I LÝ DO CHỌN VIẾT CHUYÊN ĐỀ: 1. Tính cấp thiết của chuyên đề: Dạy học Mỹ thuật là dạy cho học sinh thấy được những cái đẹp từ những hình ảnh rất đỗi bình dị của cuộc sống và dạy cho học sinh thêm yêu cái đẹp xung quanh. Từ đó, các em hoc có thể sử dụng đôi tay khéo léo của mình để làm nên một cái đẹp mới, khác cái đẹp ban đầu (có thể đẹp hơn hoặc có thể đẹp không bằng cái đẹp cũ) nhưng ít ra đó là cảm nhận và thể hiện cái riêng của cá nhân các em. Vậy làm thế nào để học sinh thấy được vẻ đẹp từ những điều bình dị ấy và đem ứng dụng ra cuộc sống của các em, sẽ rất cần ở người giáo viên một kỹ năng sử dụng các biện pháp giảng dạy khoa học, kết hợp tinh tế các bộ môn để giúp học sinh đạt được mục tiêu giáo dục toàn diện và lâu dài. Giáo dục các em trở thành một con người vừa “học” lẫn “hành” chứ không phải là một con người chỉ biết lý thuyết suông mà không áp dụng được kiến thức trong học tập ra cuộc sống cũng như công việc sau này của các em. Trong nhà trường Trung học cơ sở việc giảng dạy bộ môn Mỹ thuật đạt kết quả tốt đòi hỏi giáo viên phải nắm vững kiến thức về chuyên môn, vận dụng đổi mới phương pháp dạy học, liên hệ thực tế để tìm hiểu rõ đối tượng có những khả năng, năng khiếu đặc biệt nhằm phát huy tính tích cực độc lập suy nghĩ, tìm tòi sáng tạo của mỗi học sinh. Bởi vì học sinh chính là người chủ động tiếp nhận kiến thức từ giáo viên, cuối cùng của việc dạy học là kiến thức phải “đến” với học sinh. Vì thế giáo viên dạy môn Mỹ thuật cần phải giải thích cho học sinh thấy được ý nghĩa và tầm quan trọng của bộ môn Mỹ thuật bởi nó là môn học có tính giáo dục văn hóa thẩm mỹ, hình thành nhân cách và phát triển toàn diện cho học sinh. Trong quá trình giảng dạy tôi đã tìm hiểu và nhận ra một số vấn đề sau: + Phần lớn đa số học sinh có hoàn cảnh khó khăn, nên việc chuẩn bị dụng cụ học tập theo yêu cầu bộ môn còn nhiều hạn chế. Từ đó các em mặc cảm, ít tham gia phát biểu xây dựng bài. + Các em học xong không thể nhớ nỗi những thời gian, mốc lịch sử quan trọng của Việt Nam thông qua các bài thường thức. + Trong mỗi lớp học chỉ có một vài em là có khả năng, năng khiếu tốt, còn lại do không có năng khiếu nên các em chưa thật sự quan tâm đến bộ môn Mỹ thuật, cũng như các bài vẽ và phần lý thuyết. + Phần lớn các em cũng không nắm, không nhớ hoặc không hệ thống được lịch sử Việt Nam. Nên khi giáo viên áp dụng dạy học được chương trình kết hợp liên môn để các em có thể hiểu thêm hiểu sâu bộ môn lịch sử Việt Nam hơn. Điều đó yêu cầu mỗi người giáo viên chúng ta cần trao dồi thêm những lượng kiến thức cũ và luôn luôn cập nhật kiến thức mới để việc dạy của chúng ta truyền đạt đến học sinh ngày càng tốt và hay hơn. Từ những thực tế trên, qua quá trình đứng lớp giảng dạy tôi mạnh dạn đưa ra việc dạy học áp dụng chuyên đề: “Hệ thống bốn giai đoạn lịch sử việt Nam thời Lý Trần – Lê Nguyễn thông qua các bài thường thức Mỹ thuật” 2. Tính thuyết phục của chuyên đề: Kính thưa quý thầy, cô các anh chị và các bạn đồng nghiệp thân mến. Qua thời gian giảng dạy bộ môn Mỹ thuật xuất phát từ lòng yêu nghề, yêu ngành bản thân luôn nhiệt tình trong giảng dạy, luôn tìm tòi, tích lũy những kiến thức hay và cũng đã đúc kết được một số kinh nghiệm, muốn trình bày ra để cùng chia sẽ và học tập thêm. Dạy Mỹ thuật ở các trường phổ thông bậc Trung học cơ sở (THCS) không đơn thuần là dạy vẽ mà lấy hoạt động Mỹ thuật “DẠY, HỌC VÀ ỨNG DỤNG” để nâng cao hiểu biết của học sinh về nhiều mặt như: đạo đức, trí tuệ, thẩm mỹ, kỹ năng… Do vậy Mỹ thuật có vị trí đặc biệt góp phần vào việc giáo dục thẩm mỹ, kỹ năng thực hành, kỹ năng ứng dụng cho học sinh hiện tại và tương lai. Giáo dục thẩm mỹ là một bộ phận hợp thành không thể thiếu của giáo dục xã hội, giáo dục thẩm mỹ không thể đứng ngoài hoặc tách biệt khỏi quá trình giáo dục toàn diện trong nhà trường. Hệ thống giáo dục thẩm mỹ có mục tiêu cụ thể đến phát triển năng lực thẩm mỹ cho học sinh. Từ thực tế cuộc sống và việc học tập của các em học sinh, bản thân giáo viên nhận thấy phần lớn các em không nắm được các kỹ năng kết hợp các môn học lại với nhau để có được một lượng kiến thức hoàn chỉnh hơn hoặc có được một kỹ năng áp dụng môn học