.
Trong khoa học giáo dục, đối tượng quan sát là hoạt động của thầy giáo, họcsinh, phụ huynh học sinh, các điều kiện, môi trường và kết quả hoạt động của họ
- Tuỳ từng trường hợp cụ thể, người nghiên cứu có thể vận dụng các loại quansát sau đây:
+ Quan sát từng mặt hoạt động hoặc toàn diện;
+ Quan sát lâu dài hoặc có bố trí;
+ Quan sát trực tiếp hoặc gián tiếp;
+ Quan sát phát hiện và quan sát kiểm nghiệm
- Những ưu, nhược điểm chủ yếu của phương pháp quan sát
+ Ưu điểm:
Trực tiếp tiếp xúc với đối tượng nghiên cứu, do đó có thể nhận biết đối tượngmột cách toàn diện: hình dạng, màu sắc, âm thanh, vị trí, môi trường, ảnh hưởng củađối tượng v.v
Kết quả nhận được là tin cậy
- Những yêu cầu và điều kiện của phương pháp quan sát:
+ Phải bảo đảm tính tự nhiên của đối tượng quan sát
+ Phải có mục đích quan sát rõ ràng
+ Phải được trang bị về lý luận và thực tiễn trước khi quan sát
+ Số lượng quan sát phải đa dạng và phong phú
+ Nên có sự phân tích tại chỗ những vấn đề đã được quan sát để có thể trao đổi
ý kiến với cán bộ địa phương và có thể quan sát bổ sung những vấn đề chưa rõ
* Phương pháp đàm thoại:
Trang 11- Phương pháp đàm thoại là phương pháp thu thập thông tin theo một chương trìnhnhất định qua việc trò chuyện, trao đổi trực tiếp với người được khảo sát.
Nguồn thông tin trong phương pháp này bao gồm toàn bộ những câu trả lờiphản ánh quan điểm, nhận thức, hành vi cử chỉ của người được hỏi trong thời gianphỏng vấn
- Những ưu điểm, nhược điểm:
+ Ưu điểm: có thể khai thác nội tâm của người được nghiên cứu, có khi thuthập được những tài liệu rất có giá trị, độ tin cậy cao
+ Nhược điểm: mất rất nhiều thời gian và những ý kiến thu thập được có tínhchất cá nhân, nên chưa chắc đã mang tính phổ biến
- Một số vấn đề cần lưu ý khi thực hiện đàm thoại:
+ Thái độ cần tự nhiên, cởi mở;
+ Câu hỏi phải rõ ràng, lý thú phù hợp với vấn đề mà người ta am hiểu và quantâm, sao cho người được hỏi có thể trả lời một cách thoải mái, tự nhiên và có chấtlượng
+ Câu hỏi cần phải uyển chuyển, sinh động
* Trưng cầu ý kiến bằng phiếu hỏi (bảng câu hỏi, điều tra bằng an két):
- Định nghĩa: Điều tra bằng anket là phương pháp điều tra trong đó nhà nghiêncứu dùng một hệ thống câu hỏi nhằm đồng thời thu thập ý kiến chủ quan của các thànhviên cộng đồng về một vấn đề gì đó
Đối tượng điều tra là những người có liên quan đến vấn đề nghiên cứu: họcsinh, sinh viên, cán bộ quản lý, thầy giáo, phụ huynh học sinh
Phương pháp này thường dùng khi tiến hành nghiên cứu các vấn đề xã hội học,nhằm giải quyết các vấn đề xã hội, các bài toán số lớn, các vấn đề vĩ mô
- Các loại câu hỏi:
+ Câu hỏi phạm vi rộng để thăm dò, phát hiện vấn đề, thường là câu hỏi mở + Câu hỏi điều tra sâu nhằm khai thác một số vấn đề chi tiết, những số liệu cụthể, thường là câu hỏi kín nhằm giải đáp một vấn đề gì đó, có mục đích rõ ràng
+ Bên cạnh những câu hỏi đã chuẩn bị sẵn, trong quá trình khảo sát tại địaphương, thường nẩy sinh nhiều vấn đề mới, mà trước đó chưa lường hết được Vì vậy,còn có những câu hỏi bổ sung ngay trong thời gian khảo sát tại địa phương
- Ưu điểm, nhược điểm:
Trang 12+ Ưu điểm: ưu điểm chủ yếu của phương pháp điều tra bằng ankét là có thể thuthập được một khối lượng thông tin lớn trong thời gian ngắn.
+ Nhược điểm:
Trong nhiều trường hợp người được hỏi không nói thật những ý nghĩ của mình.Khối lượng lớn, rất khó xử lý để trả lời mục đích đặt ra
Nhìn chung, những kết quả điều tra bằng anket chỉ cho ta những ý kiến chung
và có tính định lượng của các thành viên cộng đồng Nhưng những ý kiến này vốn hếtsức đa dạng nên nhà nghiên cứu phải tiến hành xử lý, phân tích các số liệu điều tra để
có thể rút ra những kết luận chính xác
- Một số vấn đề cần lưu ý khi sử dụng phương pháp anket
+ Xác định rõ ràng mục đích và đối tượng điều tra
+ Xây dựng có chất lượng bảng câu hỏi điều tra
+ Hướng dẫn trả lời rõ ràng
+ Xử lý số liệu điều tra chính xác
Đây là những vấn đề khó và có ảnh hưởng lớn đến kết quả nghiên cứu, vì vậycần được giới thiệu tỷ mĩ và tìm hiểu trong những tài liệu riêng
* Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục:
- Định nghĩa: Là phương pháp phát hiện và phổ biến những thành tựu xuất sắccủa giáo viên, của cán bộ quản lý giáo dục, những hiện tượng giáo dục tiêu biểu,những nhân tố mới trong giáo dục thông qua việc phân tích, tổng kết kinh nghiệm
- Những ưu, nhược điểm của phương pháp tổng kết kinh nghiệm:
+ Ưu điểm:
Phương pháp này sẽ giúp phát hiện những vấn đề cần giải quyết, những mặt ưu
và nhược điểm của nhà trường, phát huy ưu điểm, kiến nghị những giải pháp để bổsung thiếu sót, hoàn thiện quá trình sư phạm
Bảo đảm tính khoa học vì được thử thách, kiểm nghiệm trong cuộc sống
+ Nhược điểm: Tổng kết, khái quát hoá những vấn đề vĩ mô là điều rất khó
- Những lưu ý khi sử dụng phương pháp tổng kết kinh nghiệm:
+ Chọn điển hình để khai thác kinh nghiệm
+ Đảm bảo khai thác kinh nhiệm từ nhiều nguồn khác nhau
+ Biết sàng lọc những kinh nghiệm đã thu được và xử lý chúng một cách kháchquan
Trang 13+ Rút ra được những bài học này trong thực tiễn.
* Phương pháp thực nghiệm sư phạm:
- Định nghĩa: Là phương pháp mà nhà nghiên cứu chủ động tạo ra hiện tượngmuốn nghiên cứu trong điều kiện được khống chế nhất định để có thể đo đạc tỷ mỷ,đánh giá chính xác sự biến đổi bản chất của các sự vật hay hiện tượng dưới tác độngcủa người nghiên cứu
Có hai loại thực nghiệm thường dùng là:
+ Thực nghiệm phát hiện hiện trạng;
+ Thực nghiệm tác động hình thành
- Ý nghĩa: So với phương pháp quan sát, phỏng vấn việc sử dụng phương phápthực nghiệm trong nghiên cứu có một ý nghĩa rất quan trọng Nếu phương pháp quan sátchỉ tìm hiểu, phát hiện những cái đã có thì phương pháp thực nghiệm lại chủ động tạo ranhững hiện tượng, quá trình, cấu trúc và cơ chế mới để nghiên cứu chúng
- Để thực nghiệm có hiệu quả chúng ta cần lưu ý:
+ Xác định giả thiết khoa học
+ Phải chọn mẫu để tiến hành thực nghiệm
+ Mẫu phải có đối chứng để so sánh
Mẫu và đối chứng phải ngang bằng nhau ở tất cả các yếu tố: độ tuổi, nam nữ,trình độ, chỉ khác nhau về yếu tố thực nghiệm
+ Những tác động vào mẫu thực nghiệm phải theo một chương trình chuẩn bịsẵn, xắp xếp theo thứ tự
+ Chương trình thực nghiệm phải được điều khiển và kiểm soát chặt chẽ
+ Xử lý kết quả thực nghiệm chính xác, chân thực cả về mặt định lượng và địnhtính
* Phương pháp trắc nghiệm khách quan:
- Là công cụ đo biểu hiện, trình độ nhận thức và mức độ phát triển của nhân cách.Đặc điểm của phương pháp trắc nghiệm là có tính tiêu chuẩn hoá của việc trìnhbày và xử lý kết quả; tính không phụ thuộc của kết quả vào nhân cách nhà nghiên cứu
và tình huống trắc nghiệm; tính đối chiếu của tài liệu cá nhân với tài liệu chuẩn
Các loại câu trắc nghiệm:
Trong giáo dục thường dùng một số câu trắc nghiệm sau:
+ Câu đúng – sai;
Trang 14+ Câu nhiều lựa chọn;
+ Câu ghép đôi;
+ Câu điền
- Ưu điểm của phương pháp trắc nghiệm là ngắn, gọn, tốn ít thời gian thực hiện;khách quan; lượng hoá được kết quả Tuy nhiên, nó có nhược điểm là chỉ phản ánhmặt định lượng của vấn đề nghiên cứu
- Yêu cầu cơ bản của phương pháp trắc nghiệm là đảm bảo hiệu lực: đo đúngcái cần đo
* Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động giáo dục.
