1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

331. PHÊ PHÁN TRIẾT HỌC ĐỨC HIỆN ĐẠI QUA CÁC ĐẠI BIỂU CỦA NÓ LÀ PHOIƠBẮC, B.BAUƠ VÀ STIẾCNƠ VÀ PHÊ PHÁN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI ĐỨC QUA CÁC NHÀ TIÊN TRI KHÁC NHAU CỦA NÓ

135 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phê Phán Triết Học Đức Hiện Đại Qua Các Đại Biểu Của Nó Là Phoi-Ơ-Bắc, B.Bau-Ơ Và Stiếc-Nơ Và Phê Phán Chủ Nghĩa Xã Hội Đức Qua Các Nhà Tiên Tri Khác Nhau Của Nó
Tác giả Trần Quỳnh Anh
Trường học Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Thể loại tiểu luận
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 135
Dung lượng 653,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất diễn ra ở Châu Âu, tiêu biểu như một số nước : Anh (18641820); Pháp (những năm 4060 thế kỷ XIX), Đức (1871)… làm cho lực lượng sản xuất tư bản chủ nghĩa phát triển mạnh mẽ, chủ nghĩa tư bản được thiết lập ở một số nước Châu Âu. Mâu thuẫn giữa tính chất, trình độ phát triển của lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất trong lòng xã hội tư bản ngày càng bộc lộ rõ hơn. Biểu hiện về mặt xã hội là mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản.

Trang 1

=== ===

TIỂU LUẬN

PHÊ PHÁN TRIẾT HỌC ĐỨC HIỆN ĐẠI QUA CÁC ĐẠI BIỂU CỦA NÓ

LÀ PHOI-Ơ-BẮC, B.BAU-Ơ VÀ STIẾC-NƠ VÀ PHÊ PHÁN CHỦ NGHĨA

XÃ HỘI ĐỨC QUA CÁC NHÀ TIÊN TRI KHÁC NHAU CỦA NÓ

Họ và tên: Trần Quỳnh Anh

Trang 2

Tác phẩm hệ tư tưởng đức PHÊ PHÁN TRIẾT HỌC ĐỨC HIỆN ĐẠI QUA CÁC ĐẠI BIỂU CỦA NÓ

LÀ PHOI-Ơ-BẮC, B.BAU-Ơ VÀ STIẾC-NƠ VÀ PHÊ PHÁN CHỦ NGHĨA

XÃ HỘI ĐỨC QUA CÁC NHÀ TIÊN TRI KHÁC NHAU CỦA NÓ

C.Mác và Ph.Ăng ghen (1846) toàn tập, Nxb CTQG, H 1995, tập 3, tr.15-793

Tác phẩm Hệ tư tưởng Đức được C.Mác và Ph.Ăng ghen cộng tác viết từ

năm 1845 đến 1846 Đây là tác phẩm có qui mô lớn nhất trong thời kỳ hình thànhtriết học Mác nói riêng và hình thành chủ nghĩa Mác nói chung

I HOÀN CẢNH LỊCH SỬ RA ĐỜI CỦA TÁC PHẨM

1 Tình hình Châu Âu giữa thế kỷ XIX

Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất diễn ra ở Châu Âu, tiêu biểu nhưmột số nước : Anh (1864-1820); Pháp (những năm 40-60 thế kỷ XIX), Đức (1871)

… làm cho lực lượng sản xuất tư bản chủ nghĩa phát triển mạnh mẽ, chủ nghĩa tưbản được thiết lập ở một số nước Châu Âu Mâu thuẫn giữa tính chất, trình độ pháttriển của lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất dựa trên chế độ chiếm hữu tưnhân về tư liệu sản xuất trong lòng xã hội tư bản ngày càng bộc lộ rõ hơn Biểuhiện về mặt xã hội là mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản

Phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân chống giai cấp tư sản nổ ra ởnhiều nơi Tiêu biểu như : khởi nghĩa của công nhân dệt ở thành phố Lyon (Pháp)năm 1837, cuộc khởi nghĩa của công nhân vùng Xêlêdi (Đức); và phong trào hiếnchương (Anh) kéo dài 10 năm 1838-1848 nhưng đều thất bại Tuy nhiên giai cấpcông nhân đã chứng tỏ là một lực lượng chính trị độc lập trên vũ đài quốc tế

2 Tình hình nước Đức giữa thế kỷ XIX

Do ảnh hưởng của cuộc cách mạng công nghiệp, và kinh tế tư bản chủ nghĩa ởChâu Âu, kinh tế Đức từ phương thức sản xuất phong kiến đã phát triển mạnh theohướng tư bản chủ nghĩa

Giai cấp công nhân và phong trào công nhân Đức không ngừng lớn mạnh.Trong khi đó, giai cấp tư sản Đức non yếu cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức, vừaghét, vừa sợ chế độ chuyên chế quân chủ, vừa sợ giai cấp công nhân và phong tràocông nhân

Trang 3

Nước Đức chứa đầy mâu thuẫn, nổi lên là mâu thuẫn giữa giai cấp nông dân

và giai cấp công nhân với giai cấp địa chủ phong kiến; mâu thuẫn giữa giai cấp vôsản với giai cấp tư sản Những mâu thuẫn đó đã đẩy nước Đức trước cuộc cáchmạng xã hội Phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân Đức phát triển nhưngvẫn chưa giành được thắng lợi

Tư tưởng ở nước Đức lúc này diễn biến rất phức tạp : các trào lưu tư tưởngchen đua nhau mọc lên như nấm, cuộc đấu tranh giữa các trào lưu tư tưởng rấtquyết liệt Nền triết học cổ điển Đức tỏ ra lạc hậu : chủ nghĩa duy tâm khách quancủa Hêghen bị phân hoá, C.Mác, Ph.Ăng ghen khẳng định:"Quá trình tan rã của hệthống Hêghen bắt đầu" (1); chủ nghĩa duy vật trực quan của Phoi-ơ-Bắc không tiếnlên được nữa, mặc dù trước đó nó có tiến bộ nhất định Phái “Hê ghen trẻ”- nhữngđại biểu tư sản cấp tiến theo xu hướng cải lương Tư tưởng duy tâm của phái “Hêghen” và sau Hê ghen đang cản trở dân tộc Đức trước cuộc cách mạng tư sản, đồngthời có ảnh hưởng tiêu cực đến giai cấp công nhân và phong trào công nhân Trước

bối cảnh đó C.Mác và Ph.Ăng ghen đã cộng tác viết và cho ra đời tác phẩm Hệ tư tưởng Đức, nhằm mục đích; phê phán nền triết học cổ điển Đức, hạt nhân là thế

giới quan, phương pháp luận duy tâm trên các lĩnh vực khác nhau của lịch sử xãhội; trình bày những cơ sở khoa học của một học thuyết mới nhằm cải biến hiệnthực bằng hoạt động thực tiễn chứ không phải bằng tư duy thuần tuý, trìu tượng;đấu tranh giải phóng triệt để giai cấp công nhân và những người lao động bị áp bức,đồng thời C.Mác Ph.Ăng ghen cũng đoạn tuyệt với những nhận thức quá khứ củamình, khẳng định bước chuyển lập trường của mình từ dân chủ tư sản sang lậptrường xã hội chủ nghĩa

II TƯ TƯỞNG CHỦ YẾU VÀ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TÁC PHẨM

1 Tư tưởng chủ yếu của tác phẩm

Trên cơ sở phê phán những quan điểm duy tâm của triết học cổ điển Đức, duy tâm

tư biện của Phoi-ơ-Bắc, B.Bau-Ơ, Stiếc-nơ, C.Mác, Ph.Ăng ghen trình bày nhữngquan điểm duy vật lịch sử Thông qua mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất vàquan hệ sản xuất, giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, giữa tồn tại xã hội và

ý thức xã hội, vạch rõ tính tất yếu lịch sử từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã

Trang 4

hội thông qua cách mạng vô sản; khẳng định chủ nghĩa cộng sản mới giảiphóng con người khỏi áp bức bóc lột.

2 Nội dung cơ bản của tác phẩm

Nghiên cứu tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức” cần nghiên cứu tất cả các chương,nhưng đi sâu vào chương 1 của tập 1 nghiên cứu về những quan điểm khoa học vàcách mạng của C.Mác, Ph.Ăng ghen, vận dụng vào xây dựng và hoạt động củaĐảng, nhất là trong công tác tư tưởng của Đảng

a) Mối quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội

- Mối quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội

Ý thức cá nhân và ý thức xã hội quan hệ với nhau rất chặt chẽ, ý thức cá nhânmang bản chất xã hội, do ý thức xã hội quy định và quyết định : "Ngay từ đầu ýthức là một sản phẩm xã hội và vẫn là như vậy chừng nào con người còn tồn tại" (2)

Tồn tại xã hội và ý thức xã hội có mối quan hệ biện chứng, trong đó tồn tại xãhội quyết định ý thức xã hội C.Mác Ph.Ăng ghen chỉ rõ : "Không phải ý thức quyếtđịnh đời sống mà chính đời sống quyết định ý thức" (3) Nhìn chung, tồn tại

xã hội nào thì ý thức xã hội ấy, khi tồn tại xã hội đã thay đổi thì sớm muộn ý thức

xã hội cũng thay đổi theo Tồn tại xã hội quyết định nội dung, xu hướng vận động,phát triển của ý thức xã hội

tư tưởng lạc hậu, phản ánh không đúng tồn tại xã hội thì sẽ kìm hãm sự phát triểncủa tồn tại xã hội Tuy nhiên, sự kìm hãm đó chỉ có giới hạn nhất định vì xét đếncùng thì tồn tại xã hội vẫn quyết định ý thức xã hội Tính chất và hiệu quả tác độngcủa ý thức xã hội phụ thuộc vào vai trò lịch sử của giai cấp đề ra tư tưởng và nghệthuật, truyền bá hệ tư tưởng đó vào đời sống xã hội

* Ý nghĩa đối với công tác xây dựng Đảng

Trang 5

Hiện thực khách quan, đời sống kinh tế, xã hội làm nảy sing tư tưởng, ý thứccủa con người và ý thức xã hội.

Hệ tư tưởng lý luận, quan điểm đường lối của Đảng phải là sản phẩm trí tuệphản ánh đúng hiện thực khách quan, thực tiễn cách mạng, không chủ quan duy ýchí

- Hệ thống lý luận tiên tiến mang bản chất cách mạng, khoa học có vai trò tolớn trong hướng dẫn nhận thức để cải tạo hiện thực khách quan hợp quy luật

- Tư tưởng, đường lối, quan điểm của Đảng của giai cấp công nhân chỉ trởthành hiện thực khi thông qua hoạt động thực tiễn Qua thực tiễn kiểm nghiệm lýluận, đúc rút kinh nghiệm từ thực tiễn, tổng kết thực tiễn, bổ sung, phát triển lýluận

- Mọi đường lối, tư tưởng, quan điểm lý luận của Đảng chi phối mạnh mẽ đếnnhận thức của từng cá nhân trong Đảng, trong giai cấp, trong xã hội Nhưng đồngthời những nhận thức, quan điểm, tư tưởng lý luận ngày càng được bổ sung pháttriển, hoàn chỉnh bằng sự kết tinh hoạt động thực tiễn của quần chúng nhân dân laođộng và của cán bộ, đảng viên

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Đảng phải nắm vững bản chất cách mạngkhoa học của chủ nghĩa Mác – Lênin, tuyên truyền giác ngộ chủ nghĩa Mác – Lênincho giai cấp công nhân, phong trào công nhân và cho mọi tầng lớp nhân dân laođộng, làm cho chủ nghĩa Mác – Lênin giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thầncủa toàn xã hội

Vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào thực tiễn cách mạng, định rađường lối chiến lược, sách lược đúng đắn, sáng tạo, đưa sự nghiệp cách mạng pháttriển Đồng thời phải thường xuyên tổng kết thực tiễn, phải nghiên cứu, phát triển

lý luận, đáp ứng kịp thời đòi hỏi của thực tiễn, giải quyết có hiệu quả những vấn đềthực tiễn đặt ra

- Khi nghiên cứu, phân tích, đánh giá xem xét tình hình tư tưởng và công tác

tư tưởng phải xuất phát từ thực tiễn, việc xây dựng tư tưởng, nhận thức phải là mộtquá trình bền bỉ, tránh nôn nóng chủ quan

Muốn nâng cao trình độ trí tuệ, năng lực tư duy, ý chí quyết tâm phải kết hợpchặt chẽ giữa nâng cao nhận thức khoa học với hoạt động thực tiễn, đánh thức tiềm

Trang 6

năng, rèn luyện phương pháp tư duy khoa học, phương pháp vận dụng lý luận vàohoạt động thực tiễn.