này với môn học khác và kỹ năng ứng dụng môn học trong cuộc sống. Theo UNESCO đã xây dựng 4 trụ cột cho việc học đó cũng là định hướng cho giáo dục của nhân loại trong thiên niên kỷ thứ ba: “Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để tự khẳng định mình”(learning to know, learning to do, learning to be and learning to live together). Từ góc nhìn đó, có thể thấy ở Việt Nam 2 trụ cột quan trọng: Học để biết và Học để xác lập bản thân vẫn chưa đậm nét trong hệ thống giáo dục. Thậm chí, học để biết đã biến dạng thành học để thi. Học sinh đi học chỉ để qua kỳ thi và cha mẹ cũng chỉ mong con đạt điểm tốt. Giáo viên cũng dạy để thi, để chạy theo thành tích cho đẹp báo cáo lên cấp trên. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: Học tập là một chặng đường dài không có điểm kết thúc, là cái thang không có bậc cuối cùng. Bác Hồ cũng nhấn mạnh việc học tập nâng cao trình độ của bản thân có nội dung cách mạng chứ không phải học tập vì những động cơ cá nhân. Việc học tập, rèn luyện toàn diện để có đủ đức đủ tài, nâng cao hiểu biết để phục vụ nhân dân là điều phải làm hằng ngày. Việc học tập tiếp thu những tri thức mới, những kinh nghiệm mới để làm chủ khoa học kỹ thuật, để tiến kịp với trình độ văn minh của nhân loại là điều rất cần thiết và quan trọng. Học để làm gì là vấn đề trọng tâm của mọi hoạt động giáo dục. Giáo dục hiện đại hướng đến việc đào tạo những con người có tầm tư duy rộng mở trong một thế giới toàn cầu hóa, có tinh thần dân chủ, có khả năng ứng dụng hợp tác và có thể làm việc trong môi trường quốc tế. Mục đích học của học sinh hiện đại hướng đến không (chỉ là) để vượt qua kỳ thi, mà là để trở thành một con người có tư duy độc lập, có kỹ năng áp dụng giải quyết các vấn đề trong cuộc sống, biết ứng dụng những gì đã học vào cuộc sống và cho công việc sau này để trở thành một con người có tri thức vững chắc cho tương lai của mình. Thông qua các bài giảng bằng các phương pháp thích hợp của các khối lớp 6, 7, 8, 9 từ thấp đến cao giúp cho các em HS có thể dễ dàng nhận thức, tiếp cận, sáng tạo và có kỹ năng ứng dụng vào trong học tập liên kết với các bộ môn và hệ thống lại các kiến thức có liên quan sau đó biết ứng dụng trong cuộc sống ở hiện tại và tương lai. II MỤC ĐÍCH VIẾT CHUYÊN ĐỀ: 1. Tác dụng đối với học sinh: Nhằm giúp các em học sinh biết cách kết hợp môn Mĩ thuật với các môn học khác có liên quan (ví dụ: môn công nghệ, sinh học, lịch sử, địa lý,...) Giúp các em hiểu kỹ hơn về các giai đoạn lịch sử của Việt Nam thông qua các bài thường thức Mỹ thuật được giáo viên kết hợp từ lớp 6 đến lớp 9. 2. Tác dụng đối với giáo viên: Đáp ứng được kiến thức truyền tải cho học sinh khi kết hợp dạy liên kết các môn học với nhau. Tạo ra được cách dạy hứng thú, không gây nhàm chán khi hướng dẫn cho học sinh cách kết hợp ứng dụng bộ môn vào trong học tập và cuộc sống hàng ngày. III ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI ÁP DỤNG: • Đối tượng: Học sinh các khối lớp 6, 7, 8, 9 trường THCS Nguyễn Văn Trỗi – Quận 2 – Tp. Hồ Chí Minh. Kỹ năng kết hợp môn Mỹ thuật vào các môn học khác. • Phương pháp: Để tìm hiểu thành công đề tài với kết quả áp dụng được hiệu quả thì phương pháp nghiên cứu góp một phần chủ yếu quan trọng. Đồng thời cần có sự kết hợt hài hòa giữa các phương pháp sau: Phương pháp hệ thống hóa, phân tích tổng hợp lí thuyết. Phương pháp trực quan khảo sát thực tế, quan sát sư phạm. Phương pháp gợi trí tò mò cho học sinh. 3. Phạm vi áp dụng. (Đang tham khảo ý kiến có thể ấp dụng phạm vi rộng toàn quận, toàn thành và toàn quốc) Đối với môn Mĩ thuật ở chương trình THCS có 4 phân môn như: Vẽ tranh, vẽ theo mẫu, vẽ trang trí và thường thức Mĩ thuật... Việc tìm hiểu, học tập giúp các em có khả năng ứng dụng trong cuộc sống thông qua những bài học và nhớ những TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Hồ Văn Thuỳ (2006), Bài giảng mĩ thuật Phương pháp giảng dạy mĩ thuật. Nhà xuất bản Giáo dục. 2. Nguyễn Quân (1990), Ghi chú về nghệ thuật. NXB Mĩ thuật,. 