MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Giáo sư Frank Davidoff, Tổng Biên tập Tạp chí Annals of Internal Medicine (một tạp chí y học nổi tiếng trên thế giới), đồng thời là một nhà khoa học hàng đầu nước Mỹ, đã khẳng định: “Khoa học chỉ tồn tại sau khi kết quả của nghiên cứu khoa học được công bố trên các tạp chí.” Quả thực, công trình nghiên cứu khoa học chỉ hoàn tất khi kết quả được công bố trên tạp chí khoa học có các chuyên gia phản biện và phản biện nghiêm chỉnh bởi nó chính là thước đo, công cụ kiểm định chất lượng, “người gác cổng” của những công trình nghiên cứu khoa học chuẩn mực, “bà đỡ” cho những ý tưởng mới, tìm tòi, sáng tạo tri thức và giải pháp mới. Hoạt động xuất bản tạp chí khoa học là một quá trình phức tạp tuân theo những quy tắc nhất định. Nhiệm vụ hàng đầu của tạp chí khoa học là phải bảo đảm tính minh bạch, tính chính xác, tính được phản biện, tính giá trị của nghiên cứu khoa học. Một tạp chí khoa học sẽ tự phủ định mình và đánh mất uy tín, niềm tin trong cộng đồng nghiên cứu và độc giả nếu không xây dựng và hoàn thiện được một cơ chế phản biện độc lập, khách quan, chính xác, chất lượng học thuật cao, hỗ trợ và nâng đỡ những phát hiện mới có giá trị trong nghiên cứu khoa học. Nghiên cứu khoa học là một hoạt động thiết yếu, nếu không muốn nói là số một của một đại học đẳng cấp quốc tế. Các đại học ngày nay nói chung được xây dựng dựa trên ý tưởng và mô hình của nhà cải cách đại học và giáo dục Wilhelm Von Humboldt, theo đó đại học đóng vai trò một trung tâm văn hóa và nhân văn, với chức năng giảng dạy, nghiên cứu, sáng tạo tri thức mới và chuyển giao công nghệ cho nền kinh tế. Chính thực lực và thành tích nghiên cứu khoa học là một chỉ tiêu định hình và phân biệt một đại học đẳng cấp quốc tế với một đại học “xoàng”. Tại hội nghị “Tổng kết hoạt động khoa học công nghệ giai đoạn 20062010 và định hướng 20112015 các trường khối kỹ thuật, công nghệ và khoa học tự nhiên” được tổ chức vào tháng 102010, Bộ Giáo dục và Đào tạo đánh giá nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ trong các trường đại học nói chung và các trường thuộc khối khoa học tự nhiên kỹ thuật chưa tương xứng với khả năng, tiềm năng của mình và chưa đáp ứng được mong muốn của xã hội, thậm chí không ứng dụng ngay được. Công tác nghiên cứu khoa học càng chuyên sâu và đa dạng thì càng có lợi cho phát triển tỷ lệ tiến sĩ trong các cơ sở đào tạo, tận dụng được nguồn nhân lực và chuyển giao công nghệ trong nước với chi phí thấp, đáp ứng nhu cầu xã hội... Trong bối cảnh như vậy, vai trò của hoạt động xuất bản tạp chí khoa học càng quan trọng hơn bao giờ hết. Tuy nhiên thực tiễn cho thấy hoạt động xuất bản tạp chí khoa học ở Việt Nam còn nhiều hạn chế nên chưa làm tốt vai trò cầu nối để các nhà nghiên cứu trong nước giới thiệu các công trình nghiên cứu của mình tới các đồng nghiệp trong khu vực và thế giới; hoặc chưa tiếp cận được với các chuẩn mực quốc tế nên số lượng bài báo khoa học của Việt Nam trên các tạp chí khoa học quốc tế rất thấp so với các nước trong khu vực; và nhiều bài báo dù có giá trị khoa học nhưng vẫn bị từ chối đăng. Là một phương tiện truyền thông học thuật, Tạp chí Khoa học Kinh tế và Kinh doanh thuộc Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội có sức ảnh hưởng nhất định đối với hoạt động nghiên cứu khoa học của Trường Đại học Kinh tế Đại học Quốc gia, đặc biệt trong môi trường giáo dục hiện đại ngày nay. Được tách ra từ Tạp chí Khoa học Kinh tế Luật vào ngày 0882008, tính đến nay Tạp chí Khoa học Kinh tế và Kinh doanh đã trải qua hơn ba năm hoạt động, đang dần khẳng định được những bước tiến mới về chất lượng với tư cách là một ấn phẩm khoa học, là diễn đàn trao đổi về học thuật chuyên sâu, nơi công bố những công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước nhằm phục vụ công tác giảng dạy, học tập, nghiên cứu trong lĩnh vực kinh tế, quản lý và quản trị kinh doanh. Với 04 số tiếng Việt và 01 số tiếng Anh được xuất bản mỗi năm, Tạp chí Khoa học Kinh tế và Kinh doanh đã đăng tải được gần 110 công trình nghiên cứu, trao đổi và thông tin thuộc lĩnh vực kinh tế và kinh doanh; xây dựng được thể lệ gửi bài và tiêu chí phản biện bài viết theo quy chuẩn của các tạp chí khoa học quốc tế; phát triển đội ngũ cộng tác viên khá đông đảo… Tuy nhiên, so với các tạp chí khoa học uy tín đầu ngành cả trong và ngoài nước, Tạp chí Khoa học Kinh tế và Kinh doanh vẫn ở một khoảng cách khá xa. Tạp chí Khoa học Kinh tế và Kinh doanh chưa thật sự phát huy tối đa nguồn lực và tiềm lực, chưa được cộng đồng các nhà khoa học biết đến rộng rãi, mạng lưới cộng tác viên chưa duy trì được liên tục và thường xuyên, chất lượng bài viết chưa đồng đều, cơ sở vật chất còn bất cập… Do đó, đề tài Luận văn Thạc sĩ “Hoạt động xuất bản Tạp chí Khoa học Kinh tế và Kinh doanh thuộc Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội” có ý nghĩa rất quan trọng, góp phần hệ thống hóa các vấn đề về lý luận và thực tiễn của hoạt động xuất bản Tạp chí Khoa học Kinh tế và Kinh doanh, từ đó đề xuất một số giải pháp khả thi nhằm củng cố và xây dựng Tạp chí Khoa học Kinh tế và Kinh doanh theo hướng trung thành với tôn chỉ, mục đích ban đầu, vừa tập trung nâng cao chất lượng khoa học, vừa quan tâm đến việc mở rộng phạm vi ảnh hưởng và đối tượng bạn đọc, không chỉ trong nước mà trên phạm vi khu vực và quốc tế.
Trang 1Danh mục các hình vẽ, biểu đồ
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG XUẤT BẢN TẠP CHÍ KHOA HỌC 7
1.1 Các khái niệm cơ bản 7
1.2 Đặc trưng của hoạt động xuất bản tạp chí khoa học 16
1.3 Tình hình hoạt động xuất bản tạp chí khoa học ở nước ta hiện nay .25
1.4 Ý nghĩa của hoạt động xuất bản tạp chí khoa học 30
Chương 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG XUẤT BẢN TẠP CHÍ KHOA HỌC KINH TẾ VÀ KINH DOANH THUỘC TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI 33
2.1 Tổng quan về Tạp chí Khoa học Kinh tế và Kinh doanh 33
2.2 Hoạt động xuất bản Tạp chí Khoa học Kinh tế và Kinh doanh 35
Chương 3: ĐÁNH GIÁ VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP VỀ HOẠT ĐỘNG XUẤT BẢN TẠP CHÍ KHOA HỌC KINH TẾ VÀ KINH DOANH THUỘC TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI 57
3.1 Đánh giá về hoạt động của Tạp chí Khoa học Kinh tế và Kinh doanh 57
3.2 Đề xuất giải pháp 60
KẾT LUẬN 70
TÀI LIỆU THAM KHẢO 72
PHỤ LỤC 75
Trang 4Tên hình, bảng, biểu đồ Trang
Hình 1.1: Mô hình mẫu về quy trình phản biện theo hình thức
Bảng 1.1: Số lượng TCKH chuyên ngành được tính điểm công
trình khoa học quy đổi khi xét công nhận đạt tiêu chuẩn chức
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Giáo sư Frank Davidoff, Tổng Biên tập Tạp chí Annals of InternalMedicine (một tạp chí y học nổi tiếng trên thế giới), đồng thời là một nhàkhoa học hàng đầu nước Mỹ, đã khẳng định: “Khoa học chỉ tồn tại sau khi kếtquả của nghiên cứu khoa học được công bố trên các tạp chí.” Quả thực, côngtrình nghiên cứu khoa học chỉ hoàn tất khi kết quả được công bố trên tạp chíkhoa học có các chuyên gia phản biện và phản biện nghiêm chỉnh bởi nóchính là thước đo, công cụ kiểm định chất lượng, “người gác cổng” củanhững công trình nghiên cứu khoa học chuẩn mực, “bà đỡ” cho những ýtưởng mới, tìm tòi, sáng tạo tri thức và giải pháp mới
Hoạt động xuất bản tạp chí khoa học là một quá trình phức tạp tuântheo những quy tắc nhất định Nhiệm vụ hàng đầu của tạp chí khoa học làphải bảo đảm tính minh bạch, tính chính xác, tính được phản biện, tính giá trịcủa nghiên cứu khoa học Một tạp chí khoa học sẽ tự phủ định mình và đánhmất uy tín, niềm tin trong cộng đồng nghiên cứu và độc giả nếu không xâydựng và hoàn thiện được một cơ chế phản biện độc lập, khách quan, chínhxác, chất lượng học thuật cao, hỗ trợ và nâng đỡ những phát hiện mới có giátrị trong nghiên cứu khoa học
Nghiên cứu khoa học là một hoạt động thiết yếu, nếu không muốn nói
là số một của một đại học đẳng cấp quốc tế Các đại học ngày nay nói chungđược xây dựng dựa trên ý tưởng và mô hình của nhà cải cách đại học và giáodục Wilhelm Von Humboldt, theo đó đại học đóng vai trò một trung tâm vănhóa và nhân văn, với chức năng giảng dạy, nghiên cứu, sáng tạo tri thức mới
và chuyển giao công nghệ cho nền kinh tế Chính thực lực và thành tích
Trang 6nghiên cứu khoa học là một chỉ tiêu định hình và phân biệt một đại học đẳngcấp quốc tế với một đại học “xoàng”.
