Trong Chương trình giáo dục Tiểu học hiện nay, môn Tiếng Việt cùng với các môn học khác trong nhà trường Tiểu học có những vai trò quan trọng góp phần đào tạo nên những con người phát triển toàn diện. Muốn học sinh Tiểu học học tốt được môn Tiếng Việt thì mỗi người giáo viên không phải chỉ truyền đạt, giảng giải theo các tài liệu đã có sẵn trong sách giáo khoa trong các sách hướng dẫn và thiết kế bài giảng một cách dập khuôn, máy móc làm cho học sinh học tập một cách thụ động. Đó là một trong những nguyên nhân gây ra cản trở việc đào tạo các em thành những con người năng động, tự tin, sáng tạo sẵn sàng thích ứng với những đổi mới diễn ra hàng ngày. Đổi mới phương pháp dạy học luôn là nhiệm vụ trọng tâm của ngành giáo dục nhằm phát huy tối đa tính tích cực, chủ động và sáng tạo của học sinh. Một trong số những biện pháp để đạt được mục đích trên đó là sử dụng trò chơi. Trò chơi vừa là một hoạt động giải trí vừa là một phương pháp giáo dục: giáo dục bằng trò chơi một phương pháp đã được nhiều nền giáo dục tiên tiến trên thế giới vận dụng. Lồng ghép trò chơi trong dạy và học môn Tiếng Việt, kết hợp với những phương pháp dạy học khác sẽ có ý nghĩa tích cực đối với yêu cầu đổi mới hiện nay. Đối với học sinh Tiểu học thì hoạt động vui chơi là nhu cầu không thể thiếu và nó giữ vai trò quan trọng đối với các em. Nếu giáo viên biết tổ chức cho học sinh chơi một cách hợp lí, khoa học trong giờ học sẽ mang lại hiệu quả giáo dục cao. Thông qua các trò chơi các em sẽ lĩnh hội những tri thức một cách dễ dàng, củng cố, khắc sâu kiến thức một cách vững chắc, tạo cho các em niềm say mê, hứng thú trong học tập, trong việc làm. Chính vì vậy việc vận dụng trò chơi trong giờ học môn Tiếng Việt ở Tiểu học sẽ làm thay đổi không khí căng thẳng trong các giờ học, tăng thêm hứng thú cho người học, học sinh sẽ chú ý hơn, chủ động hơn trong chuẩn bị, mạnh dạn hơn trong đề xuất ý kiến của mình, phát huy tư duy sáng tạo, … Hứng thú và chủ động trong học tập là sự khởi đầu tốt cho việc nắm bắt kiến thức, hình thành kĩ năng và phát triển nhân cách ở học sinh qua môn Tiếng Việt. Qua những năm giảng dạy tại nhà trường tôi luôn mong muốn làm thế nào để học sinh của mình năng động sáng tạo hơn, hứng thú trong học tập, giờ học bớt căng thẳng, bớt áp lực, làm sao để các em có cảm giác “mỗi ngày đến trường là một ngày vui”, để rồi thông qua mỗi tiết học môn Tiếng Việt các em sẽ hình thành và phát triển các kĩ năng sử dụng Tiếng Việt (nghe,nói, đọc, viết) để học tập và giao tiếp đồng thời góp phần bồi dưỡng tình yêu tiếng mẹ đẻ, hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của Tiếng Việt, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Thông qua thực tế giảng dạy, dự giờ học hỏi ở đồng nghiệp cộng với các đợt tập huấn chuyên môn bản thân tôi mạnh dạn áp dụng tổ chức một số trò chơi trong giờ dạy môn Tiếng Việt trong các năm học và thấy không khí của mỗi tiết học sôi nổi hẳn lên đến giờ học các em không còn cảm thấy căng thẳng mà rất háo hức mong đợi, học sinh trong lớp hoạt động tích cực và đồng đều, các em mạnh dạn trình bày ý kiến, nêu thắc mắc, … từ đó các em tự chiếm lĩnh kiến thức và ghi nhớ một cách bền vững hơn do đó mà kết quả học tập cũng được nâng cao. Vì vậy, tôi chọn và nghiên cứu đề tài: “Vận dụng phương pháp trò chơi nhằm gây hứng thú và phát huy tính năng động trong giờ học Tiếng Việt Lớp 4”, rất mong nhận được sự góp ý của Ban giám hiệu, tổ chuyên môn để đề tài phát huy hiệu quả cao hơn.