3. Trịnh Thiệp, Ưng Thị Châu (1997), Mĩ thuật và phương pháp dạy học mĩ thuật. NXB Giáo dục 4. Nguyễn Quân Phan cẩm Thượng (1989), Mĩ thuật của người Việt. Nhà xuất bản Giáo dục. 5. Nguyễn Quốc Toản (1998), Giáo trình Mĩ thuật. NXB Giáo dục. 6. Nguyễn Quân (1986), Tiếng nói của hình và sắc. NXB Văn hoá. • http:thuvien247.netThuatnoichuyenhangngay Nội dung được phát từ Thư viện Cộng Đồng Online 2013. • http:diendankienthuc.netdiendantamlyhocgiaotiep12204thuatnoichuyenhangngay.html. • http:congdoan.most.gov.vntraodoibaiviet1938congoanvihotngxaydngisngvnhoatrongcnvcl.html. TS. Hoàng Ngọc Thanh (Phó Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam) • Một số trang Wed có liên quan. MỤC LỤC trang A PHẦN MỞ ĐẦU…………………………………………………………01 I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI………………………………………...…………01 • Tính cấp thiết của đề tài………………………………………………01 • Tính thuyết phục của đề tài…………………………………………...02 II. MỤC ĐÍCH VIẾT SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM…………………….03 1. Tác dụng đối với học sinh……………………………..…………….03 2. Tác dụng đối với giáo viên..…………………………...……………….....03 III. ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU…….03 1. Đối tượng nghiên cứu………………………………………..………….03 2. Phương pháp nghiên cứu……………………………..…………………03 3. Phạm vi nghiên cứu……………………………………………………...04 B. NỘI DUNG ………………………………………..……………………..05 II. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN…………………………...……….05 1. Cơ sở lý luận………………………………………………………………05 2. Cơ sở thực tiễn……………………………………………………………05 2.1. Thực trạng dạy tại trường……………………………………………..05 2. 1.1 Thuận lợi……………………………………………………………….05 2.1.2 Khó khăn………………………………………………………………..06 2.2 Nguyên nhân khách quan………………………………………………..07 2.3 Nguyên nhân chủ quan….………………………………………………07 II. TỔ CHỨC THỰC HIỆN VÀ CÁC GIẢI PHÁP………………………..08 C KẾT LUẬN……………………………………………………………….14 Ý KIẾN ĐỀ XUẤT…………………………………………………………15 ……………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………
Trang 1PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO QUẬN 2
TRƯỜNG THCS NGUYỄN VĂN TRỖI
TỔ: ANH – NHẠC – MỸ THUẬT – THỂ DỤC
GIÁO VIÊN:
BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỔ
TÊN CHUYÊN ĐỀ: “HỆ THỐNG BỐN GIAI ĐOẠN LỊCH SỬ VIỆT NAM THỜI LÝ -TRẦN – LÊ - NGUYỄN THÔNG QUA CÁC BÀI THƯỜNG THỨC MỸ THUẬT”
A PHẦN MỞ ĐẦU
I/ LÝ DO CHỌN VIẾT CHUYÊN ĐỀ:
1 Tính cấp thiết của chuyên đề:
Dạy học Mỹ thuật là dạy cho học sinh thấy được những cái đẹp từ những hình ảnh rất đỗi bình dị của cuộc sống và dạy cho học sinh thêm yêu cái đẹp xung quanh Từ đó, các em hoc có thể sử dụng đôi tay khéo léo của mình để làm nên một cái đẹp mới, khác cái đẹp ban đầu (có thể đẹp hơn hoặc có thể đẹp không bằng cái đẹp cũ) nhưng ít ra đó là cảm nhận và thể hiện cái riêng của cá nhân các em Vậy làm thế nào để học sinh thấy được vẻ đẹp từ những điều bình dị ấy và đem ứng dụng ra cuộc sống của các em, sẽ rất cần ở người giáo viên một kỹ năng sử dụng các biện pháp giảng dạy khoa học, kết hợp tinh tế các bộ môn để giúp học sinh đạt được mục tiêu giáo dục toàn diện và lâu dài Giáo dục các em trở thành một con người vừa “học” lẫn “hành” chứ không phải là một con người chỉ biết lý thuyết suông mà không áp dụng được kiến thức trong học tập ra cuộc sống cũng như công việc sau này của các em
Trong nhà trường Trung học cơ sở việc giảng dạy bộ môn Mỹ thuật đạt kết quả tốt đòi hỏi giáo viên phải nắm vững kiến thức về chuyên môn, vận dụng đổi mới phương pháp dạy học, liên hệ thực tế để tìm hiểu rõ đối tượng có những khả năng, năng khiếu đặc biệt nhằm phát huy tính tích cực độc lập suy nghĩ, tìm tòi sáng tạo của mỗi học sinh Bởi vì học sinh chính là người chủ động tiếp nhận kiến thức từ giáo viên, cuối cùng của việc dạy học là kiến thức phải “đến” với học sinh
Vì thế giáo viên dạy môn Mỹ thuật cần phải giải thích cho học sinh thấy được ý nghĩa
và tầm quan trọng của bộ môn Mỹ thuật bởi nó là môn học có tính giáo dục văn hóa thẩm
mỹ, hình thành nhân cách và phát triển toàn diện cho học sinh
Trong quá trình giảng dạy tôi đã tìm hiểu và nhận ra một số vấn đề sau:
Trang 2+ Phần lớn đa số học sinh có hoàn cảnh khó khăn, nên việc chuẩn bị dụng cụ học tập theo yêu cầu bộ môn còn nhiều hạn chế Từ đó các em mặc cảm, ít tham gia phát biểu xây dựng bài
+ Các em học xong không thể nhớ nỗi những thời gian, mốc lịch sử quan trọng của Việt Nam thông qua các bài thường thức