Quân đội ta với chức năng chủ yếu là đội quân chiến đấu, do đó xây dựngquân đội vững mạnh là một đòi hỏi khách quan, trước hết được biểu hiện ở sứcmạnh vật chất của quân đội Song công tác chính trị – tư tưởng có vai trò rất quantrọng góp phần tạo nên sức mạnh chiến đấu của quân đội, bảo đảm quân đội trungthành với Đảng, Tổ quốc và nhân dân, xây dựng ý chí quyết tâm hoàn thành nhiệm

vụ Phải kết hợp giáo dục tư tưởng, lý luận với cải tạo xây dựng môi trường xã hộilành mạnh, tạo điều kiện cho cán bộ chiến sĩ quân đội phát triển toàn diện về nhâncách

b) Tính giai cấp của ý thức xã hội

* Những quan điểm của C.Mác, Ph.Ăng ghen

Ngược lại với những quan điểm duy tâm vừa phủ định, vừa tìm cách che dấubản chất giai cấp của ý thức xã hội trong điều kiện xã hội tồn tại sự phân chia vàđối kháng giữa các giai cấp C.Mác và Ph.Ăng ghen khẳng định: Trong xã hội cógiai cấp, ý thức xã hội bao giờ cũng mang bản chất giai cấp sâu sắc, hai ông chỉ rõ:

"Giai cấp nào là lực lượng vật chất thống trị trong xã hội thì cũng là lực lượng tinhthần thống trị trong xã hội" (1)

(1) Sđd.tr.66

Hệ tư tưởng của giai cấp công nhân là hệ tư tưởng cách mạng, khoa học, làngọn cờ giải phóng dân tộc, giải phóng quần chúng bị áp bức bóc lột, phản ánh tiếntrình khách quan của lịch sử Hệ tư tưởng vô sản đối lập với hệ tư tưởng tư sản, hệ

tư tưởng của giai cấp tư sản bảo vệ chế độ người bóc lột người

C.Mác, Ph.Ăng ghen đã chỉ ra giai cấp thống trị ở Đức lúc bấy giờ đã tuyệtđối hoá, thần bí hoá tư tưởng thống trị như : "ý niệm tuyệt đối", "tinh thần tuyệtđối", "sự quy định"… để buộc quần chúng phải khuất phục giai cấp thống trị mộtcách mù quáng, về thực chất là bảo vệ quyền lợi cho chế độ đương thời

* Ý nghĩa đối với công tác xây dựng Đảng

Hệ tư tưởng lý luận của Đảng cộng sản mang bản chất giai cấp công nhân,gồm toàn bộ những mặt, những thuộc tính, những mối quan hệ cơ bản nhất quyđịnh Đảng là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đại biểu trung thành lợi ích củagiai cấp công nhân, nhân dân lao động và của toàn dân tộc Bản chất ấy thể hiện

Trang 7

trước hết ơ mục đích, lý tưởng ; ở hệ tư tưởng, ở các tổ chức sing hoạt Đảng ; ở mốiquan hệ giữa Đảng với dân ; ở sự kết hợp đúng đắn chủ nghĩa yêu nước chân chínhvới chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công dânvà biểu hiện trực tiếp ở bản lĩnh chínhtrị, phẩm chất đạo đức, lối sống, trình độ năng lực của cán bộ Đảng viên của Đảng.Bản chất giai cấp công nhân là yếu tố có ý nghĩa quyết định tới năng lực lãnh đạo,sức chiến đấu của Đảng, bảo đảm cho Đảng luôn là đội tiên phong chính trị, lựclượng lãnh đạo có uy tín.

- Giai cấp công nhân và Đảng cộng sản tiến hành cách mạng vô sản không chỉ

lật đổ ách thống trị của giai cấp tư sản, mà phải xoá bỏ cả hệ thống tư tưởng thốngtrị của giai cấp tư sản

- Khi giành chính quyền, giai cấp công nhân, Đảng cộng sản không chỉ thiếtlập chế độ thống trị về kinh tế, chính trị, xã hội mà còn thiết lập sự thống trị trên

lĩnh vực tư tưởng, tinh thần, làm cho hệ tư tưởng của giai cấp công nhân trở thành

hệ tư tưởng thống trị

- Đấu tranh trên mặt trận chính trị, tư tưởng, lý luận bao giờ cũng là cuộc đấutranh bị chi phối và phản ánh tính giai cấp, tính đảng sâu sắc Vì vậy, trong công tácgiáo dục quần chúng không được mơ hồ, lẫn lộn bản chất giai cấp giữa các tưtưởng Đấu tranh tư tưởng, xây dựng tư tưởng, không tách rời với đấu tranh giaicấp, trái lại nó phản ánh và gắn chặt với đấu tranh giai cấp Công tác tư tưởng, phảimang tính chiến đấu sắc bén, bảo vệ tư tưởng của Đảng, phê phán, bác bỏ tư tưởngsai trái, thù địch

Quân đội ta do Đảng cộng sản Việt Nam và chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức,giáo dục, rèn luyện Dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân đội ta luôn phát huy bản chấtgiai cấp công nhân, không xa rời mục tiêu chiến đấu vì lý tưởng của Đảng Hiệnnay, chủ nghĩa Đế quốc, đứng đầu là Đế quốc Mỹ thực hiện thủ đoạn “phi chính trịhoá” quân đội thực chất là hòng phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với quânđội, làm cho quân đội xa rời phương hướng chính trị, giai cấp, xa rời lập trườngquan điểm giai cấp công dân dẫn tới vô hiệu hoá quân đội Do đó cần nhận thức sâusắc quan điểm của học thuyết Mác-Lê nin về tính giai cấp của ý thức xã hội, đấutranh không khoan nhượng trước sự chống phá của kẻ thù trên mặt trận chính trị tư

Trang 8

tưởng bảo đảm cho Đảng luôn lãnh đạo chặt chẽ quân đội, làm cho quân đội trungthành tuyệt đối với Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân.

c) Vai trò của quy luật khách quan, điều kiện khách quan và tính năng động chủ quan của con người

C.Mác, Ph.Ăng ghen phê phán những quan điểm của các nhà duy tâm và duyvật trực quan không nhận thức được bản chất và khả năng hiện thực của con người,không nhận thức được khả năng thực tiễn và khả năng cách mạng của giai cấp vôsản, họ coi khinh quần chúng lao động Phoi-ơ-Bắc

cho rằng : "Con người với tính cách con người", chứ không phải "con người lịch sửhiện thực" (1) Sđd.tr.61 C.Mác, Ph.Ăng ghen chỉ rõ: Phoi-ơ-Bắc không xem xét conngười trong mối quan hệ xã hội nhất định của họ, trong những điều kiện sinh hoạthiện có của họ, những điều kiện làm cho họ trở thành những con người đúng như

họ đang tồn tại trong thực tế thì Phoi-ơ-Bắc cũng không bao giờ đi tới được nhữngcon người hành động đang tồn tại thực sự, mà ông vẫn dừng lại ở một sự trừutượng "con người" và chỉ đóng khung ở chỗ thừa nhận con người "hiện thực, cá thể,bằng xương, bằng thịt" trong tình cảm thôi, nghĩa là ông không biết đến những

"quan hệ con người", "giữa người với người" nào khác, ngoài tình yêu và tình bạn,

hơn nữa lại là tình yêu và tình bạn được lý tưởng hoá" (2)

Sđd tr.64

C.Mác, Ph.Ăng ghen phê phán quan niệm trước đây cho rằng lịch sử luôn luônđược viết theo một tiêu chuẩn nằm ở bên ngoài lịch sử Ngược lại với những quanđiểm duy tâm, chủ quan, phiến diện của các đại biểu triết học Đức lúc đó, C.Mác vàPh.Ăng ghen cho rằng : lịch sử luôn vận động, phát triển theo những quy luật kháchquan "Lịch sử chẳng qua chỉ là sự nối tiếp của những thế hệ riêng rẽ, trong đó mỗithế hệ đều khai thác những vật liệu, những tư bản, những lực lượng sản xuất do tất

cả những thế hệ trước để lại; do đó, mỗi thế hệ một mặt tiếp tục cái hoạt động đượctruyền lại, trong những hoàn cảnh đã hoàn toàn thay đổi và mặt khác lại biến đổinhững hoàn cảnh cũ bằng một hoạt động hoàn toàn thay đổi" (1)

C.Mác, Ph.Ăng ghen còn chỉ rõ : con người là một thực thể sinh vật xã hội lịch sử,bản chất con người là tổng hoà các mối quan hệ xã hội Con người có khả năngthực tiễn, có khả năng sáng tạo, nhận thức được những qui luật khách quan Conngười có vai trò to lớn, là yếu tố năng động cách mạng, là động lực của lịch sử

Trang 9

Bằng chính hoạt động thực tiễn, hoạt động vật chất con người làm biến đổi hiệnthực và biến đổi ngay chính bản thân con người C.Mác, Ph.Ăng ghen khẳng định :

"Con người tạo ra hoàn cảnh đến mức nào thì hoàn cảnh cũng tạo ra con người đếnmức ấy" (2) Đồng thời Hai ông cũng chỉ ra : Những điều kiện khách quan, nhữngphương tiện vật chất làm cơ sở để cải biến cách mạng bằng thực tiễn chứ khôngphải lối tư duy thuần tuý, những lời nói suông

* Ý nghĩa đối với công tác xây dựng Đảng

- Đảng là một tổ chức chính trị, một thực thể vật chất -xã hội lịch sử, cho nênĐảng phải xây dựng trên cơ sở tuân thủ quy luật khách quan trong điều kiện kinh

tế, chính trị, xã hội cụ thể Những quy luật, điều kiện khách quan ấy chi phối đếnphẩm chất, năng lực nhận thức và hoạt động của Đảng

- Đảng có vai trò định hướng sự vận động, phát triển của tiến trình lịch sử, vaitrò đó tuỳ thuộc vào năng lực chủ quan của Đảng Thông qua hoạt động thực tiễnĐảng thực hiện mục tiêu lý tưởng và thông qua đó Đảng trưởng thành về mọi mặt.Khi tình hình kinh tế, chính trị, xã hội thay đổi, nhiệm vụ chính trị của Đảng cũngphải phát triển kịp thời, ngang tầm với đòi hỏi của tình hình

- Giai cấp công dân và Đảng cộng sản phải nắm vững quy luật khách quan,nhất là quy luật của xã hội, của cách mạng vô sản, những nguyên lý, nguyên tắctrong xây dựng và hoạt động của Đảng, có như vậy mới bảo đản tính đúng đắntrong hoạch định đường lới chiến lược và sách lược của cách mạng

- Muốn lật đổ ách thống trị của giai cấp tư sản, Đảng cộng sản và giai cấpcông nhân phải có lực lượng vật chất tương ứng Lực lượng vật chất tương ứng củagiai cấp vô sản chính là những yếu tố bảo đản cho sự lớn mạnh và trưởng thành củagiai cấp vô sản, đặc biệt là phải có lực lượng cách mạng và phong trào cách mạng.Nghĩa là phải phát triển giai cấp vô sản cả về số lượng và chất lượng, phải đẩymạnh phong trào công nhân, làm cho phong trào công nhân trở thành lực lượngchính trị độc lập, đủ khả năng tập hợp sức mạnh để chiến thắng giai cấp tư sản (1), (2), Sđd tr.65, tr.55

- Xây dựng ý thức hệ, tư tưởng, tình cảm của con người phải gắn chặt với xâydựng, cải tạo những điều kiện vật chất - xã hội có như vậy mới xây dựng được

Trang 10

niềm tin, mới khắc phục được khuynh hướng tuyệt đối hoá về tư tưởng dẫn tới chủquan duy ý chí, thoát ly thực tiễn

Để phát huy vai trò năng động chủ quan của con người, Đảng cộng sản phảilàm tốt công tác giáo dục, nâng cao giác ngộ cho giai cấp công dân và quần chúngnhân dân lao động, thấm nhuần mục tiêu lý tưởng, xây dựng tình cảm cách mạng,nhận thức sâu sắc quyền và nghĩa vụ trong thực hiện nhiệm vụ của cách mạng.Xem xét đánh giá con người phải khách quan, toàn diện, xét đến các mối quan hệ;xây dựng cải tạo con người cũng phải toàn diện, công phu, phát huy năng lực sángtạo của con người trong thực tiễn và thông qua thực tiễn mà bồi đắp tư tưởng xâydựng con người mới Để phát huy vai trò của tư tưởng, lý luận phải thông qua cácphong trào hành động cách mạng, phong trào thực tiễn của quần chúng Tạo mọiđiều kiện thuận lợi để cán bộ, Đảng viên phát triển toàn diện và cống hiến đượcnhiều cho cách mạng

Quân đội hoạt động xây dựng và chiến đấu phải tuân theo quy luật của chiếntranh đặc biệt quy luật “mạnh được - yếu thua” Do đó ngoài việc chuẩn bị tốtnhững điều kiện vật chất, trang bị, khí tài phải việc chăm lo xây dựng cán bộ chiến

sỹ có trình độ, bản lĩnh chính trị để vượt qua khó khăn gian khổ Đảng, Nhà nước,quân đội cần giáo dục, động viên, chăm lo tốt hơn nữa đời sống vật chất, tinh thầncho cán bộ chiến sỹ để họ yên tâm, yêu mến, gắn bó với quân đội

d) Cách mạng là động lực thúc đẩy lịch sử phát triển

C.Mác, Ph.Ăng ghen phê phán phái Hê ghen trẻ cho rằng : động lực thúc đẩylịch sử phát triển là sự suy diễn lý luận, là sự phê phán coi quần chúng chỉ là nhữngchất liệu thiếu sức sống, yếu đuối và bất lực, thậm chí là vật cản trở quá trình pháttriển của lịch sử; cho rằng công việc của công nhân bao giờ cũng vẫn là một cáiđơn chất nào đó họ chẳng tạo ra cái gì hết ngoài việc nhằm thoả mãn nhu cầu củachính họ và vì thế, họ có đấu tranh cũng chẳng để làm gì

C.Mác và Ph.Ăng ghen cho rằng: Cách mạng là kết quả của sự vận động biến

đổi khách quan, là động lực thúc đẩy lịch sử phát triển, chứ không phải là sự suydiễn lý luận, không phải sự phê phán C.Mác, Ph.Ăng ghen nhấn mạnh "không phải

sự phê phán mà cách mạng mới là động lực thúc đẩy lịch sử phát triển" (1) Sđd.tr.54

Trang 11

Cách mạng không chỉ làm biến đổi lịch sử mà làm biến đổi cả tư tưởng nhậnthức, tư duy của người Con người là chủ thể sáng tạo, đồng thời con người là trungtâm của lịch sử, con người nhận thức được chính mình Hoạt động lịch sử càng tolớn bao nhiêu thì vai trò quần chúng càng lớn bấy nhiêu Kẻ thù của sự tiến bộ cáchmạng chính là sản phẩm của chủ nghĩa duy tâm thần bí, cản trở quần chúng, buộcquần chúng phải sợ hãi… C.Mác, Ph.Ăng ghen cho rằng : quần chúng là ngườisáng tạo, công nhân là người sáng tạo ra tất cả Phong trào quần chúng là phongtrào hoạt động vật chất sinh động và có sức mạnh to lớn trong cải tạo xã hội Côngnhân và quần chúng không chỉ sáng tạo ra vật chất, tinh thần mà còn sáng tạo racon người, chủ thể của mọi sự sáng tạo Sức sáng tạo của công nhân ở chỗ có tổchức, nghĩa là khi giai cấp công nhân giác ngộ được nguồn gốc bóc lột và tư hữu, ýthức được sức mạnh đoàn kết, ý thức được con đường đấu tranh, tự giác hoạt độngliên minh, liên kết trong hoạt động và có hoạt động chính trị độc lập, không theođuôi giai cấp tư sản.