Tại hội nghị “Tổng kết hoạt động khoa học - công nghệ giai đoạn
2006-2010 và định hướng 2011-2015 các trường khối kỹ thuật, công nghệ và khoahọc tự nhiên” được tổ chức vào tháng 10/2010, Bộ Giáo dục và Đào tạo đánhgiá nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ trong các trường đại họcnói chung và các trường thuộc khối khoa học tự nhiên - kỹ thuật chưa tươngxứng với khả năng, tiềm năng của mình và chưa đáp ứng được mong muốncủa xã hội, thậm chí không ứng dụng ngay được Công tác nghiên cứu khoahọc càng chuyên sâu và đa dạng thì càng có lợi cho phát triển tỷ lệ tiến sĩtrong các cơ sở đào tạo, tận dụng được nguồn nhân lực và chuyển giao côngnghệ trong nước với chi phí thấp, đáp ứng nhu cầu xã hội Trong bối cảnhnhư vậy, vai trò của hoạt động xuất bản tạp chí khoa học càng quan trọng hơnbao giờ hết
Tuy nhiên thực tiễn cho thấy hoạt động xuất bản tạp chí khoa học ởViệt Nam còn nhiều hạn chế nên chưa làm tốt vai trò cầu nối để các nhànghiên cứu trong nước giới thiệu các công trình nghiên cứu của mình tới cácđồng nghiệp trong khu vực và thế giới; hoặc chưa tiếp cận được với các chuẩnmực quốc tế nên số lượng bài báo khoa học của Việt Nam trên các tạp chíkhoa học quốc tế rất thấp so với các nước trong khu vực; và nhiều bài báo dù
có giá trị khoa học nhưng vẫn bị từ chối đăng
Là một phương tiện truyền thông học thuật, Tạp chí Khoa học Kinh tế
và Kinh doanh thuộc Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội có sức ảnhhưởng nhất định đối với hoạt động nghiên cứu khoa học của Trường Đại họcKinh tế - Đại học Quốc gia, đặc biệt trong môi trường giáo dục hiện đại ngàynay Được tách ra từ Tạp chí Khoa học Kinh tế - Luật vào ngày 08/8/2008,tính đến nay Tạp chí Khoa học Kinh tế và Kinh doanh đã trải qua hơn ba năm
Trang 7hoạt động, đang dần khẳng định được những bước tiến mới về chất lượng với
tư cách là một ấn phẩm khoa học, là diễn đàn trao đổi về học thuật chuyênsâu, nơi công bố những công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoàinước nhằm phục vụ công tác giảng dạy, học tập, nghiên cứu trong lĩnh vựckinh tế, quản lý và quản trị kinh doanh Với 04 số tiếng Việt và 01 số tiếngAnh được xuất bản mỗi năm, Tạp chí Khoa học Kinh tế và Kinh doanh đãđăng tải được gần 110 công trình nghiên cứu, trao đổi và thông tin thuộc lĩnhvực kinh tế và kinh doanh; xây dựng được thể lệ gửi bài và tiêu chí phản biệnbài viết theo quy chuẩn của các tạp chí khoa học quốc tế; phát triển đội ngũcộng tác viên khá đông đảo…
Tuy nhiên, so với các tạp chí khoa học uy tín đầu ngành cả trong vàngoài nước, Tạp chí Khoa học Kinh tế và Kinh doanh vẫn ở một khoảng cáchkhá xa Tạp chí Khoa học Kinh tế và Kinh doanh chưa thật sự phát huy tối đanguồn lực và tiềm lực, chưa được cộng đồng các nhà khoa học biết đến rộngrãi, mạng lưới cộng tác viên chưa duy trì được liên tục và thường xuyên, chấtlượng bài viết chưa đồng đều, cơ sở vật chất còn bất cập… Do đó, đề tài Luận
văn Thạc sĩ “Hoạt động xuất bản Tạp chí Khoa học Kinh tế và Kinh doanh thuộc Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội ” có ý nghĩa rất quan
trọng, góp phần hệ thống hóa các vấn đề về lý luận và thực tiễn của hoạt độngxuất bản Tạp chí Khoa học Kinh tế và Kinh doanh, từ đó đề xuất một số giảipháp khả thi nhằm củng cố và xây dựng Tạp chí Khoa học Kinh tế và Kinhdoanh theo hướng trung thành với tôn chỉ, mục đích ban đầu, vừa tập trungnâng cao chất lượng khoa học, vừa quan tâm đến việc mở rộng phạm vi ảnhhưởng và đối tượng bạn đọc, không chỉ trong nước mà trên phạm vi khu vực
và quốc tế
2 Tình hình nghiên cứu
Năng suất khoa học của một quốc gia có thể đo bằng hai chỉ số chính:
số lượng bài báo khoa học và số bằng sáng chế Do đó, tạp chí khoa học và
Trang 8hoạt động xuất bản tạp chí khoa học là vấn đề được nhiều người thuộc nhiềulĩnh vực quan tâm Thực tế đã có rất nhiều bài báo bàn về vấn đề này, songxét về các nghiên cứu được thực hiện một cách hệ thống, chỉ có một số côngtiêu biểu như Đề án “Nâng cao chất lượng Tạp chí Kinh tế và Phát triển bảntiếng Anh (Journal of Economics and Development) đạt tiêu chuẩn quốc tế”của Đại học Kinh tế Quốc dân hay đề tài Luận văn Thạc sĩ “Nâng cao hoạt
động các tạp chí kinh tế (khảo sát các tạp chí Tài chính, Kiểm toán, Kinh tế và
Dự báo)” chuyên ngành Báo chí học… Các nghiên cứu này chưa phù hợp với
môi trường, điều kiện cụ thể của Tạp chí Khoa học Kinh tế và Kinh doanh
Do vậy, đây là đề tài có ý nghĩa thực tiễn đối với Tạp chí Khoa học Kinh tế vàKinh doanh và có giá trị tham khảo với các tạp chí khoa học khác
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
- Giải quyết các vấn đề khoa học: Làm rõ các khái niệm liên quan tớitạp chí khoa học, đặc trưng hoạt động xuất bản tạp chí khoa học, tình hìnhhoạt động xuất bản tạp chí khoa học ở Việt Nam và ý nghĩa của hoạt độngxuất bản tạp chí khoa học
- Giải quyết các vấn đề thực tiễn: Khảo sát thực trạng hoạt động xuấtbản Tạp chí Khoa học Kinh tế và Kinh doanh thuộc Tạp chí Khoa học Đạihọc Quốc gia Hà Nội, từ đó đưa ra một số đánh giá chung cũng như đề xuấtgiải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa các vấn đề cơ bản về tạp chí khoa học
- Tìm hiểu tình hình hoạt động xuất bản tạp chí khoa học ở Việt Nam
và rút ra ý nghĩa của hoạt động này
- Khảo sát thực trạng hoạt động xuất bản Tạp chí Khoa học Kinh tế
và Kinh doanh (Ban Biên tập, công tác phản biện, biên tập, gia công chỉnh
Trang 9sửa, in ấn, phát hành, công tác tác giả và độc giả), làm rõ được thành tựu vàhạn chế của nó.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động xuấtbản Tạp chí Khoa học Kinh tế và Kinh doanh
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động xuất bản Tạp chí Khoa học Kinh tế và Kinh doanh thuộcTạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Tạp chí Khoa học Kinh tế và Kinh doanh
- Phạm vi thời gian: Tạp chí Khoa học Kinh tế và Kinh doanh từ số 1năm 2009 (thời điểm ra số đầu tiên kể từ khi tách ra khỏi Tạp chí Khoa họcKinh tế - Luật) đến nay
5 Phương pháp nghiên cứu
- Cách thức tiếp cận nghiên cứu đề tài: Trên cơ sở các tài liệu liên quanđến nội dung nghiên cứu và khảo sát thực trạng hoạt động của Tạp chí Khoahọc Kinh tế và Kinh doanh
- Các phương pháp sử dụng nghiên cứu: Đề tài áp dụng các phươngpháp nghiên cứu khoa học như thống kê, tổng hợp, phân tích, so sánh… dựatrên các nguồn tài liệu thu thập
6 Đóng góp của đề tài
- Khái quát hóa về toàn bộ quy trình của hoạt động xuất bản tạp chíkhoa học
- Đề xuất một số giải pháp khả thi nhằm nâng cao hoạt động xuất bản
Tạp chí Khoa học Kinh tế và Kinh doanh, đáp ứng mục tiêu phát triển Tạp chí
Khoa học Kinh tế và Kinh doanh trong thời gian tới
Trang 107 Kết cấu của đề tài
Kết cấu đề tài gồm 3 chương:
- Chương 1: Một số vấn đề chung về hoạt động xuất bản tạp chíkhoa học
- Chương 2: Thực trạng hoạt động xuất bản Tạp chí Khoa học Kinh tế
và Kinh doanh thuộc Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội
- Chương 3: Đánh giá và đề xuất giải pháp về hoạt động xuất bản Tạpchí Khoa học Kinh tế và Kinh doanh thuộc Tạp chí Khoa học Đại học Quốcgia Hà Nội
Trang 11Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG XUẤT BẢN TẠP CHÍ KHOA HỌC
1.1 Các khái niệm cơ bản
1.1.1 Tạp chí
Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, tạp chí là từ chỉ chung các loại ấnphẩm báo chí xuất bản định kỳ Tạp chí được phân chia theo hai tiêu chí sau:
Thứ nhất, các loại tạp chí chia theo định kỳ, ví dụ như tạp chí hàng tuần
(còn gọi là tuần san, tuần báo, được xuất bản định kỳ vào một ngày trong tuần),nguyệt san (xuất bản mỗi tháng một số), quý san (mỗi quý một số), bán niênsan (nửa năm một kỳ), niên san (một kỳ mỗi năm) Ở Việt Nam, có khá nhiềuloại tạp chí ra với định kỳ không theo phân loại trên như bán tuần báo (bi-weekly) với 2-3 số mỗi tuần, bán nguyệt san (bi-monthly) in 2-3 kỳ mỗi tháng
Thứ hai, các loại tạp chí chia theo chủ đề, ví dụ như tạp chí nghệ thuật
-mỹ nghệ, tạp chí về ôtô - xe máy, tạp chí kinh doanh - tài chính, tạp chí chotrẻ em, tạp chí nấu ăn, tạp chí giải trí, tạp chí thời trang, v.v…
Theo các học giả Trung Quốc trong cuốn Xuất bản tạp chí (bản dịch
tiếng Việt, Khoa Xuất bản – Học viện Báo chí và Tuyên truyền, 2010), “tạpchí có tên gọi cố định, có đánh số thứ tự theo quyển, kỳ hoặc năm tháng, nhânbản bằng phương thức in ấn, đăng tải trên chất liệu giấy, là xuất bản phẩmliên tục thành quyển”
Theo công bố của tổ chức UNESCO trong cuốn Xuất bản tạp chí (bản
dịch tiếng Việt, Khoa Xuất bản – Học viện Báo chí và Tuyên truyền, 2010),
“tất cả xuất bản phẩm có cùng một tiêu đề, xuất bản liên tục định kỳ hoặckhông định kỳ, mỗi năm ít nhất là trên 1 kỳ (1 lần), mỗi kỳ đều ghi rõ số thứ
tự và ghi rõ ngày tháng thì gọi là tạp chí”
Trang 12Theo Từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam Online, tạp chí là chủngloại ấn phẩm báo chí xuất bản định kỳ, với các kỳ hạn hằng tuần, nửa tháng,một tháng, một quý, nửa năm, v.v Tạp chí khác với báo hằng ngày Về nộidung, tạp chí thường chứa đựng những thông tin mang tính tổng quát haychuyên đề về tình hình thời sự, các vấn đề thuộc các lĩnh vực khoa học tựnhiên hoặc xã hội đang được nhiều người quan tâm Về hình thức, tạp chíđược đóng thành tập với các cỡ khác nhau, khổ thường nhỏ hơn khổ báo hằngngày, có bìa.
