- Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ chịu trách nhiệm cá nhân trước Thủ tướng Chính phủ, Chính phủ và Quốc hội về ngành, lĩnh vực được phân công phụ trách, cùng các thành viên khác c
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TIỂU LUẬN GIỮA KỲ MÔN LUẬT HIẾN PHÁP
Đề bài:
Tổ chức và hoạt động của Chính phủ:
Những vấn đề, thách thức và xu hướng cải cách
Sinh viên thực hiện: Đinh Thu Hằng
Lớp: K13 – Luật học
Mã sinh viên: 20040293
Giáo viên hướng dẫn: Đặng Minh Tuấn
- Hà Nội, 2022 -
Trang 2MỤC LỤC
A TỔNG QUAN CHUNG VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CHÍNH
PHỦ 2
I Tổ chức của Chính Phủ 2
1 Tổ chức của Chính Phủ 2
2 Nhận xét về tổ chức của Chính phủ: 2
II Hoạt động của Chính phủ 2
1 Hoạt động của Chính Phủ 2
2 Nhận xét về hoạt động của Chính Phủ: 4
B NHỮNG VẤN ĐỀ, THÁCH THỨC CỦA TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CHÍNH PHỦ 5
I Những vấn đề trong tổ chức của Chính phủ 5
1 Thành viên Chính phủ là Đại Biểu Quốc Hội 5
II Những vấn đề trong hoạt động của Chính phủ 6
1 Mối quan hệ của các thành viên trong Chính Phủ 6
2 Quyền hạn của Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng 6
3 Mối quan hệ của Chính phủ với chính quyền địa phương 6
4 Sự phân chia rành mạch về thẩm quyền của Chính Phủ và Quốc Hội 6
5 Trách nhiệm tiêu cực của Chính phủ với tư cách tập thể 7
6 Những vướng mắc của việc triển khai chính phủ điện tử trong tình hình dịch COVID – 19 7
C NHỮNG XU HƯỚNG CẢI CÁCH CỦA TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CHÍNH PHỦ 8
1 Các phiên họp Chính phủ giải quyết trách nhiệm tiêu cực của Chính phủ với tư cách tập thể 8
2 Kiểm soát việc phân công nhiệm vụ giữa Quốc hội và Chính phủ 8
3 Những hoạt động đẩy mạnh tổ chức chính phủ số 9
4 Phát triển đồng bộ và thúc đẩy sự tác động tương hỗ trong ứng dụng công nghệ thông tin - truyền thông với cải cách hành chính 9
5 Tiếp tục đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức bằng các hình thức phù hợp, có hiệu quả 10
6 Thường xuyên kiểm tra, đánh giá việc thực hiện cải cách hành chính 10
7 Cải cách chính sách tiền lương nhằm tạo động lực thực sự để cán bộ, công chức, viên chức thực hiện công vụ có chất lượng và hiệu quả cao 11
8 Những chính sách linh hoạt của Chính Phủ trong đại dịch COVID - 19 11
9 Nhận xét về những xu hướng cải cách của Chính phủ 12
D KẾT LUẬN VỀ NHỮNG VẤN ĐỀ, THÁCH THỨC VÀ XU HƯỚNG CẢI CÁCH CỦA CHÍNH PHỦ 12
TÀI LIỆU THAM KHẢO 13
Trang 3A TỔNG QUAN CHUNG VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CHÍNH PHỦ
I Tổ chức của Chính Phủ
1 Tổ chức của Chính Phủ
Theo điều 95 Hiến pháp nước Cộng Hòa xã Hội chủ nghĩa Việt Nam 2013 quy định:
- Chính phủ gồm Thủ tướng Chính phủ, các Phó Thủ tướng Chính phủ, các
Bộ trưởng và Thủ trưởng cơ quan ngang bộ Cơ cấu, số lượng thành viên Chính phủ do Quốc hội quyết định
- Thủ tướng Chính phủ là người đứng đầu Chính phủ, chịu trách nhiệm trước Quốc hội về hoạt động của Chính phủ và những nhiệm vụ được giao; báo cáo công tác của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trước Quốc hội, Ủy ban thường
vụ Quốc hội, Chủ tịch nước
- Phó Thủ tướng Chính phủ giúp Thủ tướng Chính phủ làm nhiệm vụ theo sự phân công của Thủ tướng Chính phủ và chịu trách nhiệm trước Thủ tướng Chính phủ về nhiệm vụ được phân công Khi Thủ tướng Chính phủ vắng mặt, một Phó Thủ tướng Chính phủ được Thủ tướng Chính phủ ủy nhiệm thay mặt Thủ tướng Chính phủ lãnh đạo công tác của Chính phủ
- Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ chịu trách nhiệm cá nhân trước Thủ tướng Chính phủ, Chính phủ và Quốc hội về ngành, lĩnh vực được phân công phụ trách, cùng các thành viên khác của Chính phủ chịu trách nhiệm tập thể về hoạt động của Chính phủ
2 Nhận xét về tổ chức của Chính phủ:
Việc quy định này xuất phát từ địa vị hiến định của các thể chế nhà nước trong nấc thang quyền lực nhà nước, đồng thời xác định mối quan hệ chức năng của các cơ quan nhà nước
II Hoạt động của Chính phủ
1 Hoạt động của Chính Phủ
Trang 4- Chính phủ làm việc theo chế độ tập thể, quyết định theo đa số Nhiệm kỳ của Chính phủ theo nhiệm kỳ của Quốc hội Khi Quốc hội hết nhiệm kỳ, Chính phủ tiếp tục làm nhiệm vụ cho đến khi Quốc hội khóa mới thành lập Chính phủ
- Theo Điều 96 Hiến pháp 2013 Chính phủ có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
1 Tổ chức thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước
2 Đề xuất, xây dựng chính sách trình Quốc hội, Ủy Ban Thường vụ Quốc Hội quyết định hoặc quyết định theo thẩm quyền để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Điều này; trình dự án luật, dự án ngân sách nhà nước và các dự án khác trước Quốc hội; trình dự án pháp lệnh trước Ủy Ban Thường vụ Quốc Hội
3 Thống nhất quản lý về kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục, y tế, khoa học, công nghệ, môi trường, thông tin, truyền thông, đối ngoại, quốc phòng,
an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội; thi hành lệnh động viên, lệnh ban bố tình trạng khẩn cấp và các biện pháp cần thiết khác để bảo vệ Tổ quốc, bảo đảm tính mạng, tài sản của Nhân dân
4 Trình Quốc hội quyết định thành lập, bãi bỏ bộ, cơ quan ngang bộ; thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới hành chính tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt; trình Ủy Ban Thường vụ Quốc Hội quyết định thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính dưới tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
5 Thống nhất quản lý nền hành chính quốc gia; thực hiện quản lý về cán
bộ, công chức, viên chức và công vụ trong các cơ quan nhà nước; tổ chức công tác thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân, chống quan liêu, tham nhũng trong bộ máy nhà nước; lãnh đạo công tác của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy Ban Nhân dân các cấp; hướng dẫn, kiểm tra Hội Đồng Nhân dân trong việc thực
Trang 5hiện văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên; tạo điều kiện để Hội Đồng Nhân dân thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn do luật định
6 Bảo vệ quyền và lợi ích của Nhà nước và xã hội, quyền con người, quyền công dân; bảo đảm trật tự, an toàn xã hội;
7 Tổ chức đàm phán, ký điều ước quốc tế nhân danh Nhà nước theo ủy quyền của Chủ tịch nước; quyết định việc ký, gia nhập, phê duyệt hoặc chấm dứt hiệu lực điều ước quốc tế nhân danh Chính phủ, trừ điều ước quốc tế trình Quốc hội phê chuẩn quy định tại khoản 14 Điều 70; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, lợi ích chính đáng của tổ chức và công dân Việt Nam ở nước ngoài;
8 Phối hợp với Ủy ban trung ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam và cơ quan trung ương của các tổ chức chính trị - xã hội trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình
2 Nhận xét về hoạt động của Chính Phủ:
- Những nhiệm vụ, quyền hạn cơ bản của Chính phủ, tương ứng với vị trí, tính chất hiến định của Chính phủ đã được Hiến pháp quy định Trên cơ sở những quy định của Hiến pháp về nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ, Luật