* Ý nghĩa đối với xây dựng Đảng

Cách mạng vô sản là quy luật khách quan trong thời đại quá độ từ chủ nghĩa tưbản lên chủ nghĩa xã hội, đó là cuộc cách mạng sâu sắc, triệt để nhất mang ý nghĩatiến bộ, nhân đạo sâu sắc, bởi nó xoá bỏ tận gốc chế độ người bóc lột người, xoá bỏmọi áp bức bất công nhằm giải phóng giai cấp công nhân, nhân dân lao động vàgiải phóng nhân loại

Đảng và giai cấp công nhân chỉ thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình thông quacách mạng vô sản Thông qua con đường cách mạng đập tan nhà nước của giai cấp

tư sản, thiết lập chuyên chính vô sản và sử dụng nhà nước chuyên chính vô sản bảo

vệ, củng cố quyền thống trị đối với toàn xã hội Đồng thời, thông qua cách mạng vôsản mà giai cấp công nhân trưởng thành cả về số và chất lượng, nhận thức và hànhđộng, lý luận và thực tiễn, khẳng định vai trò lãnh đạo xã hội

Giáo dục tư tưởng, tình cảm, nhận thức phải thông qua và gắn chặt với cácphong trào cách mạng, gắn lý luận với thực tiễn, gắn học với hành; phải biến tưtưởng, nhận thức và quyết tâm của công nhân, của quần chúng thành hành độngcách mạng cụ thể, tránh chủ quan duy ý chí, giáo điều

KẾT LUẬN

Trang 12

- Tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức” đã bóc trần sự hạn chế, lỗ thời, lạc hậu của nềntriết học cổ điển Đức, giải thoát cho giai cấp công nhân và nhân dân lao động khỏinhững quan niệm duy tâm.

- Cung cấp những cơ sở khoa học, trình bày những nguyên lý, lý luận cơ bản vềchủ nghĩa duy vật lịch sử, trang bi cho giai cấp công nhân thế giới quan, phương phápluận trong xem xét sự vận động tất yếu từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội

- Vạch ra cho giai cấp công nhân, các Đảng cộng sản, nhân dân lao động hiểu

rõ vai trò to lớn của hệ tư tưởng của giai cấp công nhân, sự cần thiết phải kiên định

và bảo vệ, phát triển hệ tư tưởng cách mạng và khoa học Chỉ rõ những quy luậtkhách quan, vai trò của con người trong nhận thức những quy luật khách quan ấy

để tiến hành cải biến cách mạng, xây dựng một xã hội mới tốt đẹp hơn

- Tác phẩm tới nay còn nguyên giá trị, giai cấp công nhân và các Đảng cộngsản nói chung, Đảng ta nói riêng cần tiếp tục nghiên cứu vận dụng, làm sâu sắcnhững vấn đề cơ bản của tác phẩm, tiến hành có hiệu quả công tác tư tưởng, lý luậncủa Đảng, công tác chính trị – tư tưởng trong lực lượng vũ trang nhân dân

Trang 13

Tác phẩm TUYÊN NGÔN CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN

C.Mác và Ph-Ăng ghen (1848), Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia,

Hà Nội, 1995, tập 4, tr 591 - 646

Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản do C.Mác và Ph.Ăng ghen soạn thảo đượccông bố trước toàn thế giới Ngày 14 tháng 2 năm 1848, đánh dấu sự ra đời của chủnghĩa Mác bao gồm ba bộ phận hợp thành: Triết học, kinh tế chính trị học và chủnghĩa cộng sản khoa học

Tuyên ngôn của Đảng cộng sản là cương lĩnh chính trị và kim chỉ nam chohành động của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, là ngọn cờ dẫn dắt giaicấp công nhân và nhân dân lao động toàn thế giới đấu tranh chống chủ nghĩa tưbản, giải phóng loài người thoát khỏi mọi áp bức bóc lột, xây dựng một xã hội mới-xã hội xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa

I HOÀN CẢNH LỊCH SỬ RA ĐỜI CỦA TÁC PHẨM

1 Tình hình kinh tế, xã hội Châu Âu những năm giữa thế kỷ XIX

- Những năm giữa thế kỷ XIX, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất cơbản đã hoàn thành ở Châu Âu, cách mạng công nghiệp thúc đẩy phương thức sảnxuất tư bản chủ nghĩa phát triển Tuy nhiên, sự phát triển của phương thức sản xuất

tư bản chủ nghĩa bộc lộ rõ tính hạn chế của nó C.Mác, Ph.Ăng ghen đã phân tích

và đánh giá chính xác, toàn diện về chủ nghĩa tư bản ở Châu Âu, luận giải quá trìnhphát sinh, phát triển mâu thuẫn vốn có trong lòng xã hội tư bản, đồng thời chỉ ramâu thuẫn giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản đã trở nên gay gắt

Cùng với sự phát triển của hình thái kinh tế tư bản chủ nghĩa giai cấp vô sảnhiện đại ra đời và sớm bước lên vũ đài đấu tranh chống lại giai cấp tư sản Nhữngcuộc đấu tranh của giai cấp vô sản trong những năm 30, đầu những năm 40 của thế

kỷ XIX đã cho thấy vai trò và sức mạnh của giai cấp công nhân Tiêu biểu là nhữngcuộc đấu tranh của công nhân dệt ở thành phố Ly-ông (Pháp) năm 1837 với nhữngkhẩu hiệu “Đòi việc làm”, “Cộng hoà hay là chết”; cuộc nổi dậy của công nhân dệtvùng Xilêdi (Đức) năm 1844 với khẩu hiệu “Xoá bỏ chế độ tư hữu, thiết lập chế độcông bằng”; phong trào Hiến chương ở Anh kéo dài 10 năm (1838-1848) với khẩuhiệu “Cải tiến chế độ bầu cử”… Tuy các cuộc đấu tranh đều thất bại, nhưng ý thức

Trang 14

chính trị của giai cấp công nhân đã được xác định Đó là ý thức giành chính quyền,

ý thức xoá bỏ chế độ tư hữu

2 Những trào lưu tư tưởng ảnh hưởng tới phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân những năm giữa thế kỷ XIX

Những năm giữa thế kỷ XIX các trào lưu tư tưởng hình thành đa dạng, phongphú nhưng rất phức tạp Trào lưu tư tưởng ảnh hưởng nhiều nhất đến “liên đoànnhững người chính nghĩa” là : chủ nghĩa xã hội không tưởng của Weiterning; cáctrào lưu tư tưởng ảnh hưởng tới phong trào công nhân là chủ nghĩa xã hội khôngtưởng của Xanh Xi Mông, Xác-Lơ-Puriê, Rô Be Ôoen, tư tưởng của các ông làmột trong những tiền đề lý luận hình thành Học thuyết Mác Điểm tiến bộ trong tưtưởng của các ông là mong muốn xây dựng chế độ công bằng, bác ái (mọi ngườiđều có quyền bình đẳng)

Tuy nhiên, những trào lưu chủ nghĩa xã hội không tưởng có những hạn chế rất cơbản : không giải thích được bản chất thối nát của chế độ đương thời (chế độ tư bản chủnghĩa); chưa vạch ra được quy luật vận động phát triển của xã hội, nhất là từ chủ nghĩa

tư bản lên chủ nghĩa xã hội; chưa nhận thấy vai trò, sứ mệnh lịch sử của giai cấp côngnhân, cho rằng con đường đi tới chế độ công bằng, bình đẳng, bác ái không phải làcách mạng xã hội mà là con đường giáo dục, nêu gương… Những hạn chế này khôngnhững không đáp ứng được yêu cầu cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân mà cònkìm hãm phong trào công nhân, làm lạc hướng mâu thuẫn cơ bản giữa giai cấp tư sản

và giai cấp vô sản, không góp phần thức tỉnh giai cấp công nhân

Sự lớn mạnh của phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân đòi hỏi bức thiếtphải có một hệ thống lý luận khoa học dẫn đường và đẩy lùi ảnh hưởng của các tràolưu tư tưởng khác

3 Tình hình tổ chức cách mạng của giai cấp công nhân

Vào thời kỳ này Châu Âu xuất hiện nhiều tổ chức của giai cấp công nhân,song chưa có tổ chức nào thể hiện rõ tính chất của một tổ chức chính trị Một trongnhững tổ chức được C.Mác quan tâm nhiều hơn là “Liên đoàn những người chínhnghĩa” (thành lập 1836) do Jiô Dép Môn lãnh đạo Đây là một tổ chức mang tínhquốc tế bao gồm những phần tử tiên tiến của giai cấp công nhân ở nhiều quốc gia bịnhà nước tư sản trục xuất ra nước ngoài, sống lưu vong ở nước Pháp “Liên đoàn

Trang 15

những người chính nghĩa” chịu nhiều ảnh hưởng của tư tưởng chủ nghĩa xã hộikhông tưởng Weiterning Tổ chức này mời C.Mác, Ph.Ăng ghen tham gia nhưnghai ông đều từ chối, mặc dù không tham gia nhưng hai ông vẫn thường xuyên traođổi thư từ để từng bước giác ngộ tư tưởng chính trị của ban lãnh đạo Liên đoàn.C.Mác và Ph.Ăng ghen chỉ đồng ý tham gia Liên đoàn với điều kiện: Liên đoàncho phép C.Mác, Ph.Ăng ghen trình bày quan điểm của mình trước đại hội của Liênđoàn Mùa xuân năm 1847 ban lãnh đạo liên đoàn chấp thuận điều kiện do C.Mác vàPh.Ăng ghen nêu ra, C.Mác và Ph.Ăng ghen chính thức tham gia Liên đoàn

Tại Đại hội toàn thể của Liên đoàn (mùa hè năm 1847) C.Mác, Ăng ghen trìnhbày rõ những quan điểm chính trị của mình, Đại hội thảo luận và thừa nhận nhữngquan điểm đó Đại hội đổi tên “Liên đoàn những người chính nghĩa” thành “Liênđoàn những người cộng sản”, đổi khẩu hiệu, chương trình hành động “Tất cả mọingười đều là anh em” thành khẩu hiệu “Vô sản các nước đoàn kết lại” Đại hộithống nhất coi đây là Đại hội I của “Liên đoàn những người cộng sản” và tuyên bốmục đích : “Lật đổ chế độ tư bản chủ nghĩa, xây dựng xã hội mới - xã hội không cógiai cấp” Đại hội giao cho C.Mác, Ph.Ăng ghen soạn thảo Cương lĩnh và Điều lệcủa Liên đoàn

Cuối tháng 11 đầu tháng 12 năm 1847, Đại hội lần thứ hai Liên đoàn nhữngngười cộng sản đã thảo luận và thông qua cương lĩnh, điều lệ của Liên đoàn doC.Mác, Ph.Ăng ghen khởi thảo, đồng thời, trên cơ sở sự nhất trí ấy, C.Mác vàPh.Ăng ghen được Đại hội uỷ nhiệm đã hoàn chỉnh Cương lĩnh của Liên đoàn vàđổi tên thành “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”, ngày 24 tháng 2 năm 1848 Tuyênngôn của Đảng Cộng sản ra đời

Việc tuyên bố Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản đánh dấu sự ra đời của một họcthuyết cách mạng – Học thuyết Mác Lần đầu tiên trong lịch sử loài người thựchiện được cuộc cách mạng tư tưởng với đỉnh cao của trí tuệ, khám phá và hệ thốnghoá những quy luật vận động của tự nhiên, xã hội và tư duy của con người Toàn bộthành tựu trí tuệ của loài người được tổng kết, khái quát Sự ra đời “Tuyên ngôncủa Đảng Cộng sản” đáp ứng những đòi hỏi về tư tưởng, lý luận và thực tiễn củaphong trào công nhân

II TƯ TƯỞNG CHỦ YẾU VÀ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TÁC PHẨM

Trang 16

1 Tư tưởng chủ yếu của tác phẩm

C.Mác và Ph.Ăng ghen luận giải sứ mệnh lịch sử thế giới của giai cấp vô sản,khẳng định giai cấp vô sản chỉ có thể giải phóng mình khi đồng thời phải giảiphóng toàn xã hội, đồng thời chỉ rõ giai cấp vô sản không thể hoàn thành sứ mệnhlịch sử nếu không thành lập được chính đảng của giai cấp Đảng Cộng sản ra đờixuất phát từ vấn đề giai cấp và đấu tranh giai cấp; từ yêu cầu thực hiện sứ mệnhlịch sử thế giới của giai cấp vô sản Đảng là người đưa yếu tố tự giác vào phongtrào công nhân, là người lãnh đạo và tổ chức phong trào đấu tranh của giai cấp côngnhân đến thắng lợi

2 Nội dung cơ bản của tác phẩm

Chương 1 : Tư sản và vô sản

Là chương cơ bản, trọng tâm, là cơ sở C.Mác, Ph.Ăng ghen trình bày cácchương sau C.Mác, Ph.Ăng ghen sử dụng tài tình phép biện chứng duy vật, luậngiải các mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất; giữa cơ sở hạtầng và kiến trúc thượng tầng để xem xét một xã hội cụ thể là hình thái kinh tế tưbản chủ nghĩa với hai lực lượng chủ yếu là giai cấp vô sản và giai cấp tư sản

1 Lịch sử xã hội loài người từ khi phân chia thành giai cấp là lịch sử đấu tranh giai cấp.

C.Mác và Ph.Ăng ghen đã điểm lại các chế độ xã hội có phân chia và đốikháng giai cấp, đồng thời chỉ ra mâu thuẫn cơ bản trong các chế độ xã hội đó là :mâu thuẫn giữa chủ nô với nô lệ trong chế độ chiếm hữu nô lệ; mâu thuẫn giữa địachủ với nông dân trong chế độ phong kiến; mâu thuẫn giữa tư sản với vô sản trongchế độ tư bản chủ nghĩa và khẳng định trong chế độ xã hội có đối kháng giai cấp tấtyếu dẫn đến đấu tranh giai cấp Kết quả của đấu tranh giai cấp ấy dẫn tới một chế

độ xã hội mới thay thế chế độ cũ

C.Mác, Ph.Ăng ghen đi sâu phân tích mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản và giaicấp tư sản trong lòng xã hội tư bản, khẳng định chủ nghĩa tư bản không thể khắcphục được mâu thuẫn đó Bởi, đây là mâu thuẫn bắt nguồn từ bản chất của chế độ

tư bản chủ nghĩa Chủ nghĩa tư bản càng tồn tại và phát triển thì mâu thuẫn ấy càngtrở nên sâu sắc Nội dung cơ bản của sự vận động của lịch sử xã hội tư bản là cuộc

Trang 17

đấu tranh giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản cũng ngày càng trở nên gay gắthơn.