Là phương pháp mà nhà nghiên cứu thông qua các sản phẩm sư phạm để tìmhiểu tính chất, đặc điểm, tâm lý của con người và của hoạt động đã tạo ra sản phẩm ấynhằm tìm ra giải pháp nâng cao chất lượng của quá trình giáo dục
* Phương pháp sử dụng toán thống kê:
Để xử lý kết quả nghiên cứu (%, giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, )
1.3 Hệ thống các khoa học về giáo dục và mối quan hệ của giáo dục với các khoa học khác
1.3.1 Hệ thống các khoa học về giáo dục
Giáo dục học được phân chia thành các chuyên ngành khoa học riêng biệt, tạothành một hệ thống các khoa học giáo dục, bao gồm:
- Giáo dục học đại cương
- Giáo dục học lứa tuổi
- Giáo dục học khuyết tật
- Giáo dục học bộ môn
- Lịch sử giáo dục và giáo dục học
- Giáo dục học theo chuyên ngành (giáo dục học quân sự, giáo dục học thể
thao, giáo dục học đại lượng, )
Với sự phát triển của khoa học theo hướng phân hóa và tích hợp, trong nhữngnăm gần đây, khoa học giáo dục không ngừng phát triển, hình thành nhiều chuyênngành mới như: Triết học giáo dục, giáo dục học so sánh, xã hội học giáo dục, kinh tếhọc giáo dục, quản lý giáo dục, )
1.3.2 Mối quan hệ của giáo dục học với các khoa học khác
Giáo dục học với Triết học
Trang 15Mối quan hệ này là một quá trình lâu dài và có hiệu quả, các tư tưởng triết học
đã hình thành quan điểm và lý luận giáo dục học, nó làm cơ sở phương pháp luận chogiáo dục học
Triết học luôn được coi là cơ sở nền tảng khi xem xét các quy luật giáo dục Một
số ngành khoa học liên quan đến Triết học như Xã hội học, Đạo đức học, Mĩ học, đều
có vai trò to lớn trong việc nghiên cứu các vần đề giáo dục học
Giáo dục học với Sinh lý học
Sinh lý học được coi là cơ sở khoa học tự nhiên của giáo dục học Việc nghiêncứu giáo dục học cần phải dựa vào những điều kiện của sinh lý học như: hệ thần kinhcấp cao, đặc điểm các loại hệ thần kinh, hoạt động của hệ thống tín hiệu thứ nhất, thứhai, cơ quan vận động Những thành tựu của sinh lý học giúp cho Giáo dục học phùhợp với đặc điểm sinh lý của học sinh, của từng lứa tuổi
Giáo dục với Tâm lý học
Tâm lý học nghiên cứu trạng thái, các quá trình, các phẩm chất tâm lý muônmàu muôn vẻ được hình thành trong quá trình phát triển con người, quá trình giáo dụccũng như quá trình tác động của con người tới môi truờng
Tâm lý học cung cấp cho Giáo dục học những tri thức về cơ chế, diễn biến vàcác điều kiện tổ chức quá trình bên trong của sự hình thành nhân cách con người theotừng lứa tuổi, từng giai đoạn
Giáo dục học với Xã hội học
Xã hội học là khoa học nghiên cứu các quy luật hình thành, vận động và pháttriển đối với quan hệ của con người với xã hội, giúp con người hiểu được cơ cấu tổ chức
xã hội, hiện tượng xã hội, quá trình xã hội trên cơ sở đó hiểu được các mối quan hệ xãhội, các hiện tượng, quy luật xã hội, thực trạng về văn hóa của các nhóm cư dân khácnhau, những nguồn kiến thức đó phục vụ cho việc nghiên cứu Giáo dục học
Giáo dục học với Điều khiển học
Điều khiển học là khoa học về sự điều khiển tối ưu các hệ thống phức tạp, làkhoa học nghiên cứu logic của những quá trình trong tự nhiên và xã hội, nó xác địnhnhững cái chung, quy định sự vận hành các quá trình đó
Cái chung đó là: Sự có mặt của một trung tâm điều khiển, sự có mặt của kháchthể bị điều khiển, sự điều khiển thông qua các kênh thuận nghịch Quá trình giáo dục
là một quá trình điều khiển được, có thể vận dụng lý thuyết về Điều khiển học để xây
Trang 16dựng lý thuyết giáo dục học.
Trang 17CHƯƠNG 2 GIÁO DỤC VÀ SỰ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI
- Những đặc điểm của xã hội hiện đại và thách thức đặt ra cho giáo dục hiện nay;
- Xu thế và định hướng phát triển giáo dục thế kỷ XXI
2.1 Các chức năng xã hội của giáo dục
Giáo dục là một hiện tượng xã hội có vai trò quan trọng đối với sự tồn tại vàphát triển của xã hội, vai trò của giáo dục được thể hiện thông qua các chức năng xãhội của giáo dục
2.1.1 Chức năng kinh tế - sản xuất
Kinh tế - sản xuất có một vai trò quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của
xã hội Nó vừa là điều kiện, động lực thúc đẩy sự phát triển xã hội, vừa là tiêu chuẩnđánh giá sự phát triển xã hội Một đất nước muốn tồn tại và phát triển phải dựa trên cơ
sở kinh tế
* Giáo dục có khả năng tác động đến các quá trình sản xuất xã hội và góp phầnlàm tăng trưởng kinh tế
Bởi vì:
- Thứ nhất, cơ chế điển hình của giáo dục là thế hệ trước đúc kết kinh nghiệm
xã hội, tổ chức truyền thụ cho thế hệ sau; thế hệ sau tiếp nhận, lĩnh hội và làm phongphú hơn vốn kinh nghiệm xã hội đó
Trang 18- Thứ hai, sự phát triển của nền kinh tế cần có các nguồn lực cơ bản sau: nguồnnhân lực dồi dào; công nghệ hiện đại; nguồn vốn đủ mạnh; thị trường rộng mở, ổnđịnh; tài nguyên phong phú Trong đó nguồn nhân lực đóng vai trò quan trọng nhất,chất lượng nguồn nhân lực do giáo dục quyết định.
* Nói về tác động ảnh hưởng của giáo dục đối với sự phát triển của nền kinh tế
gia trong các lĩnh vực…).
Đặc biệt, đất nước ta đang trong giai đoạn phát triển công nghiệp hoá, hiện đạihóa, lực lượng lao động trình độ cao (những người được đào tạo, được giáo dục tốt)giữ vai trò quyết định đối với sự phát triển của kinh tế - xã hội Điều này đã đượcĐảng và nhà nước ta khẳng định trong các Nghị quyết của Đảng, chính sách pháp luậtcủa nhà nước: Con người giữ vị trí trung tâm quyết định sự phát triển của đất nước;giáo dục là quốc sách hàng đầu
- Giáo dục góp phần cải tạo các quan hệ sản xuất, xóa bỏ các quan hệ sản xuất
cũ lạc hậu, xây dựng các quan hệ sản xuất mới tiến bộ hơn, công bằng hơn Cân đốigiữa mức độ đóng góp và quyền lợi được hưởng thụ
Như vậy chức năng kinh tế - sản xuất của giáo dục là tái sản xuất mở rộng sứclao động, đào tạo lực lượng sản xuất và cải tạo các quan hệ sản xuất
* Để thực hiện tốt chức năng kinh tế - sản xuất, giáo dục cần phải thực hiệnnhững yêu cầu cơ bản sau đây:
- Giáo dục phải gắn kết với thực tiễn xã hội, đáp ứng nguồn nhân lực theo yêucầu phát triển kinh tế - sản xuất trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể
- Xây dựng một hệ thống ngành nghề cân đối, đa dạng và phù hợp với sự pháttriển kinh tế - sản xuất của đất nước Tránh tình trạng thừa thầy thiếu thợ như hiện nay
- Hệ thống giáo dục quốc dân không ngừng đổi mới nội dung, phương pháp,phương tiện,…Nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực, nguồn lực người
Trang 19Trong giai đoạn hiện nay với tầm quan trọng của giáo dục đối với sự phát triểnkinh tế có thể khẳng định: đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho nền kinh tế đang chuyểndần sang nền kinh tế tri thức.
