Tác phẩm Chống Đuyrinh hay Ông ễ. Đuyrinh đảo lộn khoa học được Ph. Ăngghen viết vào mùa thu năm 1876 đến giữa năm 1878. Khi đọc bản thảo của tác phẩm này, Mác đã trực tiếp viết chương X của phần II. Từ năm 1877 đến năm 1878 tác phẩm được công bố dưới hàng loạt bài báo trên tờ Tiến lên. Năm 1878 cuốn sách được xuất bản toàn bộ. Đây là tác phẩm bút chiến nổi tiếng của Ăngghen chống lại Đuyrinh, nhà tư tưởng tiểu tư sản Đức, đồng thời đây là một trong những tác phẩm quan trọng nhất đánh dấu sự phát triển của triết học Mác nói riêng và chủ nghĩa Mác nói chung. Kết cấu nội dung của tác phẩm gồm:
Trang 1
THU HOẠCH MỘT SỐ NỘI DUNG VỀ SỰ HÌNH THÀNH PHÉP BIỆN CHỨNG, QUAN NIỆM VỀ PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT VÀ CÁC QUY LUẬT CỦA NÓ ĐƯỢC ĐỀ CẬP TRONG TÁC PHẨM “CHỐNG ĐUY
RINH” CỦA PH ĂNGGHEN
Họ và tên: Trần Quỳnh Anh
Ngày sinh: 20/8/2002
Lớp:
Môn học:
Chuyên ngành:
Ngày thực hiện: 01/2021
HÀ NỘI 2021
Trang 2MỘT SỐ NỘI DUNG VỀ SỰ HÌNH THÀNH PHÉP BIỆN CHỨNG, QUAN NIỆM VỀ PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT VÀ CÁC QUY LUẬT CỦA NÓ ĐƯỢC ĐỀ CẬP TRONG TÁC PHẨM “CHỐNG ĐUY
RINH” CỦA PH ĂNGGHEN
Tác phẩm Chống Đuyrinh hay Ông ễ Đuyrinh đảo lộn khoa học được
Ph Ăngghen viết vào mùa thu năm 1876 đến giữa năm 1878 Khi đọc bản thảo của tác phẩm này, Mác đã trực tiếp viết chương X của phần II Từ năm 1877 đến
năm 1878 tác phẩm được công bố dưới hàng loạt bài báo trên tờ Tiến lên Năm
1878 cuốn sách được xuất bản toàn bộ Đây là tác phẩm bút chiến nổi tiếng của Ăngghen chống lại Đuyrinh, nhà tư tưởng tiểu tư sản Đức, đồng thời đây là một trong những tác phẩm quan trọng nhất đánh dấu sự phát triển của triết học Mác nói riêng và chủ nghĩa Mác nói chung Kết cấu nội dung của tác phẩm gồm:
- Lời tựa cho ba lần xuất bản
- Phần mở đầu (2 chương): Ăngghen nêu tóm tắt sự phát triển của triết học và chỉ ra tính tất yếu sự hình thành chủ nghĩa Mác Ông đã chứng minh tính quy luật của quá trình thay thế các thời kỳ cơ bản của lịch sử triết học, đồng thời chỉ ra rằng chính sự mở rộng chủ nghĩa duy vật để tìm hiểu lịch sử xã hội đã tạo
ra cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa và nghiên cứu học thuyết về giá trị thặng dư Ngoài ra, ở phần này, Ăng-ghen cũng cho rằng sự phát triển của khoa học tự nhiên và thực tiễn của cuộc đấu tranh giai cấp là điều kiện của sự phát triển triết học
- Phần thứ nhất - Triết học: Ăngghen trình bày những vấn đề cơ bản của chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng Mà trước hết, ông giải quyết vấn đề cơ bản của triết học trên lập trường của chủ nghĩa duy vật biện chứng Trên cơ sở nghiên cứu các quy luật cơ bản của phép biện chứng: quy luật mâu thuẫn, quy luật lượng chất, quy luật phủ định của phủ định, ông đã xem xét một loạt vấn đề khác nhau của khoa học tự nhiên và khoa học xã hội
Trang 3- Phần thứ hai - Kinh tế chính trị học: Ăngghen đưa ra định nghĩa về đối tượng của kinh tế chính trị học, bóc trần quan điểm duy tâm coi bạo lực là yếu tố quyết định sự phát triển của xã hội, xem xét vai trò quyết định của kinh tế đối với sự phát triển của quân đội và chính quyền, chỉ ra hai con đường hình thành giai cấp,