Trang 14 Đối tượng nghiên cứu và khảo sát thực nghiệm 3
PHẦN 2: NỘI DUNG
1 Nghiên cứu lí luận và thực trạng vấn đề nghiên cứu 51.1 Những nội dung lí luận có liên quan đến đề tài 5
2 Các giải pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề 92.1 Giải pháp 1: Nắm vững vai trò của trò chơi 9
2.2 Giải pháp 2: Thực hiện đúng nguyên tắc áp dụng phương pháp
2.3 Giải pháp 3: Lồng ghép trò chơi vào các phân môn Tiếng Việt 102.4 Giải pháp 4: Lựa chọn thời gian vận dụng trò chơi 102.5 Giải pháp 5: Lựa chọn nội dung tổ chức chơi 112.6 Giải pháp 6: Sử dụng phương tiện khi tổ chức chơi 112.7 Giải pháp 7: Chọn cách tổ chức trò chơi có hiệu quả 11
3 Giải pháp 8: Vận dụng sáng tạo một số trò chơi học tập trong môn
Trang 2PHẦN 1: MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong Chương trình giáo dục Tiểu học hiện nay, môn Tiếng Việt cùng vớicác môn học khác trong nhà trường Tiểu học có những vai trò quan trọng gópphần đào tạo nên những con người phát triển toàn diện
Muốn học sinh Tiểu học học tốt được môn Tiếng Việt thì mỗi người giáoviên không phải chỉ truyền đạt, giảng giải theo các tài liệu đã có sẵn trong sáchgiáo khoa trong các sách hướng dẫn và thiết kế bài giảng một cách dập khuôn,máy móc làm cho học sinh học tập một cách thụ động Đó là một trong nhữngnguyên nhân gây ra cản trở việc đào tạo các em thành những con người năngđộng, tự tin, sáng tạo sẵn sàng thích ứng với những đổi mới diễn ra hàng ngày Đổi mới phương pháp dạy học luôn là nhiệm vụ trọng tâm của ngành giáodục nhằm phát huy tối đa tính tích cực, chủ động và sáng tạo của học sinh Mộttrong số những biện pháp để đạt được mục đích trên đó là sử dụng trò chơi Tròchơi vừa là một hoạt động giải trí vừa là một phương pháp giáo dục: giáo dụcbằng trò chơi - một phương pháp đã được nhiều nền giáo dục tiên tiến trên thếgiới vận dụng Lồng ghép trò chơi trong dạy và học môn Tiếng Việt, kết hợp vớinhững phương pháp dạy học khác sẽ có ý nghĩa tích cực đối với yêu cầu đổi mớihiện nay
Đối với học sinh Tiểu học thì hoạt động vui chơi là nhu cầu không thể thiếu
và nó giữ vai trò quan trọng đối với các em Nếu giáo viên biết tổ chức cho họcsinh chơi một cách hợp lí, khoa học trong giờ học sẽ mang lại hiệu quả giáo dụccao Thông qua các trò chơi các em sẽ lĩnh hội những tri thức một cách dễ dàng,củng cố, khắc sâu kiến thức một cách vững chắc, tạo cho các em niềm say mê,hứng thú trong học tập, trong việc làm Chính vì vậy việc vận dụng trò chơitrong giờ học môn Tiếng Việt ở Tiểu học sẽ làm thay đổi không khí căng thẳngtrong các giờ học, tăng thêm hứng thú cho người học, học sinh sẽ chú ý hơn, chủđộng hơn trong chuẩn bị, mạnh dạn hơn trong đề xuất ý kiến của mình, phát huy
tư duy sáng tạo, … Hứng thú và chủ động trong học tập là sự khởi đầu tốt choviệc nắm bắt kiến thức, hình thành kĩ năng và phát triển nhân cách ở học sinhqua môn Tiếng Việt
Qua những năm giảng dạy tại nhà trường tôi luôn mong muốn làm thế nào
để học sinh của mình năng động sáng tạo hơn, hứng thú trong học tập, giờ họcbớt căng thẳng, bớt áp lực, làm sao để các em có cảm giác “mỗi ngày đến trường