Còn theo bảng chú giải thuật ngữ của Trung tâm Học liệu Đại học Huế,tạp chí (journal) là một dạng ấn phẩm định kỳ xuất bản trong khoảng thờigian nhất định (hằng tháng, hằng quý)
Như vậy, tất cả các định nghĩa trên đều chỉ ra các yếu tố hoặc đặc điểmcấu thành nên tạp chí Tham chiếu các định nghĩa trên và tình hình thực tế, cóthể rút ra khái niệm chung về tạp chí như sau: Tạp chí là một loại xuất bảnphẩm được xuất bản định kỳ, có tên gọi ổn định, xuất bản liên tục không giớihạn thời gian, đánh số thứ tự theo quyển/kỳ hoặc năm tháng, được đăng tảitrên chất liệu giấy hoặc trên mạng Internet (tạp chí online)
Là một phương tiện truyền bá độc lập, đến nay tạp chí đã có hơn 300năm lịch sử Bằng hình thức xuất bản liên tục, tạp chí có ảnh hưởng liên tụcđối với độc giả mục tiêu trong những lĩnh vực nhất định, từ đó trở thành mộttrong những loại hình xuất bản phẩm quan trọng
1.1.2 Tạp chí khoa học
Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, tạp chí khoa học là một ấnphẩm định kỳ (có thể xuất bản theo tuần, tháng, quý hoặc 6 tháng) nhằm mởrộng hơn nữa những tiến bộ khoa học bằng cách công bố các kết nghiên cứumới Hầu hết các tạp chí khoa học mang tính chuyên ngành cao, song cũng cómột số tạp chí khoa học có phạm vi phủ sóng rộng khắp các lĩnh vực khoa
Trang 13học Tạp chí khoa học thường đăng tải các bài báo có nội dung khoa học đãqua hệ thống phản biện của tạp chí khoa học nhằm đảm bảo bài viết đáp ứngquy định về tiêu chuẩn chất lượng và giá trị khoa học mà nó đề ra.
Còn theo Từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam Online, tạp chí khoahọc là xuất bản phẩm định kỳ đăng tải kết quả nghiên cứu và hoạt động khoahọc, giới thiệu các công trình khoa học trong và ngoài nước Mỗi tạp chí khoahọc do một cơ quan chủ quản, có thể là cơ quan nhà nước hay tổ chức chínhtrị, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, có tổng biên tập và có thể có chủ nhiệm, hộiđồng biên tập
Như vậy, tạp chí khoa học là phương tiện truyền thông về học thuật, do
đó mục tiêu chính của tạp chí khoa học là chuyên chở thông tin đến giớinghiên cứu khoa học nhằm từng bước phát triển khoa học Tạp chí khoa họccòn là diễn đàn khoa học để giới khoa học có cùng chuyên môn trao đổi vàhọc hỏi nhau Phần lớn các tạp chí khoa học rất chuyên sâu về một bộ môn
khoa học như American Heart Journal (chuyên về tim), American Journal of
Epidemiology (dịch tễ học), Bone (xương), Blood (máu), Neurology (thần
kinh học)… nhưng một số tạp chí khoa học như Science, Nature, Proceedings
of the National Academy of Science USA… lại công bố tất cả nghiên cứu từ
bất cứ bộ môn khoa học nào
Tạp chí khoa học là loại hình ấn phẩm có nhiều điểm khác biệt so vớicác loại hình xuất bản – báo chí khác như sách, báo, tạp chí phổ thông… Bảnchất khoa học của một tạp chí tạo cho nó có một số điểm đặc trưng riêng biệt,bao gồm các yếu tố cơ bản sau:
Thứ nhất, bài báo khoa học
Bài báo khoa học là bài báo có nội dung khoa học được công bố trênmột tạp chí khoa học đã qua hệ thống phản biện/bình duyệt (peer-review) củatạp chí Giá trị của tạp chí khoa học tùy thuộc một phần lớn vào nội dung của
Trang 14bài báo Ba tiêu chuẩn chất lượng một bài báo khoa học gồm: giá trị khoa học;chất lượng của trình bày khoa học; sử dụng thành thạo thứ ngôn ngữ dùngviết báo Tuy nhiên, tạp chí khoa học công bố cũng đóng một vai trò quan
trọng Chẳng hạn bài báo đăng trên Tạp chí Cộng sản của Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam hay Tạp chí Châu Mỹ ngày nay của Trung tâm Khoa học
Xã hội và Nhân văn Quốc gia (từ o đến 1 điểm) sẽ có giá trị hơn hẳn một bàibáo đăng trên các tạp chí chuyên ngành khác (từ o đến 0,5 điểm) Điều nàyđúng bởi vì những công trình nghiên cứu quan trọng thường được công bốtrên các tạp chí khoa học lớn và có nhiều người đọc, nhưng quan trọng hơnhết là những tạp chí khoa học này có một hệ thống phản biện nghiêm túc, có
- Bài báo nghiên cứu ngắn (short communications hay research letters): Là
những bài báo khoảng 600 đến 1.000 chữ (tùy theo quy định của từng tạp chíkhoa học) mà nội dung chủ yếu tập trung giải quyết một vấn đề rất hẹp haybáo cáo một vấn đề nhỏ nhưng có giá trị khoa học cao Những bài báo này
Trang 15cũng thông qua hệ thống phản biện trước khi được công bố nhưng mức độ ràsoát không cao như các bài báo cống hiến nguyên thủy.
- Bài điểm báo (reviews): Thường do các tác giả có uy tín trong chuyên
môn viết cho một tạp chí khoa học, thường tập trung vào một chủ đề hẹp nào
đó mà tác giả phải đọc tất cả những bài báo liên quan, tóm lược lại và bàn qua
về những điểm chính cũng như đề ra một số đường hướng nghiên cứu chochuyên ngành Những bài điểm báo thường không qua hệ thống phản biện,hoặc có qua hệ thống phản biện nhưng không chặt chẽ như những bài báokhoa học nguyên bản
- Bài xã luận (editorials): Là bài viết của các chuyên gia bình luận về một
sự kiện, một bài báo nguyên thủy quan trọng với một phát hiện mới có ý nghĩalớn Ban Biên tập có thể mời chuyên gia viết các bài bình luận cho tạp chí
- Bài báo trong các kỷ yếu hội thảo, hội nghị: Gồm những bài bản tin
khoa học ngắn hoặc những bản tóm lược mà nội dung là những báo cáo sơ bộnhững phát hiện hay phương pháp nghiên cứu mới
Thứ hai, hệ số ảnh hưởng
Uy tín và giá trị của một tạp chí khoa học thường được đánh giá qua hệ
số ảnh hưởng (Impact Factor - IF) IF được tính toán dựa vào số lượng bàibáo công bố và tổng số lần các bài báo đó được tham khảo hay trích dẫn(citations)
Hệ số ảnh hưởng của tạp chí năm N được tính như sau:
IF (năm N) =
Tổng số bài báo trích dẫn các bài báo của tạp chí A năm N-1 và N-2
Tổng số bài báo đăng trên tạp chí A năm N-1 và N-2Theo định nghĩa hiện hành, IF của một tạp chí trong năm là số lần thamkhảo trung bình các bài báo được công bố trên tạp chí trong vòng 2 năm
trước Chẳng hạn trong 2 năm 1981 và 1982, tạp chí Lancet công bố 470 bài
báo khoa học nguyên thủy; trong năm 1983 có 10.011 bài báo khác trên tất cả
Trang 16các tạp chí (kể cả Lancet) có tham khảo hay trích dẫn 470 bài báo đó; như vậy
hệ số IF là 10.011/470 = 21,3 Nói cách khác, tính trung bình mỗi bài báo
nguyên thủy trên tờ Lancet có khoảng 21 lần được tham khảo hay trích dẫn.
