1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

BÀI TẬP LỚN KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC LÊNIN đề BÀI THỰC TRẠNG CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC ở VIỆT NAM

15 37 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 413,66 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong quá trình đổi mới, khu vực doanh nghiệp Nhà nước – bộ phận trọng yếu của kinh tế Nhà nước, đã bộc lộ rất nhiều bất cập: cơ sở vật chất lạc hậu, thiếu vốn, cơ chế quản lý còn cứng n

Trang 1

BÀI TẬP LỚN

KINH TẾ CHÍNH TRỊ

MÁC - LÊNIN

ĐỀ BÀI: THỰC TRẠNG CỔ PHẦN HÓA DOANH

NGHIỆP NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM

Họ và tên:

Mã sinh viên:

Trang 2

LỜI NÓI ĐẦU 3

Phần I: Lí luận chung về cổ phần hóa và DNNN 4

1 Tổng quát về cổ phần hóa 4

1.1 Khái niệm cổ phần hóa các DNNN 4

1.2 Mục tiêu của cổ phần hóa 5

2 Hệ thống doanh nghiệp Nhà nước và những tồn tại 5

3 Vì sao phải cổ phần hóa các doanh nghiệp Nhà nước ? 7

Phần II: Thực trạng CPH DNNN ở nước ta hiện nay 7

1 Những kết quả đạt được 8

2 Những hạn chế, tồn tại và vấn đề đặt ra cho cổ phần hóa DNNN 11

3 Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác cổ phần hóa DNNN 14

TÀI LIỆU THAM KHẢO 15

LỜI NÓI ĐẦU

Trang 3

Trước bối cảnh nền kinh tế thế giới đang chuyển mình mạnh mẽ, Đảng và Nhà nước ta đã đề ra công cuộc đổi mới đất nước, phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN Trong quá trình đổi mới, khu vực doanh nghiệp Nhà nước – bộ phận trọng yếu của kinh tế Nhà nước, đã bộc lộ rất nhiều bất cập: cơ sở vật chất lạc hậu, thiếu vốn, cơ chế quản lý còn cứng nhắc, trình độ quản lý thấp, hoạt động kém hiệu quả và nhất là không đáp ứng được với yêu cầu phát triển nhanh của lực lượng sản xuất, cản trở không nhỏ đến vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước trong nền kinh tế

Trước thực trạng trên, trong những năm qua Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ phận kinh tế Nhà nước như chuyển một số DNNN thành các Công ty Cổ phần (cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước), sắp xếp lại các doanh nghiệp Nhà nước, giải thể các doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả Trong đó cổ phần hóa được coi là giải pháp hàng đầu, có khả năng mang lại lợi ích hài hòa cho Nhà nước cũng như nhiều

bộ phận kinh tế khác

Vì vậy nghiên cứu về cổ phần hóa trong thời điểm hiện nay tuy không phải là mới mẻ nhưng rất cần thiết Với tư cách là một sinh viên kinh tế - cán bộ

kinh tế trong tương lai, đề tài “Thực trạng cổ phần hóa doanh nghiệp nhà

nước ở Việt Nam hiện nay” là một cơ hội để em nghiên cứu sâu hơn một chính

sách kinh tế quan trọng của nhà nước Qua đó em có những kiến thức thực tế,

bổ sung cho vốn kiến thức hạn hẹp của mình, đồng thời tổng hợp lại một số giải pháp cho tiến trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở nước ta hiện nay

Do thời gian và trình độ còn hạn chế nên bài viết không tránh khỏi những thiếu sót nhất định, em rất mong được sự đóng góp ý kiến của cô giáo để đề tài được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn !

Phần I: Lí luận chung về cổ phần hóa và DNNN

Trang 4

1 Tổng quát về cổ phần hóa

1.1 Khái niệm cổ phần hóa các DNNN

Cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước là việc chuyển doanh nghiệp Nhà nước thành công ty cổ phần đối với những doanh nghiệp mà Nhà nước thấy không cần nắm giữ 100% vốn đầu tư, nhằm tạo điều kiện cho người lao động trong doanh nghiệp có cổ phần làm chủ thực sự doanh nghiệp, huy động vốn toàn xã hội để đầu tư đổi mới công nghệ, phát triển doanh nghiệp góp phần tăng trưởng kinh tế

Xét về hình thức: cổ phần hóa là việc Nhà nước bán một phần hay toàn

bộ giá trị của mình trong một xí nghiệp cho các đối tượng tổ chức hoặc tư nhân trong và ngoài nước; hoặc cho cán bộ quản lý và công nhân xí nghiệp bằng hình thức đấu giá công khai hay thông qua thị trường chứng khoán để hình thành các công ty trách nhiệm hữu hạn hay công ty cổ phần

Xét về thực chất: cổ phần hóa chính là phương thức thực hiện xã hội hóa

sở hữu, chuyển hình thái kinh doanh một chủ sở hữu để tạo ra một mô hình doanh nghiệp phù hợp với nền kinh tế thị trường và đáp ứng được nhu cầu kinh doanh hiện đại

1.2 Mục tiêu của cổ phần hóa

Chuyển doanh nghiệp nhà nước thành các công ty cổ phần nhằm các mục tiêu:

Thứ nhất, giải quyết vấn đề sở hữu đối với khu vực quốc doanh hiện nay.

Chuyển một phần tài sản thuộc sở hữu của Nhà nước thành sở hữu của các cổ đông nhằm xác định người chủ sở hữu cụ thể đối với doanh nghiệp, khắc phục tình trạng “vô chủ” của tư liệu sản xuất, đồng thời cổ phần hóa tạo điều kiện thực hiện đa dạng hóa sở hữu làm thay đổi mối tương quan giữa các hình thức

và loại hình sở hữu, tức là điều chỉnh cơ cấu các sở hữu

Trang 5

Thứ hai, huy động vốn của toàn xã hội, bao gồm cá nhân, các tổ chức

kinh tế, tổ chức xã hội trong và ngoài nước để đầu tư đổi mới công nghệ, tạo thêm việc làm, phát triển doanh nghiệp, nâng cao sức cạnh tranh, thay đổi cơ cấu doanh nghiệp nhà nước

Thứ ba, tạo điều kiện để người kinh doanh trong doanh nghiệp có cổ phần và những người đã góp vốn được làm chủ thực sự, thay đổi phương thức

quản lý, tạo động lực thúc đẩy doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả, tăng tài sản nhà nước, nâng cao thu nhập của người lao động góp phần tăng trưởng kinh

tế đất nước

2 Hệ thống doanh nghiệp Nhà nước và những tồn tại

Doanh nghiệp Nhà nước là các đơn vị tổ chức kinh tế thực hiện chức năng sản xuất kinh doanh thuộc sở hữu của Nhà nước

Doanh nghiệp Nhà nước có hai loại cơ bản:

+ Doanh nghiệp Nhà nước công ích, do nhà nước đầu tư và xây dựng + Doanh nghiệp Nhà nước còn lại tồn tại trong môi trường sản xuất, kinh doanh theo luật, cạnh tranh bình đẳng với các doanh nghiệp của các thành phần kinh tế khác, với mục tiêu là lợi nhuận Trong quá trình hoạt động cạnh tranh, từng doanh nghiệp hoặc tự khẳng định hoặc tự phủ định mình theo quy luật cạnh tranh trên thị trường