là một ngày vui”, để rồi thông qua mỗi tiết học môn Tiếng Việt các em sẽ hìnhthành và phát triển các kĩ năng sử dụng Tiếng Việt (nghe,nói, đọc, viết) để họctập và giao tiếp đồng thời góp phần bồi dưỡng tình yêu tiếng mẹ đẻ, hình thànhthói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của Tiếng Việt, hình thành nhân cáchcon người Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Thông qua thực tế giảng dạy, dự giờ học hỏi ở đồng nghiệp cộng với cácđợt tập huấn chuyên môn bản thân tôi mạnh dạn áp dụng tổ chức một số trò chơitrong giờ dạy môn Tiếng Việt trong các năm học và thấy không khí của mỗi tiết
Trang 3học sôi nổi hẳn lên đến giờ học các em không còn cảm thấy căng thẳng mà rấtháo hức mong đợi, học sinh trong lớp hoạt động tích cực và đồng đều, các emmạnh dạn trình bày ý kiến, nêu thắc mắc, … từ đó các em tự chiếm lĩnh kiếnthức và ghi nhớ một cách bền vững hơn do đó mà kết quả học tập cũng được
nâng cao Vì vậy, tôi chọn và nghiên cứu đề tài: “Vận dụng phương pháp trò chơi nhằm gây hứng thú và phát huy tính năng động trong giờ học Tiếng Việt Lớp 4”, rất mong nhận được sự góp ý của Ban giám hiệu, tổ chuyên môn
để đề tài phát huy hiệu quả cao hơn
Tạo cho các em có cơ hội phát huy trí tuệ, óc phân tích, tư duy sáng tạo Tạo cho các em có môi trường giao tiếp thân thiện
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Tìm hiểu những cơ cở lí luận, cơ sở thực tiễn, nghiên cứu vận dụng phươngpháp trò chơi nhằm gây hứng thú và phát huy tính năng động trong giờ họcTiếng Việt
Tìm hiểu thực trạng và nguyên nhân dẫn đến hiện tượng học sinh thụ động,không hứng thú trong các tiết học Tiếng Việt
Đưa ra một số phương pháp vận dụng trò chơi cho học sinh trong mônTiếng Việt
Rút ra kết luận và bài học kinh nghiệm sau khi áp dụng đề tài
4 Đối tượng nghiên cứu và khảo sát thực nghiệm
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu và tìm hiểu thực trạng để tìm ra biện pháp nâng cao hứng thú
và phát huy tính năng động trong giờ học Tiếng Việt từ đó nâng cao chất lượnggiáo dục cho học sinh lớp 4
4.2 Đối tượng khảo sát thực nghiệm
Các em học sinh lớp 4A1 trường tiểu học Lộc Thanh 2
Trang 45 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài tôi đã sử dụng phương pháp điều tra khảosát bằng phiếu hỏi nhằm thu thập thông tin về thực trạng học sinh thụ động và íthứng thú với môn Tiếng Việt qua đó xác định nguyên nhân của thực trạng làm
cơ sở cho việc xác lập các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc dạy học bằng cách vận dụng phương pháp trò chơi trong dạy học môn Tiếng Việt lớp 4 ở
trường tiểu học Lộc Thanh 2
Bên cạnh đó tôi còn sử dụng phương pháp quan sát nhằm thu thập các biểuhiện sinh động, khách quan về thái độ, hứng thú cũng như mức độ tham gia hoạtđộng trong giờ học của học sinh
Phương pháp thử nghiệm sư phạm: Tổ chức thực nghiệm nhằm mục đíchkiểm tra kết quả của việc sử dụng phương pháp trò chơi trong dạy học mônTiếng Việt theo quy trình được xác định trong đề tài Ngoài ra tôi còn sử dụngmột số phương pháp chứng minh, minh họa, so sánh,
6 Phạm vi và kế hoạch nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu trong hai năm:
- Năm học 2019 - 20120: Từ tháng 9 năm 2019 đến tháng 7 năm 2020
- Năm học 2020 - 2021: Từ tháng 9 năm 2019 đến tháng 5 năm 2020
Kế hoạch: Các tiết học thuộc môn Tiếng Việt hàng ngày
7 Điểm mới của đề tài
Đề tài chỉ đi sâu vào nghiên cứu vận dụng phương pháp trò chơi nhằm gâyhứng thú và phát huy tính năng động trong giờ học Tiếng Việt lớp 4 từ đó nâng
cao chất lượng môn Tiếng Việt tại trường tiểu học Lộc Thanh 2