+ Trong mỗi lớp học chỉ có một vài em là có khả năng, năng khiếu tốt, còn lại do không có năng khiếu nên các em chưa thật sự quan tâm đến bộ môn Mỹ thuật, cũng như các bài vẽ và phần lý thuyết
+ Phần lớn các em cũng không nắm, không nhớ hoặc không hệ thống được lịch sử Việt Nam Nên khi giáo viên áp dụng dạy học được chương trình kết hợp liên môn để các em
có thể hiểu thêm hiểu sâu bộ môn lịch sử Việt Nam hơn Điều đó yêu cầu mỗi người giáo viên chúng ta cần trao dồi thêm những lượng kiến thức cũ và luôn luôn cập nhật kiến thức mới để việc dạy của chúng ta truyền đạt đến học sinh ngày càng tốt và hay hơn
Từ những thực tế trên, qua quá trình đứng lớp giảng dạy tôi mạnh dạn đưa ra việc dạy
học áp dụng chuyên đề: “Hệ thống bốn giai đoạn lịch sử việt Nam thời Lý Trần – Lê -Nguyễn thông qua các bài thường thức Mỹ thuật”
2 Tính thuyết phục của chuyên đề:
Kính thưa quý thầy, cô các anh chị và các bạn đồng nghiệp thân mến Qua thời gian giảng dạy bộ môn Mỹ thuật xuất phát từ lòng yêu nghề, yêu ngành bản thân luôn nhiệt tình trong giảng dạy, luôn tìm tòi, tích lũy những kiến thức hay và cũng đã đúc kết được một số kinh nghiệm, muốn trình bày ra để cùng chia sẽ và học tập thêm Dạy Mỹ thuật ở các trường phổ thông bậc Trung học cơ sở (THCS) không đơn thuần là dạy vẽ mà lấy hoạt động Mỹ thuật “DẠY, HỌC VÀ ỨNG DỤNG” để nâng cao hiểu biết của học sinh về nhiều mặt như: đạo đức, trí tuệ, thẩm mỹ, kỹ năng… Do vậy Mỹ thuật có vị trí đặc biệt góp phần vào việc giáo dục thẩm mỹ, kỹ năng thực hành, kỹ năng ứng dụng cho học sinh hiện tại và tương lai Giáo dục thẩm mỹ là một bộ phận hợp thành không thể thiếu của giáo dục xã hội, giáo dục thẩm mỹ không thể đứng ngoài hoặc tách biệt khỏi quá trình giáo dục toàn diện trong nhà trường Hệ thống giáo dục thẩm mỹ có mục tiêu cụ thể đến phát triển năng lực thẩm mỹ cho học sinh
Từ thực tế cuộc sống và việc học tập của các em học sinh, bản thân giáo viên nhận thấy phần lớn các em không nắm được các kỹ năng kết hợp các môn học lại với nhau để có được một lượng kiến thức hoàn chỉnh hơn hoặc có được một kỹ năng áp dụng môn học này với môn học khác và kỹ năng ứng dụng môn học trong cuộc sống
Theo UNESCO đã xây dựng 4 trụ cột cho việc học đó cũng là định hướng cho giáo
dục của nhân loại trong thiên niên kỷ thứ ba: “Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để tự khẳng định mình”(learning to know, learning to do, learning to be and learning
to live together) Từ góc nhìn đó, có thể thấy ở Việt Nam 2 trụ cột quan trọng: Học để biết và Học để xác lập bản thân vẫn chưa đậm nét trong hệ thống giáo dục Thậm chí, học để
biết đã biến dạng thành học để thi Học sinh đi học chỉ để qua kỳ thi và cha mẹ cũng chỉ mong con đạt điểm tốt Giáo viên cũng dạy để thi, để chạy theo thành tích cho đẹp báo cáo lên cấp trên
Trang 3Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: Học tập là một chặng đường dài không có điểm kết thúc,
là cái thang không có bậc cuối cùng Bác Hồ cũng nhấn mạnh việc học tập nâng cao trình độ
của bản thân có nội dung cách mạng chứ không phải học tập vì những động cơ cá nhân Việc
học tập, rèn luyện toàn diện để có đủ đức đủ tài, nâng cao hiểu biết để phục vụ nhân dân là
điều phải làm hằng ngày Việc học tập tiếp thu những tri thức mới, những kinh nghiệm mới
để làm chủ khoa học kỹ thuật, để tiến kịp với trình độ văn minh của nhân loại là điều rất cần thiết và quan trọng Học để làm gì là vấn đề trọng tâm của mọi hoạt động giáo dục Giáo dục hiện đại hướng đến việc đào tạo những con người có tầm tư duy rộng mở trong một thế giới toàn cầu hóa, có tinh thần dân chủ, có khả năng ứng dụng hợp tác và có thể làm việc trong môi trường quốc tế Mục đích học của học sinh hiện đại hướng đến không (chỉ là) để vượt qua kỳ thi, mà là để trở thành một con người có tư duy độc lập, có kỹ năng áp dụng giải quyết các vấn đề trong cuộc sống, biết ứng dụng những gì đã học vào cuộc sống và cho công việc sau này để trở thành một con người có tri thức vững chắc cho tương lai của mình