2 Sự hình thành, phát triển và tất yếu diệt vong của giai cấp tư sản

Giai cấp tư sản ra đời từ tầng lớp thị dân, thành phố thời kỳ trung cổ, là nhữngngười trao đổi buôn bán hàng hoá Để buôn bán có lời phải đầu tư sản xuất, đó lànguồn gốc của sự ra đời sản xuất hàng hoá Giai cấp tư sản ra đời phát triển gắnliền với sự phát triển của kinh tế - xã hội theo những nấc thang nhất định

Khi mới ra đời, giai cấp tư sản có vai trò hết sức to lớn trong lịch sử : đã làmcuộc cách mạng lật đổ chế độ phong kiến, giành địa vị thống trị Sau khi giànhđược chính quyền, giai cấp tư sản đã xoá bỏ quan hệ sản xuất phong kiến, thiết lậpquan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển.Chưa đầy một thế kỷ, giai cấp tư sản đã tạo ra bước nhảy vọt lớn về lực lượng sảnxuất, về khả năng sản xuất hàng hoá Giai cấp tư sản đã thiết lập nền dân chủ tưsản, so với chế độ quân chủ thì đó là một tiến bộ trong lịch sử

Tuy nhiên, vốn bản chất là một giai cấp tư hữu và bóc lột, nên vai trò cáchmạng của giai cấp tư sản bị hạn chế ngay từ khi nó ra đời Sự tiến bộ lịch sử củanhững cuộc cách mạng tư sản tạo ra không phải do công lao của riêng giai cấp tưsản, mà trước hết và chủ yếu là do quần chúng nhân dân lao động, đặc biệt khi thiếtlập được quyền thống trị, giai cấp tư sản bóc lột giai cấp công nhân và nhân dân laođộng hết sức tinh vi và xảo quyệt

Xã hội tư bản chứa đựng các tệ nạn xã hội, thất nghiệp, mãi dâm, thực dụngkhông thể khắc phục được Nó tạo ra thứ đạo đức chạy theo đồng tiền, có tiền bằngmọi giá, trả tiền ngay không tình nghĩa Giai cấp tư sản càng đầu tư sản xuất baonhiêu thì mâu thuẫn giai cấp càng sâu sắc bấy nhiêu C.Mác kết luận, với bản chấtgiai cấp tư sản thì giai cấp tư sản không những đã rèn vũ khí để giết mình, nó còn tạo

ra những người sử dụng vũ khí ấy - những công nhân hiện đại, những người vô sản

3 Sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản và sự ra đời của Đảng cộng sản

Bằng phương pháp tư duy biện chứng, C.Mác và Ph.Ăng ghen đã chứng minhmột cách khoa học về sự diệt vong không thể tránh khỏi của chủ nghĩa tư bản, vềtính tất yếu của sự quá độ từ chủ nghĩa tư bản sang một hình thái kinh tế - xã hộicao hơn đó là chủ nghĩa cộng sản Hai ông chỉ ra rằng bước quá độ đó diễn ra

Trang 18

không phải tự phát mà phải bằng con đường cách mạng lật đổ sự thống trị của giaicấp tư sản và xoá bỏ các quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa C.Mác và Ph.Ăng ghen

đã phát hiện ra lực lượng xã hội có khả năng thực hiện bước quá độ đó là giai cấpcông nhân Giai cấp vô sản hiện đại là người có sứ mệnh lịch sử đào huyệt chônchủ nghĩa tư bản và xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn - chế độ xã hội chủ nghĩa,cộng sản chủ nghĩa Sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản do địa vị kinh tế - xã hộicủa giai cấp vô sản quy định

Theo C.Mác và Ph.Ăng ghen, giai cấp công nhân là giai cấp tiêu biểu cho lựclượng sản xuất tiến bộ nhất, là giai cấp được rèn luyện trong nền sản xuất đại côngnghiệp, là sản phẩm của chính bản thân nền đại công nghiệp, cho nên giai cấp côngnhân là giai cấp tiên tiến nhất, có tinh thần triệt để cách mạng nhất, có khả nănghành động cách mạng kiên quyết nhất, có tính tổ chức và kỷ luật cao nhất, là giaicấp duy nhất đóng vai trò lãnh đạo cách mạng C.Mác, Ph.Ăng ghen chỉ rõ : “Trongtất cả các giai cấp hiện đang đối lập với giai cấp tư sản, thì chỉ có giai cấp vô sản làgiai cấp thực sự cách mạng Các giai cấp khác đều suy tàn và tiêu vong với sự pháttriển của đại công nghiệp giai cấp vô sản thì trái lại là sản phẩm của bản thân đạicông nghiệp (1 ) Sđd.tr.610

Tuy nhiên, để thực hiện được sứ mệnh lịch sử đó thì điều kiện tiên quyết là giaicấp công nhân phải tổ chức ra chính đảng độc lập của mình Vì chỉ khi nào giai cấp vôsản tổ chức được chính đảng chính trị độc lập của mình, thì khi đó cuộc đấu tranh củagiai cấp công nhân mới chuyển từ đấu tranh tự phát sang đấu tranh tự giác, có tổ chức,

có lãnh đạo C.Mác, Ph.Ăng ghen khẳng định : Trong cuộc đấu tranh của mình, chốngquyền lực liên hợp của các giai cấp của nó, giai cấp công nhân chỉ khi được tổ chứcthành một chính đảng độc lập đối lập với tất cả các chính đảng cũ do các giai cấp của

nó lập nên, thì mới có thể hành động với tư cách là một giai cấp

Chính vai trò sứ mệnh lịch sử toàn thế giới và địa vị lãnh đạo của giai cấpcông nhân quyết định tính tất yếu khách quan và sự cần thiết phải thành lập chínhđảng cách mạng của giai cấp vô sản, đó là điều kiện tiên quyết bảo đảm cho cuộcđấu tranh của giai cấp vô sản đi đến thắng lợi hoàn toàn

Chương 2 : Những người vô sản và những người cộng sản

Trang 19

1 Mối quan hệ giữa Đảng cộng sản và giai cấp vô sản; tính tiên phong của Đảng.

Vô sản phải đi tới cộng sản đó là biện chứng của sự phát triển Đảng không phải làcái gì khác mà là hiện thân của giai cấp đã tự giác Khi giai cấp công nhân pháttriển đến tự giác thì xuất hiện lãnh tụ chính trị Đảng Cộng sản ra đời là nhân tố cơbản bảo đảm cho giai cấp công nhân, phong trào công nhân phát triển cao

Đảng Cộng sản là một bộ phận không tách rời giai cấp vô sản C.Mác vàPh.Ăng ghen cho rằng, Đảng cộng sản phải thể hiện tính vô sản rõ rệt, là Đảngmang bản chất giai cấp vô sản, Đảng luôn đứng vững trên lập trường của giai cấp

vô sản để xem xét giải quyết mọi vấn đề Cương lĩnh, đường lối, chiến lược, sáchlược của Đảng phải luôn xuất phát từ lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dânlao động “Họ tuyệt nhiên không có một lợi ích nào tách khỏi lợi ích của toàn thểgiai cấp vô sản” (1) Sđd.tr.614 Mục tiêu lý tưởng của Đảng là của giai cấp công nhân,

đó là xoá bỏ chế độ tư hữu, xây dựng chế độ công hữu

Tuy nhiên, C.Mác và Ph.Ăng ghen cũng chỉ rõ sự khác nhau giữa Đảng Cộngsản với bộ phận còn lại của giai cấp vô sản ở chỗ: Đảng là lãnh tụ chính trị, là độitiên phong, bộ tham mưu chiến đấu của giai cấp, là những người ưu tú nhất, giácngộ cách mạng nhất của giai cấp Đảng tiên phong cả về lý luận và thực tiễn : “Vềmặt lý luận họ hơn bộ phận còn lại của giai cấp vô sản ở chỗ họ hiểu rõ những điềukiện, tiến trình và kết quả chung của phong trào vô sản” (2) Sđd tr.614-615, “Về mặtthực tiễn, những người cộng sản là bộ phận kiên quyết nhất trong các Đảng côngnhân ở tất cả các nước, là bộ phận luôn thúc đẩy phong trào công nhân tiến lên”.Vai trò tiên phong của Đảng bảo đảm cho Đảng tập hợp được giai cấp vô sản vàquần chúng nhân dân lao động Sự lãnh đạo của Đảng là điều kiện tiên quyết chogiai cấp vô sản hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình

2 Mục đích, nhiệm vụ và chiến lược, sách lược của Đảng cộng sản

Mục đích cuối cùng của Đảng cộng sản là xây dựng thành công chủ nghĩa xãhội, chủ nghĩa cộng sản Để thực hiện mục đích ấy thì Đảng Cộng sản phải tiếnhành hai giai đoạn :

Giai đoạn thứ nhất, tổ chức những người vô sản thành giai cấp, tuyên truyền

giác ngộ giai cấp vô sản, tổ chức họ thành lực lượng cách mạng thực sự Tiến hành

Trang 20

cách mạng vô sản giành chính quyền, thiết lập, sử dụng chuyên chính vô sản nhưmột công cụ có hiệu lực cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới Để thực hiện mụctiêu này, phải dùng bạo lực cách mạng, tổ chức lại lao động xã hội, xoá bỏ quan hệsản xuất cũ, thiết lập quan hệ sản xuất mới, đẩy mạnh phát triển sản xuất, nâng caotrình độ khoa học kỹ thuật…

Giai đoạn thứ hai, C.Mác, Ph.Ăng ghen không nói cụ thể, nhưng đã chỉ ra

những thuộc tính cơ bản của xã hội trong tương lai - đó là xã hội không còn giaicấp, không còn nhà nước, mối quan hệ giữa người với người là bình đẳng, có sự kếthợp hài hoà, thống nhất lợi ích cá nhân và lợi ích toàn xã hội, mọi người được làmchủ bản thân, làm chủ xã hội, tự nhiên Trong xã hội ấy, mọi người có điều kiệnphát triển toàn diện Tính chất của cuộc cách mạng vô sản là cuộc cách mạng sâusắc, toàn diện, triệt để về kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hoá, xã hội…

3 C.Mác và Ph.Ăng ghen phê phán sự vu khống của giai cấp tư sản đối với những người cộng sản trên một số vấn đề như :

Vấn đề sở hữu :

C.Mác, Ph.Ăng ghen phê phán giai cấp tư sản khi họ cho rằng : Những ngườicộng sản xóa bỏ cái riêng của cá nhân Hai ông khẳng định những người cộng sảnkhông xoá bỏ sở hữu nói chung mà chỉ xoá bỏ sở hữu tư bản, xoá bỏ chế độ tư hữu

tư nhân Bởi dưới chủ nghĩa tư bản người sở hữu thì không lao động, người laođộng thì không được quyền sở hữu, xã hội vận động trong hai cực đối lập ấy, chỉ cóxoá bỏ chế độ tư hữu thì mới giải quyết được sự đối lập trong xã hội, làm cho xãhội phát triển

Chế độ gia đình : C.Mác, Ph.Ăng ghen phê phán giai cấp tư sản vu khống

những người cộng sản thực hiện chế độ cộng thê, cộng vợ, cộng chồng, nên phảixoá bỏ chế độ gia đình Hai ông đã khẳng định những người cộng sản không xoá bỏgia đình nói chung mà chủ trương xoá bỏ gia đình tư sản, thứ quan hệ gia đình dựatrên tư bản, lợi nhuận cá nhân nhà tư sản, người phụ nữ bị coi như một công cụ sảnxuất, kéo theo nạn mại dâm chính thức và không chính thức Giai cấp tư sản đã chàđạp, phá vỡ bao nhiêu gia đình công nhân

Vấn đề tổ quốc : C.Mác và Ph.Ăng ghen chỉ rõ : dưới chủ nghĩa tư bản, giai

cấp tư sản đã nắm quyền đại diện cho tổ quốc, dân tộc Lợi ích của tổ quốc và dân

Trang 21

tộc cơ bản là lợi ích của giai cấp tư sản Do đó, người cộng sản phải xoá Tổ quốc tưsản

Vấn đề dân tộc : C.Mác, Ph.Ăng ghen cho rằng : do sự phát triển lực lượng

sản xuất, khoa học kỹ thuật, làm cho các dân tộc giao lưu, hoà quện vào nhau, vấn

đề dân tộc thực chất là vấn đề giai cấp

Vấn đề tôn giáo : C.Mác và Ph.Ăng ghen khẳng định : tư tưởng thống trị

trong xã hội bao giờ cũng là tư tưởng của giai cấp thống trị và chỉ rõ : “Cách mạngcộng sản chủ nghĩa là sự đoạn tuyệt triệt để nhất với những quan hệ sở hữu kế thừacủa quá khứ, không có gì đáng ngạc nhiên khi thấy rằng trong tiến trình phát triểncủa nó, nó đoạn tuyệt một cách triệt để nhất với những tư tưởng kế thừa của quákhứ” (1) Sđd.tr.626

Chương 3 : Văn học xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa

C.Mác và Ph.Ăng ghen xác định thái độ cụ thể đối với từng trào lưu tư tưởng

xã hội phi vô sản trước đó : phê phán trào lưu chủ nghĩa xã hội phản động củaphong kiến, tiểu tư sản; phân tích sâu sắc chủ nghĩa xã hội bảo thủ tiểu tư sản.Đồng thời, đánh giá thích đáng chủ nghĩa xã hội không tưởng, cho rằng, mặc dùcòn đầy chất ảo tưởng, không thực hiện được trong thực tế, nhưng chủ nghĩa xã hộikhông tưởng là một trong ba nguồn gốc lý luận của chủ nghĩa xã hội khoa học.C.Mác và Ph.Ăng ghen khẳng định : tất cả các trào lưu xã hội chủ nghĩa phi vô sảnđều là trở ngại cho việc ra đời của chính Đảng cách mạng của giai cấp công nhân,Hai ông phê phán những trào lưu tư tưởng đó, nhằm bảo đảm cho việc truyền báhọc thuyết của chủ nghĩa xã hội khoa học vào phong trào công nhân

Chương 4 : Thái độ của những người cộng sản đối với các Đảng đối lập.