PHẦN 2: NỘI DUNG
Trang 51 Nghiên cứu lí luận và thực trạng vấn đề nghiên cứu
1.1 Những nội dung lí luận có liên quan đến đề tài
Tại Điều 30.3 Luật số: 43/2019/QH14 Luật Giáo dục nêu rõ:“Phương pháp giáo dục phổ thông phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh phù hợp với đặc trưng từng môn học, lớp học và đặc điểm đối tượng học sinh; bồi dưỡng phương pháp tự học, hứng thú học tập, kĩ năng hợp tác, khả năng tư duy độc lập; phát triển toàn diện phẩm chất và năng lực của người học; tang cường ứng dụng công nghệ thong tin và truyền thông vào quá trình giáo dục” Có thể nói cốt lõi của đổi mới dạy và học là hướng tới hoạt động học
tập chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động của học sinh
Căn cứ vào mục tiêu trên cùng với việc dựa vào đặc điểm tâm sinh lý củalứa tuổi học sinh tiểu học: ham tìm hiểu, tiếp cận, thích cái mới lạ nhưng lạichóng chán Trong quá trình học tập các em thiếu sự tập trung cao độ, khả năngghi nhớ và chú ý có chủ định chưa được phát triển mạnh Do đó việc sử dụngcác trò chơi học tập trong giờ học Tiếng Việt là hết sức cần thiết và có ích Tròchơi có tác dụng giúp học sinh:
+ Tăng cường khả năng chú ý nắm bắt nội dung bài học phát huy tính năngđộng của các em
+ Nâng cao hứng thú cho người học, góp phần làm giảm mệt mỏi, căngthẳng trong học tập của học sinh Phát triển tính độc lập, ham hiểu biết và khảnăng suy luận
+ Tăng cường khả năng thực hành, vận dụng các kiến thức đã học
+ Tăng cường khả năng giao tiếp giữa giáo viên và học sinh, và giữa họcsinh với nhau, giúp học sinh rèn luyện các khả năng ứng xử, giao tiếp
+ Thu hút cả lớp theo dõi tham gia các hoạt động
Khi chơi, các em tưởng tượng, suy ngẫm, thử nghiệm, lập luận để đạt kếtquả mà không nghĩ là mình đang học Kiến thức cung cấp trong giờ học sẽ đượcgiảm nhẹ, quá trình học tập diễn ra một cách tự nhiên hơn, hấp dẫn hơn
Trò chơi là phương tiện có ý nghĩa trong việc góp phần thực hiện đổi mớiphương pháp dạy học, nhằm phát huy tính năng động, sáng tạo và gây hứng thútrong giờ học của học sinh Ngoài ra thông qua hoạt động trò chơi còn giúp các
em phát triển được nhiều phẩm chất đạo đức như tình đoàn kết, thân ái, lòng
trung thực, tinh thần cộng đồng trách nhiệm Do vậy quan điểm “Thông qua hoạt động vui chơi để tiến hành hoạt động học tập” là phù hợp với từng lứa
tuổi, từng môn học đặc biệt là đối với môn Tiếng Việt
1.2 Thực trạng của vấn đề nghiên cứu
Thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản,toàn diện giáo dục và đào tạo nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương phápdạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo vàvận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một
Trang 6chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tựhọc, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triểnnăng lực Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đadạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học Đẩy mạnhứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học” Để thực hiệntốt mục tiêu về đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT theo Nghị quyết số 29-NQ/TW, cần có nhận thức đúng về bản chất của đổi mới phương pháp dạy họctheo định hướng phát triển năng lực người học và một số biện pháp đổi mớiphương pháp dạy học theo hướng này.