Tạp chí khoa học nào có hệ số IF cao được hiểu ngầm là có uy tín cao và sứcảnh hưởng cao Công bố một bài báo trên tạp chí có hệ số IF cao có thể đồngnghĩa với mức độ quan trọng và tầm ảnh hưởng của bài báo cũng cao Tuynhiên, IF là chỉ số phản ánh ảnh hưởng của một tạp chí, chứ không đo lường
hệ số ảnh hưởng của một bài báo cụ thể nào Một bài báo trên một tạp chí có
hệ số IF thấp nhưng có thể được trích dẫn nhiều lần Chẳng hạn một bài báoviết về một phương pháp phân tích thống kế trong di truyền học công bố trên
tạp chí Behavior Genetics (với IF thấp hơn 2), nhưng được trích dẫn và tham
khảo hơn 10.000 lần trong 20 năm sau đó
Khiếm khuyết của hệ số IF là một số bộ môn khoa học có xu hướng(hay truyền thống) công bố nhiều bài báo ngắn, hay đơn thuần là họ có truyềnthống trích dẫn lẫn nhau, thậm chí tự mình trích dẫn mình Có nhiều nhà khoahọc trích dẫn hay liệt kê những bài báo mà họ không hoặc chưa đọc (nhưngchỉ trích dẫn theo sự trích dẫn của người khác, đây là một vi phạm khoa học).Ngoài ra, những bộ môn nghiên cứu lớn có nhiều nhà nghiên cứu và con sốbài báo cũng như chỉ số trích dẫn cũng tăng theo Nói một cách ngắn gọn, con
số thống kê bài báo và chỉ số trích dẫn chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố ngoại
vi hơn là chất lượng khoa học Cũng không loại trừ khả năng những côngtrình nghiên cứu tồi, sai lầm vẫn được nhiều người nhắc đến và trích dẫn (đểlàm gương cho người khác) Phần lớn những bài báo được trích dẫn nhiều lần
là những bài báo liên quan đến phương pháp, hay thuộc loại điểm báo Nhiềunghiên cứu “tốt”, có chất lượng thường đi trước thời gian, và người ta chỉ hiểu
rõ giá trị của chúng sau nhiều năm sau khi công bố
Mặc dù hệ số IF có nhiều khiếm khuyết nhưng hiện nay chúng ta chưa
có một hệ thống nào công bằng và tốt hơn để thẩm định chất lượng một tạp
Trang 17chí khoa học Do đó, hệ số IF vẫn được sử dụng như là một thước đo chấtlượng, với một sự dè dặt và cẩn thận cần thiết.
Thứ ba, cơ chế phản biện
Phản biện là một cơ chế có mục đích chính là đánh giá và kiểm tra cácbài báo khoa học trước khi chấp nhận cho công bố trên một tạp chí khoa họcchuyên môn Về mặt lý thuyết đây là một cơ chế tích cực, bởi vì người đánhgiá công trình nghiên cứu là những người cùng làm trong ngành, có chuyênmôn liên quan đến công trình nghiên cứu, họ chính là người có thẩm quyền vàkhả năng đánh giá chất lượng của công trình nghiên cứu Cơ chế duyệt bàithường thành công trong việc ngăn chặn những bài báo khoa học kém chấtlượng, giúp ban biên tập của tạp chí khoa học đi đến một quyết định công bằng
Tuy nhiên, cơ chế phản biện không thể (hay ít khi) phát hiện đượcnhững vấn đề từ sự cố ý gian lận của tác giả Khi một chuyên gia được mờithẩm định một bài báo, chuyên gia đó chỉ có thể dựa vào những gì được trìnhbày trong bài báo (như phương pháp nghiên cứu, số liệu, hình ảnh, biểu đồ)
để đánh giá chất lượng của công trình nghiên cứu Thế nhưng những gì đượctrình bày trong bài báo chỉ là những sản phẩm đã qua một hay nhiều khâu xử
lý và phân tích từ số liệu gốc Chẳng hạn để mô tả mối liên hệ giữa thuốcNSAIDs và ung thư, tác giả chỉ trình bày hệ số tương quan và vài chỉ số thống
kê, mà những con số này đã được tóm lược và phân tích từ hàng ngàn, thậmchí hàng triệu số liệu thô (raw data) Người phản biện không có cơ hội vàcũng không có quyền được xem số liệu gốc đó, cho nên không thể biết tác giảthực sự có những số liệu gốc đó hay chỉ là một sự mô phỏng bằng máy tính.Ngay cả nếu tác giả có những số liệu gốc, người phản biện cũng không thểbiết tác giả đã phân tích đúng hay sai, và những con số đó có sai sót gì không
Nói cách khác, khi duyệt một bài báo, người phản biện phải tin vào sựliêm chính của tác giả Nếu tác giả là một nhà khoa học từng có tên tuổi, giữ
Trang 18các chức vụ khoa bảng trong một trung tâm nghiên cứu có uy tín, thì niềm tin
đó càng được nâng cao chút ít Nếu tác giả là một tên tuổi mới xuất hiện,nhưng có các tác giả đứng tên chung là người có uy tín, thì người phản biệncũng cảm thấy yên tâm phần nào Nhưng không phải bất cứ giáo sư (GS) nàocũng thành thật, vì như đề cập trên, trong thực tế có một số GS cũng gian lận
và giả dối, những người lợi dụng vào sự tin tưởng của đồng nghiệp để làmnhững chuyện tai tiếng trong khoa học Những trường hợp của Hwang WooSuk, Jon Sudbo, John Darsee, v.v… là ví dụ tiêu biểu Họ không phải lànhững ngôi sao lớn trong khoa học, nhưng cũng là những người có chút têntuổi hay làm việc trong các trung tâm có uy tín cao, và biết cách lợi dụng uytín này để làm cái chuyện “tày trời” trong khoa học: ngụy tạo dữ liệu
Vì tình trạng giả tạo dữ liệu khoa học là một thực tế, và có thể khá phổbiến, mà cơ chế phản biện không thể nào phát hiện được, cho nên một số tạpchí khoa học đang từng bước nghiên cứu cách ứng dụng công nghệ thông tin,
mà đặc biệt là Internet, để khắc phục vấn đề Một số tạp chí khoa học lớn nhưNature, Science, PNAS, Cell, v.v… có chính sách yêu cầu tác giả khi gửi bàibáo cho tạp chí khoa học phải kèm theo tất cả các dữ liệu gốc được công bốtrên một website nào đó, để các chuyên gia, khi cần thiết, có thể truy nhập vàphân tích lại xem có phù hợp với kết quả và kết luận của tác giả hay không
Ngoài ra, một số cơ quan quản lý khoa học cấp nhà nước cũng có chínhsách thường xuyên kiểm tra ngẫu nhiên ngay tại cơ sở nghiên cứu của tác giả.Đoàn thanh tra sẽ đến trung tâm nghiên cứu (có khi không cần báo trước) vàxem xét tất cả các dữ liệu gốc (như hồ sơ bệnh nhân, dữ liệu từ thí nghiệmgốc, cách bảo quản dữ liệu, v.v…) để xác định tác giả quả thật có làm nghiêncứu và đã tuân thủ theo các quy định bảo mật trong nghiên cứu khoa học
Như vậy, bài báo khoa học, hệ số ảnh hưởng, cơ chế phản biện là bayếu tố cơ bản chi phối và đo lường nội dung, hàm lượng khoa học của tạp chíkhoa học, giúp phân biệt tạp chí khoa học với các tạp chí phổ thông khác
Trang 191.1.3 Hoạt động xuất bản
Theo Từ điển Thuật ngữ Xuất bản In Phát hành sách Thư viện Bản quyền (Nhà xuất bản Từ điển Bách khoa, 2002), xuất bản là hoạt độngthuộc lĩnh vực văn hóa, tư tưởng thông qua việc sản xuất, phổ biến xuất bảnphẩm đến nhiều người Xuất bản là hoạt động truyền bá xã hội Nó không tạo
-ra các tác phẩm nhưng sử dụng các tác phẩm văn hóa để truyền bá, phổ biến
Nó là khâu nối tiếp, nâng cao các giá trị văn hóa, nhân rộng và mang chúngđến với quần chúng quảng đại trong xã hội Xuất bản là một quá trình hoạtđộng nối tiếp, đồng bộ, hoàn chỉnh gồm ba khâu: biên tập, in, phát hành cácloại xuất bản phẩm trong xã hội
Xuất bản phẩm là sản phẩm đầu ra của hoạt động xuất bản Nó là têngọi chung những sản phẩm được in ra thành nhiều bản để phát hành như sách,báo, tranh ảnh, băng nhạc, băng hình, đĩa compact
1.1.4 Hoạt động xuất bản tạp chí khoa học
Tạp chí khoa học là một loại xuất bản phẩm định kỳ, do đó nó cũng làsản phẩm của hoạt động xuất bản Bằng hình thức xuất bản liên tục, tạp chíkhoa học có sức ảnh hưởng liên tục đối với độc giả mục tiêu thông qua việcphổ biến các hiện tượng và ý tưởng trong lĩnh vực khoa học tương ứng Tạpchí khoa học là phương tiện truyền thông học thuật, cơ quan phát ngôn bằngchữ của một hay nhiều tổ chức khoa học Mục đích của nó là khuyến khích sựhiểu biết và truyền đạt thông tin trong lĩnh vực khoa học tương ứng: lĩnh vực
đó có thể rộng hay hẹp Chẳng hạn, các tờ tạp chí Lancet, New England
Journal of Medicine, Nature, La Presse Medicale đăng những thông tin được
quan tâm bởi phần lớn các thầy thuốc và nhà nghiên cứu, ở đây nhấn mạnh về
tính độc đáo, tính mới của thông tin đăng tải Ngược lại, các tạp chí Diabetes,
Hepatology, Endocrinology, Gastroentérologie Clinique et Biologique đăng
những thông tin trong một lĩnh vực chuyên ngành
Trang 20Đối với lĩnh vực nghiên cứu, hoạt động xuất bản tạp chí khoa học đóngvai trò hết sức quan trọng vì nghiên cứu khoa học luôn mang tính tiến bộ, kếthừa, xây dựng và phát triển dựa trên những nghiên cứu đã được các nhà khoahọc khác tiến hành và công bố trên tạp chí khoa học Nói cách khác, thôngqua hoạt động xuất bản, tạp chí khoa học truyền bá, phổ biến các phát kiếnđến với cộng đồng khoa học.