Là chủ thể đại diện sở hữu phần lớn tài sản quốc gia, doanh nghiệp Nhà nước và thành phần kinh tế Nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc thăm

dò khai thác bảo quản phát triển và sở hữu có hiệu quả tài nguyên và các tiềm năng của đất nước Trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa hóa, doanh nghiệp Nhà nước bằng vai trò mở đường, hỗ trợ của mình thúc đẩy hình thành các trung tâm kỹ thuật văn hóa - xã hội mới tiên tiến Bên cạnh đó, doanh nghiệp Nhà nước còn đóng vai trò là lực lượng vật chất để Nhà nước điều tiết và quản lý vĩ mô nền kinh tế, tạo tiền đề vững chắc cho nền kinh tế phát triển ổn định, đảm bảo những cân đối lớn của nền kinh tế, giải quyết các vấn đề xã hội,

Trang 6

hạn chế những khuyết tật của kinh tế thị trường và kịp thời lắp đi những khoảng trống của kinh tế thị trường

Tuy vậy trong quá trình hoạt động của mình doanh nghiệp Nhà nước đã

và đang bộc lộ những vấn đề sau:

 Quy mô doanh nghiệp phần lớn nhỏ bé, cơ cấu phân tán biểu hiện ở số lượng lao động và mức độ tích lũy vốn

 Trình độ kỹ thuật công nghệ lạc hậu, mặt hàng của các doanh nghiệp Nhà nước còn đơn điệu, cơ cấu sản xuất hàng hóa không hợp lý, năng suất chất lượng hàng hóa thấp

 Việc phân bố còn bất hợp lý về ngành và vùng khi chuyển sang kinh tế thị trường

 Liên danh với các chủ đầu tư nước ngoài chưa thực sự hiệu quả, thậm chí mất vốn

Bởi vậy doanh nghiệp Nhà nước chưa thực sự là đòn bẩy để đẩy nhanh tăng trưởng kinh tế bền vững, ổn định, chưa giải quyết được những vấn đề cơ bản mà xã hội đang đặt ra

3 Vì sao phải cổ phần hóa các doanh nghiệp Nhà nước ?

Cổ phần hóa là một chủ trương cần thiết và đúng đắn để làm cho hệ thống doanh nghiệp Nhà nước hiện có mạnh lên, tăng sức cạnh tranh, tăng hiệu quả kinh tế và tăng lượng sức mạnh chi phối, nâng cao vai trò chủ đạo của hệ thống này trong nền kinh tế thị trường, tiến dần từng bước trên con đường công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa

Qua lí luận chủ nghĩa Mác, ta cũng lí giải được về tính cấp thiết ấy của vấn đề cổ phần hóa Chủ nghĩa Mác đã chỉ ra rằng: lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất Khi lực lượng sản xuất phát triển thì kéo theo nó là quan

hệ sản xuất cũng thay đổi cho phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Nếu quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất đất thì nó sẽ thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, ngược lại

Trang 7

nếu quan hệ sản xuất lỗi thời sẽ làm kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất Thực tế đã chứng minh rằng chúng ta không thể đi ngược lại chân lý ấy Trước đây nhà nước ta duy trì nền kinh tế bao cấp đã làm kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất, dẫn tới việc nền kinh tế kém phát triển tụt hậu đời sống nhân dân khó khăn Với việc đổi mới chính sách từ 1986 đến nay giờ đây khi

mà lực lượng sản xuất đã phát triển mạnh mẽ thì sự thay đổi quan hệ sản xuất là

sự đòi hỏi tất yếu Việc nhà nước đứng ra là chủ sở hữu duy nhất trong các doanh nghiệp đã không tạo ra sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp, làm giảm tính năng động sáng tạo trong lao động dẫn đến sự kém phát triển của nền kinh

tế Thêm vào đó trước đây các doanh nghiệp nhà nước chỉ quen sản xuất hàng hóa theo những gì mình sản xuất được và theo chỉ thị của cấp trên mà không quan tâm đến nhu cầu thị trường mong chờ vào sự bảo hộ của nhà nước nên nền kinh tế không thể đi lên được Đứng trước thực tiễn đó thì cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước đã trở thành giải pháp hàng đầu đối với nước ta