Chương này C.Mác và Ph.Ăng ghen khẳng định lập trường kiên định của Đảngcộng sản về những vấn đề chiến lược và sách lược của Đảng Nguyên tắc có ý nghĩachiến lược của người cộng sản là: Chiến đấu cho mục đích trước mắt của giai cấp vôsản và đại biểu cho tương lai của phong trào Đây là vấn đề có ý nghĩa chiến lược thểhiện lập trường triệt để cách mạng và sách lược mền dẻo của Đảng cộng sản

Trang 22

Xuất phát từ thực tế lịch sử của nước Đức và một số nước ở châu Âu, nhữngmục đích và lợi ích trước mắt của giai cấp vô sản lúc bấy giờ là đấu tranh đánh đổchế độ quân chủ chuyên chế, thực hiện quyền tự do, dân chủ, còn tương lại củaphong trào là phải đấu tranh chống lại ách áp bức bóc lột của giai cấp tư sản.C.Mác và Ph.Ăng ghen cũng chỉ rõ : ở tất cả các nước, những người cộng sản ủng

hộ mọi phong trào cách mạng và trong những phong trào ấy, họ vẫn đưa vấn đề sởhữu lên hàng đầu, coi đó là vấn đề cơ bản của phong trào

Trong khi liên hợp với các đảng phái để chống lại thế lực phản động đangthống trị, Đảng cộng sản xác định rằng: liên minh với các đảng phái khác trong cuộcđấu tranh chống giai cấp tư sản, nhưng bao giờ đảng cộng sản cũng phải có đấutranh, phải giữ vững nguyên tắc, giữ vững lập trường của giai cấp công nhân, Đảngcộng sản tuyên bố quan điểm cách mạng không ngừng, mục đích của họ chỉ có thểđạt được bằng cách dùng bạo lực cách mạng lật đổ toàn bộ xã hội hiện có Trongcuộc cách mạng ấy, những người vô sản chẳng mất gì hết, ngoài những xiềng xíchtrói buộc họ Trong cuộc cách mạng ấy, họ giành cả thế giới cho mình “Vô sản tất cảcác nước, đoàn kết lại” là khẩu hiệu chiến đấu công khai của phong trào vô sản

III Ý NGHĨA CỦA TÁC PHẨM

Tuyên ngôn của Đảng cộng sản đánh dấu sự ra đời của chủ nghĩa Mác làcương lĩnh chính trị của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế Sự ra đời củaTuyên ngôn của Đảng Cộng sản và ảnh hưởng của Tuyên ngôn đã chấm dứt thời kỳkhủng hoảng về đường lối và lực lượng lãnh đạo, đáp ứng kịp thời đòi hỏi củaphong trào đấu tranh của giai cấp công nhân chống giai cấp tư sản

Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản đặt nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam chotoàn bộ phong trào cộng sản và công nhân quốc tế

Dưới ánh sáng của Tuyên ngôn phong trào cộng sản và công nhân quốc tế cóbước phát triển mạnh mẽ, nhiều Đảng Cộng sản ra đời đòi lãnh đạo cuộc đấu tranh củagiai cấp công nhân giành thắng lợi Học thuyết Mác đã soi rọi cho cuộc Cách mạngTháng Mười Nga thành công, tiếp đó hàng loạt các nước xã hội chủ nghĩa ra đời.Những tư tưởng của Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản là những chỉ dẫn hết sứcquan trọng, có ý nghĩa thiết thực trong công tác xây dựng và hoạt động của ĐảngCộng sản

Trang 23

Từ khi thành lập đến nay, Đảng ta đều luôn khẳng định : Sự lãnh đạo củaĐảng là điều kiện quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Đồng thời, khôngngừng nâng cao bản chất giai cấp công nhân của Đảng, bảo đảm cho Đảng có nănglực lãnh đạo và sức chiến đấu ngang tầm với đòi hỏi của nhiệm vụ chính trị.

Hiện nay, trước sự phát triển của tình hình nhiệm vụ cách mạng, vai trò lãnhđạo của Đảng ngày càng tăng, quyết định đến bản chất của chế độ xã hội– xã hộichủ nghĩa, quyết định đến thành công của sự nghiệp đổi mới, sự nghiệp côngnghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, góp phần xây dựng chủ nghĩa xã hội đặt ra hết sứcnặng nề cho quân đội Để đảm bảo cho quân đội thực sự là lực lượng chính trị tincậy, đội quân chiến đấu trung thành của Đảng, Tổ quốc và nhân dân thì Đảng phảigiữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với quânđội

C.Mác và Ph.Ăng ghen (1875) toàn tập, Nxb CTQG.H.1995,

số 18 năm 1891 cùng với lời tựa của Ph.Ăng ghen

I HOÀN CẢNH LỊCH SỬ RA ĐỜI CỦA TÁC PHẨM

Giữa cuối thế kỷ XIX học thuyết Mác được truyền bá rộng rãi, đã giúp chochính đảng của giai cấp công nhân ở các nước giành được thắng lợi Sự thắng lợicủa chủ nghĩa Mác trong lĩnh vực lý luận đã buộc kẻ thù phải đội lốt Mác xít đểchống chủ nghĩa Mác, chủ nghĩa cơ hội đã xuất hiện từ trong nội bộ của Đảng Dânchủ - xã hội

Trang 24

C.Mác đã có nhiều công lao để thành lập chính đảng cách mạng của giai cấpcông nhân ở nhiều nước, trước tiên là ở Đức Vào những năm 60 và đầu nhữngnăm 70 của thế kỷ XIX, ở Đức có hai tổ chức chính trị của công nhân Một lấy tên

là "Tổng hội liên hiệp công nhân Đức" thành lập 1863 do Phéc đi Năng Látxan lãnhđạo và "Đảng dân chủ - xã hội Đức" thành lập 1869 còn gọi là Đảng Ai-dơ-nắc (Ai-dơ-nắc là tên địa danh nơi thành lập Đảng dân chủ - xã hội Đức) do Líp-nếch vàBêben lãnh đạo Cả hai tổ chức trên đều tuyên bố đi theo chủ nghĩa Mác và dựatrên lập trường của Quốc tế 1

Sau khi cuộc chiến tranh Pháp - Phổ kết thúc (1870), nước Đức thống nhất, sựphát triển của công nghiệp làm cho công nhân Đức không ngừng lớn mạnh trênphạm vi cả nước Tuy nhiên, phong trào công nhân Đức lúc đó còn phân tán Vì thế,vấn đề thống nhất hai tổ chức của giai cấp công nhân Đức được đặt ra

C.Mác là người hiểu rõ những hạn chế và khuynh hướng tư tưởng của hai tổchức này, nhất là tư tưởng của những người lãnh đạo trong "Tổng hội liên hiệpcông nhân Đức" C.Mác đã nhắc nhở các nhà lãnh đạo Ai-dơ-nắc chớ nóng vội liênhiệp hoặc hợp nhất, bởi chủ nghĩa Látxan là chủ nghĩa xã hội tiểu tư sản, mang tínhchất cải lương, thoả hiệp Cương lĩnh chính trị của phái Látxan là chống lại chủnghĩa Mác, phản bội lại lợi ích của giai cấp công nhân

C.Mác khuyên những nhà lãnh đạo Đảng Ai-dơ-nắc nên thống nhất phong tràocông nhân từ dưới lên, làm cho phái Látxan bị cô lập trong quần chúng nhân dân,hoặc nếu đồng ý hợp nhất thì yêu cầu phái Lát-xan phải dựa trên những nguyên tắccủa chủ nghĩa xã hội khoa học Nhưng, Líp-nếch không những không theo ý kiến

đề xuất của C.Mác mà còn đóng vai trò người chủ chốt thảo ra bản cương lĩnh hợpnhất hai tổ chức này Khi viết xong bản thảo, Líp-nếch gửi đến và xin ý kiến củaC.Mác Đọc bản dự thảo cương lĩnh, C.Mác rất bất bình trước sự phản bội cácnguyên tắc của chủ nghĩa xã hội khoa học được thể hiện trong cương lĩnh

Đảng Ai-dơ-nắc đứng đầu là Líp-nếch đã nhường bộ trước phái Látxan mộtcách vô nguyên tắc C.Mác đã biên chú vào lề để phê phán từng phần của cươnglĩnh, chính thức gọi là "phê phán cương lĩnh Gôta" Mặc dù vậy, lãnh đạo của

“Tổng hội liên hiệp công nhân Đức” và “Đảng dân chủ - xã hội Đức” không tiếpthu lời phê phán của C.Mác Họ giữ nguyên bản dự thảo và đã thông qua cương

Trang 25

lĩnh dự thảo này tại Hội nghị hợp nhất được diễn ra ở Gôta tháng 5 năm 1875 Đó

là một cương lĩnh chịu nhiều ảnh hưởng quan điểm của Látxan, vì thế sẽ rất có hạicho phong trào công nhân Đức Chính sự thoả hiệp này đã trở thành một trongnhững nguyên nhân của sự thoái hoá, biến chất của Đảng Dân chủ- xã hội Đức vàlàm nảy sinh chủ nghĩa cơ hội

Mục đích viết tác phẩm :

Mác phê phán những sai lầm thoả hiệp, hữu khuynh vô nguyên tắc của nhữngngười lãnh đạo Đảng Dân chủ-xã hội Đức, vạch trần bản chất cơ hội, cải lương củaphái Látxan C.Mác viết : "Nghĩa vụ của tôi là không được thừa nhận, dù là bằngmột sự im lặng ngoại giao đi nữa, một cương lĩnh mà tôi tin chắc là hoàn toàn vôdụng và đang làm cho Đảng bị mất tinh thần" (1)

II TƯ TƯỞNG CHỦ YẾU VÀ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TÁC PHẨM

1 Tư tưởng chủ yếu của tác phẩm

Tác phẩm gồm những lời nhận xét của C.Mác đối với bản cương lĩnh củaĐảng Dân chủ-xã hội Đức và thư của C.Mác gửi B.Rắc-cơ ngày 5 tháng 5 năm

1875 với nội dung : C.Mác phê phán về nguyên lý lý luận và chính trị trong cươnglĩnh Gôta là chịu ảnh hưởng của phái Látxan và phát triển những vấn đề cơ bản về

lý luận chủ nghĩa cộng sản khoa học mà các tác phẩm trước đó chưa đề cập đến

2 Nội dung cơ bản của tác phẩm

a Phê phán của C.Mác về những nguyên lý lý luận và chính trị của phái Látxan

* Phê phán cái gọi là "Quy luật sắt về tiền công"

C.Mác phê phán những người thảo ra “Cương lĩnh Gôta” đã thừa nhận mộtcách sai lầm cái gọi là “quy luật sắt về tiền công” của phái Látxan Theo C.Mác,Látxan dựa vào thuyết nhân khẩu thừa của Mantuýt cho rằng, dân số trong xã hộibao giờ cũng thừa, tư liệu sinh hoạt tăng lên chậm hơn mức tăng của nhân khẩu, do

đó : chỉ có thể được tiền công với mức thấp nhất và tự gọi đây là "Quy luật sắt vềtiền công" C.Mác khẳng định Látxan bịa ra và thừa nhận cái “quy luật sắt” ấy là cóthật chứ không phải có quy luật sắt của kinh tế tư bản chủ nghĩa như vậy C.Máccòn chỉ rõ : "Látxan không hiểu tiền công là gì và theo đuôi những nhà kinh tế học

tư sản, ông đã lấy biểu hiện bên ngoài làm bản chất của sự vật" (2) Cương lĩnh

Trang 26

Gôta nêu rõ rằng, chính đảng của công nhân phải xoá bỏ hệ thống tiền công theo

"quy luật sắt của tiền công", như vậy có nghĩa là : cương lĩnh của Đảng đã tiếp thuquan điểm của Látxan và đồng thời lại công nhận luôn cả thuyết "nhân khẩu thừa"của Mantuýt

(1), (2) Sđd.tr.24, tr.43

Luận điểm “quy luật sắt về tiền công” của phái Látxan là một luận điểm phảnđộng về chính trị, vì nó không đúng sự thật, nó che đậy bản chất bóc lột của giai cấp tưsản Theo C.Mác, nếu quy luật ấy có thực thì người ta cũng không thể xoá bỏ nó được

Vì vậy, quy luật này có tồn tại hay không thì việc đề ra yêu sách trong cương lĩnh đòixoá quy luật cũng vẫn là sai Trong bộ Tư bản, C.Mác đã chỉ ra rằng, tiền công là hìnhthức biểu hiện giá trị hay giá cả của sức lao động, cái quyết định con số thực tế củatiền công là do ở mỗi tình hình cụ thể, do ở nhiều điều kiện, chứ không phải là do ở

“quy luật sắt” nào cả Học thuyết về giá trị thặng dư của C.Mác đã bóc trần nguồn gốc

và thực chất của sự bần cùng hoá giai cấp công nhân trong điều kiện chủ nghĩa tư bản,

do đó đã đập tan cả thuyết “nhân khẩu thừa” của Mantuýt

Theo học thuyết giá trị thặng dư của C.Mác, muốn xoá bỏ hệ thống tiền côngcần xoá bỏ lao động làm thuê, như thế có nghĩa là phải xoá bỏ hệ thống kinh tế tưbản chủ nghĩa Vì vậy, việc xoá bỏ tiền công được đề ra như một điều chủ yếu vàđộc lập là không đúng Cho nên, đưa ra cái gọi là “quy luật sắt” vào trong cươnglĩnh của Đảng tức là đã phản lại lý luận chủ nghĩa cộng sản khoa học

C.Mác phê phán và chỉ trích những người lãnh đạo Đảng Dân chủ-xã hội Đức đãtụt lùi trước những điều ngu xuẩn của phái Látxan C.Mác chỉ ra rằng: vấn đề khôngphải là tiêu diệt hay không cái “quy luật sắt” sai lầm đó, mà là tiêu diệt chế độ tư bảnchủ nghĩa đề ra chế độ tiền công thảm hại ấy, đó là mục tiêu của cách mạng

* Phê phán yêu sách kinh tế ghi trong cương lĩnh là thực hiện "phân phối công bằng" là đòi sản phẩm mà lao động thuộc về mọi thành viên trong xã hội

Theo C.Mác, cái gọi là “Thu nhập do lao động đem lại là thuộc về tất cả mọithành viên trong xã hội một cách không bị cắt xén, theo những quyền ngang nhau”

(1 ), lập luận đó là yêu sách bông lông, rỗng tuếch, đó là câu nói của những ngườidốt đặc về khoa kinh tế học C.Mác đặt vấn đề thu nhập của lao động là thuộc về tất

cả mọi thành viên trong xã hội một cách không bị cắt xén và theo những quyền

Trang 27

ngang nhau thuộc về tất cả mọi thành viên trong xã hội" ư ? kể cả những kẻ khônglao động ư ? thế thì còn đâu là cái "thu nhập không bị cắt xén của lao động" nữa ?