Ví dụ, khi một nhà kinh tế học xuất bản một bài báo trên Vietnam
Economic Review, người đó đang đóng góp sự hiểu biết của mình vào nguồn
tri thức về kinh tế Các nhà kinh tế học khác có thể tìm kiếm các kết quảnghiên cứu có trong bài báo được xuất bản và sau đó áp dụng kiến thức mớinày vào hoạt động nghiên cứu Do đó, một nhà kinh tế học xuất bản bài báokhoa học có hai mục tiêu rất quan trọng: thứ nhất, nhằm công bố rộng rãi mộtphát kiến khoa học mới; thứ hai, nhằm chia sẻ nghiên cứu đó với cộng đồngkhoa học
1.2 Đặc trưng của hoạt động xuất bản tạp chí khoa học
Thông thường các tác giả và độc giả không biết quá trình chuyển một
sự kiện khoa học thành một bài báo, đánh dấu bằng việc đăng trên một tạp chíkhoa học, diễn ra như thế nào Trên thực tế, việc đảm bảo hoạt động của một
tờ tạp chí khoa học khá phức tạp
1.2.1 Vai trò của ban biên tập
Ban biên tập được tổ chức hay các tổ chức khoa học ủy quyền để đảmbảo hoạt động khoa học của tạp chí khoa học Thành phần ban biên tập đượcxác lập bởi tổng biên tập của tạp chí khoa học Trong số những yếu tố ảnhhưởng đến việc chọn các thành viên ban biên tập phải tính tới văn hoá khoahọc trong từng lĩnh vực riêng nhưng cũng đòi hỏi văn hoá chung, kinh nghiệmxuất bản và biên tập khoa học, sự vô tư trong đánh giá khoa học và một vị trícấp bậc đủ để thực hiện công việc hoàn toàn độc lập Điều cần thiết là các
Trang 21thành viên ban biên tập có khả năng bao quát các mặt khác nhau của lĩnh vựckhoa học Có thể nói ban biên tập đóng vai trò hết sức quan trọng trong hoạtđộng của tạp chí khoa học
Thứ nhất, ban biên tập giám định nội dung khoa học của các bản thảo
gửi đến, bao gồm đánh giá xem nội dung khoa học có tương ứng với mục đíchkhoa học của tạp chí không và đánh giá giá trị khoa học của bản thảo, như:Phương pháp sử dụng để trả lời mục tiêu đặt ra có phù hợp? Các kỹ thuật sửdụng có tốt, có quá cũ, có được áp dụng đúng? Các kết quả tìm được có sựgắn bó? Việc bàn luận các kết quả này có được thực hiện tốt?
Sự phân tích nội dung khoa học được thực hiện theo những cách rấtkhác nhau tùy theo từng tạp chí Đôi khi nó được dựa trên sự đánh giá mộtcách tập trung bởi một nhóm ít người gồm tổng biên tập và một số phó tổngbiên tập Điều này đòi hỏi phải có một nhóm chuyên nghiệp trong ban biêntập Thường gặp hơn là trường hợp ban biên tập yêu cầu sự đánh giá của cácchuyên gia có hiểu biết rất rộng về lĩnh vực mà bản thảo đề cập
Việc phân tích giá trị khoa học đôi khi rất khó Chẳng hạn, tạp chí khoahọc Nature đã đưa ra một ví dụ về việc chấp nhận và đăng một bài báo nhưng
có kèm theo một lời chú thích của ban biên tập ghi rõ rằng ban biên tập thực
tế không tin vào giá trị của các kết quả trình bày tuy nhiên vẫn thông tin tớiđộc giả
Thứ hai, ban biên tập đảm bảo sự hoạt động của các mục khác nhau
trong tạp chí khoa học Với một tạp chí khoa học uy tín và được đánh giá cao,việc yêu cầu những bài báo có tính địa phương là không cần thiết Số lượngđộc giả của tờ báo, sự lựa chọn khắt khe của nó, điểm đánh giá của nó trongcác hội đồng đề bạt chức vụ nghề nghiệp và hội đồng xét phong tặng họchàm, học vị là “con chủ bài” tạo thuận lợi cho việc gửi bản thảo tới tờ báo đó.Chất lượng của các chuyên gia và của sự đối thoại giữa các tác giả và ban
Trang 22biên tập, thời gian đăng bài nhanh cũng rất quan trọng Đăng rất nhanh nhữngcông trình về một chủ đề đang có tính thời sự là điều rất hấp dẫn Tuy nhiên,ban biên tập cũng phải đảm bảo hoạt động của các mục khác Việc viết mộtbài hiệu chỉnh về một chủ đề mới hay làm thay đổi hoàn toàn kiến thứcthường do ban biên tập yêu cầu một nhà khoa học vừa có hiểu biết rất tốt vềlĩnh vực đó và lại có khả năng trình bày rõ ràng, sáng sủa Những chuyên giahiếm này thường rất hay được yêu cầu và do đó cần đảm bảo thường xuyên cóquan hệ mật thiết với ban biên tập để biết trước sự tiến triển của công việc.
Ban biên tập cũng thường yêu cầu loại bài xã luận Thường hay gặpnhất là bài này đi kèm với một bài đăng kết quả nghiên cứu để định hướng dưluận xã hội đối với các thành tựu khoa học cần khẳng định Một bài xã luậnchỉ có giá trị khi nó tập hợp tài liệu rất tốt, dễ đọc và trình bày quan điểm củaban biên tập Việc lựa chọn một bản thảo có thể là xuất phát cho một bài xãluận và việc viết bài này hoàn thành đúng tiến độ Một mục khác cũng cầnđược thường xuyên quan tâm, đó là trường hợp các bài phân tích bình luận.Cần thường xuyên xây dựng đội ngũ cộng tác viên là các nhà phân tích bìnhluận làm việc cho tạp chí để có thể chủ động đề nghị họ phân tích bài này haybài khác hoặc một cuốn sách Sự hoạt động của các mục khác nhau cần một
sự phối hợp chặt chẽ giữa các thành viên của ban biên tập Thông thường mỗinhiệm vụ do một nhà khoa học chịu trách nhiệm và người này là thành viênban biên tập
Thứ ba, ban biên tập tạo ra các hoạt động phát triển tạp chí khoa học.
Các tạp chí cần có các hoạt động thúc đẩy sự phát triển làm tăng lượng pháthành của tạp chí, làm tạp chí đến với các đối tượng độc giả khác nhau và cảithiện hình ảnh của tờ báo Trong số những hoạt động thúc đẩy phát triển này
có việc xuất bản các số chuyên đề với một loạt bài theo chủ đề nhân dịp mộthội nghị khoa học, như là tóm tắt báo cáo của hội nghị hoặc xuất bản những
Trang 23chuyên san đặc biệt dành cho một chủ đề đặc biệt nào đó Cao hơn nữa là banbiên tập có thể phối hợp với các nhà xuất bản để xuất bản các tập tóm tắt, cácbài báo cáo của các hội nghị quốc tế lớn…
1.2.2 Công tác lựa chọn, phản biện
Việc lựa chọn bản thảo là nhiệm vụ chính của ban biên tập Càng ngàyviệc lựa chọn này càng được thực hiện dựa trên ý kiến của các chuyên gia,hay còn gọi là “trọng tài khoa học” Một chuyên gia giỏi là người giỏi về mặtkhoa học, có óc phân tích, luôn vô tư ngay khi được người ta yêu cầu hoànthiện bản thảo của một người cạnh tranh với mình và làm việc nhanh Nhiệm
vụ của họ là rất khó khăn vì họ là người phản biện, đánh giá giá trị của côngtrình, lợi ích công trình mang lại và cùng lúc phải kiểm tra sự đúng đắn củacác kỹ thuật và kết quả, kiểm tra các số liệu và tính toán khoa học, xem xét đểđảm bảo các tài liệu tham khảo được trích dẫn đúng và những công trình quantrọng không bị bỏ sót Một chuyên gia tốt như vậy phải là người có tính cẩnthận, được ban biên tập biết rõ, thông tin do tổng biên tập lưu giữ trong danhmục Việc ghi nhớ này sẽ xác định nhanh chóng chuyên gia nào làm mất bảnthảo được gửi tới và ngược lại những ai tìm thấy một lỗi tính toán nhỏ nằm ẩntrong các kết quả hay ai đề nghị thay một tài liệu tham khảo được dẫn bằngmột tài liệu khác thích hợp hơn Ngoài ra cũng cần biết không nên gây quá tảicho những chuyên gia hàng đầu Số người đó có hạn, đặc biệt trong một lĩnhvực hẹp Một ban biên tập không nên chỉ có một số chuyên gia quá “rắn”, phêbình gay gắt hoặc các chuyên gia quá “mềm”, thường đề nghị chấp nhận phầnlớn những bản thảo gửi đến Việc chọn chuyên gia thường thực hiện với việcdung hợp hai đặc tính này
Đối với việc phản biện, có hai câu hỏi nảy sinh:
Thứ nhất, ban biên tập có phải tuân theo ý kiến của chuyên gia? Điều
này không bắt buộc Ban biên tập có thể giữ quan điểm của mình, yêu cầu ý
Trang 24kiến của một chuyên gia thứ hai, thứ ba hay bỏ qua quyết định của họ Khảnăng cuối cùng này thường là kết quả một cuộc thảo luận trong nội bộ banbiên tập và với các chuyên gia Không điều gì làm cho chuyên gia cảm thấy bịtước đoạt bằng việc thấy bài báo được đăng là bài báo mà mình đã được yêucầu đọc vài tháng trước và mình đã cho rằng đó là bài có chủ đề không rõràng, sự nghèo nàn về kỹ thuật thực hiện, sự trình bày không đạt yêu cầu.