- Phần thứ ba - Chủ nghĩa xã hội: Ăngghen tóm tắt lịch sử và lý luận về chủ nghĩa xã hội khoa học, đồng thời chỉ ra chủ nghĩa xã hội khoa học là sự biểu hiện về lý luận của phong trào vô sản, đồng thời ông cũng phác họa những đặc trưng cơ bản của chủ nghĩa cộng sản tương lai
Trong tác phẩm Chống Đuyrinh, Ăngghen đã trình bày những vấn đề
quan trọng nhất của triết học, của khoa học tự nhiên và khoa học xã hội Việc viết tác phẩm này là một đòi hỏi tất yếu không chỉ về mặt lý luận, mà còn về mặt chính trị Đó là, vào năm 1875, Đuyrinh đã viết một loạt bài công kích gay gắt chủ nghĩa Mác, những quan điểm triết học của Đuyrinh là sự trộn lẫn một cách chiết trung cả chủ nghĩa duy vật tầm thường, cả chủ nghĩa duy vật thực chứng
và chủ nghĩa duy tâm Điều rất nguy hiểm là sự công kích chủ nghĩa Mác mà Đuyrinh thực hiện lại được một số thành viên của đảng xã hội - dân chủ Đức vừa mới thành lập đồng tình ủng hộ Thậm chí còn có những người đã chuẩn bị truyền bá học thuyết ấy trong công nhân, dưới một hình thức phổ cập Trước tình hình đó, một số người bạn của Ăngghen đã đề nghị ông tiến hành phê phán học thuyết của Đuyrinh Để ngăn chặn khuynh hướng chia rẽ trong đảng và bảo
vệ chủ nghĩa Mác, Ăng-ghen đã nhận và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ này Ông
đã phê phán tất cả các lĩnh vực mà Đuyrinh đã đặt ra, đồng thời trình bày và phát triển những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác Thông qua các nội dung được đề cập trong tác phẩm, có thể khẳng định: lần đầu tiên Ph Ăngghen đã trình bày một cách hoàn chỉnh thế giới quan mác-xít về chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, kinh tế chính trị học, lý luận về chủ nghĩa xã hội khoa học và chỉ ra mối liên hệ hữu cơ giữa ba bộ phận hợp thành chủ nghiã Mác
Trang 4Chống Đuyrinh là tác phẩm gối đầu gường của những người cộng sản.
Với ý nghĩa và giá trị to lớn ấy khẳng định: Chống Đuyrinh là một trong những
tác phẩm quan trọng nhất của các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác Đồng thời đó là tác phẩm tiêu biểu, đặc sắc về hình thức luận chiến và bách khoa về các nội dung của học thuyết Mác
Trong tác phẩm này, Ăngghen đã đấu tranh chống lại các quan điểm của Đuy-rinh, một nhà triết học tiểu tư sản cùng những trào lưu tư tưởng sai trái, xuyên tạc chủ nghĩa Mác Đồng thời phát triển chủ nghĩa Mác trên các bộ phận cấu thành nó Một trong những vấn đề có vị trí quan trọng trong tác phẩm đó là phép biện chứng duy vật với tư cách là một hệ thống thể hiện bước phát triển cao trong lịch sử tư tưởng triết học của nhân loại
Sự ra đời của tác phẩm Chống Đuyrinh nhằm đáp ứng nhu cầu ổn định
tình hình xã hội Đức lúc đó đang rối loạn, nhiều trào lưu tư tưởng “Mọc ra như nấm sau một trận mưa”1 và đang thả sức truyền bá ảnh hưởng của trường phái mình Như Ăngghen đã nhận xét : “Một vị tiến sĩ triết học xoàng nhất, thậm chí
cả một sinh viên, cũng bắt tay vào việc sáng tạo ra một “hệ thống” hoàn chỉnh chứ không kém hơn”2 và trong đó Đuyrinh, một nhà cải cách xã hội chủ nghĩa, một nhà triết học tiểu tư sản đã “đột nhiên khiêu chiến với thời đại”, đưa ra nhiều quan điểm tư tưởng sai trái nhằm xuyên tạc chủ nghĩa Mác, đảo lộn những nguyên lý cơ bản của triết học mác-xít, truyền bá trong phong trào công nhân
