1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TIỂU LUẬN: MỘT SỐ VẤN ĐỀ NGÔN BẢN VÀ DẠY HỌC HỘI THOẠI Ở TIỂU HỌC

15 1K 14

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 70,75 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong cuộc sống xã hội, quan hệ giữa người với người, quá trình hoạt động trong mọi lĩnh vực giao tiếp đóng vai trò rất quan trọng vì giao tiếp là khả năng có thể bày tỏ ý kiến của bản thân theo lời nói, viết hoặc sử dụng ngôn ngữ…Khi giao tiếp, các tình huống cụ thể xuất hiện một cách tự nhiên và người tham gia vào đó một cách cũng tự nhiên. Tuy nhiên trong quá trình dạy học, tình huống giao tiếp thực thường xuất hiện tự phát, nằm ngoài sự kiểm soát của giáo viên. Chính vì vậy, tình huống thực khó có thể bảo đảm hình thành ở học sinh những kĩ năng, kĩ xảo cần thiết. Do đó, trong dạy học ngôn ngữ, giáo viên cần chủ động tạo dựng những – tình huống học tập, tạo ra nhu cầu giao tiếp để khắc phục hố sâu ngăn cách giữa vốn tri thức ngôn ngữ với việc sử dụng chúng như một công cụ giao tiếp, tập dượt trước cho học sinh cách ứng xử trong những tình huống mà họ sẽ gặp trong cuộc sống, hình thành ở học sinh năng lực giao tiếp. Trong quá trình dạy và học, giao tiếp càng đóng vai trò quan trọng. Ở bậc tiểu học, học sinh cần phải rèn luyện kỹ năng giao tiếp. Kỹ năng giao tiếp của các em được thể hiện qua cách trình bày vấn đề, xử lý tình huống bằng ngôn ngữ, tranh luận cùng người khác trước các vấn đề... Từ những kỹ năng đó sẽ giúp cho các em chững chạc, tự tin, lịch sự, lễ phép và nhanh nhẹn trước các tình huống trong cuộc sống. Kỹ năng giao tiếp của các em được thể hiện nhiều trong quá trình các em học môn tiếng việt, nhưng không phải người giáo viên nào cũng quan tâm, uốn nắn, rèn luyện cho các em kỹ năng này qua bài học. Để học sinh có thể ứng dụng các kiến thức vào đời sống thì các dạng bài tập là tình huống giao tiếp có thật trong cuộc sống để học sinh có thể dễ dàng tìm thấy hứng thú và ích lợi của việc luyện tập. Từ đó bản thân các em sẽ nỗ lực giải quyết các vấn đề mà bài tập đặt ra, cuối cùng đi đến việc hình thành các kinh nghiệm và kỹ năng giao tiếp cần thiết. Các bài tập ấy sẽ là sự mô phỏng các tình huống sử dụng ngôn ngữ thật trong cuộc sống hoặc là cung cấp đầy đủ các nhân tố giao tiếp làm cơ sở để học sinh có thể tạo lập văn bản (cả ở dạng nói và viết) sao cho phù hợp. Vì vậy, bài tập tình huống có vai trò vô cùng quan trọng trong việc hình thành và rèn luyện kỹ năng giao tiếp cho học sinh. Chính vì thế, tôi luôn có suy nghĩ làm thế nào để trau dồi khả năng giao tiếp cho các em. Từ đó, tôi quyết định chọn đề tài nghiên cứu là: Tình huống giao tiếp trong hội thoại và việc hướng dẫn học sinh thực hiện các kiểu bài tập hội thoại.

Trang 1

KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC – MẦM NON

Học phần MỘT SỐ VẤN ĐỀ NGÔN BẢN

VÀ DẠY HỌC HỘI THOẠI Ở TIỂU HỌC

TÊN ĐỀ TÀI:

TÌNH HUỐNG GIAO TIẾP TRONG HỘI THOẠI VÀ VIỆC HƯỚNG DẪN HỌC SINH THỰC HIỆN CÁC KIỂU BÀI TẬP HỘI THOẠI

THÁNG 12 NĂM 2021

Trang 2

MỤC LỤC

2 Hướng dẫn học sinh thực hiện các kiểu bài tập hội thoại ở Tiểu học 3

3 Thiết kế một bài dạy (giáo án tiết dạy) hội thoại cho học sinh tiểu học 9

Trang 3

MỞ ĐẦU

Trong cuộc sống xã hội, quan hệ giữa người với người, quá trình hoạt động trong mọi lĩnh vực giao tiếp đóng vai trò rất quan trọng vì giao tiếp là khả năng có thể bày tỏ ý kiến của bản thân theo lời nói, viết hoặc sử dụng ngôn ngữ…Khi giao tiếp, các tình huống cụ thể xuất hiện một cách tự nhiên và người tham gia vào đó một cách cũng tự nhiên Tuy nhiên trong quá trình dạy học, tình huống giao tiếp thực thường xuất hiện tự phát, nằm ngoài sự kiểm soát của giáo viên Chính vì vậy, tình huống thực khó có thể bảo đảm hình thành ở học sinh những kĩ năng, kĩ xảo cần thiết Do đó, trong dạy học ngôn ngữ, giáo viên cần chủ động tạo dựng những – tình huống học tập, tạo ra nhu cầu giao tiếp để khắc phục hố sâu ngăn cách giữa vốn tri thức ngôn ngữ với việc sử dụng chúng như một công cụ giao tiếp, tập dượt trước cho học sinh cách ứng xử trong những tình huống mà họ sẽ gặp trong cuộc sống, hình thành ở học sinh năng lực giao tiếp Trong quá trình dạy và học, giao tiếp càng đóng vai trò quan trọng Ở bậc tiểu học, học sinh cần phải rèn luyện kỹ năng giao tiếp Kỹ năng giao tiếp của các em được thể hiện qua cách trình bày vấn đề, xử lý tình huống bằng ngôn ngữ, tranh luận cùng người khác trước các vấn đề Từ những kỹ năng đó sẽ giúp cho các em chững chạc, tự tin, lịch sự, lễ phép và nhanh nhẹn trước các tình huống trong cuộc sống Kỹ năng giao tiếp của các em được thể hiện nhiều trong quá trình các em học môn tiếng việt, nhưng không phải người giáo viên nào cũng quan tâm, uốn nắn, rèn luyện cho các em kỹ năng này qua bài học

Để học sinh có thể ứng dụng các kiến thức vào đời sống thì các dạng bài tập

là tình huống giao tiếp có thật trong cuộc sống để học sinh có thể dễ dàng tìm thấy hứng thú và ích lợi của việc luyện tập Từ đó bản thân các em sẽ nỗ lực giải quyết các vấn đề mà bài tập đặt ra, cuối cùng đi đến việc hình thành các kinh nghiệm và kỹ năng giao tiếp cần thiết Các bài tập ấy sẽ là sự mô phỏng các tình huống sử dụng ngôn ngữ thật trong cuộc sống hoặc là cung cấp đầy đủ các nhân

tố giao tiếp làm cơ sở để học sinh có thể tạo lập văn bản (cả ở dạng nói và viết) sao cho phù hợp Vì vậy, bài tập tình huống có vai trò vô cùng quan trọng trong việc hình thành và rèn luyện kỹ năng giao tiếp cho học sinh

Chính vì thế, tôi luôn có suy nghĩ làm thế nào để trau dồi khả năng giao

tiếp cho các em Từ đó, tôi quyết định chọn đề tài nghiên cứu là: Tình huống

giao tiếp trong hội thoại và việc hướng dẫn học sinh thực hiện các kiểu bài tập hội thoại.

Trang 4

NỘI DUNG Nội dung 1: Tình huống giao tiếp trong hội thoại

1.1 Khái niệm về tình huống

Phân biệt tình huống và tình hình:

Tình huống là sự diễn biến của tình hình làm xuất hiện vấn đề cần được giải quyết

Tình hình là tổng thể nói chung những sự kiện, hiện tượng có quan hệ với nhau, diễn ra trong một không gian, thời gian nào đó cho thấy tình trạng hoặc xu thế phát triển của sự vật

Giao tiếp là trao đổi tiếp xúc với nhau

Ngữ huống của cuộc giao tiếp là sự thay đổi của các yếu tố tạo nên ngữ cảnh được những người giao tiếp ý thức

1.2 Tình huống giao tiếp bằng ngôn ngữ

Tình huống giao tiếp bằng ngôn ngữ là tác động tổng thể của những yếu tố của ngữ cảnh ở thời điểm nào đó của cuộc trao đổi, tiếp xúc đang diễn ra được các nhân vật giao tiếp ý thức, trong đó xuất hiện các vấn đề cần giải quyết