Trước yêu cầu đó đòi hỏi người giáo viên không chỉ nỗ lực học tập để nângcao trình độ chuyên môn mà còn phải cần nỗ lực trau dồi củng cố thường xuyên
về kiến thức cũng như các phương pháp, hình thức dạy học hiện đại vào trongquá trình dạy học Nếu thầy cô giáo giỏi chuyên môn và có tâm huyết với nghề,thì tất nhiên sẽ biết cách khơi gợi tạo ra sự hứng thú và cuốn hút học sinh hăngsay học tập và thích phát biểu ý kiến trong lớp để xây dựng bài học
Năm học 2019 - 2020 tôi được phân công giảng dạy lớp 4A1, trong nhữnggiờ dạy của bản thân cũng như qua những lần dự giờ đồng nghiệp tôi nhận thấymột điều rằng hiện nay đang xuất hiện một thực trạng học sinh ngày càng thụđộng không chịu phát biểu xây dựng bài Nhiều lần thầy cô giáo đặt câu hỏi, dùchỉ là những câu hỏi trong sách giáo khoa nhưng hỏi đi hỏi lại 2; 3 lượt nhưngcác em vẫn ngồi im, và chính thầy cô là người phải trả lời câu hỏi do mình đặt
ra, những tình huống như vậy thường gây tâm lí ức chế cho thầy cô rất nhiều,thậm chí chán nản, không tha thiết với công việc của mình
Theo kết quả khảo sát học sinh lớp 4A1 mà tôi trực tiếp giảng dạy về việc
em có hay phát biểu trong giờ học môn Tiếng Việt hay không, kết quả thu đượcnhư sau:
Số HS
tham gia
khảo sát
Phát biểu nhiều
Có phát biểu nhưng không nhiều
Không phát biểu
Từ kết quả trên ta thấy tình trạng lớp học tương đối trầm, tỷ lệ phát biểu ítchiếm 40%, tỷ lệ những học sinh chưa bao giờ phát biểu khá cao 48%, còn lạilượng học sinh hăng hái phát biểu không đáng kể chỉ 12%
Nguyên nhân gây nên hiện tượng học sinh thụ động trong giờ học bắtnguồn từ tâm lý chung của học sinh sợ bị chê cười khi phát biểu sai, chưa tự tinvào năng lực của mình, ngại ngùng, rụt rè khi đứng lên trả lời trước đám đôngnhất là các bạn nữ; do các em lười học, không chịu, hoặc rất ít tương tác vớithầy cô và bạn bè; chưa hiểu rõ tác dụng của việc phát biểu xây dựng bài; dokhông khí các giờ văn trên lớp nhiều tiết còn tẻ nhạt, thiếu hấp dẫn
Trang 7Nếu tình trạng lãnh đạm, thụ động, ít hoặc không phát biểu trong giờ học
của học sinh kéo dài thì không chỉ ảnh hưởng đến chất lượng dạy và học trong
hiện tại mà còn có tác động tiêu cực sau này Điều đó sẽ tạo ra những thế hệ
người lao động, đội ngũ trí thức kém năng động luôn nhút nhát, e dè, sợ sệt khi
phát biểu trước đám đông, thiếu bản lĩnh, tự tin trong giao tiếp, không dám nói
lên sự thật, chống lại cái sai trái
Cũng với số học sinh trên với câu hỏi “Em có hứng thú khi học môn Tiếng
Việt?”, kết quả thu được như sau:
Kết quả trên cho thấy số học sinh yêu thích môn Tiếng Việt rất ít chỉ được
40%, còn lại 60% là các em không thích học môn Tiếng Việt điều đó cũng có
nghĩa là các em không yêu thích môn Tiếng Việt
Bên cạnh đó qua khảo sát chất lượng đầu năm học 2019 - 2020 đối với môn