Phần II: Thực trạng CPH DNNN ở nước ta hiện nay

Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về việc cổ phần hóa Doanh nghiệp Nhà nước, việc cổ phần hoá được bắt đầu từ năm 1992 và chia thành các giai đoạn:

Thời kỳ thứ nhất, từ năm 1992-2000, cổ phần hoá được 558 doanh

nghiệp Trong thời kỳ này, tiến độ còn chậm, do trước khi có Luật Doanh nghiệp, cổ phần hoá diễn ra còn dè dặt, lạ lẫm, trong khi dư luận xã hội đã rộ lên tình trạng “bán tống bán tháo” tài sản Nhà nước ở một số doanh nghiệp Nhà nước

Thời kỳ thứ hai, từ 2001-2007 được gọi là thời kỳ “bùng nổ” cổ phần hoá

với mức bình quân 1 năm rất cao

Thời kỳ thứ ba, từ 2008 đến nay, tiến độ thực hiện bị chậm lại Ta có thể

thấy rõ tiến độ qua biểu đồ dưới

Trang 8

Số lượng DNNN được cổ phần hóa theo năm (đến 2016)

Nguồn: Tổng hợp từ Báo cáo số 436/ BC- CP ngày 17/10/2016 của Chính phủ.

1 Những kết quả đạt được

Tính từ năm 2011 đến nay, tổng số doanh nghiệp đã được cổ phần hóa là

631 doanh nghiệp, với tổng giá trị doanh nghiệp thực tế 1.040.244 tỷ đồng, vốn nhà nước thực tế 317.739 tỷ đồng

- Trong thời kỳ thứ hai, cổ phần hoá được 3.273 doanh nghiệp, chiếm

82% tổng số, đặc biệt là thời kỳ 2003-2006 cổ phần hóa 2.649 doanh nghiệp, chiếm 66,3% tổng số

- Trong 3 năm 2011 đến hết năm 2013 cổ phần hóa được 99 doanh nghiệp (2011 được 12 doanh nghiệp, 2012 được 13 doanh nghiệp, năm 2013 được 74 doanh nghiệp) Đây hầu hết đều là các doanh nghiệp có quy mô lớn, phạm vi hoạt động rộng, kinh doanh đa ngành, tài chính phức tạp Đáng chú ý, theo báo cáo mới nhất của Ban chỉ đạo đổi mới & PTDN, 9 tháng đầu năm 2014, đã cổ phần hóa được 71 doanh nghiệp (gần bằng cả năm 2013 là 74 doanh nghiệp) và

đã công bố giá trị 123 doanh nghiệp, dự kiến cả năm sẽ cổ phần hóa khoảng 200 doanh nghiệp

Doanh nghiệp nhà nước đã giảm mạnh về số lượng, tập trung hơn vào những ngành, lĩnh vực then chốt, cơ bản thực hiện được vai trò, nhiệm vụ được giao, làm nòng cốt để kinh tế nhà nước định hướng điều tiết, ổn định kinh tế vĩ

Trang 9

mô Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp sau cổ phần hóa được nâng lên

- Tổng số doanh nghiệp cổ phần hóa tính đến hết năm 2016 là 4506 doanh nghiệp Trong đó có 1 Tập đoàn kinh tế, 47 Tổng Công ty Nhà nước và nhiều DNNN quy mô lớn, có ngành nghề kinh doanh quan trọng Bên cạnh đó, một số DNNN hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, cung ứng sản phẩm , dịch vụ công ích cũng được cổ phần hóa, bước đầu mang lại kết quả khả quan

- Số liệu báo cáo của các DNNN đã CPH giai đoạn 2011-2015 cũng cho thấy, kết quả hoạt động kinh doanh của năm sau đều tăng hơn so với năm trước CPH Cụ thể: Vốn điều lệ tăng 72%; tổng tài sản tăng 39%; vốn chủ sở hữu tăng 60%; doanh thu tăng 29%; lợi nhuận trước thuế tăng 49%; nộp ngân sách tăng 27%; thu nhập bình quân của người lao động tăng 33% (Nguyễn Duy Long, Tạp chí Tài chính kỳ I, tháng 10/2016)