Đức lúc đó cái lí luận xã hội chủ nghĩa của ông ta Chống Đuyrinh ra đời một
mặt định hướng đúng cho phong trào công nhân, làm trong sạch đảng dân chủ
-xã hội Đức, đồng thời bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác nói chung và triết học Mác nói riêng
Mặc dù các quan điểm tư tưởng mà Ăng ghen trình bày đôi khi không thành hệ thống, nội dung các nguyên lý triết học có thể nằm rải rác trong từng chương, từng phần Tuy nhiên khi đi vào nghiên cứu toàn bộ tác phẩm chúng ta
sẽ thấy tính lô-gích, hệ thống, nhất quán trong các nội dung mà ông trình bày Đặc biệt, các nguyên lý, quy luật của phép biện chứng đã được Ăngghen làm
Trang 5sáng tỏ cùng với những minh chứng thực tiễn sôi động, cùng những vấn đề về chủ nghĩa duy vật lịch sử, lý luận nhận thức,…đã đáp được yêu cầu đấu tranh của giai cấp công nhân Đức về lí luận chính trị, giải phóng tư tưởng khỏi ảnh hưởng của lý luận tiểu tư sản, tiếp tục đưa phong trào đấu tranh phát triển một cách đúng hướng
(1) (2) C.Mác, Ph Ăngghen, Toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 1994, t20, tr.17.
Về chủ đề và nội dung thu hoạch:
Trong khuôn khổ của bài thu hoạch và khả năng nhận thức của bản thân,
qua nghiên cứu tác phẩm, tôi xin trình bày một số nội dung về: Sự hình thành
phép biện chứng; quan niệm về phép biện chứng duy vật và các quy luật
của nó được đề cập trong tác phẩm “Chống Đuy rinh” của Ph Ăngghen.
Thứ nhất - Về sự hình thành phép biện chứng:
Phép biện chứng thực ra chỉ là phương pháp nhìn nhận, xem xét, nhận thức về thế giới các sự vật của các các nhà triết học nói riêng và của con người nói chung Cách đây hơn 2000 năm, cùng với sự xuất hiện các trào lưu tư tưởng triết học, phép biện chứng cũng đã được ra đời và nó luôn trở thành tâm điểm của cuộc đấu tranh giữa các trường phái triết học khác nhau
Theo ngược dòng lịch sử triết học, người đầu tiên có công đề xướng tư tưởng biện chứng là Dênôn (490-430 tr.CN), Dênôn quan niệm: vận động là một quá trình thống nhất biện chứng giữa vận động và đứng im Tư tưởng này đã
được đề cập trong Chống Đuyrinh của Ăng ghen, ông cho rằng: vận động cơ học
cũng là quá trình chứa đựng mâu thuẫn, sự vật trong cùng một thời điểm vừa vận động lại vừa đứng im, vừa ở vị trí này đồng thời lại không phải ở vị trí đó nữa Sau Dênôn còn có Đêmôcrít, Arixtốt , đặc biệt là Hêraclít, người được Ăngghen đánh giá cao và là người đầu tiên sáng lập ra phép biện chứng Trên lập trường duy vật, Hêraclít cho rằng: Vạn vật trong thế giới không nằm im bất động, mà nó luôn vận động, chuyển hóa không ngừng, nó vừa “Tồn tại và đồng thời lại không tồn tại, vì mọi vật đang trôi đi, mọi vật đều không ngừng thay đổi, mọi vật đều
Trang 6không ngừng phát sinh và tiêu vong”1 Vũ trụ không phải do lực lượng siêu nhiên, thần bí nào tạo ra, mà nó “Mãi mãi đã, đang và sẽ là ngọn lửa vĩnh viễn đang không ngừng bừng cháy và tàn lụi”, “Chúng ta không thể tắm hai lần trên cùng một dòng sông vì nước mới không ngừng chảy trên sông” và “Ngay cả mặt trời cũng mỗi ngày một mới”2…Mặc dù đó là những tư tưởng quý giá của những nhà triết học thời cổ
(1) C.Mác, Ph Ăng ghen, Toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 1994, t20, tr.35.