Thứ hai, chuyên gia có cần biết tên tác giả? Điều này nói chung đảm
bảo tính vô tư và khách quan khi tranh luận Một số ban biên tập yêu cầu tăngtính vô danh của bài báo lên hai lần: tên của tác giả và cơ sở nơi công trìnhđược thực hiện đều được giữ kín đối với chuyên gia Một nghiên cứu có kiểmchứng đã cho thấy việc đánh giá bản thảo sẽ tốt hơn khi chuyên gia khôngbiết tác giả Ngược lại, có tạp chí lại chấp nhận đánh giá công khai tên tác giả
và yêu cầu tác giả tự đề nghị tên của một hay hai chuyên gia để ban biên tập
có thể lựa chọn Một khi đã có ý kiến đánh giá của chuyên gia, ban biên tập sẽquyết định với số bản thảo đã nhận: hoặc chấp nhận ngay không sửa – đây làkhả năng hiếm, hoặc đề nghị tác giả sửa đổi, hoặc từ chối không đăng Trongtrường hợp yêu cầu tác giả sửa đổi, bổ sung, điều quan trọng là thư của banbiên tập gửi đến tác giả phải được trình bày rất rõ ràng, tránh hiểu lầm cácyêu cầu sửa đổi Khi tác giả đã thực hiện các sửa đổi theo yêu cầu, thường làbài báo được chấp nhận Tuy nhiên, điều này không hoàn toàn đảm bảo nếunhững thay đổi được thực hiện không đáp ứng đủ theo ý muốn của cácchuyên gia hay ban biên tập Tỷ lệ chấp nhận chính thức từng bản thảo củacác tạp chí khác nhau
Hiện nay có nhiều hình thức phản biện, như: hình thức phản biện kín (1hoặc 2 chuyên gia phản biện) và hình thức phản biện mở (1 hoặc 2 chuyên giaphản biện) Theo số liệu của một cuộc điều tra quốc tế về khoa học, mặc dù đa
số nhà khoa học ở hầu hết các lĩnh vực có bài viết công bố thường chỉ được 1
Trang 25phản biện kín song khi được hỏi họ muốn 1 hay 2 phản biện kín, có tới 56% trảlời 2 phản biện kín, 25% muốn 1 phản biện kín, 13% muốn phản biện mở và5% muốn đánh giá sau khi đã xuất bản Phản biện mở được nhận định là kémhấp dẫn đối với người phản biện, có tới 49% nói rằng việc công bố tên của họvới tác giả sẽ làm giảm hứng thú Hình thức hai phản biện kín được nhiều tạpchí khoa học ưa chuộng và được đánh giá là hiệu quả nhất Sau đây là mô hìnhmẫu về quy trình phản biện theo hình thức phản biện kín (Hình 1.1).
Trang 26Nguồn: Tạp chí Kinh tế và Phát triển,
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, 2010
Hình 1.1: Mô hình mẫu về quy trình phản biện
theo hình thức phản biện kín
Trang 27Như vậy, sau khi bản thảo đã được chuyên gia phản biện và ban biêntập đồng ý đăng, việc gia công biên tập nội dung khoa học sẽ được thực hiệnbởi biên tập viên chuyên nghiệp hoặc nhà chuyên môn ở các viện, trường đạihọc - những người này là thành phần chính của ban biên tập khoa học một tạpchí khoa học và nhiệm vụ biên tập thường là phần phụ thêm vào hoạt độnggiảng dạy và nghiên cứu của họ
1.2.3 Công tác sắp xếp, gia công bản thảo
Ban biên tập, thông thường là tổng biên tập, chịu trách nhiệm sắp xếpcác số của tờ tạp chí Về nguyên tắc, nếu xét ở một thời điểm nhất định, ví dụnhư giữa tháng 1, công việc của tổng biên tập bao gồm: 1) thực hiện việckiểm tra bản in chính thức (xem bông) của số tháng 2; 2) sửa bản in thử lầnđầu các số tháng 3 và tháng 4; 3) gửi bộ phận chế bản các bản thảo chuẩn bịsắp xếp cho các số tháng 5 và 6; 4) cố gắng để đưa ra quyết định xem bảnthảo nào có thể sẽ chấp nhận đăng vào các số tháng 7 và 8; 5) phân phát chocác thành viên ban biên tập các bản thảo mới nhận được để xem xét nếu chấpnhận thì sẽ đăng trong các số từ tháng 8 đến tháng 12 Công việc này đòi hỏitổng biên tập phải tiến hành rất nhiều việc tổ chức, phải có một ban thư ký cóhiệu quả và một sự phối hợp chặt chẽ với các thành viên khác của ban biêntập, chuyên gia, bộ phận thiết kế và đôi khi qua bộ phận chế bản với nhà in.Tuy nhiên, ban biên tập thường không làm việc trực tiếp với nhà in
Sau khi xem xét lần cuối bài báo, bổ sung một số sửa chữa chi tiết, tổngbiên tập gửi bản thảo tới bộ phận chế bản Bộ phận này chuẩn hoá bản thảođánh máy theo ngôn ngữ nhà in, nghĩa là chỉ định cỡ và kiểu chữ, sắp chữ chobài báo tương lai, sắp xếp cột, vị trí các bảng và biểu đồ trong bài báo Khi bàibáo đã lên khuôn, bản in thử sẽ được gửi lại ban biên tập để xem lại và sửachữa cùng lúc bởi hai hoặc ba nơi: tổng biên tập, tác giả, bộ phận chế bản.Các tác giả thường nghĩ rằng có thể và dễ dàng thay đổi nội dung bài vào giai
Trang 28đoạn này Thực ra chỉ những sai sót xuất bản và các lỗi sắp chữ ở nhà in cóthể chữa ở bản in thử này và bản thân nội dung của bài báo mà ban biên tập
đã chấp nhận không thể thay đổi được nữa
Những sửa chữa của bản in thử này sẽ được bộ phận chế bản thực hiện.Bản in thứ hai cũng như mẫu bìa được xem lại lần cuối bởi tổng biên tập làngười quyết định cho in Sau khi được in, các số báo sẽ được phát hành tớiđộc giả
Nói tóm lại, khi bản thảo đã được chấp nhận có nghĩa là nó đã đi quamột con đường phức tạp để tới đích cuối cùng: một bài báo đăng trên tạp chíkhoa học Chu trình này có nhiều giai đoạn (xem Hình 1.2)
Nguồn: Trần Bình Giang, “Hoạt động của một tạp chí khoa học”, http://
sites.google.com/site/seadropblog/ppnckh
Hình 1.2: Chu trình từ bản thảo tới bài báo đăng trên tạp chí khoa học
Chú giải hình:
1) Chịu trách nhiệm bởi một biên tập viên;
(2) Đánh giá bởi các chuyên gia;
Trang 29(3) Yêu cầu sửa chữa của ban biên tập;
(4) Gửi bản thảo đã sửa;
(5, 6) Chấp nhận bản thảo và gửi tới tổng biên tập để định dạngchính thức;
1.3 Tình hình hoạt động xuất bản tạp chí khoa học ở nước ta hiện nay
Lịch sử tạp chí khoa học bắt nguồn từ năm 1665, khi tạp chí Journal des sçavans của Pháp và tạp chí Philosophical Transactions of the Royal Society của Anh lần đầu tiên xuất bản một cách hệ thống các kết quả nghiên
cứu khoa học Trải qua nhiều thế kỷ phát triển, đến nay trên thế giới đã có tớihơn 100.000 tạp chí khoa học, tuy nhiên trong số đó chỉ có khoảng 7.600 tạpchí khoa học nằm trong danh mục của ISI (Institute of Scientific Information– Viện Thông tin Khoa học), tức là được cộng đồng khoa học quốc tế côngnhận, phần lớn xuất phát từ Mỹ và châu Âu, như Nature , Science , PNAS ,
Physical Review Letters
Trang 30Tính đến năm 2011, Việt Nam có 962 tạp chí khoa học chuyên ngành(bao gồm các loại ấn phẩm: tạp chí, báo cáo, nghiên cứu, thông báo, tập san,thông tin, kỷ yếu) được Hội đồng Chức danh Giáo sư Nhà nước tính điểmcông trình khoa học quy đổi khi xét công nhận đạt tiêu chuẩn chức danh GS,PGS, trong đó có rất ít tạp chí khoa học được quốc tế công nhận và không cótạp chí nào đạt tiêu chuẩn nằm trong danh mục ISI
Bảng 1.1: Số lượng TCKH chuyên ngành được tính điểm công trình khoa học quy đổi khi xét công nhận
đạt tiêu chuẩn chức danh GS, PGS năm 2011
Trang 3125 Vật lý 23
Nguồn: Tổng hợp số liệu từ “Danh mục TCKH chuyên ngành được tính
điểm công trình khoa học quy đổi khi xét công nhận đạt tiêu chuẩn chức danh
GS, PGS năm 2011”, do Hội đồng Chức danh Giáo sư Nhà nước ban hành
kèm theo Quyết định số 14/QĐ-HĐCDGSNN
Có thể nói rằng ngoại trừ một số rất ít tạp chí khoa học lâu đời và cóchút uy tín, 99% các tạp chí khoa học Việt Nam đều không được cộng đồngkhoa học quốc tế công nhận Để có tên trong danh bạ của ISI, tạp chí khoahọc phải đáp ứng một số tiêu chí nhất định về cơ chế phản biện, bài viết chấtlượng, tác giả/chuyên gia phản biện quốc tế Trong khi đó thực tế hiện nayphần lớn các tạp chí khoa học Việt Nam không có cơ chế phản biện nghiêmtúc Tất cả các tạp chí khoa học trong ISI đều có hệ thống phản biện hết sứckhắt khe, theo đó một bài báo phải qua phản biện và tái phản biện vài lầntrước khi được chấp nhận hay từ chối công bố và phần lớn là bị từ chối.Ngược lại, rất nhiều tạp chí khoa học Việt Nam sẵn sàng đăng những bài củangười quen, thậm chí còn trả nhuận bút cho tác giả Trong khi đó, đối với cáctạp chí khoa học nước ngoài, được chấp nhận cho công bố là một tin mừng,nhưng tác giả vẫn phải trả ấn phí (khoảng 500 đến 1.000 USD một bài, tùytheo số trang)
So sánh với tạp chí khoa học nước ngoài, TS Trần Vân Anh, ViệnCông nghệ Ứng dụng (Bộ Khoa học – Công nghệ), người đã có nhiều côngtrình được đăng trên tạp chí khoa học tại Hàn Quốc cho biết, để được đăngbài trên các tạp chí của họ thì đề tài phải thật sự mới mẻ, chưa ai làm Bàiphải được sự kiểm tra, phản biện và đồng ý của hội đồng biên tập là những
Trang 32GS đầu ngành rất giỏi và làm việc cực kỳ nghiêm túc Có nhiều nhà nghiêncứu gửi hàng trăm bài báo mới được đăng 1-2 bài.