Tổ chức Chính phủ năm 2015 đã thể hóa, chi tiết hóa nhiệm vụ và quyền hạn của Chính phủ trong các lĩnh vực: kinh tế; khoa học, công nghệ và môi trường; văn hoá, giáo dục, thông tin, thể thao và du lịch; y tế và xã hội; quốc phòng, an ninh và trật tự, an toàn xã hội; dân tộc và tôn giáo; đối ngoại; tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương; về hành chính tư pháp , được quy định từ Điều 6 đến Điều 25
- Ngoài các nhiệm vụ, quyền hạn được quy định tại Điều 96 Hiến pháp 2013, Chính phủ còn có thẩm quyền ban hành văn bản pháp luật (Điều 100 Hiến pháp) Hiến pháp 2013 có cách tiếp cận mới khi quy định về quyền ban hành văn bản pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và Bộ trưởng, không chỉ rõ tên văn bản do những cơ quan này ban hành, mà quy định một cách khái quát: Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ ban hành văn bản pháp luật để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, kiểm tra việc thi hành các văn bản đó và xử lý các văn bản trái pháp
Trang 6luật theo quy định của luật (Điều 100) Khác với các Hiến pháp trước đây, Hiến pháp 2013 không quy định tên gọi hay các văn bản do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ ban hành, việc này sẽ do luật định Việc không quy định tên văn bản
- trong Hiến pháp các văn bản pháp luật do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ,
Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ ban hành nhằm bảo đảm sự ổn định lâu dài của Hiến pháp, đồng thời bảo đảm cho sự thay đổi một cách linh hoạt của luật, khi thực tiễn đòi hỏi cần phải thay đổi
B NHỮNG VẤN ĐỀ, THÁCH THỨC CỦA TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CHÍNH PHỦ
I Những vấn đề trong tổ chức của Chính phủ
1 Thành viên Chính phủ là Đại Biểu Quốc Hội
- Việc quy định Thủ tướng Chính phủ là Đại biểu Quốc Hội, một mặt bảo đảm cho Thủ Tướng Chính phủ - nhà hoạt động chính trị cao nhất trong bộ máy hành chính nhà nước, đứng đầu Chính phủ có được mối liên kết chặt chẽ với Quốc hội, đồng thời có điều kiện thảo luận các chính sách, đường hướng quyết sách lớn của phát triển đất nước, các luật do Quốc hội ban hành để kịp thời triển khai thực hiện trên thực tế bằng bộ máy hành chính nhà nước Đồng thời, việc quy định các thành viên khác của Chính phủ không nhất thiết là Đại biểu Quốc Hội cũng là nhằm hạn chế những ảnh hưởng của Chính phủ đến hoạt động của Quốc hội, đặc biệt là hoạt động giám sát của Quốc hội đối với Chính phủ
- Tuy vậy, thực tiễn là hầu như không một Bộ trưởng nào không là Đại biểu Quốc Hội trong những nhiệm kỳ gần đây Điều này diễn ra trên thực tế là do
sự không rõ ràng của pháp luật, mà cái sâu xa của nó là về những triết lý tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước ở nước ta chưa thực sự rõ ràng, chịu ảnh hưởng của nhiều dòng lý thuyết về tổ chức bộ máy Một mặt chịu ảnh hưởng của tư tưởng "Xô viết là một thiết chế hành động vừa lập pháp, vừa hành pháp", cơ quan hành chính nhà nước là cơ quan chấp hành của cơ quan quyền lực nhà nước nên thành phần của cơ quan hành chính phải do cơ quan
Trang 7quyền lực nhà nước bầu nên và mặt khác chịu ảnh hưởng của lý thuyết phân quyền trong thiết lập các cơ quan tối cao của quyền lực nhà nước
II Những vấn đề trong hoạt động của Chính phủ
1 Mối quan hệ của các thành viên trong Chính Phủ
- Các quy định của pháp luật hiện hành chưa phân định rõ nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ, chưa bao quát hết các lĩnh vực quản lý nhà nước của tập thể Chính phủ và chưa tương xứng với vị trí, vai trò của người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước cao nhất Các quy định
về địa vị pháp lý của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ với tư cách là thành viên Chính phủ chưa được luật hóa theo hướng Bộ trưởng, Thủ trưởng