Một tình huống giao tiếp có thể làm xuất hiện nhiều tình huống giao tiếp nhỏ( do giải quyết xong tình huống này có thể xuất hiện một tình huống mới) Chỉ khi nào các tình huống giao tiếp được giải quyết xong thì cuộc hôi thoại mới chấm dứt

1.3 Tình huống giao tiếp giả định

Là tình huống giao tiếp do các nhà sư phạm đặt ra, là công cụ để dạy hội thoại

Nó bao hàm đầy đủ các yếu tố ngữ cảnh, cũng thể hiện rõ đích của giao tiếp, nhân vật giao tiếp…, trong đó vấn đề cần giao tiếp đã xuất hiện

Mỗi tình huống giao tiếp giả định là một bài toán về giao tiếp học sinh cần tìm lời giải Mỗi đề bài tập về hội thoại bao giờ cũng chứa một tình huống giao tiếp về giả định

Nội dung 2: Hướng dẫn học sinh thực hiện các kiểu bài tập hội thoại ở Tiểu học

2.1 Kiểu bài tập dạy nghi thức lời nói trong hội thoại

Nghi thức lời nói là những lời nói đã được xã hội quy thành chuẩn mực được dùng phổ biến trong giao tiếp Dùng sai nghi thức lời nói là vi phạm chuẩn mực trong giao tiếp, điều đó dẫn tới các lỗi lầm, sai phạm trong quan hệ xã hội, thất

Trang 5

bại trong giao tiếp Nghi thức lời nói chủ yếu dùng khi mở đầu và kết thúc cuộc giao tiếp, nhất là trong các cuộc giao tiếp chính thức

Dạy nghi thức lời nói là day văn hóa giao tiếp,là dạy tác phong văn minh, lịch sự trong các mối quan hệ xã hội Việc dạy nghi thức lời nói được thực hiện bắt đầu từ cuối lớp 1 và tập trung ở lớp 2, lớp 3

a) Cấu trúc bài tập dạy nghi thức lời nói

Bài tập sử dụng nghi thức lời nói:

Đầu bài kiểu bài tập này gồm một lời trao hai lời đáp Cũng có khi sách giáo khoa mô tả bằng tranh ảnh tình huống giao tiếp, trong đó có một nhân vật nói lời trao hay lời đáp Học sinh sẽ căn cứ vào các dữ iện đã cho, đóng vai nhân vật còn lại để nói tiếp lời đáp hay lời trao là một nghi thức lời nói

Ví dụ: Viết lời đáp của người em trong tình huống sau:

Em xin anh cho em đi xem lớp anh đá bóng Anh nói:

- Em ở nhà làm cho hết bài tập đi

- ……

Còn bài tập sau lại dùng tranh minh họa để minh họa tình huống giao tiếp Đóng vai để nói lời chào phù hợp với từng trường hợp trong 2 bức tranh sau:

( Tiếng việt 2 – Sách Chân trời sáng tạo)

Bài tập lựa chọn nghi thức lời nói phù hợp với tình huống giao tiếp:

Bài tập gồm ba câu miêu tả tình huống giao tiếp Sau đó đề bài đưa ra yêu cầu học sinh đưa ra một nghi thức lời nói phù hợp

Đề bài đó có thể là tranh minh họa hoặc hông phải là tranh minh họa

Ví dụ:

+ Đề bài đòi hỏi người học sinh đưa ra lời xin lỗi

Nói lời của em khi em lỡ bước, giẫm vào chân bạn

+ Đề bài đòi hỏi người học sinh đưa ra lời cảm ơn

Trang 6

Trong giờ học tập đọc Bổng biết của em hết mực, em loay hoay không biết làm sao thì bạn Lan ngồi kế bên nói: “ Mình cho bạn mượn cây viết này!” Em sẽ đáp lại thế nào?