Nó chỉ thuộc về những thành viên có lao động trong xã hội thôi ư ? thế thì cái

"quyền ngang nhau" của tất cả mọi thành viên trong xã hội sẽ ra sao ? C.Mác giảthuyết : theo cách nói của họ, nếu mọi thành viên trong xã hội đều hưởng theoquyền lợi bình đẳng, đều nhận được sự thu nhập "toàn vẹn" Thế thì kẻ không laođộng cũng được hưởng thu nhập Đó là phi lý, C.Mác vạch rõ: "Nếu kẻ nào tự mìnhkhông lao động thì kẻ đó sống nhờ vào lao động của người khác" (2 ) Chỉ riêngđiều đó cũng đã làm cho thu nhập của người lao động bị khấu trừ rồi, như vậy thìcòn đâu là cái "thu nhập không bị cắt xén của lao động" (3 ) và nếu chỉ có những

người lao động mới được hưởng thu nhập thì làm sao có thể nói được mọi thành

viên trong xã hội đều có "quyền bình đẳng"

C.Mác khẳng định : "Trong xã hội hiện nay tư liệu lao động là độc quyền củagiai cấp các nhà tư bản, tình trạng lệ thuộc, do tình hình đó đẻ ra, của giai cấp côngnhân là nguyên nhân của cảnh khốn cùng và cảnh nô dịch dưới tất cả các hình thứccủa nó" (4) Chính vì thế, trong bản Cương lĩnh đã tự mâu thuẫn lô gích

(1), (2), (3) (4) Sđd.tr.26, tr.27, tr.31, tr.29

C.Mác cho rằng : Phương thức phân phối bao giờ cũng do phương thức sảnxuất, do trình độ sản xuất quyết định Ngay trong xã hội cộng sản chủ nghĩa tươnglai cũng không thể nào có cái thu nhập gọi là "toàn vẹn của lao động", không bịchia cắt Trước khi phân phối số sản phẩm cần thiết thoả mãn nhu cầu cá nhân chomọi người, thì xã hội cũng cần phải có khấu trừ một bộ phận để bù đắp các khoản :hao mòn tư liệu sản xuất, dùng cho tái sản xuất, dùng quỹ bảo hiểm đề phòng tainạn, dùng chi tiêu cho trường học, cho công cuộc bảo đảm sức khoẻ, dùng làm quỹnuôi những người không có khả năng lao động, chi tiêu xây dựng quốc phòng Chỉsau khi khấu trừ những khoản đó, phần còn lại mới có thể đem phân phối cho mọi

cá nhân

Như vậy, trong tác phẩm này, C.Mác đã phê phán yêu sách kinh tế của chủnghĩa Látxan mà cương lĩnh Gôta đã đưa vào và vạch ra rằng, yêu sách này là dựatrên cơ sở của kinh tế học tư sản, nó cắt rời giữa phân phối với sản xuất

* Phê phán Cương lĩnh Gôta phản bội chủ nghĩa quốc tế của giai cấp vô sản

Trang 28

C.Mác không phủ định yếu tố dân tộc trong chủ nghĩa xã hội, nhưng Ông phêphán cương lĩnh Gôta đã quá sa vào “chủ nghĩa xã hội dân tộc” C.Mác chỉ rõ :

“Phái Látxan đã đứng trên một quan điểm dân tộc hết sức hẹp hòi để xem xétphong trào công nhân” (1) Đồng thời, Ông phê phán bọn quý tộc tư sản Đức đanglợi dụng chủ nghĩa dân tộc của Látxan để bắt giai cấp công nhân phục tùng quyềnlợi và yêu cầu của giai cấp tư sản

Theo C.Mác : Giữa giai cấp công nhân với tư cách là một giai cấp, phải tự tổchức lại ở trong nước họ và vũ đài trực tiếp của cuộc đấu tranh của họ là ở trongnước Chính vì thế mà cuộc đấu tranh giai cấp của họ có tính chất dân tộc, khôngphải về mặt nội dung của nó, mà là về mặt hình thức của nó như Tuyên ngôn cộngsản đã đề cập C.Mác chỉ ra : Đảng công nhân Đức thì thu hẹp chủ nghĩa quốc tếcủa họ thành sự nhận thức rằng kết quả của những sự cố gắng của họ sẽ là "tìnhhữu nghị quốc tế giữa các dân tộc : “Còn những chức năng quốc tế của giai cấpcông nhân Đức thì không có một lời nào nói tới" (2)

C.Mác khẳng định giai cấp vô sản có nghĩa vụ quốc tế và nhấn mạnh :

“Hoạt động quốc tế của giai cấp công nhân các nước tuyệt nhiên không tuỳthuộc ở sự tồn tại của "Hội liên hiệp lao động quốc tế" Hội này chỉ là mưu toanđầu tiên để đem lại cho hoạt động quốc tế một cơ quan trung ương, một mưu toan

đã để lại kết quả không thể xoá nhoà được vì sức thúc đẩy của nó nhưng dưới cáidạng lịch sử đầu tiên của nó sau khi công xã Pari thất bại thì nó không thể tiếp tụclâu hơn nữa” (3)

* Phê phán quan điểm của phái Látxan cho rằng : “Ngoài giai cấp vô sản ra, hết thảy mọi giai cấp khác chỉ là một khối phản động”.

C.Mác đã nhắc lại, "Tuyên ngôn của Đảng cộng sản", có ghi : trong tất cả cácgiai cấp hiện đang đối lập với giai cấp tư sản, thì chỉ có giai cấp vô sản là giai cấpthực sự cách mạng Tất cả các giai cấp khác đều suy tàn và tiêu vong với sự phát

Trang 29

cuốn "Tuyên ngôn" một cách thô bỉ như thế vì đó chỉ là để biện hộ cho sự liên minhcủa ông ta với những kẻ thù chuyên chế và phong kiến chống giai cấp tư sản (1).C.Mác lý giải phái Látxan cho rằng : "Việc giải phóng lao động phải là sựnghiệp của giai cấp công nhân, đối với giai cấp công nhân tất cả các giai cấp khácchỉ gộp thành một khối phản động (2) thì đó là một điều phi lý Thực chất quan điểmLátxan đòi phủ định khả năng tham gia cách mạng của giai cấp nông dân và tiểu tưsản; phủ nhận một vấn đề chiến lược của cách mạng vô sản là vấn đề bạn đồngminh tạm thời và lâu dài của giai cấp vô sản, đã đẩy giai cấp vô sản vào thế bị côlập, điều đó chỉ có lợi cho giai cấp bóc lột.

C.Mác phê phán phái Látxan đưa ra yêu sách : Tổ chức những "Hợp tác xã sảnxuất" của công nhân do nhà nước giúp đỡ C.Mác cho rằng : Đề ra yêu sách nàymục đích làm cho phong trào công nhân quay về hoạt động bè phái, thay thế đấutranh giai cấp bằng những hoạt động bè phái, làm cho phong trào công nhân đi vàothế cô lập trước mặt kẻ thù giai cấp Theo C.Mác, nói rằng những người lao độngmuốn xây dựng những điều kiện sản xuất tập thể theo quy mô xã hội và trước hếttheo quy mô dân tộc, điều đó chỉ có nghĩa là: họ cố gắng tìm cách lật đổ những điềukiện sản xuất hiện nay và việc đó không liên quan gì tới việc thành lập những hợptác xã do nhà nước giúp đỡ Lập luận của Látxan và quan điểm phủ định liên minhcông-nông của bọn cơ hội chủ nghĩa trong Quốc tế II có mối liên hệ tư tưởng rất rõràng, cho nên phê phán của C.Mác đối với chủ nghĩa Látxan trên vấn đề này đãvạch ra đường lối cơ bản cho việc phê phán chủ nghĩa cơ hội sau này trong phongtrào cộng sản quốc tế

* Phê phán quan điểm về nhà nước trong cương lĩnh Gôta.

C.Mác phê phán : Cương lĩnh Gôta nêu lên cái gọi là : "Nhà nước tự do", chorằng : "Đảng công nhân Đức dùng mọi thủ đoạn hợp pháp để đấu tranh thành lậpmột nhà nước tự do và xã hội, xã hội chủ nghĩa" (3) Đây là một quan điểm phảnđộng, hòng phủ định nguyên lý của C.Mác về sự cần thiết phải thiết lập chuyênchính vô sản, cương lĩnh không đả động gì đến chuyên chính vô sản

C.Mác khẳng định : “Làm cho nhà nước tự do - đó quyết không phải là mụcđích của những người công nhân” ( 4 ) Ông phê phán : Đảng công nhân Đức chưathấm nhuần tư tưởng xã hội chủ nghĩa, coi nhà nước Đức là một thực thể độc lập,

Trang 30

có những "cơ sở tinh thần, đạo đức và tự do riêng" “Đem thuyết nhà nước tự dothay cho học thuyết về chuyên chính vô sản của C.Mác là đem thay thế yêu sách xãhội chủ nghĩa bằng yêu sách dân chủ tư sản và mang dấu ấn màu sắc của chủ nghĩaLátxan C.Mác, Ph.Ăng ghen đã phê phán thuyết “Nhà nước tự do” cho rằng, mụcđích của chủ nghĩa cộng sản không phải là cái gì chung chung gọi là “Nhà nước tựdo” mà là tiêu diệt mọi nhà nước.

(1), (2), (3), ( 4) Sđd tr.39, tr.37, tr.41, tr.46

Nói “Nhà nước tự do” nghĩa là muốn nhà nước tồn tại mãi mãi và trong thực tế

là sùng bái nhà nước đương thời Hơn nữa, “Nhà nước tự do” là gì ? và đối với ai

để nói nhà nước tự do ? Giai cấp vô sản cần nhà nước không phải là vì để tự do, mà

là để trấn áp giai cấp bóc lột, vậy yêu sách “Nhà nước tự do” cũng là rỗng tuếch.Cương lĩnh Gôta không hề nhắc tới việc tiêu diệt nhà nước tư sản Như vậy, thực tếvấn đề chỉ là cải thiện nhà nước đương thời mà thôi Cương lĩnh thể hiện quan niệm

về tính siêu giai cấp của nhà nước, do đó có thể dựa vào nhà nước của giai cấp bóclột để tổ chức chủ nghĩa xã hội (lập các hợp tác xã do nhà nước Phổ giúp đỡ để xâydựng chủ nghĩa xã hội)

Chủ nghĩa Látxan không đưa ra một chút gì về yêu sách xã hội chủ nghĩa màchỉ đem yêu sách có tính chất dân chủ tư sản thay cho yêu sách dân chủ xã hội chủnghĩa C.Mác khẳng định : Phải qua cách mạng, đập tan nhà nước của giai cấp bóclột và lập nền chuyên chính vô sản để đi tới chủ nghĩa cộng sản Giai cấp vô sảnphải thiết lập nhà nước chuyên chính vô sản là tất yếu khách quan, khi hoàn thành

sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản thì chuyên chính vô sản tự tiêu vong

Tóm lại, qua các vấn đề trên cho thấy : Cương lĩnh Gôta phản lại lý luận Mác xítkhoa học C.Mác đánh giá, thực chất cương lĩnh Gota : "Mặc dầu tất cả những lời lẽ dânchủ rất kêu của nó, toàn bộ cương lĩnh từ đầu chí cuối đều nhiễm phải cái bệnh của pháiLátxan là lòng tin của thần dân vào nhà nước, hoặc là điều này cũng chẳng có gì tốt hơn.Tin vào phép màu dân chủ, hay nói cho đúng hơn, đó là sự thoả hiệp giữa hai lòng tin ấyvào phép màu, cả hai loại đều xa lạ như nhau với chủ nghĩa xã hội" ( 1 )

b Phát triển của C.Mác về lý luận chủ nghĩa cộng sản khoa học

Khi phê phán chủ nghĩa Látxan, C.Mác đã phát triển lý luận chủ nghĩa cộngsản khoa học C.Mác đã đề ra nguyên lý về thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên

Trang 31

chủ nghĩa xã hội, đồng thời đã nêu nguyên lý về hai giai đoạn phát triển của xã hộicộng sản chủ nghĩa và sự khác nhau giữa hai giai đoạn đó