2.1.2 Chức năng chính trị - xã hội
Nhằm khẳng định vai trò của giáo dục đối với vấn đề chính trị - xã hội
“Chính trị là khái niệm dùng để chỉ mối quan hệ về mặt lợi ích giữa các quốc
gia, dân tộc, giữa các giai cấp, giữa cá nhân, nhóm người với giai cấp, quốc gia dân tộc.”
* Giáo dục có khả năng tác động đến các nhóm, các giai cấp trong xã hội gópphần làm thay đổi cơ cấu, tính chất của các giai cấp và thay đổi vị thế của cá nhântrong xã hội, góp phần ổn định chính trị
Bởi vì giáo dục góp phần nâng cao dân trí, nâng cao trình độ cho người dân nhờ
đó góp phần chuyển đổi cơ cấu lao động của xã hội, đồng thời làm cho quan hệ xã hộingày càng trở nên tốt đẹp hơn và xã hội thiết lập được trật tự, kỉ cương
* Ảnh hưởng của giáo dục đối với các vấn đề chính trị - xã hội:
- Ảnh hưởng của giáo dục đối với vấn đề chính trị:
+ Giáo dục góp phần đắc lực vào việc củng cố và làm ổn định hệ thống chính trịthông qua việc thực hiện chức năng tuyên truyền, làm cho những đường lối, quan điểmcủa Đảng cầm quyền, những chính sách, chiến lược, hệ thống pháp luật của nhà nước,
…đến được với mọi tầng lớp dân chúng
+ Giáo dục tạo ra những thế hệ con người trung thành với giai cấp, đáp ứngđược yêu cầu của công cuộc cách mạng, có đủ khả năng để thực hiện thành công sựnghiệp chính trị của giai cấp
- Ảnh hưởng của giáo dục đối với các vấn đề xã hội:
+ Giáo dục tác động toàn diện đến các mặt, các lĩnh vực khác nhau của đời sống
xã hội, làm biến đổi sâu sắc cấu trúc xã hội, mối quan hệ xã hội, bình đẳng xã hội,hành vi xã hội, phân công lao động xã hội,…
+ Giáo dục có một ảnh hưởng lớn đến các vấn đề xã hội, trong đó rõ nét nhất làgiáo dục tạo điều kiện và cơ hội cho mỗi cá nhân có thể chuyển đổi vị thế giai cấp củamình
Trong xã hội ngày nay, giáo dục toàn thế giới đang hướng đến một nền giáo dụcbình đẳng và dân chủ Nền giáo dục đó mở rộng cơ hội cho mọi thành phần dân cư,
Trang 20không phân biệt đều được tiếp nhận giáo dục một cách bình đẳng và dân chủ để pháttriển, làm thay đổi vị thế xã hội cho mỗi cá nhân và cộng đồng Giáo dục vừa là mụctiêu, vừa là phương tiện hữu hiệu cho các cuộc cách mạng xã hội trên phạm vi toàn thếgiới.
2.1.3 Chức năng tư tưởng - văn hóa
Tư tưởng văn hóa là một trong những vấn đề quan trọng đối với sự tồn tại vàphát triển của xã hội
“Văn hóa là toàn bộ giá trị vật chất và tinh thần đã được nhân loại sáng tạo ra
trong quá trình hoạt động thực tiễn lịch sử - xã hội, các giá trị ấy nói lên mức độ phát triển của loài người”
* Giáo dục thực hiện chức năng tích luỹ và truyền đạt kinh nghiệm xã hội thôngqua các thế hệ tạo điều kiện cho mỗi cá nhân lĩnh hội tri thức, hình thành và phát triểnnhân cách nhờ đó biết bảo tồn và phát triển các giá trị văn hoá xã hội
Giáo dục còn góp phần vào việc xây dựng và phổ biến hệ tư tưởng và lối sốngtrong cộng đồng xã hội nhờ đó làm cho đời sống tinh thần càng phát triển
Sở dĩ như vậy là vì mỗi quốc gia, dân tộc đều có những giá trị văn hoá truyềnthống cần phải được bảo tồn và phát huy, con đường ngắn nhất và tốt nhất để pháttriển các giá trị đó là thông qua giáo dục
* Giáo dục được xác định là yếu tố góp phần quyết định đối với vấn đề tư tưởng
- văn hóa Thể hiện:
- Giáo dục góp phần truyền bá hệ tư tưởng xã hội cho thế hệ trẻ Hệ tư tưởng dotính chất xã hội quy định
- Giáo dục vừa là thành phần của văn hoá, biểu hiện của văn hoá, vừa là phươngtiện để phát triển văn hoá Thông qua giáo dục để loài người bảo tồn, sáng tạo và pháttriển văn hóa
+ Giáo dục là con đường, cách thức cơ bản nhất để nâng cao dân trí Dân trí làtrình độ hiểu biết, trình độ nhận thức của người dân về khoa học cơ bản, khoa học kỹthuật, nghệ thuật,…
+ Giáo dục là phương thức quan trọng nhất để phát hiện và bồi dưỡng nhân tài.Nhân tài là người có năng lực đặc biệt trong một lĩnh vực nào đó của xã hội vì thế họhoạt động có hiệu quả hơn nhiều so với những người khác
Trang 21Giáo dục đào tạo người có văn hóa - chủ thể sáng tạo ra các giá trị văn hóa mớicho xã hội, cho nhân loại…
+ Giáo dục góp phần xây dựng đời sống văn hoá cho xã hội Giáo dục góp phầnloại bỏ những hủ tục lạc hậu, lối sống không phù hợp, phản khoa học để xây dựng một
xã hội văn minh, hiện đại
Với những chức năng xã hội trên đây đã cho thấy vai trò to lớn của giáo dục đốivới sự phát triển xã hội Bất kỳ một xã hội nào phát triển đều phải dựa vào giáo dục vàbởi những sức mạnh to lớn do giáo dục tạo ra Bởi vậy muốn phát triển xã hội thì phảiđầu tư mọi nguồn lực để phát triển giáo dục Đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho sự pháttriển, giáo dục phải trở thành quốc sách quan trọng hàng đầu trong chiến lược pháttriển của mỗi quốc gia
2.2 Xã hội hiện đại và những thách thức đặt ra cho giáo dục
2.2.1 Đặc điểm của xã hội hiện đại
2.2.1.1 Cuộc cách mạng khoa học - công nghệ
- Tri thức nhân loại trên mọi bình diện, đặc biệt là về khoa học tự nhiên và côngnghệ trong nửa cuối thế kỷ XX đã phát triển tăng tốc so với nhiều thế kỷ trước Sựtăng tốc phát minh khoa học và phát triển của công nghệ cao như công nghệ sinh học,công nghệ vật liệu, đặc biệt là công nghệ thông tin đã ảnh hưởng rộng rãi đến từng cánhân, các tổ chức và các quốc gia
- Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật phát triển nhanh chóng và đạt được nhữngthành tựu to lớn
+ Lượng thông tin khoa học tăng nhanh và tăng nhiều, cứ 5 đến 7 năm lượng trithức khoa học tăng 2 lần
+ Kho tàng tri thức hiện nay 2/3 được tích lũy từ thế kỷ XX Thời đại ngày nay
là thời đại “bùng nổ thông tin” cùng với nó lại xuất hiện nhiều hiện tượng như nhiều trithức trở nên lạc hậu, không còn ý nghĩa
+ Với sự ra đời của nhiều thế hệ máy tính điện tử đã làm cho tính chất lao động xãhội có sự thay đổi cơ bản và thông tin đã gia nhập vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội
+ Nhiều phát minh khoa học mới làm cho loài người phát triển vượt bậc so vớitrước đây
- Công nghệ cao đã đưa yếu tố thông tin và tri thức lên hàng đầu, đẩy các yếu tốcạnh tranh truyền thống như tài nguyên, vốn, quy mô sản xuất khổng lồ xuống hàng
Trang 22thứ yếu Công nghệ cao làm giảm được sự tiêu hao năng lượng, nhân lực, nguyên liệu,nâng cao chất lượng sản phẩm đến tuyệt hảo, hạ giá thành sản phẩm, bảo đảm sự cạnhtranh và hòa nhập thế giới.