cơ quan ngang bộ là thành viên Chính phủ và là người đứng đầu bộ, cơ quan ngang bộ chịu trách nhiệm về ngành, lĩnh vực được phân công chịu trách nhiệm báo cáo trước nhân dân về ngành, lĩnh vực
2 Quyền hạn của Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng
- Thủ tướng Chính phủ chưa thực sự trở thành một thiết chế hữu hiệu để giải quyết các vấn đề cụ thể và mới phát sinh trong hoạt động của Chính phủ Chưa xác định rõ nhiệm vụ, thẩm quyền, trách nhiệm của Thủ tướng Chính phủ với tư cách là người lãnh đạo Chính phủ; của Bộ trưởng với tư cách là thành viên Chính phủ và là người đứng đầu một cơ quan của Chính phủ
3 Mối quan hệ của Chính phủ với chính quyền địa phương
- Mối quan hệ giữa Chính phủ với chính quyền địa phương (Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân) chưa được xác định cụ thể, chưa có sự gắn bó chặt chẽ, nhất là sự lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đối với chính quyền địa phương; kỷ luật, kỷ cương hành chính chưa nghiêm, chưa thực hiện tốt nguyên tắc cơ quan cấp dưới phải phục tùng sự chỉ đạo, lãnh đạo và chấp hành nghiêm chỉnh các quyết định của cơ quan cấp trên
4 Sự phân chia rành mạch về thẩm quyền của Chính Phủ và Quốc Hội
Trang 8- Các dự án phát triển kinh tế xã hội, ngân sách, an ninh, quốc phòng và các chương trình dự án quan trọng khác còn chưa có sự phân định rành mạch thẩm quyền quyết định của Quốc hội và của Chính phủ
- Hoạt động của Chính phủ còn tập trung nhiều về hoạt động hành chính mà chưa chú trọng đúng mức cho hoạt động khởi xướng, hoạch định chính sách, xây dựng và thực hiện chiến lược ở tầm quốc gia
5 Trách nhiệm tiêu cực của Chính phủ với tư cách tập thể
- Chính phủ - cơ quan thực thi quyền hành pháp - có nhiệm vụ hoạch định chính sách nhà nước và chịu trách nhiệm trước chính sách đã đưa ra Hiến pháp xác định trách nhiệm của Chính phủ đối với chính sách của mình nhưng cơ chế trách nhiệm chưa được làm rõ Đặc biệt, vấn đề trách nhiệm tiêu cực của Chính phủ với tư cách tập thể thì vẫn chưa được quy định rõ ràng Chức năng của Chính phủ với tư cách là cơ quan thực hiện quyền hành pháp - hoạch định và thực thi chính sách quốc gia - đòi hỏi phải có cơ chế cộng đồng trách nhiệm rất cao
6 Những vướng mắc của việc triển khai chính phủ điện tử trong tình hình dịch COVID – 19
- Việc triển khai Chính phủ điện tử chưa đạt được như mong muốn của lãnh đạo Đảng, lãnh đạo Chính phủ Vị trí của Việt Nam trong Bảng xếp hạng Chỉ số phát triển Chính phủ điện tử của Liên Hợp Quốc vẫn ở mức trung bình, theo báo cáo mới nhất của Liên Hợp Quốc, 2 năm qua, Việt Nam tăng
1 bậc, đang xếp thứ 88 trong tổng số 193 quốc gia và lãnh thổ được đánh giá Trong khu vực ASEAN, Việt Nam chỉ được xếp hạng khiêm tốn ở vị trí thứ
6 Kết quả triển khai nhiều nhiệm vụ về Chính phủ điện tử còn rất chậm và nhiều nơi thực hiện mang tính hình thức
- Việc xây dựng triển khai các cơ sở dữ liệu quốc gia, hạ tầng công nghệ thông tin làm nền tảng phục vụ phát triển Chính phủ điện tử rất chậm so với tiến độ cần có; các hệ thống thông tin dữ liệu còn cục bộ, chưa có kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa các hệ thống thông tin; chất lượng dữ liệu và thông tin chưa được cập nhật kịp thời, chính xác; nhiều hệ thống thông tin đã triển