Theo TS Lê Quốc Hội, Phó Tổng Biên tập Tạp chí Kinh tế và Pháttriển thuộc Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội, chất lượng các bài viết đăngtrên các tạp chí khoa học ở nước ta còn thấp Việc phản biện, thẩm định bàiviết còn dễ dãi; không có hoặc có rất ít các nhà khoa học nước ngoài uy tíntham gia thành viên hội đồng biên tập; số tác giả nước ngoài và bài viết từnước ngoài chiếm rất ít Số tạp chí bằng tiếng Anh còn khiêm tốn, chủ yếu làlưu hành nội bộ…
Theo số liệu thống kê, trong 10 năm (2000-2010), Tạp chí Kinh tế vàPhát triển chỉ có 20 bài viết từ nước ngoài (chiếm tỷ lệ 6,25%) và 30 tác giảviết bài trên tổng số 389 tác giả là nhà khoa học nước ngoài (chiếm tỷ lệ7,7%), thấp hơn rất nhiều so với các tạp chí trong khu vực đã lọt vào danhsách của Scopus hay của ISI (thường có từ 60-70% bài viết từ nước ngoài)
Một điều đáng nói nữa là các tạp chí khoa học Việt Nam có cố gắngviết tóm tắt (abstract) bằng tiếng Anh Tuy nhiên, các tạp chí khoa học có rấtnhiều sai sót trong cách diễn giải kết quả nghiên cứu bằng tiếng Anh
Thêm vào đó, các tạp chí khoa học cũng đang phải đối mặt với vấn đềphát hành Đơn cử như Tạp chí Kinh tế và Phát triển, một tạp chí tương đối có
uy tín ở trong nước cũng chỉ bán được từ 400-500 bản tiếng Việt/1000 bản inấn/kỳ phát hành Đối với bản tiếng Anh, số lượng bán ra còn khiêm tốn hơnnhiều, chỉ đạt 60 bản/500 bản in ấn/kỳ phát hành Số còn lại chủ yếu là lưuhành nội bộ hoặc gửi biếu tặng các cơ quan nhà nước, đại sứ quán các nướctại Việt Nam, các trường đại học đối tác, viện nghiên cứu…
Tuy nhiên, không phải viện, trường nào cũng ra được tạp chí khoa học
1 kỳ/tháng với số lượng phát hành tương đối lớn như Tạp chí Nghiên cứuKinh tế - Viện Khoa học Xã hội Việt Nam với số lượng phát hành trên 1000cuốn/kỳ hay Tạp chí Phát triển Kinh tế của Đại học Kinh tế Thành phố Hồ
Trang 33Chí Minh với số lượng phát hành trung bình 2.200 cuốn/kỳ Đa số các tạp chíkhoa học của các viện nghiên cứu, trường đại học khác chỉ ra 1 số/kỳ (mỗi kỳ2-3 tháng) với số lượng trên dưới 1.000 cuốn/kỳ Thậm chí có trường đại họcmỗi năm chỉ ra 2 số do lượng bài vở quá ít và số lượng phát hành cũng chỉ ởmức 200-300 cuốn/kỳ, chủ yếu là lưu hành nội bộ.
Ngoài ra, ở Việt Nam không có cơ sở dữ liệu cho các tạp chí khoa học
Ở nước ngoài, mỗi khi một tạp chí trong thư mục ISI công bố một bài báo thìchi tiết bài báo đó (như tên tác giả, tựa đề, abstract, keywords, tên tạp chí, sốtrang, v.v…) đều được đưa vào một cơ sở dữ liệu chung hoặc cơ sở dữ liệuchuyên ngành nhất định, chẳng hạn đối với lĩnh vực y khoa là cơ sở dữ liệuPubmed (thuộc Trung tâm Quốc gia về Thông tin Công nghệ Sinh học - Thưviện Quốc gia Hoa Kỳ) Bất cứ ai trên thế giới có truy cập Internet đều có thểđọc phần tóm tắt bài báo, hay trong vài trường hợp đọc nguyên văn bài báo.Pubmed lưu trữ hàng triệu bài báo khoa học tính từ thập niên 1950 đến nay.Còn ở Việt Nam, tạp chí khoa học được xuất bản, công bố bài báo song không
có một cơ quan nào hệ thống hóa các bài báo đó Do đó, khi một nghiên cứusinh muốn theo đuổi một đề tài nghiên cứu, nghiên cứu sinh đó rất khó tìmđược những công trình đã đăng tải ở Việt Nam, nhưng có thể tìm các côngtrình của thế giới trong Pubmed Hạn chế này dẫn đến việc muốn trích dẫncác công trình nghiên cứu trong nước là điều rất khó
Thực tế hầu như tất cả các ngành khoa học nào ở Việt Nam đều có ítnhất là một tạp chí khoa học Đây là một điều tích cực vì tạp chí khoa học làtiếng nói của ngành và cũng là nơi chia sẻ ý tưởng Bên cạnh những yếu kém
so với các tạp chí khoa học quốc tế, các tạp chí khoa học của Việt Nam cũng
đã có những đóng góp tích cực vào việc đổi mới nhận thức, tư duy lý luận vàthực tiễn về các lĩnh vực khoa học, qua đó góp phần phục vụ hoạt động
Trang 34nghiên cứu khoa học, ứng dụng thực tiễn và giáo dục đào tạo của các việnnghiên cứu và trường đại học
1.4 Ý nghĩa của hoạt động xuất bản tạp chí khoa học
Một bài báo chỉ được xem là bài báo khoa học khi nó đã qua cơ chếphản biện và được công bố trên tạp chí khoa học Những bài báo xuất hiệndưới dạng “abstracts” (bản tóm tắt cuốn sách, luận án, bài diễn văn ) haythậm chí “proceedings” (tập công trình nghiên cứu, tập biên chuyên đề, kỷyếu) không thể xem là bài báo khoa học bởi vì nó không đáp ứng được haiyêu cầu trên Tạp chí khoa học chính là nơi lưu trữ, nguồn cung cấp nhữngthông tin, nghiên cứu khoa học có giá trị, được kiểm định và sàng lọc, dùnglàm tư liệu tham khảo cho các công trình nghiên cứu kế tiếp; qua đó thúc đẩy,kích thích động cơ nghiên cứu, tìm kiếm, phát hiện sự thật về các hiện tượng,quy luật và các mối quan hệ cũng như đề xuất các giải pháp có ích vì mục tiêucải thiện và phát triển cuộc sống con người
Trên bình diện quốc gia, việc công bố báo cáo khoa học (bài báo khoahọc) trên tạp chí khoa học quốc tế là một cách không chỉ nâng cao sự hiệndiện, mà còn nâng cao năng suất khoa học, của nước nhà Ở phương Tâyngười ta thường đếm số lượng bài báo khoa học mà các nhà khoa học công bốtrên các tạp chí khoa học để đo lường và so sánh hiệu suất khoa học giữa cácquốc gia Hiện nay, trong bất cứ lĩnh vực nào, phải nhìn nhận một thực tế làhiệu suất khoa học của nước ta chưa cao Phần lớn các công trình nghiên cứutại nước ta chỉ được kết thúc bằng những buổi nghiệm thu, hay luận án đượcbảo vệ Đối với hoạt động khoa học, cho dù công trình đã được nghiệm thuhay đưa vào luận án tiến sĩ (TS) hay thạc sĩ (ThS), nếu chưa được công bốtrên các diễn đàn khoa học quốc tế thì công trình đó coi như chưa hoàn tất,bởi vì nó chưa qua “thử lửa” với môi trường rộng lớn hơn
Trang 35Theo tác giả Phạm Duy Hiển (Tạp chí Tia sáng, số tháng 6 năm 2005),
trong năm 2003, các nhà khoa học Việt Nam đã công bố trên 7.000 bài báotrên các tạp chí khoa học trong nước Con số này rất ấn tượng, song đó chỉ lànhững bài báo “ta viết cho ta đọc” chứ trên trường quốc tế thì sự hiện diệncủa các nhà khoa học Việt Nam còn rất khiêm tốn Vẫn theo tác giả PhạmDuy Hiển, trong năm 2001 các nhà khoa học Việt Nam chỉ công bố được 354bài báo khoa học trên các tạp chí khoa học quốc tế, mà 71% con số này là docộng tác với các nhà khoa học ngoài Việt Nam Còn theo tác giả Nguyễn VănTuấn, trong thời gian 2001 đến 2010, các nhà khoa học Việt Nam công bốđược 8.220 bài báo khoa học trên các tạp chí khoa học thuộc danh mục ISI,tăng 3,4 lần so với thời gian 10 năm trước (1991-2000) Tuy nhiên, số bài báotrong 2001-2010 của Việt Nam chỉ bằng 1/4 của Thái Lan, 1/3 Malaysia và1/6 Singapore
Những con số trên cho thấy khoa học Việt Nam không những ở một vị tríthấp trên thế giới, mà còn so với các nước trong vùng Một trong những lý do về