- Giáo dục và Đào tạo cung cấp nguồn nhân lực và nhân tài cho sự phát triểncủa khoa học và công nghệ, mặt khác sự phát triển khoa học công nghệ lại tác độngvào toàn bộ cơ cấu hệ thống giáo dục Sự phát triển khoa học và công nghệ đã làmthay đổi cơ cấu ngành nghề trong nền kinh tế, cơ cấu nghề của nhân lực lao động trong
xã hội, đòi hỏi giáo dục và đào tạo cần nâng cao trình độ đào tạo sao cho phù hợp vớinền kinh tế xã hội
2.2.1.2 Xu thế toàn cầu hóa
Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế là một xu thế khách quan, vừa là quátrình hợp tác để phát triển, vừa là quá trình đấu tranh của các nước để bảo vệ lợi íchquốc gia
- Toàn cầu hóa về kinh tế là một cuộc cách mạng về phương pháp và tổ chứcsản xuất Để tham gia vào quá trình đó một cách có lợi, các quốc gia phải tăng hàmlượng tri thức về khoa học và công nghệ, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Giáodục phải đào tạo được những con người làm chủ công nghệ mới, nắm bắt nhanh chóngcông nghệ hiện đại
- Về văn hóa, lối sống có tính quốc tế và tính toàn cầu đang dần hình thành, thịtrường liên thông giữa các quốc gia, sự di cư ồ ạt của con người từ quốc gia này sangquốc gia khác, xuất khẩu lao động cũng như các phương tiện thông tin đã đóng vai tròquan trọng trong vấn đề này
- Những vấn đề khác mà nhân loại và mọi quốc gia quan tâm, đó là các vấn đề:chiến tranh và hòa bình, ô nhiễm môi trường, nghèo đói bệnh tật, tệ nạn xã hội,…
Những vấn đề trên đặt ra cho giáo dục phải đào tạo được những con người làmchủ và nắm bắt được khoa học và công nghệ hiện đại, biết giữ gìn bản sắc văn hóa dântộc kết hợp với tinh hoa văn hóa nhân loại, có ý thức tích cực về những vấn đề mọiquốc gia đang quan tâm
2.2.1.3 Phát triển nền kinh tế tri thức
Có nhiều cách hiểu về nền kinh tế tri thức, theo định nghĩa của Tổ chức hợp tác
và phát triển kinh tế, 1996: “Kinh tế tri thức là nền kinh tế trong đó tri thức đóng vai
trò then chốt đối với sự phát triển kinh tế xã hội của loài người”.
Trang 23- Tri thức trở thành nhân tố quan trọng nhất quyết định sự phát triển, tri thức lànguồn lực hàng đầu tạo ra sự tăng trưởng, quan trọng hơn cả vốn, tài nguyên đất đai.
- Trong kết cấu giá trị sản phẩm hàng hóa, dịch vụ thì hàm lượng tri thức chiếm
tỉ trọng cao, giá trị các yếu tố vật chất (máy móc, vật tư, nguyên liệu) ngày càng giảm
- Lao động cơ bắp ngày càng giảm, lao động trí óc ngày càng tăng
- Cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch từ sản xuất vật chất sang hoạt động dịch vụ,
xử lý thông tin là chủ đạo
- Công nghệ đổi mới nhanh, vòng đời công nghệ ngắn (luôn khuyến khíchnhững sáng kiến, tin học hóa các khâu sản xuất, dịch vụ, quản lý)
Giáo dục là cốt lõi trong quá trình chuyển sang nền kinh tế tri thức, nền kinh tếtri thức hình thành ở một số nước tiên tiến, hiện nay đang lan ra toàn thế giới và chắcchắn sẽ không đồng đều
2.2.2 Những thách thức đặt ra cho giáo dục
Bước vào thế kỷ XXI, nhân loại đứng trước một bối cảnh lịch sử mới và nhữngthách thức chưa từng có, khoa học công nghệ, khả năng sản xuất kinh doanh, quản lýcủa con người tăng tiến với mức độ vô cùng nhanh chóng Những điều kiện đảm bảocho toàn thể nhân loại một cuộc sống ấm no, hạnh phúc hầu như đã đạt được Song,trong thực tế nhân loại cũng đang đối mặt với những khó khăn chưa thể khắc phụcđược một cách dễ dàng, đó là: suy kiệt nguồn tài nguyên, thảm họa thường xuyên xảy
ra, suy thoái môi trường đang đè nặng lên nhân loại và Trái đất; một bộ phận không ítloài người đang sống trong nghèo đói, bệnh tật, thất học, áp bức, bóc lột, chiến tranh
và khủng bố,…
UNESCO đã nêu lên những vấn đề mà giáo dục phải đương đầu giải quyết, đó là:
Thứ nhất: Mối quan hệ giữa toàn cầu và cục bộ, con người dần trở thành công
dân toàn cầu, mang tính quốc tế, nhưng vẫn tiếp tục là thành viên tích cực của cộngđồng, của quốc gia mình
Thứ hai: Mối quan hệ giữa toàn cầu hóa và cá thể có văn hóa của nhân loại, văn
hóa của từng dân tộc, từng khu vực, đồng thời phải tôn trọng và tạo điều kiện pháttriển cá tính của từng con người
Thứ ba: Mối quan hệ giữa truyền thống và hiện đại, thích ứng với những yêu cầu
của thời đại mới nhưng không làm mất đi những truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếnlên cập nhật với những tiến bộ mới nhưng không quay lưng lại với quá khứ
Trang 24Thứ tư: Mối quan hệ giữa cái nhìn dài hạn và cái nhìn ngắn hạn là vấn đề luôn đặt
ra cho giáo dục nhưng ngày nay nó lại là vấn đề nổi cộm cần giải quyết Thực tiễn giáodục đòi hỏi phải có những giải pháp nhanh chóng, trong khi đó nhiều vấn đề giáo dục gặpphải lại cần có một chiến lược cải cách có tính kiên nhẫn
Thứ năm: Giữa sự cạnh tranh cần thiết và phải quan tâm đến sự bình đẳng, vấn
đề này thể hiện trong cả kinh tế, xã hội và trong giáo dục
Thứ sáu: Giữa sự gia tăng vô hạn của tri thức và khả năng tiếp thu của con
người, nhà trường cần cải tiến nội dung chương trình một cách hợp lý, đổi mới phươngpháp dạy và học
Thứ bảy: Mối quan hệ giữa vật chất và tinh thần, chú ý tới tất cả các mặt của
cuộc sống, đời sống vật chất đồng thời phải nâng cao trí tuệ, tinh thần, quan tâm giáodục lý tưởng và các giá trị đạo đức
2.3 Xu thế và định hướng phát triển giáo dục thế kỷ XXI
2.3.1 Xu thế phát triển giáo dục
2.3.1.1 Nhận thức mới về giáo dục là sự nghiệp hàng đầu của quốc gia
- Trước đây cũng đã có những quan điểm, tư tưởng khẳng định giáo dục có vaitrò quan trọng quyết định nhưng lúc đó chưa coi giáo dục là quốc sách hàng đầu
- Bước sang thế kỷ XXI, mỗi dân tộc càng nhận thức chính xác và cụ thể hơn vaitrò, sức mạnh to lớn của giáo dục, đã khơi dậy và tạo nên tiềm năng vô tận trong mỗicon người Giáo dục - Đào tạo được coi là quốc sách hàng đầu Giáo dục là lực lượngsản xuất trực tiếp, đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển
Thực tiễn cho thấy, nguyên nhân thành công của nhiều quốc gia là do có sự đầu
tư và chăm lo đặc biệt đến sự phát triển giáo dục
Ở Việt Nam, giáo dục được khẳng định là quốc sách tại Đại hội VII, triển khaitrong Hiến pháp năm 1992 và tiếp tục khẳng định tại Đại hội VIII, IX, X
- Nội dung quan điểm “Giáo dục là quốc sách hàng đầu” đã được Đảng và Nhànước ta chỉ đạo thực hiện ở 4 điểm chủ yếu sau:
+ Mục tiêu về giáo dục đào tạo là mục tiêu ưu tiên quốc gia
+ Việc tổ chức chỉ đạo thực hiện mục tiêu ở tầm quyền lực quốc gia
+ Chính sách đầu tư thuộc hàng ưu tiên ngân sách mỗi năm một tăng
+ Chính sách đối với người dạy và người học ngày càng thể hiện sự tôn vinhcủa xã hội
Trang 252.3.1.2 Xã hội hóa giáo dục
- Xã hội hóa giáo dục là một xu hướng phát triển hiện nay trên thế giới Mụctiêu của xã hội hóa giáo dục là thu hút mọi thành phần, thành viên trong xã hội thamgia đóng góp phát triển sự nghiệp giáo dục và được hưởng quyền lợi giáo dục như mộtloại phúc lợi xã hội
- Xã hội hóa giáo dục đòi hỏi nhà trường khi đóng vai trò chính để truyền thụkiến thức và hình thành nhân cách con người theo yêu cầu xã hội cần phải được hỗ trợnhiều mặt từ các thành phần của xã hội, của mọi thiết chế xã hội, của môi trường laođộng, giải trí, nghỉ ngơi,…