* Lý luận về thời kỳ quá độ: Trước khi viết “Phê phán Cương lĩnh Gôta”, C.Mác

đã chứng minh sự cần thiết phải thiết lập chuyên chính vô sản, sự cần thiết phải đậptan bộ máy nhà nước của giai cấp tư sản Trong tác phẩm này, C.Mác nêu vấn đề nàybằng một phương thức khác C.Mác nói : Từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hộikhông thể không có một thời kỳ quá độ về chính trị, nhà nước của thời kỳ quá độ này

là nền chuyên chính của giai cấp vô sản C.Mác chỉ rõ : “Giữa xã hội tư bản và xã hộicộng sản là một thời kỳ cải biến cách mạng từ xã hội nọ sang xã hội kia, thích ứng vớithời kỳ ấy là một thời kỳ quá độ chính trị và nhà nước của thời kỳ ấy không thể là cái

gì khác hơn là nền chuyên chính cách mạng của giai cấp vô sản” (2) C.Mác phê phánchủ nghĩa Látxan không phải là vì nó đề ra yêu sách có tính chất dân chủ tư sản, mà vì

nó chỉ thoả mãn với yêu sách đó C.Mác cho rằng : “Cương lĩnh không đả động gì đếnvấn đề chuyên chính vô sản, cũng chẳng nói gì đến chế độ nhà nước tương lai trong xãhội cộng sản chủ nghĩa (3) Sau này, tư tưởng về chuyên chính vô sản của C.Mác đượcV.I.Lênin phát triển trong tác phẩm “Nhà nước và cách mạng” Trong tác phẩm đó,V.I.Lênin khẳng định rõ thái độ của vô sản chuyên chính đối với dân chủ và so với dânchủ tư sản thì vô sản chuyên chính còn dân chủ gấp nhiều lần

(1), ( 2), (3 ) Sđd.tr.50-51, tr.47, tr.47

* Lý luận về phân phối

Trong khi phê phán "sản phẩm toàn vẹn của lao động" của chủ nghĩa Látxan,C.Mác đồng thời cũng đặt vấn đề phân phối như thế nào sau khi chủ nghĩa tư bản bịtiêu diệt và chủ nghĩa cộng sản giành được thắng lợi C.Mác đã vứt bỏ những câurỗng tuếch trong Cương lĩnh về “phân phối công bằng” và đặt vấn đề này trên một

cơ sở khoa học C.Mác đặt vấn đề phân phối trong sự liên hệ với trình độ phát triểncủa sức sản xuất xã hội

Trong giai đoạn đầu của chủ nghĩa cộng sản (chủ nghĩa xã hội), C.Mác cho rằng

: không thể bỏ được nhà nước và pháp luật, với sự phát triển của sức sản xuất đòi hỏi

xã hội phải thực hiện phân phối "làm theo năng lực, hưởng theo lao động" V.I.Lêninđánh giá cách phân phối này là một bước tiến vĩ đại, vì nó nói lên bọn bóc lột đã bịtiêu diệt, ai nấy đều tham gia lao động, mọi người đều có quyền làm việc và có

Trang 32

quyền hưởng thụ lao động của mình Nhưng sự bình đẳng như vậy vẫn chưa phải làtuyệt đối Ở đây mới chỉ xác lập quyền bình đẳng về quan hệ đối với tư liệu sản xuất

và lập nên chế độ công hữu xã hội chủ nghĩa, đã xoá bỏ chế độ người bóc lột người.Nhưng về mặt tiêu dùng và phân phối, thực tế chưa hoàn toàn bình đẳng, vì tuy mọingười bình đẳng hưởng theo lao động nhưng thực tế mỗi người khác nhau : Năng lựccông tác có người giỏi, người kém, nhân khẩu có gia đình nhiều người, có gia đình ítngười cho nên về tiêu dùng mọi người không hưởng như nhau C.Mác viết : “Nhưng

đó là những thiếu sót không thể tránh khỏi trong giai đoạn đầu của chế độ cộng sảnchủ nghĩa, lúc nó vừa mới lọt lòng từ xã hội tư bản chủ nghĩa ra, sau những cơn đau

đẻ dài Quyền không bao giờ có thể ở một mức cao hơn chế độ kinh tế và sự pháttriển văn hoá của xã hội do chế độ kinh tế đó quyết định” (1)

Trong giai đoạn chủ nghĩa cộng sản : Cùng với sự phát triển của xã hội- xã hội

chủ nghĩa, sức sản xuất được phát triển, trình độ văn hoá được nâng cao; sự đối lậpgiữa lao động trí óc và lao động chân tay, giữa thành thị và nông thôn được xoá bỏ,lao động trở thành nhu cầu cần thiết bậc nhất cho sức sống của mọi người và do đó,tất nhiên phải chuyển sang một giai đoạn mới, một nguyên tắc mới là "làm theonăng lực, hưởng theo nhu cầu" Đó là lúc xã hội có thể sản xuất ra sản phẩm tiêudùng dồi dào đến mức không cần dùng phân phối lợi ích vật chất để kích thích laođộng nữa

III Ý NGHĨA CỦA TÁC PHẨM

Tác phẩm “Phê phán Cương lĩnh Gôta” là một di sản quý báu, là mẫu mực vềđấu tranh không khoan nhượng chống chủ nghĩa cơ hội dưới mọi màu sắc, bảo vệcác mục tiêu và đường lối cách mạng của phong trào công nhân

Khẳng định tính tất yếu khách quan của quá trình cải biến cách mạng từ chủnghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội

Quan niệm thiên tài về hai giai đoạn của hình thái kinh tế-xã hội cộng sản chủnghĩa, thể hiện sức mạnh vĩ đại của lý luận khoa học, nêu lên nhiều dự đoán thiêntài về tương lai của con đường đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân

Làm nổi bật tính tất yếu, vai trò lịch sử của chuyên chính vô sản, phát triểnthêm một bước học thuyết về nhà nước

(1) Sđd.tr.35,36

Trang 33

Là một kiểu mẫu về việc hoàn chỉnh một cách khoa học bản cương lĩnh cáchmạng của chính đảng vô sản Tấm gương mẫu mực về tinh thần phê phán và phêphán như thế nào cho khoa học để lột trần bộ mặt của các trào lưu cơ hội Đồngthời cho ta thấy không thể sáp nhập tổ chức một cách tuỳ tiện vô nguyên tắc, khôngđược nhân nhượng bất kỳ một sự phản bội nào về lý luận, tư tưởng để bảo vệ sựtrong sáng của lý luận chủ nghĩa cộng sản khoa học.

- Đối với đảng ta, Tác phẩm là những chỉ dẫn hết sức quan trọng, quá trình tổchức xây dựng và hoạt động Đảng rất coi trọng vấn đề xây dựng cương lĩnh, đườnglối, giữ vững nguyên lý, nguyên tắc cơ bản phát huy cao độ trí tuệ tập thể dân chủbàn bạc hoạch định những chủ trương chính sách đúng đắn

- Giai đoạn mới của cách mạng, đòi hỏi Đảng phải được xây dựng chỉnh đốnngang tầm nhiệm vụ chính trị Muốn vậy cần phải tiếp tục nghiên cứu, nắm vững

và vận dụng sáng tạo những nguyên lý trong tác phẩm này, xây dựng Đảng vữngmạnh cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức, đường lối, chính sách của Đảng đáp ứngđược đòi hỏi của thực tiễn cách mạng

Trang 34

Tác phẩm NHỮNG “NGƯỜI BẠN DÂN” LÀ THẾ NÀO VÀ HỌ

ĐẤU TRANH CHỐNG NHỮNG NGƯỜI DÂN CHỦ - XÃ HỘI RA SAO ?

V.I.Lê nin (1894), Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Mát cơ va, 1974, t.1, tr 149 - 427

V.I.Lênin viết Tác phẩm “Những người bạn dân” là thế nào và họ đấu tranhchống những người dân chủ - xã hội ra sao ? vào mùa hè năm 1894 Đây là một tácphẩm đặc biệt quan trọng nhằm chống lại những người dân tuý tự do, qua đó pháttriển lý luận Mác

I HOÀN CẢNH LỊCH SỬ RA ĐỜI CỦA TÁC PHẨM

1 Tình hình chính trị-xã hội nước Nga những năm cuối thế kỷ XIX

- Nước Nga vẫn tồn tại chế độ quân chủ chuyên chế, phong kiến đang suy tàn

và thối nát

- Thời điểm này chủ nghĩa tư bản ở Châu Âu cũng đã tràn vào và phát triểnnhanh chóng ở nước Nga, làm cho giai cấp công nhân Nga ra đời và phát triểnmạnh mẽ Nước Nga chứa đựng đầy mâu thuẫn : mâu thuẫn giữa nhân dân Nga vớichế độ quân chủ chuyên chế, mâu thuẫn giữa giai cấp công nhân với giai cấp tưsản, giữa dân tộc Nga với sự can thiệp của tư bản nước ngoài

Cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân Nga phát triển mạnh mẽ, từng bướckhẳng định vai trò, sứ mệnh của mình Tuy nhiên sự nghiệp cách mạng của giai cấpcông nhân Nga đang bị cản trở bởi những quan điểm lạc hậu, phản động của pháidân tuý tự do

2 Sự hình thành, tồn tại của phái dân tuý ở nước Nga

Trước những năm 1870, những người dân tuý cho rằng : Sự biến đổi của lịch

sử xã hội loài người là do những vĩ nhân quyết định, lực lượng chủ yếu của cáchmạng làm biến đổi lịch sử là nông dân, do trí thức lãnh đạo, họ hướng vào công xãnông thôn để xây dựng chủ nghĩa xã hội Họ không thừa nhận chủ nghĩa tư bản đãphát triển ở Nga

Những năm 1890 đến 1894 , do những biến đổi về kinh tế trong đời sống nôngdân Nga, do tác động của cách mạng công nghiệp, sự phát triển của giai cấp côngnhân và của chủ nghĩa tư bản trong nông nghiệp, phái dân tuý phân liệt làm xuấthiện những người dân tuý tự do Những người dân tuý tự do là tôi tớ của chủ nghĩa

Trang 35

tư bản, họ sống công khai hợp pháp với chế độ Nga hoàng, công khai chống chủnghĩa Mác, ủng hộ cải cách của Nga hoàng, mục đích muốn biến nước Nga thànhnước “quân chủ tư sản” Phái dân tuý tự do nhân danh cái gọi là “những người bạndân”, cho rằng : Chỉ có họ là bạn dân, những người Mác xít là những người chốnglại nhân dân, chủ nghĩa Mác không thích hợp với nước Nga, vì chủ nghĩa Mác sinh

ra ở Châu Âu có nền công nghiệp phát triển, còn ở nước Nga thời điểm đó là mộtnước nông nghiệp Theo họ, chủ nghĩa xã hội chỉ thành công ở những nơi tư bảnphát triển Họ nhận thức rằng chủ nghĩa tư bản ở Nga là hiện tượng ngẫu nhiên,không phát triển được và giai cấp vô sản Nga cũng không thể phát triển Vì thế,muốn đi lên chủ nghĩa xã hội phải hướng vào nông dân, lực lượng cách mạng chủyếu là nông dân do trí thức lãnh đạo Phái dân tuý chìm ngập trong nông thôn, lôikéo quần chúng trong nông dân, mơ tưởng tới chủ nghĩa xã hội từ vai trò của giaicấp nông dân

* Một số quan điểm tư tưởng của phái “dân tuý”

Phái dân tuý, việc đưa chủ nghĩa Mác vào Nga làm phá sản nước Nga, họ chorằng, sự nghiệp cách mạng ở nước Nga do giai cấp nông dân Nga lãnh đạo, pháidân tuý phủ nhận vai trò, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Nga

Họ lý giải chủ nghĩa Mác là một học thuyết trừu tượng, là sản phẩm của tưduy, tư biện chưa được chứng minh trên thực tế Nếu nói những quan điểm của chủnghĩa Mác là một phát hiện có ý nghĩa thời đại thì điều đó không có căn cứ Họ đưa

ra lập luận : Nếu như chủ nghĩa Mác là một sáng tạo, vậy tại sao sau 40 năm vẫnkhông giải thích được những hiện tượng cụ thể như : Lịch sử cổ Hy Lạp, La Mã,Giécmăng Họ không phủ nhận Ăng ghen có giải thích, nhưng lại sử dụng tài liệucủa một nhà dân chủ học Mỹ, hoàn toàn xa lạ với chủ nghĩa duy vật lịch sử củaMác Phái dân tuý còn cho rằng, chủ nghĩa Mác chỉ đưa ra được mô hình và dùng

nó úp vào hiện thực theo kiểu “tam đoạn thức” của Hê Ghen

Trước tình hình đó, V.I.Lê nin nhận định, để phê phán những người dân tuý làviệc làm rất khó, bởi lẽ : Một mặt, do Plêkhanốp mắc sai lầm về lý luận Ông đềcao vai trò tầng lớp tư sản tự do, không hề đề cập đến vai trò lực lượng cách mạngcủa nông dân Mặt khác, phái dân tuý lúc đó có những lãnh tụ rất nổi tiếng như :

Trang 36

MikhailốpXki, Crivencô, I.U,Giacốp, do đó, muốn phê phán họ phải có quan điểm

lý luận sắc bén

Giai đoạn đầu để phê phán phái dân tuý tự do, V.I.Lênin viết dưới dạng bàibáo ngắn, những bức thư và sau đó phát triển thành tác phẩm “Những người bạndân” nhằm phê phán một cách toàn diện các quan điểm triết học, kinh tế và chínhtrị, cương lĩnh và sách lược của phái dân tuý, giáng một đòn quyết định vào pháidân tuý, mở đường cho chủ nghĩa Mác vào Nga, thúc đẩy sự phát triển của giai cấpcông nhân và phong trào cách mạng vô sản ở nước Nga

II TƯ TƯỞNG CHỦ YẾU VÀ NỘI DUNG CỦA TÁC PHẨM

1 Tư tưởng chủ yếu của tác phẩm

V.I.Lênin đã phê phán sâu sắc thế giới quan, quan điểm chính trị và sách lượccủa phái “dân tuý” qua đó khẳng định những quan điểm duy vật lịch sử, những vấn