Thông qua các bài giảng bằng các phương pháp thích hợp của các khối lớp 6, 7, 8, 9 từ thấp đến cao giúp cho các em HS có thể dễ dàng nhận thức, tiếp cận, sáng tạo và có kỹ năng ứng dụng vào trong học tập liên kết với các bộ môn và hệ thống lại các kiến thức có liên quan sau đó biết ứng dụng trong cuộc sống ở hiện tại và tương lai
II/ MỤC ĐÍCH VIẾT CHUYÊN ĐỀ:
1 Tác dụng đối với học sinh:
Nhằm giúp các em học sinh biết cách kết hợp môn Mĩ thuật với các môn học khác có liên quan (ví dụ: môn công nghệ, sinh học, lịch sử, địa lý, )
Giúp các em hiểu kỹ hơn về các giai đoạn lịch sử của Việt Nam thông qua các bài thường thức Mỹ thuật được giáo viên kết hợp từ lớp 6 đến lớp 9
2 Tác dụng đối với giáo viên:
Đáp ứng được kiến thức truyền tải cho học sinh khi kết hợp dạy liên kết các môn học với nhau
Tạo ra được cách dạy hứng thú, không gây nhàm chán khi hướng dẫn cho học sinh cách kết hợp ứng dụng bộ môn vào trong học tập và cuộc sống hàng ngày
III/ ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI ÁP DỤNG:
Đối tượng:
Học sinh các khối lớp 6, 7, 8, 9 trường THCS Nguyễn Văn Trỗi – Quận 2 – Tp Hồ Chí Minh
Kỹ năng kết hợp môn Mỹ thuật vào các môn học khác
Phương pháp:
Để tìm hiểu thành công đề tài với kết quả áp dụng được hiệu quả thì phương pháp nghiên cứu góp một phần chủ yếu quan trọng Đồng thời cần có sự kết hợt hài hòa giữa các phương pháp sau:
- Phương pháp hệ thống hóa, phân tích tổng hợp lí thuyết
- Phương pháp trực quan khảo sát thực tế, quan sát sư phạm
Trang 4- Phương pháp gợi trí tò mò cho học sinh.
3 Phạm vi áp dụng.
(Đang tham khảo ý kiến có thể ấp dụng phạm vi rộng toàn quận, toàn thành và toàn quốc)
Đối với môn Mĩ thuật ở chương trình THCS có 4 phân môn như: Vẽ tranh, vẽ theo mẫu, vẽ trang trí và thường thức Mĩ thuật Việc tìm hiểu, học tập giúp các em có khả năng ứng dụng trong cuộc sống thông qua những bài học và nhớ những
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Hồ Văn Thuỳ (2006), Bài giảng mĩ thuật- Phương pháp giảng dạy mĩ thuật Nhà xuất bản
Giáo dục
2 Nguyễn Quân (1990), Ghi chú về nghệ thuật NXB Mĩ thuật,.
3 Trịnh Thiệp, Ưng Thị Châu (1997), Mĩ thuật và phương pháp dạy học mĩ thuật NXB
Giáo dục
4 Nguyễn Quân- Phan cẩm Thượng (1989), Mĩ thuật của người Việt Nhà xuất bản Giáo
dục
5 Nguyễn Quốc Toản (1998), Giáo trình Mĩ thuật NXB Giáo dục.
6 Nguyễn Quân (1986), Tiếng nói của hình và sắc NXB Văn hoá.
http://thuvien 247 .net/Thuat-noi-chuyen-hang-ngay- Nội dung được phát từ Thư viện Cộng Đồng Online 2013
http://diendankienthuc.net/diendan/tam-ly-hoc-giao-tiep/ 12204 -thuat-noi-chuyen-hang-ngay.html
http://congdoan.most.gov.vn/trao-doi/bai-viet/ 1938 -cong-oan-vi-hot-ng-xay-dng-i-sng-vn-hoa-trong-cnvcl-.html TS Hoàng Ngọc Thanh (Phó Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam)
Một số trang Wed có liên quan
MỤC LỤC trang
A/ PHẦN MỞ ĐẦU………01
I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI……… …………01
Tính cấp thiết của đề tài………01
Trang 5 Tính thuyết phục của đề tài……… 02
II MỤC ĐÍCH VIẾT SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM……….03
1 Tác dụng đối với học sinh……… ……….03
2 Tác dụng đối với giáo viên ……… ……… 03
III ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU…….03
1 Đối tượng nghiên cứu……… ………….03
2 Phương pháp nghiên cứu……… ………03
3 Phạm vi nghiên cứu……… 04
B NỘI DUNG ……… ……… 05
II CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN……… ……….05
1 Cơ sở lý luận………05
2 Cơ sở thực tiễn………05
2.1 Thực trạng dạy tại trường……… 05
2 1.1 Thuận lợi……….05
2.1.2 Khó khăn……… 06
2.2 Nguyên nhân khách quan……… 07
2.3 Nguyên nhân chủ quan….………07
II TỔ CHỨC THỰC HIỆN VÀ CÁC GIẢI PHÁP……… 08
C/ KẾT LUẬN……….14
*Ý KIẾN ĐỀ XUẤT………15
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
Trang 6………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
B/ NỘI DUNG
I/ CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1 Cơ sở lí luận
- Căn cứ Chỉ thị số 40/2008/CT – BGDĐT ngày 22/7/2008 phát động phong trào “Xây dựng trường học thân thiện – học sinh tích cực” và Kế hoạch số 307/KH-BGDĐT ngày 22/7/2008 triển khai thực hiện phong trào này
- Căn cứ vào sự thay đổi phân phối chương trình giảm tải do Sở giáo dục & đào tạo ban hành năm 2013 cho các bộ môn nói chung và bộ môn Mĩ thuật nói riêng dạy khoáng chương trình và có thể linh động lồng ghép các tiết thực hành, liên hệ mang tính giáo dục thực tế với điều kiện cụ thể của từng khu vực giảng dạy Trong quá trình giảng dạy giáo viên