Thực hiện giáo dục cho mọi người đòi hỏi không chỉ đơn thuần ở việc mởtrường, mở lớp, cung cấp đủ người dạy, trang bị cơ sở vật chất sư phạm mà điều vôcùng quan trọng là nội dung giáo dục và đào tạo phải gắn với thực tiễn, học đi đôi vớihành, giáo dục gắn liền với lao động sản xuất Thực hiện giáo dục cho mọi người còn
là việc mở rộng cho mọi người cơ hội lựa chọn các hình thức tổ chức giáo dục thíchhợp với hoàn cảnh của mình
- Ở Việt Nam, chủ trương xã hội hóa giáo dục đã được khẳng định Điều 12trong Luật Giáo dục nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam nêu rõ: “…Nhà nướcgiữ vai trò chủ đạo trong phát triển sự nghiệp giáo dục; thực hiện đa dạng hóa các loạihình nhà trường và các hình thức giáo dục; khuyến khích, huy động và tạo điều kiện để
tổ chức, cá nhân tham gia phát triển sự nghiệp giáo dục Mọi tổ chức, gia đình và côngdân có trách nhiệm chăm lo sự nghiệp giáo dục, phối hợp với nhà trường thực hiệnmục tiêu giáo dục
Nghị quyết TW4, khóa VII năm 1993 cũng nêu rõ: “Huy động toàn xã hội làmgiáo dục, động viên các tầng lớp nhân dân đóng góp công sức xây dựng nền giáo dụcquốc dân dưới sự quản lý của nhà nước”
2.3.1.3 Giáo dục suốt đời
Trước những đổi thay mạnh mẽ của cách mạng khoa học công nghệ, những vấn
đề toàn cầu hóa, hội nhập khu vực; sự xuất hiện các mâu thuẫn giữa truyền thống vàhiện đại, giữa cạnh tranh và bình đẳng, giữa bùng nổ kiến thức và năng lực tiếp thu,…đòi hỏi con người phải không ngừng học tập, học tập suốt đời
- Giáo dục suốt đời là một xu thế tất yếu cần thiết vì nó thường xuyên làm giàutiềm năng của mọi cá nhân, đáp ứng kịp thời các nhu cầu của xã hội
Trang 26- Việc giáo dục và đào tạo một lần trong nhà trường không đủ để vận dụng chosuốt cuộc đời Người học có thể thu nhận và xử lý thông tin do xã hội cung cấp trongsuốt cuộc đời của mình bằng phương pháp tự học Chính vì vậy giáo dục phải thựchiện đa dạng hóa các loại hình đào tạo nhằm tạo cơ hội học tập cho mọi người, giáodục nhà trường chỉ được coi là có hiệu quả khi nó tạo được cơ sở và động lực chongười học tiếp tục học tập và rèn luyện.
- Học tập suốt đời là một định hướng mới chuyển từ cách tiếp cận dạy là chínhsang học là chính - tức là người dạy đóng vai trò hướng dẫn, chỉ đạo còn người họcchủ động, tích cực tiếp nhận tri thức bằng nhiều hình thức, nhiều con đường khácnhau Muốn vậy giáo dục phải dựa trên 4 trụ cột chính:
+ Học để biết;
+ Học để làm;
+ Học để tự khẳng định mình;
+ Học để chung sống
2.3.1.4 Áp dụng sáng tạo công nghệ thông tin vào quá trình giáo dục
- Công nghệ thông tin đang là phương tiện giáo dục phổ biến trong nền giáo dục
- Người học không chỉ thu nhận thông tin mà phải học cách tiếp nhận thông tintùy theo nhu cầu và biến nó thành kiến thức
Các phương tiện dạy học cổ truyền đơn giản (phấn, bảng, giấy bút, sách vở,…)vẫn còn giữ vai trò quan trọng trong quá trình giáo dục và đào tạo, nhưng nhữngphương tiện nghe nhìn hiện đại sẽ được bổ sung và sử dụng rộng rãi ngay trong dạyhọc
Trong kỉ nguyên của công nghệ thông tin, các phương tiện hiện đại phục vụ chogiáo dục và đào tạo là không thể thiếu được
Trang 272.3.1.5 Đổi mới mạnh mẽ quản lý giáo dục
Hoạt động quản lý giáo dục có tác dụng làm cho các bộ phận cấu thành của hệthống giáo dục vận hành đúng mục đích, cân đối, hài hòa, làm cho hoạt động của toàn
hệ thống đạt hiệu quả cao
Cần đổi mới tư duy, cơ chế và phương thức quản lý giáo dục theo hướng nângcao hiệu lực quản lý giáo dục của nhà nước và nhằm phát huy tính chủ động và tự chịutrách nhiệm của các địa phương và các cơ sở giáo dục
Quản lý giáo dục đổi mới theo các hướng:
- Về tổ chức;
- Về đào tạo và bồi dưỡng cán bộ quản lý giáo dục;
- Về thông tin trong quản lý giáo dục;
- Về giáo dục đại học tăng cường dự báo nhu cầu, tăng cường những mối quan
hệ giữa giáo dục với thị trường lao động, phân tích và tiên đoán những nhu cầu xã hội,tăng cường vai trò bồi dưỡng, đào tạo lại, ngăn chặn sự thất thoát những tài năng,…
2.3.1.6 Phát triển giáo dục đại học
- Nền kinh tế tri thức là kết quả nhưng cũng là động lực của sự phát triển sựnghiệp giáo dục tất cả các quốc gia trên thế giới ở các mức độ khác nhau, đặc biệt đốivới giáo dục đại học
Cuộc sống xã hội, thị trường luôn đòi hỏi đổi mới công nghệ, sản phẩm, độingũ lao động thì vai trò, vị trí của giáo dục đại học càng trở nên quan trọng
- Các nhà khoa học dự báo rằng, nền kinh tế tri thức sẽ xuất hiện một số vấn đềcho giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói riêng sau đây:
+ Nền kinh tế tri thức dựa chủ yếu vào lao động trí óc và sáng tạo để tạo ra sảnphẩm có chất lượng cao nên có sự trùng hợp giữa học tập và lao động Khi lao động đểhoàn thành một sản phẩm có hàm lượng trí tuệ cao cũng chính là học tập, do đó họcgắn với lao động là một
+ Trong nền kinh tế tri thức, khối lượng kiến thức được tiếp thu của một sinhviên đại học có giá trị sử dụng nhất định, nếu như không được tiếp tục cập nhật, bổsung thì sẽ nhanh chóng bị lạc hậu, không đáp ứng được yêu cầu mới mà xã hội đặt ra
Do đó, các chuyên gia phải thường xuyên, liên tục học tập để kịp theo bước tiến của xãhội, học tập trở thành thách thức suốt đời
Cạnh tranh của doanh nghiệp trong nền kinh tế tri thức tạo nên nhân tố cạnh
Trang 28tranh học tập, ai học tập nhanh hơn, tốt hơn sẽ thắng
+ Công nghệ thông tin phát triển mạnh mẽ trong dạy học ở trường đại học.Tất cả những xu hướng đổi mới giáo dục của nhân loại nói trên đã ảnh hưởngsâu sắc và mạnh mẽ đến giáo dục Việt Nam Chính vì thế, sự đổi mới của giáo dụcnước ta hiện nay cũng nằm trong guồng đổi thay của giáo dục nhân loại, điều này giúpgiáo dục Việt Nam tự hoàn thiện và phát triển cao hơn, đáp ứng được những yêu cầucủa thực tiễn đặt ra
2.3.2 Định hướng phát triển giáo dục thế kỉ XXI
* UNESCO đã chủ trương đẩy mạnh phát triển giáo dục khi bước vào thế kỉXXI, với chiến lược và tư tưởng như sau:
- Giáo dục thường xuyên là điểm chủ đạo của mọi chính sách giáo dục; hướngtới nền giáo dục suốt đời; giáo dục bằng mọi cách, xây dựng một xã hội học tập Giáodục phải làm cho mỗi người trở thành người dạy và người kiến tạo nên sự tiến bộ vănhóa của bản thân mình
- Giáo dục không chỉ dạy để cho có học vấn mà phải thực hành, thực nghiệm để
có tay nghề, để vào đời có thể lao động được ngay, không bỡ ngỡ
- Phát triển giáo dục gắn liền với phát triển kinh tế xã hội, đặc biệt chú ý đếngiáo dục hướng nghiệp để giúp người học lập thân, lập nghiệp
- Giáo dục trẻ em trước tuổi đến trường phải là mục tiêu lớn trong chiến lượcgiáo dục
- Giáo viên được đào tạo để trở thành những nhà giáo dục hơn là những chuyêngia truyền đạt kiến thức
* Có 6 nguyên tắc cơ bản cho các nhà quản lý giáo dục, các lực lượng giáo dục,
- Các chính sách giáo dục phải chú ý phối hợp hài hòa cả 3 mục đích là: côngbằng, thích hợp và chất lượng
- Muốn tiến hành cải cách giáo dục cần phải xem xét kỹ lưỡng và có hiểu biết sâu
Trang 29sắc về thực tiễn, chính sách và các điều kiện cũng như các yêu cầu của từng vùng.