sự khiêm tốn của khoa học Việt Nam trên trường quốc tế là số ấn phẩm khoahọc còn thấp Cả nước hiện nay có khoảng 9.000 GS và PGS, cùng với trên 30nghìn TS Nhưng mỗi năm, chỉ có khoảng 900 bài báo khoa học trên các tạp chíkhoa học quốc tế Đó là một năng suất cực kỳ khiêm tốn, nếu nhìn theo chuẩnmực quốc tế mỗi GS cần phải có ít nhất 1 bài báo khoa học mỗi năm
Vấn đề là ở nước ta vẫn tồn tại một sự nhầm lẫn giữa bài báo khoa học
và bài báo phổ thông Không ít nhà khoa học nghĩ rằng những bài báo trên cáctạp chí chuyên ngành hay thậm chí trên báo chí phổ thông là công trình nghiêncứu Nguyên nhân là do cộng đồng khoa học Việt Nam chưa nhất trí tạo ranhững chuẩn mực khách quan để đánh giá thành tựu một nhà khoa học Vìthiếu một chuẩn mực khách quan, nên có sự lẫn lộn giữa bài báo phổ thông hay
Trang 36abstract trong hội nghị và một bài báo khoa học nghiêm chỉnh Từ sự lẫn lộnnày dẫn đến những sai lầm trong đánh giá và đề bạt các chức danh khoa học
Theo thông lệ quốc tế, một công trình khoa học chỉ có thể xem là hoàntất nếu kết quả công trình đó được công bố trên những tạp chí khoa học cóphản biện (peer review) Chỉ qua phản biện và qua công bố quốc tế thì người
ta mới có thể đánh giá công trình khoa học đó ra sao Một công trình nghiêncứu tiêu nhiều triệu đồng (của dân) mà không được công bố trên các tạp chíkhoa học có phản biện thì không thể xem là hoàn tất được, và tác giả vẫn còn
nợ người dân
Trong quá trình hội nhập thế giới, xã hội có quyền đòi hỏi nhà khoa họcnước ta phải có tầm vóc và đứng vững trên trường khoa học quốc tế Đã đếnlúc các tạp chí khoa học phải đặt ra những tiêu chuẩn nghiêm túc mà quốc tế
đã và đang sử dụng để thẩm định thành tích nghiên cứu khoa học của các GS
và nhà nghiên cứu ở nước ta
Trang 37Chương 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG XUẤT BẢN TẠP CHÍ KHOA HỌC KINH TẾ VÀ KINH DOANH THUỘC TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
2.1 Tổng quan về tạp chí khoa học kinh tế và kinh doanh
2.1.1 Tạp chí Khoa học Đại học Quốc Gia Hà Nội
Tạp chí Khoa học Kinh tế và Kinh doanh (TCKH KTKD) là một trongbảy tạp chí khoa học chuyên ngành thuộc Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia
Hà Nội (TCKH ĐHQGHN)
TCKH ĐHQGHN (tên giao dịch tiếng Anh: Vietnam NationalUniversity, Hanoi - Journal of Science) được thành lập tại trường Đại họcTổng hợp Hà Nội – tiền thân của Đại học Quốc gia Hà Nội (ĐHQGHN), hoạtđộng từ ngày 01/01/1985 (giấy phép xuất bản số 36/XBBC ngày 20/02/1985)
và được cấp chỉ số tiêu chuẩn quốc tế ISSN 0866-8612 ngày 16/03/1988.Ngày 04/12/2001, TCKH ĐHQGHN được tổ chức lại theo quyết định số 681/TCCB của Giám đốc ĐHQGHN TCKH ĐHQGHN có nhiệm vụ công bố,giới thiệu các công trình phục vụ giảng dạy, học tập và nghiên cứu khoa học,được xuất bản dưới hình thức các tạp chí chuyên ngành thuộc các lĩnh vựckhoa học tự nhiên và công nghệ, khoa học xã hội và nhân văn
Hội đồng Biên tập của TCKH ĐHQGHN gồm 8 thành viên (5 GS và
3 PGS):
GS.TSKH Nguyễn Hoàng Lương (Tổng Biên tập)
PGS.TSKH Lưu Văn Bôi
GS.TSKH Lê Văn Cảm
GS.TS Đinh Văn Đức
Trang 38Trải qua hơn 25 năm hoạt động, TCKH ĐHQGHN đã đăng tải hàngnghìn bài báo của các nhà khoa học, các nghiên cứu sinh, đóng góp một phầnkhông nhỏ trong việc tạo dựng nên diện mạo khoa học của ĐHQGHN - mộttrung tâm đào tạo và nghiên cứu khoa học có uy tín của cả nước
Năm 2002, theo quyết định của Giám đốc ĐHQGHN, TCKHĐHQGHN được kiện toàn tổ chức và sắp xếp lại theo hướng chuyên ngànhhóa Từ một Hội đồng biên tập đồ sộ với những nhà khoa học có tên tuổitrong cả nước nhưng chủ yếu mang tính chất danh dự, TCKH ĐHQGHN đãxây dựng được 7 Ban biên tập thuộc 7 tạp chí khoa học chuyên ngành làmviệc thật sự
2.1.2 Tạp chí Khoa học Kinh tế và Kinh doanh
TCKH KTKD (hay còn gọi là Chuyên san Kinh tế và Kinh doanh, tên
giao dịch tiếng Anh: Journal of Science – Economics and Business) được
thành lập trên cơ sở tách ra từ Tạp chí Khoa học Kinh tế - Luật theo Quyếtđịnh số 4462/QĐ-TCCB của Giám đốc ĐHQGHN ban hành ngày 8/8/2008,.TCKH KTKD là diễn đàn trao đổi về học thuật chuyên sâu, nơi công bốnhững công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước nhằm phục
Trang 39vụ công tác giảng dạy, học tập, nghiên cứu trong các lĩnh vực kinh tế và quảntrị kinh doanh
TCKH KTKD có trụ sở đóng tại Trường ĐHKT - ĐHQGHN Việcthành lập, chia tách, sáp nhập, giải thể các tạp chí khoa học trực thuộc doTổng Biên tập TCKH ĐHQGHN quyết định
Về cơ cấu tổ chức, TCKH KTKD chịu sự quản lý của TCKHĐHQGHN Ban Biên tập TCKH KTKD được thành lập theo Quyết định củaĐHQGHN, có nhiệm vụ tổ chức bản thảo, tổ chức phản biện và biên tập cácbài báo theo quy định Ban Biên tập gồm 8 thành viên (1 GS, 6 PGS và 1 TS):
PGS.TS Nguyễn Hồng Sơn (Trưởng ban)
GS.TS Lê Văn Cường
TS Nguyễn Tiến Dũng
2.2 Hoạt động xuất bản tạp chí khoa học kinh tế và kinh doanh
2.2.1 Sắp đặt nội dung
Việc sắp đặt nội dung TCKH KTKD bao gồm các mặt sau: thiết kế cộtmục, sắp đặt chuyên đề và tổ hợp đề tài
Trang 40Thứ nhất, thiết kế cột mục
Cột mục TCKH KTKD thể hiện đặc điểm về nội dung và hình thứcbiểu hiện, tạo thành một khối có tên gọi mang tính khái quát, bao gồm cácmục: Nghiên cứu, Trao đổi, Thông tin – Bình luận Thông thường các cộtmục của TCKH KTKD được phân bổ số lượng bài nhất định Mục Nghiêncứu là mục trọng điểm, thường bao gồm các bài nghiên cứu có hàm lượngkhoa học cao về lĩnh vực kinh tế và kinh doanh, bao gồm từ 5-7 bài; còn cácmục Trao đổi và Thông tin – Bình luận có hàm lượng khoa học thấp hơn, baogồm từ 1-3 bài
Việc phân chia cột mục như vậy có nhiều ý nghĩa: làm cho nội dungTCKH KTKD trở nên rõ ràng, mạch lạc, người đọc có thể nhìn thấy hàmlượng khoa học trong mỗi cột mục và thuận tiện trong việc lựa chọn bài đọc;làm cho các bài viết tồn tại riêng rẽ thể hiện được mối quan hệ về nội dunghoặc hình thức, tạo nên hình tượng chỉnh thể của TCKH KTKD
So với các tạp chí khác trong cùng hệ thống TCKH ĐHQGHN, TCKHKTKD đã có sự phân chia, thiết kế cột mục rõ ràng và khoa học hơn Chẳnghạn, các TCKH Khoa học Xã hội và Nhân văn, TCKH Các Khoa học Trái đất
và TCKH Luật học (thuộc TCKH ĐHQGHN) đều không được thiết kế cộtmục, tất cả các bài viết được dàn đều, không có mục trọng điểm và khôngđược phân chia theo hàm lượng khoa học của mỗi bài viết Việc thiết kế cộtmục được coi là một trong những tiến bộ của TCKH KTKD trong hệ thốngTCKH ĐHQGHN
Thứ hai, sắp đặt chuyên đề
Sắp đặt chuyên đề là công việc mang tính thường xuyên của TCKHKTKD, giúp tăng cường tính thống nhất và chuyên sâu về nội dung bài viết,định hướng và thu hút sự quan tâm chú ý của các tác giả và độc giả