Các bạn lớp 2A tham gia tiết mục nhảy văn nghệ

Sau khi kết thúc, các em được thầy chủ nhiệm khen:

“Tiết mục nhảy của các em thật ấn tượng” Các em sẽ

nói lời đáp như thế nào?

b) Mục đích của bài tập

Bài tập nhằm rèn luyện việc vận dụng các nghi thức lời nói phù hợp với các tình huống giao tiếp đề bài đã ra

c) Tình huống giao tiếp

Tình huống chung của bài tập có thể mô tả như sau: Giữa các nhân vật xuất hiện những hoạt động( mua bán, trao đổi, tranh luận…) đòi hỏi dùng nghi thức lời nói để giao tiếp Trong hoàn cảnh ấy lời đáp nên như thế nào nếu người mở đầu dùng nghi thức lời nói đúng chỗ? Hoặc lời trao nên như thế nào nếu người đáp dùng nghi thức lời nói đúng chỗ?

d) Phương pháp đáp lời hay trao lời bằng một nghi thức lời nói

- Các bước triển khai: Để xác định đúng nghi thức lời nói đáp lời hay trao lời,

người làm bài cần tiến hành hai bước:

+ Xác định hoàn cảnh giao tiếp được mô tả trong đề bài là hoàn cảnh nào? (làm quen, cảm ơn, xin lỗi, đề nghị, yêu cầu…)

+ Lựa chọn nghi thức lời nói phù hợp

Công thức của lời trao hay đáp gồm: nghi thức dùng trong các hoàn cảnh giao tiếp đặt ra (cộng với) lời tỏ rõ phép lịch sự phù hợp quan hệ cá nhân các nhân vật giao tiếp

Ví dụ: cùng lời chào, nhưng với người lớn tuổi, để thể hiện sự kính trọng, lễ phép, phải dùng thêm từ “ cháu” ở trước hoặc từ “ ạ” ở sau hoặc cả hai từ (

Cháu chào ông “bà” ạ hoặc Cháu chào ông “bà”) Với các bạn cùng tuổi thì

chỉ cần dùng thêm từ bạn ở sau lời chào Với các em nhỏ hơn, dùng thêm từ em

nhé! sau lời chào.

e) Một số điều lưu ý:

+ Về cách dùng nghi thức lời nói khi làm quen.

Theo nguyên tắc chào hỏi khi gặp gỡ hoặc làm quen thì người chào, dùng cách chào nào, người trả lời phải dùng cách đó để đáp lại

Trang 7

Ví dụ: Lần đầu tiên Thảo gặp mẹ của bạn Thu, khi Thảo tới nhà Thu học bài Trường hợp thứ nhất bạn Thảo gặp mẹ của Thu nên dùng lời chào trực tiếp:

Cháu chào cô ạ Để đáp lại thời Thảo, mẹ Thu chào lại là: Cô chào cháu! hoặc Chào cháu!

Trường hợp thứ hai Thảo chào mẹ của Thu là: Cháu chào cô! Cháu là Thảo

bạn của Thu ạ Đáp lại lời Thảo, mẹ Thu nói: Chào cháu! Cô là mẹ của Thu.

+ Trong nhiều trường hợp, khi nói xong một nghi thức lời nói, cần nói thêm một vài câu để khơi mào cho đề tài giao tiếp xuất hiện

Ví dụ: Sau khi cảm ơn vì các bạn đến chúc mừng sinh nhật, em có thể nói thêm:

“Mình rất vui và hạnh phúc khi các bạn đã nhớ và đến chúc mừng sinh nhật mình”

2.2 Kiểu bài tập đáp lời hoặc trao lời trong các tình huống giao tiếp

Một cuộc hội thoại bao giờ cũng có lời trao, lời đáp Trong một tình huống giao tiếp, nếu đề bài đã cho lời trao thì học sinh phải đưa ra lời đáp hoặc ngược lại Kiểu bài tập sử dụng nghi thức lời nói là một dạng đặc biệt của kiểu bài tập đáp lời hoặc trao lời trong các tình huống giao tiếp

a)Cấu trúc bài tập đáp lời hoặc trao lời

Có hai dạng đề bài cho bài tập loại này

- Dạng đề 1: Cho sẵn các lời trao trong một chuỗi các cặp thoại liên tiếp

nhưng lời đáp thì bỏ trống Nhiệm vụ người làm bài là nói tiếp các lời đáp phù hợp

Ví dụ 1:

Viết lời đáp của em trong trường hợp sau:

- Bạn hát bài này hay quá! Bạn chép cho nhé!

- Tý rãnh mình sẽ chép cho bạn.

- ………

Ví dụ 2:

- Em đã dẹp đồ chơi chưa mà đã coi ti vi.

- Em chưa làm nữa.

-……….