(2) Các nhà duy vật Hy lạp cổ đại, Nxb Tư tưởng, Mátxcơva, 1955 (Dẫn từ : Giáo trình Triết học, Nxb CTQG, Hà Nội, 1997, t1, tr.187 và: Giáo trình Lịch sử Triết học, Nxb QĐND, Hà Nội, 2003, tr.105).
đại để lại, nhưng nhìn chung những tư tưởng biện chứng ấy mới chỉ dựa trên sự phỏng đoán, nhận thức trực quan, ước lệ về thế giới hiện thực Theo Ăngghen:
“Cách nhìn ấy, dù cho nó có nắm đúng tính chất chung của toàn bộ bức tranh về các các hiện tượng, vẫn không đủ để giải thích những chi tiết hợp thành bức tranh toàn bộ”1 Vì lẽ đó, phép biện chứng thời cổ đại chỉ là tự phát, ngây thơ mà thôi Do nhu cầu khám phá thế giới, đến thế kỷ XVII, XVIII nhiều ngành khoa học ra đời và phát triển, những thành tựu của khoa học tự nhiên đã cho phép con người nhận thức thế giới rõ nét hơn, cụ thể và chi tiết hơn Tuy nhiên nó cũng ảnh hưởng không nhỏ đến phương pháp tư duy của các nhà triết học, họ xem xét
sự vật trong trạng thái cô lập, tách rời, bất động và theo đó phương pháp tư duy mới, phương pháp tư duy siêu hình ra đời thay thế cho tư duy tự phát, ngây thơ thời cổ đại Như Bêcơn, nhà triết học người Anh thế kỷ XVII cho rằng: con người chỉ là một cỗ máy, trong đó trái tim là lò xo, thần kinh là những sợi chỉ
đỏ Còn Hốpxơ thì cho rằng: thế giới này là thế giới vật chất, nhưng các sự vật hiện tượng tồn tại trong đó chỉ quan hệ với nhau thuần túy về số lượng…
Những quan niệm nêu trên cho thấy rõ các nhà triết học thời kỳ này đã
mổ xẻ, phân chia và tách rời thế giới, họ không nhìn thấy tính đa dạng, phong phú, nhiều vẻ trong mối liên hệ tác động qua lại giữa các sự vật, hiện tượng trong thế giới mà họ nhìn thế giới trong thể bất động, riêng biệt, tách rời, họ chỉ quen nói: “Có là có, không là không; ngoài cái đó ra chỉ là trò xảo quyệt”2 chứ
Trang 7không có gì lại vừa có vừa không Theo Ăng ghen: “Đối với họ thì sự vật hoặc
là tồn tại hoặc là không tồn tại; một sự vật không thể vừa là bản thân nó lại vừa
là một sự vật khác, cái khẳng định và cái phủ định tuyệt đối bài trừ lẫn nhau, nguyên nhân và kết quả cũng đối lập hẳn nhau”3 Họ chỉ nhìn thấy cây mà không thấy rừng Vì vậy kết cục của phương pháp tư duy này là: “Chóng hay chày nó cũng sẽ gặp phải một ranh giới mà nếu nó vượt quá thì nó trở thành phiến diện, hạn chế, trìu tượng và sa vào những mâu thuẫn không thể nào giải quyết được”4 Thực sự phép siêu hình đã hoàn toàn bất lực trước những yêu cầu của đời sống hiện thực Nó không
(1) C.Mác, Ph Ăng ghen, Toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 1994, t20, tr.35.
(2)(3)(4) Sđd, tr.37.