Tiếng việt ở lớp 4A1 thu được kết quả như sau:
TSH
S
ĐIỂM (9 - 10)
ĐIỂM (7 - 8)
ĐIỂM (5 - 6)
ĐIỂM (1 - 4)
HOÀN THÀNH
Được sự đồng tình, phối hợp chặt chẽ của hầu hết phụ huynh học sinh trong
quản lí và giúp đỡ tạo điều kiện mua sắm dụng cụ học tập cho học sinh
Giáo viên trẻ, nhiệt tình luôn nỗ lực học hỏi để tìm kiếm, sáng tạo trong tổ
chức trò chơi nhằm nâng cao chất lượng cho học sinh
Học sinh hầu hết ngoan ngoãn vâng lời Một số em có ý thức trong việc
lĩnh hội kiến thức, tích cực trong các hoạt động học tập
1.3.2 Khó khăn
Trang thiết bị phục vụ cho việc tổ chức dạy và học còn thiếu
Trang 8Mặt bằng trình độ học sinh không đồng đều, đa số các em đều nhút nhátchưa tự tin trước chỗ đông người, các em không hứng thú trong giờ học, còn thụđộng trong học tập.
Điều kiện kinh tế, điều kiện sinh hoạt của đa số học sinh có sự khác biệt.Trình độ học vấn cũng như sự hiểu biết cho việc giáo dục học sinh của một
bộ phận phụ huynh học sinh còn hạn chế
1.4 Nguyên nhân
Nguyên nhân học sinh không hứng thú với những giờ học môn Tiếng Việt
do cơ sở vật chất, tài liệu minh hoạ, đồ dùng dạy học để phục vụ giảng dạy và
bổ sung kiến thức cho học tập còn nghèo nàn, đơn điệu; Do kiến thức quá nhiềudẫn đến các em mệt mỏi, giảm hứng thú; do nhận thức không đầy đủ, lệch lạc,thực dụng của một số không nhỏ học sinh và cha mẹ học sinh hiện nay đối với vịtrí, tầm quan trọng của môn Tiếng Việt đối với mỗi con người trong suốt cả cuộcđời; Do phương pháp dạy của một số thầy cô giáo chưa thu hút được học trò.Thực tế cho thấy phương pháp giảng dạy của một bộ phận giáo viên còn bộc lộnhiều hạn chế, việc ứng dụng công nghệ thông tin vào trong giảng dạy chưa thực
sự phổ biến, bên cạnh đó một số giáo viên ngại tìm tòi đổi mới vận dụng phươngpháp, hình thức dạy học mới như sử dụng các phương tiện dạy học, các biệnpháp hỗ trợ như: thảo luận nhóm, nêu tình huống có vấn đề, sử dụng tư liệu,hình ảnh, vận dụng trò chơi vào tiết học lại càng hiếm hoi hơn Hoặc có sử dụngtrò chơi thì cũng ở mức gượng ép, miễn cưỡng dẫn đến một số giờ học văn trởnên đơn điệu, căng thẳng dẫn đến việc nhận thức của học sinh bị hạn chế
Tình trạng học sinh không hứng thú với môn Tiếng Việt nếu kéo dài khôngchỉ ảnh hưởng đến kết quả dạy và học mà ảnh hưởng rất lớn đến kết quả học tậpcủa các môn học khác Đây sẽ là một thiếu hụt không bù đắp nổi, làm yếu đinguồn nhân lực của đất nước trong thực tế đào tạo nguồn nhân lực hiện nay Trước tình hình đó thiết nghĩ để nâng cao chất lượng giảng dạy và học mônTiếng Việt là do nhiều yếu tố quyết định, chi phối: chương trình, sách giáo khoa,giáo án, phương pháp giảng dạy của giáo viên, ý thức, thái độ học tập của họctrò Trong đó, đổi mới phương pháp dạy học đóng vai trò then chốt Có thểkhẳng định, đổi mới phương pháp giảng dạy đang trở thành yêu cầu cấp thiếthiện nay Người giáo viên cần khôi phục động lực học tập, khơi dậy niềm say