- Dạng đề 2: Cho một tình huống giao tiếp, yêu cầu người làm bài đưa ra

một lời đáp để hoàn chỉnh đoạn thoại phù hợp tình huống đó

Trang 8

Ví dụ 1: Đang viết tập viết thì viết em hết mực Loay hoay mãi biết làm sao

thì bạn ngồi kế em đã bảo “Mình còn viết đây, cho bạn mượn này” Em đáp lời thế nào?

Ví dụ 2: Khi em xin phép mẹ để đến nhà bạn chơi bóng Mẹ bảo: “Con đã

học bài xong rồi sao?” Em đáp lời thế nào?

b)Phương pháp chuẩn bị lời đáp hoặc lời trao

- Ở kiểu bài tập này, người làm phải trải qua bốn bước:

+ Bước 1: Rút ra tình huống giao tiếp (với đề dạng 1) hay suy ngẫm về tình huống giao tiếp( với dạng đề 2)

+ Bước 2: Đưa ra lời đáp hoặc lời trao dự kiến

+ Bước 3: Xem xét tính phù hợp của lời đáp hoặc lời trao với tình huống giao tiếp

+ Bước 4: Sửa chữa, hoàn chỉnh lời đáp hoặc lời trao

Ví dụ: Dự kiến lời đáp của em trong trường hợp sau:

- Lan ơi! Bạn hát bài này hay quá! Bạn chép cho nhé!

- Tý rãnh mình sẽ chép cho Hồng nhé.

- ………

Giáo viên có thể đưa ra 2 lời đáp để học sinh lựa chọn:

- Nhớ nhé Bạn hứa rồi đấy!

- Mình cám ơn bạn trước nhé.

Với cách ra đề như trên, học sinh sẽ bỏ qua bước 1 và 2, đi ngay vào bước 3

và 4 Trong 2 lời đáp dự kiến, lời đáp nào là phù hợp? Về nội dung giao tiếp, lời đáp thứ 2 phù hợp với những gì bạn Lan và Hồng trao đổi và phù hợp phép lịch

sự, thân thiết Còn lời đáp thứ 1 tuy phù hợp với nội dung giao tiếp nhưng lại thiếu từ biểu thị tình cảm cho phù hợp với quan hệ bạn bè Người đọc cảm thấy lời đáp thứ 1 chưa được lịch sự lắm Do đó cần có sự sữa chữa, hoàn thiện lời đáp thứ 1 Phương án mới của lời đáp 1 sau khi hoàn thiện sẽ là:

- Bạn hứa rồi đó Cám ơn Hồng nha!

(hay: Cám ơn Hồng Nhớ chép cho mình nhé!)

2.3 Kiểu bài tập xử lí trọn vẹn một tình huống giao tiếp

Các đề bài trình bày ở phần 1 và 2 có đặc điểm giống nhau là tạm thời phân tách các đoạn thoại khỏi cuộc giao tiếp, đồng thời lại tách lời trao, lời đáp ra tạo nên các tình huống cụ thể, chi tiết để người học có thể tập xử lí Làm các kiểu bài tập trên, học sinh mới tập được các kĩ năng bộ phận( kĩ năng tìm lời trao hay

Trang 9

lời đáp phù hợp tình huống giao tiếp) nhưng không được tập luyện các kĩ năng

có tính tổng hợp thực hiện trọn vẹn một cuộc hội thoại Kiểu bài tập xử lí trọn vẹn một tình huống giao tiếp đã xuất hiện trong sách Tiếng Việt nhưng chưa nhiều trong khi đây mới là kiểu bài tập quan trọng để luyện tập kỹ năng hội thoại

a)Cấu trúc đề bài

Đề bài trình bày toàn bộ tình huống giao tiếp để học sinh tập xử lí Vậy tình huống giao tiếp ở đề bài loại này có gì khác với tình huống giao tiếp ở đề bài đáp lời hoặc trao lời, đề bài tập sử dụng nghi thức lời nói? Chúng ta hãy khảo sát các ví dụ sau:

- Hãy phân tích sự khác nhau của ba tình huống giao tiếp sau:

a Có một người lạ đến nhà em, gõ cửa và tự giới thiệu: “ Chú làm bên điện lực, chú đến để kiểm tra điện, cháu có thể mở cửa cho chú đươc không” Em sẽ

nói thế nào?

b Em đi học về, thấy bà nội đang ngồi xem ti vi Em lại gần thưa với bà nội

em đi học mới về.

c Em để quên áo mưa ở nhà Mà bây giờ trời đang mưa, em không biết làm sao thì bác căn tin cho em mượn áo mứa để về nhà Em cám ơn bác.