thể lý giải nổi các hiện tượng chuyển động trong tự nhiên, không hiểu được quy luật vận động, biến đổi của các sự vật hiện tượng Vì vậy tư duy siêu hình dù có tiến bộ trong phân tích thì nó vẫn rất hạn chế trong xem xét thế giới Tiếp theo
đó, một phương tư duy mới, phép biện chứng duy tâm của triết học cổ điển Đức cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX đã ra đời thay thế phương pháp tư duy cũ, tư duy siêu hình
Nói đến phép biện duy tâm thời cận đại ít ai không nhớ đến Hêghen, nhà triết học xuất sắc, tác giả của học thuyết “ý niệm tuyệt đối” Khi trình bày về sự ra đời của phép biện chứng, Ăngghen đã đánh giá công lao to lớn của Hêghen là:
“Trong đó lần đầu tiên - và đây là công lao to lớn của ông - toàn bộ thế giới tự nhiên, lịch sử và tinh thần được trình bày như là một quá trình, nghĩa là luôn luôn vận động, biến đổi, biến hóa và phát triển”1 Không chỉ có thế, theo quan niệm của Hêghen: “Lịch sử loài người…nó là một quá trình phát triển của bản thân loài
hiện nay là phải theo dõi bước tiến tuần tự của quá trình ấy qua tất cả những khúc quanh co của nó và chứng minh tính quy luật bên trong của nó qua tất cả những cái ngẫu nhiên bề ngoài"2 Tuy nhiên, Hêghen đã không giải quyết được nhiệm vụ
Trang 8do chính mình đặt ra, bởi vì: “ Một là, bởi những giới hạn không thể tránh được của những tri thức của bản thân ông, và hai là bởi những tri thức và những quan niệm của thời đại ông, những tri thức và những quan niệm này cũng bị hạn chế hệt như vậy về bề rộng và bề sâu Ngoài ra còn có thêm một điều thứ ba nữa Hêghen là một nhà duy tâm”3 Với những quan niệm và lý do hạn chế ấy, phép biện chứng của Hêghen tuy đã phản ánh đúng được mối liên hệ phổ biến của các sự vật hiện tượng, các quy trình trong tự nhiên, xã hội và tư duy nhưng nó vẫn là phép biện chứng duy tâm, coi thế giới ý niệm là bản nguyên của thế giới hiện thực và sinh ra tất cả, còn “ý niệm tuyệt đối” là cái gì thì chính Hêghen cũng không thể giải thích được Với cách nhìn lộn ngược, Hêghen được các nhà kinh điển mác-xít gọi phép biện chứng của ông
(1) Sđd, tr 39.
(2) (3) Sđd, tr 40.
là phép biện chứng đi bằng đầu, như Ăngghen nhận xét: “Tất cả đều bị đặt lộn ngược và mối liên hệ hiện thực của các hiện tượng của thế giới đều hoàn toàn bị đảo ngược”1
Mặc dù còn có những hạn chế, song Mác, Ăngghen và sau này là Lênin
đã đánh giá cao sự cống hiến của Hêghen trong việc khôi phục và phát triển phép biện chứng tự phát thời cổ đại Đồng thời phép biện chứng của Hêghen là tiền đề cho phép biện chứng đối lập với nó ra đời, đó là phép biện chứng duy vật
do Mác và Ăngghen sáng lập ra
Thứ hai - Quan niệm về phép biện chứng duy vật:
Trong tác phẩm, Ăngghen đã phân biệt sự khác nhau về chất giữa phép biện chứng duy vật với tư cách là phương pháp nhận thức của những người cộng sản với các phương pháp nhận thức trước đó Nếu như phép biện chứng tự phát, ngây thơ thời cổ đại chỉ là cách nhìn nhận thế giới bằng sự phỏng đoán, quan sát ngắm nhìn bề ngoài, cho ta một bức tranh mờ nhạt về thế giới, thì đối lập với phép siêu hình xem xét thế giới trong sự tách rời, biệt lập, phép biện chứng
Trang 9mác-xít luôn coi các sự vật hiện tượng, quá trình của thế giới tồn tại thống nhất trong một chỉnh thể, có mối liên hệ tác động và ảnh hưởng lẫn nhau Ngay trong thế giới hữu cơ sự vật bao giờ cũng vừa là bản thân nó, vừa không phải là bản thân
nó, trong giây lát, một số tế bào trong cơ thể của nó chết đi nhưng lại có ngay các tế bào khác được hình thành Trong các mặt đối lập (khẳng định và phủ định, nguyên nhân và kết quả,…) cũng vậy, hai mặt đối lập vừa thống nhất vừa đấu tranh với nhau, chúng luôn thâm nhập chuyển hóa sang nhau, quá trình đó diễn ra liên tục làm cho sự vật vận động, phát triển không ngừng
Phép biện chứng mác-xít cũng khác với phép biện chứng duy tâm của
Hê ghen Phép biện chứng của Hêghen là phép biện chứng của của khái niệm, còn phép biện chứng của Mác, Ăngghen là phép biện chứng hiện thực Các nhà duy vật mác-xít kế thừa những hạt nhân hợp lý của phép biện chứng duy tâm Đức, cảo tạo nó, dựng nó dậy để phép biện chứng ấy đứng trên đôi chân của hiện thực, loại bỏ tính duy tâm, thần bí, phản động của nó để xây dựng nên phép biện
(1) Sđd, tr.41.