mê học tập của học sinh, phát huy tính năng động, gây hứng thú với học sinhbằng những giờ dạy thực sự hấp dẫn, lôi cuốn bởi lẽ như William Arthur Ward,một nhà giáo dục lỗi lạc của nước Mỹ đã từng nói “Chỉ nói thôi là thầy giáoxoàng Giảng giải là thầy giáo tốt Minh họa biểu diễn là thầy giáo giỏi Gâyhứng thú trong học tập là thầy giáo vĩ đại.” điều đó cho thấy việc gây hứng thúđối với học sinh trong giờ học vô cùng quan trọng Vậy nên nếu như giờ họckhông có sự thu hút đối với các em thì chắc chắn tiết học sẽ trở nên nhàm chán,khô khan “Học mà chơi, chơi mà học” thì giáo viên nào cũng biết nhưng biếtcách tổ chức các hoạt động giúp học sinh học - chơi, chơi - học thì không nhiềugiáo viên làm được
Trang 9Qua tham khảo đồng nghiệp và thực tế giảng dạy tôi muốn được cùng cácđồng nghiệp chia sẻ, trao đổi một số biện pháp mà bản thân tôi đã thực hiệntrong thời gian qua để khắc phục tình trạng trên như sau:
2 Các giải pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề
Trước khi tiến hành thiết kế một trò chơi học tập người giáo viên phải nắmvững vai trò và nguyên tắc cơ bản để áp dụng vào day học môn Tiếng Việt:
2.1 Giải pháp 1: Nắm vững vai trò của trò chơi
Trò chơi có sức hấp dẫn, thu hút được sự chú ý, tham gia của học sinh, tạokhông khí vui vẻ, thoải mái
Trò chơi học tập Tiếng Việt kích thích hứng thú nhận thức Trò chơi học tậpbên cạnh chức năng giải trí còn giúp học sinh tự củng cố kiến thức, kĩ thuật,thói quen học tập một cách hứng thú, thói quen làm việc theo nhiều quy mô (cánhân, nhóm, lớp) Các tiết học có trò chơi sẽ thu hút mức độ tập trung của họcsinh mà không một phương pháp nào sánh được
Trò chơi học tập Tiếng Việt là một trong những phương tiện hình thành cácnăng lực trí tuệ Hoạt động vui chơi ảnh hưởng mạnh tới sự hình thành tính chủđịnh của quá trình tâm lí Trong trò chơi, ở trẻ bắt đầu hình thành sự chú ý cóchủ định và ghi nhớ có chủ định Khi chơi trẻ tập trung chú ý hơn và ghi nhớđược nhiều hơn Bởi vì bản thân trò chơi đòi hỏi trẻ phải tập trung vào những dữkiện và đối tượng được đưa vào tình huống của trò chơi cũng như nội dung củatrò chơi
Trò chơi học tập Tiếng Việt ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển ngôn ngữ
và trí tưởng tượng.Vui chơi ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển ngôn ngữ củahọc sinh nói chung và của học sinh Tiểu học nói riêng Tình huống trò chơi đòihỏi mỗi học sinh tham gia vào trò chơi phải có một trình độ giao tiếp bằng ngônngữ nhất định
Trò chơi học tập Tiếng Việt thực hiện chức năng hoạt động luyện tập thựchành Các em được hình thành những kĩ năng phân biệt được bản chất trong cáckiến thức tiếng Việt ở mỗi trò chơi, hiểu được sâu sắc và đầy đủ hơn các tri thức