- Cần phải có cách tiếp cận phát triển giáo dục thích hợp với từng vùng vì mỗivùng có sự khác nhau về kinh tế, xã hội và văn hóa Tuy nhiên các cách tiếp cận đócần phải chú ý đến các giá trị chung, các mối quan tâm của cộng đồng quốc tế (quyềncon người, sự khoan dung, hiểu biết lẫn nhau, dân chủ, trách nhiệm, bản sắc dân tộc,môi trường, dân số, sức khỏe)
- Giáo dục là trách nhiệm của toàn xã hội, của tất cả mọi người
* Những định hướng đổi mới giáo dục Việt Nam
- Tăng cường nhận thức về vị trí và vai trò của giáo dục đối với xã hội
+ Đảng, Nhà nước và nhân dân cần thấy rõ vai trò của giáo dục đối với xã hội
từ đó có sự đầu tư phù hợp
+ Những người làm công tác giáo dục đặc biệt là đội ngũ giáo viên cũng phảiđổi mới về nhận thức để thấy rõ hơn vai trò của giáo dục, từ đó có những nổ lực trongcông tác nâng cao chất lượng giáo dục
- Đa dạng hóa các loại hình đào tạo để đáp ứng được nhu cầu chuyển đổi củangười học, đảm bảo mọi người trong xã hội có quyền học tập, học tập một cách liêntục, thường xuyên, suốt đời
- Tăng cường công tác xã hội hóa giáo dục nhằm huy động lực lượng xã hộitham gia vào giáo dục nhằm thực hiện quan điểm giáo dục của Đảng - giáo dục là sựnghiệp của quần chúng
- Đổi mới một cách toàn diện về mục tiêu, nội dung, phương pháp giáo dụcnhằm làm cho sản phẩm giáo dục đáp ứng tốt hơn các yêu cầu của xã hội
- Tăng cường giao lưu hợp tác quốc tế trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo
Trang 30CHƯƠNG 3 GIÁO DỤC VÀ SỰ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH
3.1 Nhân cách và sự phát triển nhân cách
3.1.1 Khái niệm con người, cá nhân, nhân cách
3.1.1.1 Khái niệm con người
Có nhiều quan điểm khác nhau nói về con người.Ở đây ta xem xét hai quanđiểm cơ bản sau:
* Quan điểm duy tâm: cho rằng con người gồm hai phần: thể xác và linh hồn
* Quan điểm duy vật biện chứng:
Triết học Marx đã đưa ra quan điểm hết sức khoa học về con người
“Bản chất con người không phải là một cái chung chung trừu tượng vốn có củamỗi cá nhân riêng biệt Trong tính hiện thực của nó bản chất con người là tổng hòa các
Trang 31mối quan hệ xã hội”.
Marx còn khẳng định con người vừa là một thực thể tự nhiên vừa là một thựcthể xã hội (cũng như con người là một tồn tại tự nhiên vừa là tồn tại xã hội, hay conngười là động vật bậc cao mang bản chất xã hội)
- Con người là một thực thể tự nhiên:
+ Xét về nguồn gốc: Con người là một sinh vật, là sản phẩm của tự nhiên nhưng
ở bậc thang tiến hóa cao nhất thể hiện ở dạng vật chất có tính tổ chức cao là não người
+ Xét về sự phát triển: Trong quá trình phát triển con người vẫn mang trong
mình những đặc trưng sinh học, vẫn chịu sự chi phối của bản năng sinh học và quy
luật tự nhiên: trao đổi chất, di truyền, sinh tử
Ví dụ: ăn uống, hô hấp, duy trì nòi giống,…
- Con người là một thực thể xã hội:
+ Lao động cùng với lao động là ngôn ngữ đã biến loài vượn người thành con người
* Khái niệm cá nhân: Cá nhân là một con người với tư cách là thành viên của
tập thể, của cộng đồng, của xã hội
* Khái niệm cá thể: Cá thể là một đơn vị hoàn chỉnh đại diện cho giống loài
nhưng mang tính đặc thù riêng
Cá thể là một con người với tư cách là thành viên của loài người
* Cá tính: Là nói đến những đặc điểm riêng về thể chất, đặc điểm tâm lý, hệ
thần kinh, tính cách, nhu cầu, năng lực,… tạo nên cá tính của mỗi cá nhân không lặplại ở người khác
3.1.1.2 Khái niệm nhân cách
Cùng là một con người cụ thể nhưng tùy thuộc vào những mối quan hệ khác
Trang 32nhau và nội dung bên trong mà con người được gọi bằng những thuật ngữ khác nhau.
Có nhiều khái niệm về nhân cách:
- Tâm lý học: Nhân cách là tổ hợp những đặc điểm, những thuộc tính tâm lý của
cá nhân biểu hiện bản sắc và giá trị xã hội của con người
- Một hệ thống các thuộc tính ổn định của con người
- Cá nhân có nhân cách khi cá nhân đó tham gia vào hoạt động có ý thức
- Những phẩm chất và năng lực có giá trị đối với cá nhân và xã hội được hìnhthành và phát triển chủ yếu bằng hai con đường là hoạt động và giao lưu
- Mỗi cá nhân có một nhân cách riêng
- Cốt lõi của nhân cách là hệ thống các định hướng giá trị về tư tưởng, về đạođức, về nhân văn
Những phẩm chất và năng lực này thường xuyên vận động, biến đổi theo chuẩnmực giá trị xã hội Vì vậy, mọi cá nhân không chỉ phải thường xuyên giữ gìn, bảo vệ màcòn phải rèn luyện, bồi dưỡng để nhân cách ngày càng hoàn thiện hơn
3.1.2 Khái niệm sự phát triển nhân cách
Sự hình thành và phát triển nhân cách là sự tổng hòa của sự phát triển về thểchất và tinh thần được biểu hiện trong sự thay đổi về lượng dẫn đến sự biến đổi về chất
ở mỗi con người và chịu sự chi phối của các mối quan hệ xã hội
Sự phát triển của nhân cách được biểu hiện qua những dấu hiệu sau:
- Sự phát triển về mặt thể chất: Sự tăng trưởng về chiều cao, trọng lượng, cơbắp, sự hoàn thiện về mặt thần kinh và các bộ phận trong cơ thể,…
- Sự phát triển về mặt tâm lý: Là sự phát triển về nhận thức, xúc cảm, tình cảm,
ý thức, hành vi,…
- Sự phát triển về mặt xã hội: Thể hiện ở thái độ, hành vi ứng xử trong các mốiquan hệ với những người xung quanh, ở tính tích cực nhận thức tham gia vào các hoạtđông cải biến, phát triển xã hội (Nó được thể hiện trong các mối quan hệ xã hội củacon người ngày càng hoàn thiện và đúng đắn)
Trang 333.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển nhân cách
3.2.1 Vai trò của yếu tố bẩm sinh, di truyền
3.2.1.1 Bẩm sinh, di truyền
- Di truyền: Là sự tái tạo lại những đặc điểm sinh học mà con cái giống với bố mẹ.
- Qua di truyền bố mẹ có thể truyền lại cho con cái:
+ Đặc điểm giải phẫu cơ thể: bố mẹ cao thì con cũng cao, tóc xoăn, màu mắtgiống nhau,…
+ Đặc điểm của hệ thần kinh
+ Chức năng của các cơ quan: Sự phân công của các cơ quan chức năng trong
cơ thể Một số bố mẹ bị khiếm khuyết thì con cái cũng bị ảnh hưởng, có nhiều bậc bố
mẹ có thể để lại cho con cái bệnh về tim,…
+ Những tư chất
- Bẩm sinh: Là những đặc điểm sinh học khi đứa trẻ sinh ra đã có.