đề có ý nghĩa phương pháp luận khoa học và luận chứng sâu sắc sứ mệnh lịch sửcủa giai cấp công nhân Nga Đặc biệt, V.I.Lênin đã đề ra nhiệm vụ cấp bách củanhững người dân chủ - xã hội Nga là hợp nhất tất cả những nhóm Mác xít còn rờirạc thành một tổ chức chính trị, một chính đảng thống nhất của giai cấp công nhân,coi đó là cơ sở bảo đảm cho thắng lợi của cách mạng vô sản

2 Nội dung cơ bản của tác phẩm

a V.I.Lênin chống phái dân tuý, bảo vệ, phát triển học thuyết Mác, đấu tranh đưa chủ nghĩa Mác vào nước Nga

* Lý luận về hình thái kinh tế xã hội

V.I.Lênin phê phán phái “dân tuý” đưa ra một hình thái kinh tế -xã hội chungchung, theo họ, quan niệm hình thái kinh tế-xã hội của C.Mác là thừa.Mikhailốpxki còn nêu vấn đề : “Mác đã trình bày quan điểm duy vật lịch sử củamình trong tác phẩm nào nhỉ” (1) tr.154 Phái “dân tuý” còn đưa ra phép so sánh :Những phát hiện như duy vật lịch sử, giá trị thặng dư không thể so sánh với ĐácUyn, rằng : “Toàn bộ các tác phẩm của Đác Uyn là gì ? Là một số tư tưởng có tínhchất khái quát, gắn bó chặt chẽ với nhau và tổng kết cả một đống tài liệu cụ thể tonhư núi Mông Blăng Vậy đâu là tác phẩm tương ứng của Mác ?” (1)

V.I.Lênin khẳng định, C.Mác đã đưa ra quan điểm : “Tôi coi sự phát triển củahình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử tự nhiên” (2), là khoa học, bởi vì :

Trang 37

C.Mác đã làm nổi bật lĩnh vực kinh tế trong tất cả các lĩnh vực xã hội, chỉ rayếu tố bên trong của xã hội là lực lượng sản xuất và nhấn mạnh : Trong các mốiquan hệ, sản xuất là mối quan hệ đầu tiên quyết định các mối quan hệ khác trong xãhội C.Mác đã phê phán quan hệ pháp quyền của Hê Ghen, từ quan hệ chính trị (đi

từ ngọn, hình thức) và chỉ rõ : Mọi quan hệ đều từ quan hệ vật chất, từ quan hệ sảnxuất mà ra

Không có tác phẩm nào C.Mác không nói tới chủ nghĩa duy vật lịch sử, và từ khi

bộ “Tư bản” ra đời thì chủ nghĩa duy vật lịch sử không còn là giả thuyết nữa, mà đãchứng minh tính tất yếu diệt vong của chủ nghĩa tư bản Trong Tuyên ngôn của Đảngcộng sản, C.Mác đã chỉ ra “những chế độ hiện tại - chế độ pháp lý, chính trị, gia đình,tôn giáo, triết học - đều được giải thích theo quan điểm duy vật chủ nghĩa” (3)

* V.I.Lênin phê phán quan điểm xã hội học chủ quan của phái “dân tuý” và chỉ ra công lao của C.Mác.

Xã hội học chủ quan của phái dân tuý đã phủ nhận qui luật tồn tại khách quancủa đời sống xã hội, họ cho rằng: những lĩnh vực hoạt động xã hội không giốngnhững lĩnh vực hoạt động tự nhiên Do đó, để xem xét, phân tích những hiện tượng

xã hội phải dùng phương pháp chủ quan và xã hội học Xã hội học chủ quan chỉbàn tới xã hội nói chung, không gắn với hình thái kinh tế-xã hội cụ thể nào cả TheoV.I.Lênin, đó là đạo đức trừu tượng, là giáo điều, siêu hình, thoát ly thực tế

V.I.Lênin khẳng định, việc so sánh giữa C.Mác và Đác Uyn là đúng đắn Cônglao của Đác Uyn là ông đã đánh đổ hẳn quan điểm duy tâm siêu hình cho rằngnhững loài động vật và thực vật là không có liên hệ gì với nhau, do “thượng đế” tạo

ra và bất biến Đác Uyn là người đầu tiên đã làm cho sinh vật học có một cơ sởhoàn toàn khoa học bằng cách xác định tính biến dị và tính di truyền của các loài,còn C.Mác C.Mác đã đánh đổ hẳn được quan niệm cho rằng xã hội là một tổ hợp

có tính chất máy móc gồm những cá nhân, một tổ hợp mà nhà cầm quyền (hay là xãhội và Chính phủ thì cũng vậy) có thể tuỳ ý biến đổi, một tổ hợp sinh ra và biến hoámột cách ngẫu nhiên; đồng thời C.Mác là người đầu tiên làm cho xã hội học có cơ

sở khoa học, C.Mác đã đưa ra khái niệm hình thái kinh tế-xã hội và khẳng định : sựphát triển của nó là một quá trình lịch sử tự nhiên” (4)

* V.I.Lênin phê phán cương lĩnh chính trị của phái dân tuý tự do.

Trang 38

Những người dân tuý đã đề ra Cương lĩnh nửa vời, một cương lĩnh không xuấtphát từ thực tại nước Nga Ở thời điểm lịch sử lúc đó nước Nga đã phát triển tư bảnchủ nghĩa Nhưng theo Mikhailốpxki thì nước Nga không có nền sản xuất tư bảnchủ nghĩa và nếu có cũng chỉ giới hạn trong 1,5 triệu công nhân, cho nên chủ nghĩa

tư bản ở Nga không phát triển được Những người dân tuý che dấu sự đối khánggiai cấp và sự bóc lột người lao động của giai cấp thống trị Họ không giúp nhữngngười

(1),(2),(3),(4) Sđd tr.154, tr.157, tr.166 , tr.165,166.

bị nô dịch vùng lên đấu tranh, trái lại họ mơ tưởng chấm dứt cuộc đấu tranh bằngnhững biện pháp thoả mãn mọi người, nhằm đi đến hoà giải và đoàn kết” (1) Cươnglĩnh này chỉ làm cho giai cấp tư sản mạnh hơn còn nông dân không được giải phóng

Từ quan điểm xem xét, đánh giá đó dẫn tới những biện pháp họ đưa ra khôngthay đổi được hiện thực, thực chất họ “nhằm duy trì mãi mãi các chế độ tốt đẹptrước kia là chế độ lao động nửa nông nô, nửa tự do, cái chế độ mang trong lòng

nó tất cả những thảm trạng của sự bóc lột và áp bức và chẳng đưa lại được một lốithoát nào cả” (2)

Thực chất tư tưởng của những “người bạn dân” là không muốn thủ tiêu sự bóclột, họ không muốn đấu tranh mà muốn điều hoà

V.I.Lênin đã chỉ rõ quan điểm của phái dân tuý về cương lĩnh chính trị “Từmột cương lĩnh chính trị nhằm mục đích phát động nông dân làm cách mạng xã hộichủ nghĩa chống lại các cơ sở của xã hội hiện tại, đã nảy ra một cương lĩnh nhằmmục đích vá víu, “cải thiện” tình cảnh của nông dân, đồng thời vẫn bảo tồn các cơ

sở xã hội hiện tại” (3)

Trên cơ sở phê phán quan điểm chính trị thể hiện trong cương lĩnh chính trịcủa phái dân tuý, V.I.Lênin chỉ ra yêu cầu của Cương lĩnh chính trị phải xuất phát

từ thực tiễn nước Nga, khai thác và kế thừa thành tựu của chủ nghĩa tư bản để đi lênchủ nghĩa xã hội mà không đi bằng con đường tư bản chủ nghĩa Cương lĩnh ấyphải xác định rõ cơ sở, con đường, phương thức của thời kỳ quá độ, phải vạch rađược khuynh hướng phát triển trong thời gian lâu dài

* Vấn đề quyết định luận và tự do ý chí

Trang 39

Phái dân tuý cho rằng: Chủ nghĩa Mác đứng trên lập trường quyết định luận nên quiluật quyết định tất cả Do đó, con người phải phá tung qui luật mới có tự do.V.I.Lênin bảo vệ quan điểm của C.Mác và cho rằng : quyết định luận và tự do ý chí

là hai mặt thống nhất biện chứng với nhau, không có sự xung đột Con người hoạtđộng phải trên cơ sở nắm vững qui luật và hành động theo qui luật Nắm qui luật lànâng cao nhận thức hoạt động của con người lên và làm cho con người khi đã nắmđược qui luật thì có tự do chứ không phải triệt tiêu tự do của con người Sai lầm củaMikhailốpxki khi cho rằng : “Chỉ có quan điểm quyết định luận mới giúp ta đánhgiá được chặt chẽ và đúng đắn, mà không đổ lỗi tất cả cho tự do ý chí Ý niệm tínhtất yếu lịch sử cũng vậy, nó không hề làm tổn hại gì đến vai trò của cá nhân tronglịch sử: “Toàn bộ lịch sử, chính là do những hành động của cá nhân cấu thành, vànhững cá nhân này chắc chắn đều là những lực lượng tác động Vấn đề thực sự đặt

ra khi đánh giá hoạt động xã hội của một cá nhân là: Trong những điều kiện nào thìhoạt động đó được bảo đảm thành công ? đâu là điều bảo đảm cho hoạt động đókhông còn là hành động đơn độc, chìm ngập trong cái biển cả những hành động tráingược nhau” (4)

Mác coi sự vận động xã hội là một quá trình lịch sử - tự nhiên chịu sự chi phốicủa những qui luật, không những không phụ thuộc vào ý chí của con người, ý thức

và ý định của con người, mà trái lại, còn quyết định ý chí, ý thức và ý định của conngười” (5)

(1),(2) (3),(4), ( 5) Sđd tr.299, tr.305, tr.335, tr.190-191, tr.200-201

* Vấn đề dân tộc, đấu tranh giai cấp và Nhà nước

- Vấn đề dân tộc : V.I.Lênin phê phán phái “dân tuý” không thấy sự ra đời củadân tộc là do sự phát triển của kinh tế, là sản phẩm của sự phát triển kinh tế của sựphát triển tư bản trong phạm vi quốc gia và quốc tế

- Vấn đề đấu tranh giai cấp : V.I.Lênin phê phán quan điểm phi lịch sử củaphái “dân tuý” cho rằng nông dân là lực lượng chủ yếu của cách mạng V.I.Lêninkhẳng định vai trò, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân và cho rằng đã có chủnghĩa tư bản thì có đấu tranh giai cấp giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản Ngườichỉ rõ : “Chủ nghĩa tư bản đã tạo ra những điều kiện vật chất cho chế độ mới, vàđồng thời cũng tạo ra một lực lượng xã hội mới: Giai cấp công nhân công xưởng -

Trang 40

Nhà máy, giai cấp vô sản thành thị Tuy phải chịu cùng một sự bóc lột tư sản, màxét theo thực chất kinh tế của nó thì sự bóc lột toàn thể nhân dân lao động ở Ngacũng là một sự bóc lột như thế, nhưng giai cấp đó lại được đặt trong những điềukiện đặc biệt có lợi cho sự giải phóng của nó: chẳng có cái gì gắn bó nó với cái xãhội cũ hoàn toàn xây dựng trên sự bóc lột; chính bản thân những điều kiện lao độngcủa nó và hoàn cảnh sinh sống của nó đã tổ chức nó lại, buộc nó phải suy nghĩ, làmcho nó có khả năng bước lên vũ đài đấu tranh chính trị” (1) Theo V.I.Lênin đấutranh giai cấp của giai cấp công nhân chống giai cấp tư sản, là một tất yếu và đó làcuộc đấu tranh mạnh mẽ nhất, tập trung nhất và quyết liệt nhất, trong cuộc đấutranh đó giai cấp công nhân phải liên minh với nông dân vì nông dân là lực lượngcủa cách mạng Ông đề cập tư tưởng liên minh công nông và cho rằng đường lối thìcủa một giai cấp, còn lợi ích thì của sự liên minh giai cấp Giai cấp công nhân lãnhđạo cách mạng, nhưng không chỉ đem lại lợi ích cho giai cấp công nhân mà cho cảgiai cấp nông dân và các tầng lớp lao động

- Vấn đề Nhà nước : V.I.Lênin phê phán quan điểm siêu giai cấp về Nhà nướccủa phái dân tuý là Nhà nước phi giai cấp, Nhà nước phúc lợi chung Họ khônghiểu học thuyết của C.Mác về đấu tranh giai cấp và Nhà nước và cho rằng Nhànước không phải là một tổ chức trật tự công cộng, Nhà nước của một giai cấp.V.I.Lênin chỉ rõ: Nhà nước bảo vệ lợi ích giai cấp, mang bản chất giai cấp đangcầm quyền thống trị xã hội, “Đại biểu cho các giai cấp cầm quyền” (2)

b Nhiệm vụ và phương pháp công tác của những người dân chủ - xã hội Nga

* Hướng vào giai cấp công nhân, phát triển ý thức giai cấp, giúp họ đứng lên đấu tranh chính trị, lôi kéo toàn bộ giai cấp công nhân đấu tranh

V.I.Lênin phân biệt giai cấp công nhân, giai cấp tư sản và chỉ ra giai cấp côngnhân công nghiệp : công xưởng, nhà máy, giai cấp công nhân thành thị hợp thành tổchức lớn và những người này vượt trội hơn hẳn những người tiểu tư sản, tiểu sản xuất Trên cơ sở phân tích đánh giá toàn diện cả điều kiện kinh tế, chính trị, xã hộigiai cấp đối với giai cấp công nhân, V.I.Lênin chỉ ra toàn bộ “Hoạt động chính trịcủa những người dân chủ xã hội Nga là ở chỗ giúp vào việc phát triển và tổ chứcphong trào công nhân ở Nga, vào việc cải biến phong trào đó từ trạng thái nhữngmưu toan phản đối, “bạo động” và bãi công lẻ tẻ và thiếu tư tưởng chỉ đạo, thành

Ngày đăng: 18/01/2022, 09:31

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w