có thể lồng ghép kiến thức mở rộng thêm để nâng cao sự hiểu biết của học sinh
- Căn cứ vào nhiệm vụ năm học 2015 – 2016 nhằm tiếp tục triển khai có hiệu quả Kế hoạch hành động của ngành Giáo dục , chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 29- NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo
Trang 7Từ những cơ sở lí luận trên mà bản thân nhận thấy đối với bộ môn Mĩ thuật có thể lồng ghép bổ sung thêm kiến thức cho các bộ khác Điều đó rất cần và hỗ trợ cho các em học sinh nắm kĩ và hiểu thêm kiến thức bằng cách tích hợp các phương pháp dạy học tích cực để học sinh hiểu bài hơn, có hứng thú hơn với bộ môn và có thể ứng dụng vào trong các môn học khác hoặc ứng dụng vào công việc và cuộc sống chính vì thế bản thân đã thực hiện đề tài này
2 Cơ sở thực tiễn
2.1 Thực trạng dạy tại trường
2.1.1 Thuận lợi
Được Ban giám hiệu nhà trường và tổ chuyên môn Nhạc – Họa – Thể dục luôn quan tâm tạo điều kiện thuận lợi cho giáo viên trong công tác giảng dạy và các hoạt động tự học,
tự bồi dưỡng nhằm nâng cao phẩm chất chính trị, nghiệp vụ chuyên môn
Trường có hệ thống Internet, Website thuận lợi, có trang bị máy chiếu trong việc ứng dụng giảng dạy công nghệ thông tin, nghiên cứu, tham khảo tài liệu phục vụ mọi mặt công tác và tự bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ
Bản thân giáo viên luôn tích cực nghiên cứu về tin học và công nghệ thông tin nên thuận lợi trong công tác giảng dạy và các hoạt động tự học, bồi dưỡng thường xuyên dễ dàng hơn
Bản thân giáo viên luôn nhiệt tình trong công tác giảng dạy, có tinh thần ham học hỏi,
tự tìm tòi trong công tác chuyên môn và các hoạt động khác
Bản thân giáo viên luôn say mê với bộ môn, an tâm công tác, có tinh thần trách nhiệm cao trong mọi nhiệm vụ được giao đó cũng là động lực để nghiên cứu tìm tòi học hỏi và hoàn thành các đề tài liên quan đến bộ môn
Được sự tham gia nhiệt tình, tích cực học tập của phần lớn học sinh
Tạo hứng thú cho học sinh học Mỹ thuật thông qua một số PPDH Giáo viên phải biết vận dụng phương pháp giảng dạy tốt, biết vận dụng một số môn học khác tạo cho các
em không khí học tập sôi nổi ngay từ tiết học đầu
Môn Mỹ thuật mang tính nghệ thuật cao đem lại sự cảm nhận về cái đẹp, hình thành thị hiếu thẩm mỹ cho người học, các em được quan sát, được thực hành nhiều tạo hứng thú, lôi cuốn học sinh học tập
Môn Mỹ thuật đã trở thành môn học chính trong trường THCS
Giáo viên được đào tạo chính quy, có năng lực, nhiệt tình với bộ môn
Phòng giáo dục quan tâm, tạo điều kiện cho môn học mới
Nhà trường rất quan tâm, bám sát các giờ học, giờ lên lớp, chuyên đề, tổ chức ngoại khoá dưới mọi hình thức phong phú: vẽ tranh, thi tuyên truyền
2.1.2 Khó khăn
Trang 8Mặc dù Ban giám hiệu nhà trường có tạo nhiều điều kiện rất nhiều cho bộ môn nhưng
cơ sở vật chất nhà trường vẫn còn hạn chế, chưa có phòng chức năng đủ rộng để dạy và học môn năng khiếu Không có phòng trưng bày kết quả, sản phẩm của học sinh và giáo viên
Mỹ thuật vốn là môn năng khiếu vì thế sẽ không ít học sinh coi nhẹ mônhọc này Khi các em đã không có hứng thú học phân môn này các em sẽ suy nghĩ đây là môn phụ, học để biết và theo tính chất bắt buộc
Là môn học mới được triển khai ở trường THCS nên đội ngũ giáo viên mỏng, kinh nghiệm giảng dạy chưa cao
Đồ dùng học tập còn hạn chế như môn thường thức Mỹ thuật.- Phụ huuynh chưa thật
sự quan tâm, chuẩn bị đồ dùng cho các em còn thiếu nên giờ học còn bất lợi
Trường ở khu vực dân cư nghèo nên hoàn cảnh gia đình của học sinh đa số còn khó khăn phần nào ảnh hưởng đế thời lượng tự học, tự bồi dưỡng Phần đông con gia đình lao động nghèo nên việc đầu tư cho bộ môn năng khiếu chưa cao
Số lượng học sinh của một lớp khá đông, trình độ không đồng đều do đó khi thực hiện các phương pháp giảng dạy liên môn giáo viên còn gặp nhiều khó khăn trong khâu sắp xếp nhóm thực hiện các bài thực hành Phần lớn các em học sinh cũng chưa thật sự chú tâm vào việc học năng khiếu, còn lơ là và không có sự đầu tư về đồ dùng dụng cụ học tập như màu vẽ nên đó cũng một phần gây khó khăn trong việc học vẽ của các em cũng như việc giảng dạy của giáo viên