Có những yếu tố bẩm sinh do di truyền, tức là những thuộc tính sinh học đứa trẻ
có mà bố mẹ nó cũng có
Nhưng cũng có những yếu tố bẩm sinh không do di truyền, tức đứa trẻ cónhưng bố mẹ nó thì không có
3.2.1.2 Vai trò của bẩm sinh, di truyền
Bẩm sinh - di truyền được xác định là cơ sở, tiền đề cho sự hình thành và pháttriển nhân cách
- Di truyền sinh học đảm bảo cho con người tiếp tục tồn tại và phát triển, ngàycàng hoàn thiện về cơ cấu vật chất của cơ thể giúp cho con người có thể thích ứngvới những biến đổi của điều kiện sống Di truyền là yếu tố đầu tiên để có con người
- Di truyền tạo ra sức sống tự nhiên trong con người thể hiện dưới dạng tư chất,
nó tạo ra khả năng cho con người hoạt động có kết quả trong những lĩnh vực nhất định
- Di truyền tốt nhân cách có điều kiện thuận lợi để phát triển Nhưng di truyềntốt nhân cách chưa hẳn sẽ tốt, điều đó còn tùy thuộc vào môi trường, hoạt động và ýchí của cá nhân
- Di truyền không tốt thì con người không có cơ hội để phát triển: dị tật, thiểunăng,…Nhưng di truyền không tốt không có nghĩa là không phát triển
Qua đây chúng ta có thể khẳng định, yếu tố di truyền có vai trò rất quan trọngđối với sự hình thành và phát triển nhân cách của mỗi cá nhân Di truyền có liên quan
Trang 34đến việc hình thành các năng lực hoạt động trong các lĩnh vực nhất định như kinh tế,khoa học, nghệ thuật, thể dục thể thao,…Di truyền không quy định xu hướng phát triểnnhân cách của các cá nhân, cũng như không giới hạn trình độ phát triển của nhân cách.
Xu hướng và trình độ phát triển của nhân cách phụ thuộc chủ yếu vào sự giáo dục vàảnh hưởng của môi trường xã hội
3.2.1.3 Phê phán các quan điểm sai lầm về vai trò của di truyền
- Quan điểm tuyệt đối hóa vai trò của yếu tố di truyền: Những người theotrường phái này cho rằng tư chất của con người được quy định trước hành vi của người
đó, quy định trước phẩm chất và trình độ hoạt động trí tuệ của con người Theo họ, trẻ
em sinh ra có những yếu tố sinh học bất lợi sẽ quyết định mặt “thiên tài” hoặc “đầnđộn” sau này của trẻ
- Quan điểm phủ nhận hoàn toàn vai trò của di truyền Những người theotrường phái này cho rằng, yếu tố di truyền không có vai trò gì đối với sự phát triểnnhân cách Con người trở thành tốt hay xấu, thiện hay ác, tài giỏi hay đần độn,… hoàntoàn do giáo dục quyết định
- Trong trường hợp học sinh có những hạn chế về mặt sinh học thì giáo viên cần
có biện pháp khắc phục những ảnh hưởng không thuận lợi thông qua việc tổ chức hợp
Các loại môi trường:
- Môi trường tự nhiên: Bao gồm các điều kiện tự nhiên, hệ sinh thái phục vụ cho
các hoạt động học tập, lao động, rèn luyện sức khỏe, vui chơi giải trí của con người
Trang 35- Môi trường xã hội:
+ Môi trường chính trị
+ Môi trường kinh tế - sản xuất
+ Môi trường sinh hoạt xã hội
Môi trường xã hội còn được chia thành môi trường lớn và môi trường nhỏ
Môi trường lớn: Được đặc trưng bởi tính chất Nhà nước, chế độ chính trị, chế
độ kinh tế, hệ thống các quan hệ sản xuất, các quan hệ xã hội,…bao gồm lãnh thổ,quốc gia dân tộc
Môi trường nhỏ: Là một bộ phận của môi trường lớn, là những yếu tố dochính cá nhân tạo dựng và trực tiếp tham gia vào, nó ảnh hưởng trực tiếp đến cá nhân
Đó là gia đình, nhà trường, cộng đồng, bạn bè, các cơ sở sản xuất,…
3.2.2.2.Vai trò của môi trường
Môi trường có sự ảnh hưởng đến sự hình thành nhân cách, đặc biệt là môitrường xã hội vì nếu không có xã hội loài người thì những tư chất mang tính ngườikhông thể phát triển được và con người sống trong môi trường nào thì ít nhiều bị ảnhhưởng của môi trường đó
- Môi trường là điều kiện tiên quyết cho sự hình thành và phát triển nhân cách
- Môi trường xã hội đặt ra những yêu cầu về nhân cách con người trong xã hội
- Môi trường tạo ra điều kiện, phương tiện cho sự hình thành và phát triển nhâncách
- Môi trường khai thác và sử dụng hợp lí, có hiệu quả những khả năng của con
người
- Môi trường ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển nhân cách theo những chiều hướng và mức độ khác nhau ở những cá nhân khác nhau:
+ Môi trường tốt sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển nhân cách
+ Môi trường xấu sẽ hạn chế, gây khó khăn cho sự phát triển
Tuy nhiên ảnh hưởng như thế nào tùy thuộc vào vị trí xã hội, điều kiện sốnghọc tập, lao động của mỗi cá nhân và mỗi cá nhân có lập trường, quan điểm thái độnăng lực nhu cầu khác nhau Dưới tác động của môi trường có thể có loại người: cấptiến, cơ hội, thụ động, bảo thủ
- Trong các yếu tố của môi trường thì giáo dục có một vai trò đặc biệt, quan trọng nhất đối với sự hình thành và phát triển nhân cách con người
Trang 36Chúng ta đi vào so sánh tác động của môi trường giáo dục nhà trường với môitrường giáo dục ngoài nhà trường sẽ thấy rõ được điều này Chúng ta so sánh trênnhững khía cạnh: chủ thể tác động, đối tượng tác động, tính chất tác động, nội dungphương pháp, phương tiên và sản phẩm.
Điều kiện tự nhiên ảnh hưởng đến những phẩm chất, năng lực nào đó của conngười, góp phần tạo nên tính cách con người, nhưng nó chỉ ảnh hưởng chứ không quyđịnh
Ví dụ: Người miền Nam khác người miền Bắc, người Châu Á khác người ChâuPhi
3.2.2.3 Phê phán các quan điểm sai lầm về môi trường
+ Tuyệt đối hóa vai trò của yêu tố môi trường, họ đưa ra thuyết “định mệnh do hoàn cảnh”, con người sinh ra có số mệnh, số mệnh đó do hoàn cảnh tạo nên
+ Phủ nhận vai trò của môi trường và cho rằng môi trường không có vai trò gì trong sự phát triển nhân cách của con người Sự phát triển nhân cách do di truyền quyết định
3.2.3 Vai trò của yếu tố giáo dục
3.2.3.1 Giáo dục
Giáo dục được hiểu theo nhiều nghĩa rộng hẹp khác nhau Khi nói đến vai tròcủa giáo dục đối với sự phát triển nhân cách, người ta muốn nhấn mạnh đến giáo dụcnhà trường Đó là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, có nội dung,phương pháp được thực hiện trong hệ thống nhà trường nhằm hình thành và phát triểnnhân cách con người phù hợp với những yêu cầu của xã hội trong những giai đoạn lịch
sử nhất định
3.2.3.2 Vai trò của giáo dục
Giáo dục là một yếu tố của môi trường xã hội có ảnh hưởng sâu sắc mạnh mẽ
Trang 37và đóng vai trò chủ đạo trong sự hình thành và phát triển nhân cách con người.