Các DNNN cổ phần hóa đã góp phần làm giảm gánh nặng của Nhà nước phải bao cấp, bù lỗ hằng năm Cùng với đó, trong quá trình cổ phần hóa, nợ xấu của các DNNN cũng được xử lý một cách cơ bản; đồng thời, chấm dứt xu hướng thành lập DNNN một cách tràn lan

Một số ví dụ cụ thể về cổ phần hóa đạt hiệu quả

- Ở Cần Thơ: Ông La Minh Hồng, Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần thương nghiệp tổng hợp Cần Thơ, cho biết:

“Chuyển đổi hình thức hoạt động của công ty sang công ty cổ phần là bước đi đúng đắn… qua 6 năm thực hiện CPH, tổng tài sản của công ty tăng 1,5 lần, vốn điều lệ tăng từ 15 tỉ đồng lên 20 tỉ đồng, cổ tức năm 2006 là 4,5%/năm đến 2011

là 20%/năm, thu nhập cán bộ, công nhân viên tăng 10%/năm CPH đã tạo điều kiện cho công ty huy động nguồn vốn và mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh sang một số lĩnh vực Chẳng hạn, đầu tư 30% vốn siêu thị Co.opMart Cần Thơ, 35% vốn khách sạn Á Châu, đầu tư xây dựng khai thác chợ Ngã Sáu, chợ Mái Dầm (Hậu Giang) ” Theo Sở Kế hoạch và Đầu tư TP Cần Thơ, đến nay, thành phố đã có 54 DN thực hiện CPH Trong đó, 33 DN độc lập (có 2 DN

Trang 10

thuộc hệ Đảng), 21 đơn vị phụ thuộc DN (có 2 đơn vị thuộc hệ Đảng) Hiện có

6 công ty cổ phần tham gia giao dịch trên sàn chứng khoán Ngoài ra còn có Công ty Cổ phần Bến xe tàu phà Cần Thơ giao dịch trên sàn Upcom (thị trường giao dịch cổ phiếu của công ty đại chúng chưa niêm yết) Nhìn chung, sau khi CPH hiệu quả sản xuất kinh doanh của các DN được nâng lên, các chỉ tiêu chủ yếu đều tăng trưởng khả quan

- Tập đoàn Bảo Việt (tiền thân là Công ty bảo hiểm Việt Nam): Sau khi tiến hành cổ phần hóa, tổng tài sản của Bảo Việt đã tăng gần gấp đôi, 28.441 tỷ đồng năm 2007 so với 15.195 tỷ đồng năm 2006 Các năm tiếp theo

2008-2016, tổng tài sản tiếp tục gia tăng và đạt 72.996 tỷ đồng vào cuối năm 2016 Vốn chủ sở hữu trước và sau cổ phần hóa cũng thay đổi rõ rệt Cụ thể là so với 1.895 tỷ đồng năm 2006, vốn chủ sở hữu năm 2007 tăng hơn 3 lần, đạt 7.822 tỷ đồng vào năm 2007 và tăng trưởng theo từng năm trong giai đoạn 2008- 2016 Tính đến năm 2016, giá trị vốn chủ sở hữu đạt 13.687 tỷ đồng Sự gia tăng này được phản ánh là nhờ sự tăng trưởng vượt trội của lợi nhuận những năm sau cổ phần hóa so với những năm trước đó 94 Nếu như lợi nhuận của Bảo Việt trong giai đoạn 2001- 2006 cao nhất đạt 431 tỷ đồng vào năm 2006 thì chỉ một năm sau cổ phần hóa, Tập đoàn đã thu được 733,85 tỷ đồng lợi nhuận sau thuế