chứng khoa học Ăngghen đã chỉ ra rằng: cái biện chứng của khái niệm, của tư duy thật ra chỉ là sự phản ánh cái biện chứng đang diễn ra trong thế giới hiện thực, vì vậy theo Ăngghen: “Giới tự nhiên là hòn đá thử vàng đối với phép biện chứng”1, “Trong tự nhiên, rút cục lại, mọi cái đều diễn ra một cách biện chứng chứ không phải siêu hình”2
Như vậy phép biện chứng không phải tự phát sinh ra, mà nó được các nhà bác học thiên tài đứng trên lập trường duy vật với nhãn quan tinh tế và tư duy khoa học xây dựng lên Đó là phép biện chứng mang tính tự giác, được dùng trang bị cho một lực lượng vật chất xã hội tiến bộ để cải tạo xã hội Trong tác phẩm, Ăngghen cũng đã so sánh phép biện chứng với lô-gích hình thức, khi phê phán Đuy - rinh: “Coi phép biện chứng như là một công cụ chỉ dùng để chứng minh, giống như khi nhận thức một cách nông cạn thì người ta có thể coi lô-gích hình thức hay toán học sơ cấp là một công cụ như thế, - đã chứng tỏ rằng
Trang 10ông Đuyrinh hoàn toàn không hiểu gì bản chất của phép biện chứng cả”3, theo Ăng ghen: “Lô-gích hình thức, trước hết, cũng phải là một phương pháp để tìm
ra những kết quả mới, để tiến từ cái biết đến cái chưa biết”4 nhưng đối với phép biện chứng thì khác, nó “Phá vỡ cái chân trời nhỏ hẹp của lô-gích hình thức, đồng thời lại chứa đựng mầm mống của một thế giới quan rộng lớn hơn”5 Cuối cùng Ăngghen đã đưa ra định nghĩa kinh điển về phép biện chứng: “Phép biện chứng chẳng qua chỉ là môn khoa học về những quy luật phổ biến của sự vận động và sự phát triển của tự nhiên, của xã hội loài người và của tư duy”6
Thứ ba - Các quy luật của phép biện chứng duy vật:
Về quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập: Quy luật này
không được Ăngghen trình bày riêng mà xen vào các phần khác nhau trong tác phẩm, bởi vì Đuy-rinh phủ nhận mâu thuẫn của thế giới, xem đó chỉ là thao tác của tư duy mà thôi, mâu thuẫn : “Chỉ là sự kết hợp tư tưởng khác nhau chứ không
thuộc về hiện thực Trong các sự vật không hề có mâu thuẫn nào”7, như vậy là ông Đuyrinh vừa duy tâm lại vừa siêu hình, bởi vì ông không nhìn thấy mâu thuẫn nảy sinh từ hiện thực, không biết mâu thuẫn có nguồn gốc từ đâu và cái gì
đã tạo
(1) Sđd, tr.38; (2) Sđd, tr.39; (3) (4) Sđd, tr.191; (5) Sđd, tr.192; (6) Sđd, tr.201; (7) Sđd, tr171.
nên mâu thuẫn, do đó ông mới cho rằng mâu thuẫn chỉ có thể tồn tại trong tư tưởng, trong ý thức tư duy của con người Nhà triết học tiểu tư sản này vì không nhận thức được mâu thuẫn tồn tại khách quan, mâu thuẫn mang tính tự thân của chính sự vật nên ông ta cũng không nhìn thấy vạn vật trong thế giới đang vận động, biến đổi không ngừng Ông nhìn sự vật trong trạng thái bất động, rời rạc nên đã đi đến kết luận: trong sự vật không hề có một mâu thuẫn nào
Đấu tranh chống lại Đuyrinh, Ăngghen đã khẳng định: mâu thuẫn là khách quan, không những thế, tính phổ biến của mâu thuẫn có cả trong tự nhiên,
xã hội, tư duy, cả trong giới vô cơ, hữu cơ Theo Ăngghen: “Bản thân sự vận