2.2 Nguyên nhân khách quan
Theo phân phối chương trình thì tiết học trên lớp hầu hết là thực hành mà việc chuẩn
bị và trang bị đồ dùng dạy học còn hạn chế Nên hầu như thường là dạy bằng những đồ dùng giáo viên tự chuẩn bị phần lớn theo sách giáo khoa, do đó chưa cập nhật kịp với sự phát triển nhanh của khoa học kỹ thuật và công nghệ như hiện nay, vì vậy tiết học trở nên nhàm chán cho cả người dạy và học
Các bài lý thuyết trong sách giáo khoa hầu như chỉ mang tính chung chung, tượng trưng chứ chưa thể hiện rõ nét được tính đặc trưng của bộ môn Không có tranh ảnh nhiều để minh họa trong các bài dạy lý thuyết Học sinh nắm bắt bài học còn mơ hồ và dẫn đến “coi thường” hoặc không thích học hoặc học chỉ để đối phó, từ đó chưa thấy được vai trò của bộ môn Mĩ thuật đối với sự sáng tạo của học sinh
2.3 Nguyên nhân chủ quan
Học các bộ môn năng khiếu phải có sự đam mê hoặc ít nhất cũng có năng khiếu “bẫm sinh” nên điều đó đã không quá gò bó các em không siêng năng
Chưa kết hợp, vận dụng sáng tạo các tiết thực hành để giúp các em có nhiều cảm hứng hơn với các buổi học tập từ thiên nhiên vì hiện nay khi điều kiện chưa cho phép tổ chức tham quan ngoại khóa kết hợp các môn học với nhau
Việc rèn luyện kĩ năng làm việc nhóm, giáo dục ý thức học tập tập thể chưa cao mặc
dù giáo viên có thực hiện nhưng ý thức học tập của các em vẫn còn chủ quan Qua đó còn giáo dục các em tình yêu thiên nhiên và có ý thức bảo vệ động thực vật thông qua sản phẩm của mình làm ra chưa thật sự đạt yêu cầu như giáo viên mong muốn
Trang 9Khả năng kết hợp các môn học lại với nhau của các em học sinh chưa tốt từ đó dẫn đến khả năng ứng dụng bộ môn Mĩ thuật vào cuộc sống cũng chưa cao
Từ những nguyên nhân khách quan và chủ quan trên bản thân đã cố gắng khắc phục những khó khăn để hoàn thành tiết dạy và đạt kết quả tốt nhất
II/ TỔ CHỨC THỰC HIỆN VÀ CÁC GIẢI PHÁP
Mỗi dân tộc đều có nền nghệ thuật của mình Nghệ thuật dân tộc nảy sinhra từ nhu cầu cuộc sống, phù hợp với môi trường, phong tục tập quán địa phương, với tâm lý con người
đã thấm vào xương máu và trửo thành lẽ sốngcủa cộng đồng không dễ phai mờ Vì thế nó có sức sống trường tồn, là niềm tựhào, là sưc s mạnh của mỗi dân tộc.Mọi quốc gia đều có ý thức gữi gìn và làm phong phú thêm nền nghệthuật dân tộc ở nước ta "bảo tồn và phát huy nghệ thuật truyền thống" và "giữgìn bản sắc dân tộc " đã được đảng và Nhà nước quan tâm,
có Nghị quyết về"văn hoá nghệ thuật".Dạy học Mỹ thuật ở trường phổ thông là góp phần tạo dựng môi trườngmỹ thuật cho xã hội, để mọi người hiểu biết, cảm nhận và có ý thức trân trọng,bảo vệ cái đẹp của thiên nhiên, các tác phẩm, công trình mỹ thuật và phươngthức cái hay, cái đẹp, vận dụng những hiểu biết về cái đẹp vào sinh hoạt hàng ngày Để học tốt được
Mỹ thuật thì GV phải tạo hứng thú cho học sinh học Mỹ thuật thông qua một số phương pháp dạy học: kể chuyện, tích hợp môn học khác
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu Để đáp ứng nhu cầu môn học và nhiệm vụ đổi mới phương pháp dạy học môn Mỹ thuật "phát triển con người toàn diện, phát triển tư duy, sáng tạo, hình thành phẩm chất người lao động mới" Thông qua từng môn học thì tạo hứng thú cho học sinh trong học tập là điều rất cần thiết để tránh lối "đọc - chép", lấy giáo viên làm trung tâm
Tạo hứng thú cho học sinh học Mỹ thuật thông qua một số PPDH Đối tượng nghiên cứu của đề tài là học sinh trung học cơ sở
4 Phương pháp nghiên cứu- Phương pháp lên lớp- Phương pháp thống kê- Phương pháp điều tra- Phương pháp tổng hợp, phân loại và một số phương pháp khác
5 Phạm vi nghiên cứu Học sinh THCS trường Nguyễn Văn Trỗi Quận 2
PHẦN THỨ I1 Cơ sở lý luậnNghị quyết Trung ương 4 khoá VII chỉ rõ "Đổi mới phương pháp dạy họcở tất cả các cấp học, bậc học, kết hợp học với hành, học tập với lao động sảnxuất, thực nghiệm và nghiên cứu khoa học, gắn với nhà trường và xã hội, ápdụng những phương pháp giáo dục hiện đại để bồi dưỡng cho học sinh nhữngnăng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề".Vậy muốn học sinh có tư duy sáng tạo thì trong tiết học giáo viên tạo chohọc sinh sự đam mê hứng thú học tập để có hứng thú học tập giáo viên dạy mônMĩ thuật trước hết phải hiểu được ý nghĩa, vai trò của phân môn và trên cơ sửođó tích hợp các môn học khác vào bài dạy để học sinh thấy được cái hay, cái thúvị của môn học này