Về mặt lí thuyết, nếu đề bài chỉ đòi hỏi người làm bài đưa ra một lượt lời trao hay đáp thì các yếu tố của tình huống giao tiếp phải có sẵn lượt đáp hoặc trao và

bỏ trống lượt lời còn lại

Đề bài b và c là loại đề bài như vậy Ở hai đề bài này, căn cứ vào nội dung trình bày trong đề thì em đã chào và cảm ơn Người làm bài chỉ cần nói lời đáp lại lời của bà, lời bác căn tin là hoàn thành cuộc hội thoại đó Không cần thêm

bất cứ lượt lời nào khác dù là lời trao hay lời đáp Đó là tình huống giao tiếp đóng.

Ngược lại đề bài a có đặc điểm khác với đề bài b và c Đây là một tình huống giao tiếp có thể xử lí theo hai hướng:

- Theo hướng một tình huống giao tiếp đóng( một cặp thoại) Em bé nhìn qua khe cửa thấy chú thợ điện Chú nói: Chú làm bên điện lực, chú đến để kiểm tra

điện, cháu có thể mở cửa cho chú đươc không Lúc này em chỉ cần thông báo bố

mẹ em không có nhà và em chưa thể mở cửa Trọn vẹn hơn, em có thể mời chú lúc khác (chiều, tối…hay vào một thời gian nào đó thích hợp) đến kiểm tra khi

có bố mẹ Đến đây cặp thoại hoàn thành tình huống giao tiếp kết thúc

Trang 10

- Theo hướng một tình huống giao tiếp mở( nhiều cặp thoại, đoạn thoại) Thực hiện đề bài theo hướng giao tiếp mở có nghĩa là em bé phải thực hiện trọn

vẹn cuộc giao tiếp này, gồm các công việc: mời chú vào nhà, đưa chú đi kiểm tra chỗ điện bị hư Như vậy, việc thực hiện đề bài không hạn định trong một đoạn thoại ngắn hay một cặp thoại tách rời Lúc này chú sẽ sửa chữa hoặc xảy ra tình huống mất trộm khi em cho người lạ vào nhà Dĩ nhiên cuộc tiếp chú thợ điện này chỉ có thể xảy ra với điều kiện em học sinh đã lớn tuổi, đủ tư cách và kinh nghiệm thực hiện tiếp khách đến để kiểm tra điện

Tóm lại đề bài yêu cầu xử lí trọn vẹn một cuộc giao tiếp là một đề bài đưa ra

tình huống giao tiếp mở Đặc điểm tình huống giao tiếp mở là tình huống giao

tiếp diễn ra qua nhiều đoạn thoại, có đoạn thoại mở đầu, có đoạn thoại phát triển

chủ đề và có đoạn thoại kết thúc cuộc giao tiếp Ngược lại tình huống giao tiếp đóng là tình huống giao tiếp chỉ đòi hỏi thực hiện một lượt lời (trao hoặc đáp) để

kết thúc cặp thoại đã cho

Nội dung 3: Thiết kế một bài dạy (giáo án tiết dạy) hội thoại cho học sinh tiểu học.

TIẾT 51 – LỚP 5 – TUẦN 26

Tập làm văn

TẬP VIẾT ĐOẠN ĐỐI THOẠI

I Mục tiêu:

- Yêu cầu cần đạt về kiến thức, kĩ năng:

+ Nắm được nội dung câu chuyện để viết đoạn đối thoại đúng yêu cầu

+ Dựa theo truyện Thái Sư Tr- Phẩm chất: Học sinh tích cực, mạnh dạn trao đổi, hứng thú, chăm chỉ Thực hiện các yêu cầu của giáo viên nêu ra

ần Thủ Độ và gợi ý của GV, viết tiếp được các lời đối thoại trong màn kịch

đúng nội dung văn bản

II Phương pháp và phương tiện dạy học:

1 Phương pháp dạy học chính: PP Đóng vai, PP Gợi mở - vấn đáp, Tổ

chức nhóm học tập, Giao việc cá nhân

2 Phương tiện dạy học:

- Màn hình tương tác

III Chuẩn bị của giáo viên và học sinh:

GV: Máy tính, màn hình, bài soạn PowerPoint,…

Ngày đăng: 18/01/2022, 08:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w