2 Những hạn chế, tồn tại và vấn đề đặt ra cho cổ phần hóa DNNN

Hạn chế trước tiên của quá trình CPH các doanh nghiệp nhà nước đó là chưa đạt được kế hoạch đã đề ra Theo báo cáo của Bộ Tài chính, so với kế

hoạch đặt ra cả cổ phần hóa và thoái vốn tại các doanh nghiệp có vốn nhà nước đều chậm, tỷ lệ đạt theo kế hoạch thấp Nếu so sánh với kết hoạch đặt ra thì tiến trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước nhìn chung vẫn diễn ra chậm, giai đoạn 2001 – 2010, số lượng doanh nghiệp cổ phần hóa chỉ bằng 1/3 so với kết hoạch đặt ra Theo Đề án sắp xếp, đổi mới DNNN giai đoạn 2011 – 2015, đến năm 2015 cổ phần hóa được 531 doanh nghiệp nhưng trong giai đoạn 2011 –

Trang 11

2013 mới cổ phần hóa được 99 doanh nghiệp, tức là trong 3 năm mới chỉ thực hiện được 18.6% kế hoạch Trong năm 2014-2015 tình hình có bước chuyển khả quan hơn, theo đó số doanh nghiệp cổ phần hóa 2014 là 175 doanh nghiệp, và trong năm 2015 là 220 doanh nghiệp

Hai là, khung pháp lý cho các DN trong quá trình CPH và hậu CPH chưa được hoàn thiện Trong đó, chính sách thu hút cổ đông chiến lược còn

nhiều ràng buộc về mặt chính sách đối với việc tìm nhà đầu tư chiến lược (ngoài các ràng buộc về điều kiện tiêu chuẩn nhà đầu tư chiến lược đối với từng DN), như thời hạn quy định lựa chọn cổ đông chiến lược ngắn so với các trường hợp CPH DN lớn và có cơ cấu tài sản phức tạp Trong một số công ty cổ phần, người lao động – cổ đông phần do nhận thức chưa đầy đủ về quyền và nghĩa vụ của mình, phần do sự hiểu biết pháp luật về công ty cổ phần còn hạn chế, nên có nơi quyền làm chủ chưa được phát huy Ngược lại có nơi lạm dụng quy định của pháp luật gây khó khăn cho công tác quản lý của Hội đồng quản trị, sự điều hành của giám đốc Nhiều nội dung của cơ chế, chính sách quản 69 lý công ty

cổ phần như: chính sách tiền lương, tiền thưởng… vẫn còn áp dụng như DNNN

Ba là, các DNNN đã cổ phần hoá, chủ yếu là doanh nghiệp nhỏ và việc huy động vốn ngoài xã hội trong quá trình cổ phần hoá DNNN còn hạn chế do chưa khuyến khích việc bán cổ phần ra bên ngoài Chưa có doanh nghiệp nào

tính giá trị quyền sử dụng đất vào giá trị doanh nghiệp khi cổ phần hoá Tỷ lệ chào bán ra công chúng thấp, Nhà nước vẫn giữ cổ phần chi phối làm các nhà đầu tư chiến lược e ngại về khả năng khống chế DN sau đầu tư khiến các nhà

20% giá trị cổ phần đăng ký mua theo giá khởi điểm (cao hơn so với 10% quy định trong Nghị định số 59/2011/NĐ-CP, ngày 18/7/2011, của Chính phủ, về

“Chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần”) Một số lĩnh vực đặc thù (ví dụ như Công ty cổ phần Cảng Hải Phòng, hay Công ty cổ phần Dược - Trang thiết bị y tế Bình Định) có quy định không bán vốn cho nhà đầu tư nước ngoài và sau đó cũng không được chuyển nhượng cổ phần cho nhà

Ngày đăng: 17/01/2022, 21:37

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w