Vì vậy học sinh mới hứng thú học tập để tìm tòi những tácphẩm hay, đầy sáng tạo và dí dỏm, thấy đựơc sự ngây thơ, hồn nhiên trong mỗinét vẽ của trẻ.Bàn về vấn đề hứng thú trong học tập nhà duy vật người Pháp K-Hen-ve-Tuyt đã viết: "Mộ công việc có hứng thú còn tạo điều kiện phát huy, nỗ lực, rènluyện thói quen lao động và viết chăm chú" Thật vậy, khi không
có hứng thúcon người ta làm việc không có hiệu quả, chán nản Ngược lại khi có hứng thú làm việc gì cũng thành công Với môn Mỹ thuật đây là môn học mới được đưavào trường THCS để giảng dạy cho nên vai trò của giáo viên là rất quan trọng
Trang 10B PHẦN THỨ II1 Giải quyết vấn đề:Dạy Mỹ thuật ở trường THCS không nhằm đào tạo học sinh thành hoạ sĩ (nghệ sĩ sáng tác) hay những người chuyên làm nghề mỹ thuật Môn Mỹ thuật ở trường THCS không đơn giản là vẽ mà lấy hoạt động mỹ thuật để nâng cao tầm hiểu biết của học sinh về nhiều mặt như: đạo đức, trí tuệ, thẩm mỹ
Sự hiện diện của Mĩ thuật được nhận thấy ở tất cả mọi mặt trong cuộc sống của con người như: ăn, mặc, ở trong sinh hoạt, học tập, sản xuất, các phương tiện, công cụ, sản xuất, lao động, vui chơi, giải trí Từ sách, vở, truyện đọc, từ những sản phẩm đến bao gói đựng chứa cho đến những sản phẩm công nghệ thông tin hàm chứa giá trị trí tuệ cao, tất cả đều mang dấu ấn của Mĩ thuật
Xem xét quá trình hình thành và phát triển của mỹ thuật trong lịch sử phát triển của loài người thì Mĩ thuật có nguồn gốc từ rất sớm Nó tồn tại ngay trong các công cụ lao động
và sinh hoạt của con người từ những thuở ban đầu Mĩ thuật tồn tại ở những nhu cầu tối thiểu, thiết yếu của con người như: ăn, mặc, ở… Và rồi tùy vào điều kiện phát triển của xã hội và tư duy nhận thức, nhu cầu thị hiếu của con người mà Mĩ thuật được biểu hiện và ứng dụng ở những lĩnh vực khác cao hơn Sự phát triển ngày một cao hơn về giá trị sử dụng và giá trị thẩm mỹ của các sản phẩm mỹ thuật ứng dụng được coi như một yếu tố khi nghiên cứu về quá trình phát triển của văn minh loài người Đó chính là quá trình tìm kiếm sự thống nhất về các giá trị trong một chỉnh thể sáng tạo, tức chính là đồ dùng, vật dụng Từ chỗ chỉ
để dùng phục vụ sinh hoạt, tiến đến biết làm đẹp đồ vật, làm đẹp sản phẩm do mình làm ra
Từ những đồ đơn giản, bình thường như: cái cày, cuốc, liềm, dao phục vụ cho công việc lao động sản xuất của người nông dân đến các đồ cao cấp hàm chứa tính trí tuệ, sáng tạo cao như: Tivi, tủ lạnh, xe máy, máy bay, tàu vũ trụ và ta thấy quá trình hoàn thiện đồ vật về cơ cấu và cả hiệu quả sử dụng là một bước tiến lớn lao trong quá trình nhận thức để cải tạo thế giới tự nhiên của con người Từ những điều được nghe , được thấy và được học thì giáo viên hướng dẫn mở rộng thêm theo cách định hướng về các loại hình mĩ thuật mà su này trong cuộc sống, trong công việc ít nhất một lần các em cũng sẽ gặp phải như:
* Sự phân chia các loại hình mỹ thuật ứng dụng trong các lĩnh vực của đời sống hàng ngày
1 Mỹ thuật trang trí
- Trang trí sân khấu: Nhằm phục vụ cho các loại hình sân khấu chèo, tuồng, cải lương…
Thông qua kịch bản, người hoạ sĩ tái hiện bằng hình ảnh, trang phục, ánh sáng phù hợp với ngữ cảnh, với phong tục tập quán của nhân vật và hoàn cảnh lịch sử xảy ra trong nội dung kịch bản
- Trang trí điện ảnh: Cũng gần giống trang trí sân khấu, điểm khác là hoạ sĩ phải tái hiện lại
ngữ cảnh xảy ra ở kịch bản phim, bằng cách đi thực tế để chọn cảnh quay cho phù hợp Mặt khác, trong trường quay người hoạ sĩ phải thiết kế mô hình: nhà cửa, phố xá… với kỹ xảo điện ảnh có thể quay những mô hình đó gây cảm giác như thật
- Trang trí thời trang: Hoạ sĩ sáng tác những mẫu thời trang mới, phù hợp với thời đại và
phát huy tính truyền thống của trang phục dân tộc
- Trang trí mỹ nghệ: Hoạ sĩ sáng tác những mẫu trang trí thảm (thảm treo tường, thảm trải
nền nhà), trang trí thêu, ren, trang trí đồ trang sức, vàng, bạc, đá quý, sơn mài, đồ gỗ trang trí…