Trang 9khai chưa bảo đảm an toàn, an ninh thông tin, mức độ tin cậy của quốc gia trong giao dịch điện tử thấp Việc cung cấp dịch vụ công trực tuyến còn chạy theo số lượng trong khi tỷ lệ hồ sơ thực hiện dịch vụ công trực tuyến còn rất thấp; việc giải quyết thủ tục hành chính và xử lý hồ sơ công việc còn mang nặng tính thủ công, giấy tờ Còn những rào cản trong cơ chế đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin gây khó khăn cho các doanh nghiệp trong triển khai các
dự án Điều này dẫn đến tình trạng nhiều lãnh đạo Chính phủ, bộ, ngành, địa phương còn chưa có đầy đủ thông tin dữ liệu số của các đối tượng mình quản lý
C NHỮNG XU HƯỚNG CẢI CÁCH CỦA TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CHÍNH PHỦ
1 Các phiên họp Chính phủ giải quyết trách nhiệm tiêu cực của Chính phủ với tư cách tập thể
- Các phiên họp Chính phủ cần được tổ chức bảo đảm để các thành viên thẳng thắn bàn thảo các vấn đề gai góc của quốc gia, giải quyết những xung đột về lợi ích trong hoạch định chính sách Tính trách nhiệm tập thể thể hiện một Chính phủ thực thi quyền lực “mạnh mẽ và sáng suốt” Đương nhiên, đi cùng với tính trách nhiệm tập thể đoàn kết, thống nhất này phải là cơ chế cùng chịu trách nhiệm tập thể chung - bị bất tín nhiệm Cơ chế đó chính là góp phần đề cao vị trí của Chính phủ đúng với tính chất thực hiện quyền hành pháp
2 Kiểm soát việc phân công nhiệm vụ giữa Quốc hội và Chính phủ
- Bảo đảm sự phối hợp trách nhiệm như là một hình thức kiểm soát của hành pháp đối với hoạt động lập pháp, quyết định chính sách của Quốc hội Cần bảo đảm Chính phủ chịu trách nhiệm đến cùng đối với các dự thảo dự án, đề
án do Chính phủ chuẩn bị, tránh tình trạng sau khi chuyển giao cho Ủy ban thường vụ Quốc hội là hết nhiệm vụ; sự tham gia sát sao của Chính phủ còn bảo đảm không xảy ra việc có thể lạm dụng quyền lập pháp, làm sai lệch nội dung tư tưởng chính sách trong các dự án mà Chính phủ đã soạn thảo Việc
Trang 10kiểm soát này cần được thực hiện cả trong quá trình xem xét, thảo luận, thông qua và sau khi dự luật được thông qua, trước khi được công bố Trong quá trình Quốc hội xem xét, thông qua dự án luật do Chính phủ trình, Hiến pháp cần trao cho Chính phủ quyền khi thấy cần thiết thì được rút lại dự án luật đó để hoàn chỉnh lại, cân nhắc thêm Nếu dự án, chính sách mà Chính phủ trình không bảo vệ được trước Quốc hội thì phải quy trách nhiệm
3 Những hoạt động đẩy mạnh tổ chức chính phủ số
- Để quản trị quốc gia theo hướng hiện đại, cạnh tranh hiệu quả, Chính phủ
đã chú trọng đến những hoạt động như:
• Tăng cường năng lực dự báo, phân tích và đề xuất chính sách dựa trên luận cứ khoa học và thực tiễn trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
• Công khai, minh bạch, tăng cường trách nhiệm giải trình
• Thích ứng với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, đẩy mạnh thực hiện Chính phủ điện tử, Chính phủ số “Phấn đấu đến năm 2030, hoàn thành xây dựng chính phủ số, đứng trong nhóm 50 quốc gia hàng đầu thế giới và xếp thứ 3 trong khu vực ASEAN về chỉnh phủ điện tử”
• Đặc biệt coi trọng an ninh mạng và an ninh phi truyền thống
4 Phát triển đồng bộ và thúc đẩy sự tác động tương hỗ trong ứng dụng công nghệ thông tin - truyền thông với cải cách hành chính
- Đầu tư đồng bộ kết cấu hạ tầng thông tin - truyền thông cho các cơ quan hành chính nhà nước các cấp, kết nối liên thông giữa các bộ phận hành chính trong hệ thống hành chính công quốc gia
- Hoàn thiện và đẩy mạnh hoạt động của Mạng thông tin điện tử hành chính của Chính phủ trên Internet Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin - truyền thông trong hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước để đến năm 2020: 90% các văn bản, tài liệu chính thức trao đổi giữa các cơ quan hành chính nhà nước được thực hiện dưới dạng điện tử; ứng dụng