Giáo dục đóng vai trò chủ đạo trong sự phát triển nhân cách, thể hiện:
- Vai trò định hướng: Giáo dục là quá trình tác động tự giác đến đến con người
có mục đích, chương trình, kế hoạch chặt chẽ, khoa học cho nên luôn định hướng cho
sự phát triển của con người
- Vai trò tổ chức: Giáo dục có thể tổ chức nhiều hoạt động và giao lưu phongphú, đa dạng cho nên tạo điều kiện thuận lợi nhất cho sự phát triển nhân cách
- Giáo dục có thể điều khiển, điều chỉnh sự phát triển nhân cách nhằm giúp choquá trình phát triển nhân cách của người được giáo dục không bị chệch hướng
- Giáo dục có khả năng tác động đến tất cả các mặt và làm phát triển toàn diệnnhân cách (thể chất, tâm lý, xã hội)
- Giáo dục tác động đến các yếu tố khác: bẩm sinh - di truyền, môi trường, hoạtđộng cá nhân
+ Đối với bẩm sinh - di truyền:
Giáo dục giúp sinh ra những người con khỏe mạnh
Giáo dục tạo ra điều kiện thuận lợi để các yếu tố di truyền được bộc lộ và pháttriển
Giáo dục có thể phát hiện những yếu tố di truyền có lợi cho một số lĩnh vựchoạt động nào đó để bồi dưỡng kịp thời
Giáo dục còn có khả năng cải tạo những yếu tố không thuận lợi do bẩm sinh
-di truyền đem lại
+ Đối với môi trường:
Phát hiện những yếu tố thuận lợi của môi trường và sử dụng chúng phục vụcho việc phát triển nhân cách người học
Kết hợp các môi trường giáo dục: nhà trường, gia đình, xã hội tạo nên sức mạnhtổng hợp, tạo điều kiện cho người học được giáo dục ở mọi nơi, mọi lúc
Hạn chế, khắc phục những ảnh hưởng không thuận lợi của môi trường
+ Đối với hoạt động cá nhân giáo dục đóng vai trò định hướng, điều khiển, điềuchỉnh hoạt động cá nhân, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển nhân cách
Giáo dục là yếu tố có vai trò chủ đạo đối với sự phát triển và hoàn thiện nhâncách của mỗi con người Tuy nhiên giáo dục không phải là vạn năng mà giáo dục chỉvạch ra chiều hướng và tổ chức dẫn dắt quá trình đó vì giáo dục không chỉ là sự tác động
Trang 38một chiều của người làm công tác giáo dục đến người được giáo dục mà bao gồm cảnhững hoạt động tích cực của cá nhân người được giáo dục.
3.2.3.3 Phê phán các quan điểm sai lầm
- Phủ nhận vai trò của yếu tố giáo dục trong sự phát triển nhân cách mà chorằng sự phát triển nhân cách do di truyền quyết định
- Tuyệt đối hóa vai trò của giáo dục, cho rằng yếu tố giáo dục là duy nhất, làvạn năng đối với sự phát triển nhân cách Những người theo trường phái này quanniệm tâm hồn trẻ em là những trang giấy trắng, chiếc bảng sạch, nhà giáo dục có thểđào tạo mọi hình mẫu nhân cách lý tưởng mà mình mong muốn
3.2.3.4 Kết luận sư phạm
Để phát huy vai trò chủ đạo của giáo dục, cần chú ý các vấn đề sau:
- Phải làm cho học sinh ý thức và chấp hành những yêu cầu của nhà trường giáodục và xã hội từ đó tự đề ra cho mình một mục tiêu phấn đấu
- Người giáo viên trong quá trình dạy học và giáo dục phải biết phát huy vai trò,lợi thế của các môi trường giáo dục để giáo dục cho học sinh, phải có phương phápgiáo dục đối với từng đối tượng học sinh
- Đưa học sinh vào tập thể để giáo dục các em, thông qua các hoạt động phongphú, đa dạng để giáo dục các em
- Phát huy vai trò tích cực, tự giác của mỗi cá nhân Đề cao vai trò tự giáo dục,
tự rèn luyện của học sinh…
3.2.4 Hoạt động cá nhân
3.2.4.1 Hoạt động
Có nhiều khái niệm khác nhau về hoạt động Đây là một khác niệm rộng baogồm các quá trình bên ngoài tác động vào đối tượng lẫn các quá trình bên trong (hoạtđộng của các cơ quan trong cơ thể, tinh thần, trí tuệ), nói cách khác: Hoạt động baogồm cả hành vi, tâm lý, ý thức, cả hoạt động chân tay lẫn hoạt động trí óc
- Sinh lý học: Hoạt động là quá trình tiêu hao năng lượng thần kinh và cơ bắp
nhằm thực hiện mục đích của cá nhân và xã hội
- Giáo dục học: Hoạt động là phương thức tồn tại tích cực của con người trong
mối quan hệ với thế giới xung quanh
3.2.4.2 Vai trò của hoạt động cá nhân
Để tồn tại và phát triển, trong quá trình sống con người luôn luôn phải thực hiện
Trang 39các hoạt động khác nhau, thông qua các hoạt động làm nảy sinh nhu cầu, chính nhu cầulại trở thành động cơ thúc đẩy con người tìm kiếm những phương thức để thỏa mãn nhucầu, khi phương thức được thực hiện lại là tiền đề để nảy sinh những nhu cầu mới caohơn, qua đó nhân cách của con người được hình thành và phát triển.
Như vậy, hoạt động giữ vai trò trực tiếp đối với quá trình hình thành và pháttriển nhân cách của mỗi cá nhân
- Thông qua hoạt động sẽ giúp cá nhân phát huy lợi thế của yếu tố bẩm sinh ditruyền Tức là tư chất của cá nhân nếu được tham gia vào các hoạt động phù hợp thì sẽgiúp cá nhân phát huy được tiềm năng sẵn có
- Thông qua hoạt động sẽ giúp cá nhân ý thức được những nhu cầu, những đòihỏi của xã hội đối với cá nhân từ đó hình thành nên mục đích, lý tưởng sống cho mỗi
cá nhân
- Giúp cá nhân lĩnh hội được các kinh nghiệm lịch sử - xã hội để hình thành,phát triển nhân cách cho bản thân
3.2.4.3 Phê phán quan điểm sai lầm về vai trò của hoạt động cá nhân
- Phủ nhận vai trò của hoạt động cá nhân, cho rằng sự phát triển nhân cách do ditruyền quyết định, “định mệnh do di truyền”
Có quan điểm lại cho rằng sự phát triển nhân cách do môi trường quyết định, “địnhmệnh do hoàn cảnh”, hay do giáo dục quy định, “giáo dục là vạn năng”
- Tuyệt đối hóa vai trò của hoạt động cá nhân Quan điểm này cho rằng chỉ cần
cá nhân có nhu cầu hoạt động và tích cực hoạt động thì sẽ có nhân cách phát triển còn các yếu tố khác không có vai trò gì
- Hoạt động đó phải vừa có ý nghĩa xã hội, vừa phải có lợi cho tập thể, vừa trởthành cái cần thiết, phù hợp với nhu cầu của cá nhân
Trang 40- Muốn tổ chức hoạt động đạt kết quả cao cần có nội dung và hình thức tổ chức
đa dạng, phương pháp, phương tiện hợp lý, sự khéo léo trong ứng xử sư phạm nhằmphát huy tính tự lập, tích cực của học sinh
Tóm lại, quá trình hình thành và phát triển nhân cách của mỗi cá nhân diễn radưới tác động của nhiều yếu tố vì vậy nhà giáo dục đóng vai trò chủ đạo, là người tổchức, điều khiển hoạt động giáo dục còn người được giáo dục với tư cách là chủ thể tựgiáo dục cần phải phát huy tối đa những tư chất, những yếu tố tích cực, phát huy nộilực của mình trong quá trình tự giáo dục và rèn luyện để phát triển và hoàn thiện nhâncách của bản thân
3.3 Một số phẩm chất nhân cách người Việt Nam cần gìn giữ và phát huy
3.3.1 Yêu quý lao động
- Người Việt Nam từ xa xưa đã phải dầm mưa dãi nắng lao động cật lực để đắp
đê, xẻ núi, ngăn sông, để bảo tồn nòi giống và xây dựng đất nước tươi đẹp như ngàynay Vì vậy hằn sâu trong ý thức con người Việt Nam từ thế hệ này sang thế hệ khác là
ý thức lao động, nghĩa vụ lao động, yêu quý lao động, xem lao động như một giá trị xãhội vĩnh hằng
- Những người cần cù, lao động sáng tạo thì được xã hội tôn vinh và phê phángay gắt những kẻ ăn không ngồi rồi, lười nhác, sống ăn bám
3.3.2 Lòng yêu nước
- Lòng yêu nước nồng nàn của con người Việt Nam bắt nguồn sâu xa từ tâm thức
họ phải đổ bao mồ hôi, nước mắt và cả xương máu để duy trì đời sống cho cá nhân, chogia đình, cho quê hương đất nước – nơi chôn nhau cắt rốn của biết bao thế hệ Lòng yêunước đã trở thành nét đẹp truyền thống trong nhân cách con người Việt Nam, đó là giữgìn, bảo vệ và xây dựng quê hương đất nước từ các thế hệ cha ông
- Mặt khác, lòng yêu quê hương làng bản được cũng cố và phát triển do tínhdân chủ, do sinh hoạt tinh thần phong phú và mang đậm tính nhân văn của làng xãViệt Nam
Ngoài việc thực hiện một số nhiệm vụ do chính quyền Trung ương quy địnhnhư: nộp thuế, đi lính, cung cấp một số nhân lực hàng năm, làng Việt Nam xưa cònđược hưởng quyền tự chủ rộng rãi Quan hệ giữa các thành viên và tổ chức trong làngđược quy định theo lệ làng, hương ước