đã học Với các trò chơi thi viết câu gồm các chữ giống nhau ở chữ cái đầu, thiđặt câu theo mẫu, thi tìm từ ghép có cùng một tiếng … các em hiểu rõ hơn vềcấu tạo của từ, của câu tiếng Việt, góp phần hình thành và rèn luyện kĩ năng đặtcâu, viết đoạn văn
Trò chơi học tập Tiếng Việt giúp hình thành đức tính trung thực, có kỉ luật,tính độc lập, tự chủ, có ý thức cao Khi tham gia trò chơi, học sinh phải tuân thủtheo những quy tắc nhất định (đã được nêu trước trò chơi) Việc các em tiếpnhận và tuân theo những quy tắc đó giúp các em có khả năng tự kiềm tra vàkiểm tra lẫn nhau trong trò chơi Khi tham gia vào trò chơi, nhập vai quan hệ vớicác bạn cùng chơi buộc các em phải đem những hành động của mình phục tùngnhững yêu cầu nhất định bắt nguồn từ ý đồ chung của trò chơi
Trang 102 2 Giải pháp 2: Thực hiện đúng nguyên tắc áp dụng phương pháp trò chơi trong môn Tiếng Việt
Giáo viên cần chú ý đến đặc thù của từng phân môn; lưu ý mối quan hệgiữa trò chơi với hệ thống câu hỏi; vận dụng linh hoạt, hợp lí, đúng mức và đúnglúc để không xáo trộn nhiều không gian lớp học, nhanh chóng ổn định lớp họckhi trò chơi kết thúc; trò chơi phải phù hợp với nội dung, mục tiêu cần đạt,không vận dụng cho tất cả các tiết học, đôi khi gây phản cảm, phản tác dụng; tròchơi bao giờ cũng kết thúc bằng thưởng cho người (đội) thắng hoặc xử phạt nhẹnhàng cho vui (dí dỏm, tế nhị)
2.3 Giải pháp 3: Lồng ghép trò chơi vào các phân môn Tiếng Việt
Do đặc thù của mỗi phân môn, việc vận dụng lồng ghép trò chơi có nhữngđiểm khác nhau:
2.3.1 Phân môn Tập đọc
Tuỳ thuộc mục tiêu bài học để áp dụng hình thức trò chơi Do đặc thù củaphân môn với mục đích đọc và hiểu nội dung của bài học nên mức độ vận dụngtrò chơi chỉ vừa phải
2.3.2 Phân môn Luyện từ và câu
Lồng ghép trò chơi đối với phân môn này là khá phù hợp, đặc biệt là đốivới những tiết thực hành, luyện tập Trò chơi cần gắn với các bài tập, hoặc cáchình thức thực hành, luyện tập khác mà giáo viên nghĩ ra Vận dụng tốt giảipháp này, giờ học Tiếng Việt sẽ không còn khô cứng, học sinh sẽ cảm thấy thoảimái, hứng thú, kích thích hoạt động tư duy của các em, quan trọng hơn là gópphần phát triển năng lực sử dụng ngôn ngữ ở học sinh Qua trò chơi, tư duy vàkhả năng ngôn ngữ của các em sẽ được bộc lộ tự nhiên, giáo viên có thể pháthiện và uốn nắn kịp thời những mặt còn hạn chế
2.3.3 Phân môn Tập làm văn
Có thể vận dụng trò chơi trong một số tiết học và không nên thực hiện hìnhthức này trong cả tiết, với phân môn này, việc lồng ghép hình thức trò chơikhông thể thay thế được các phương pháp cũng như hình thức tổ chức lớp họcđặc thù như thực hành, luyện tập, hoạt động theo nhóm hay cá nhân tự luyện tậpcác kĩ năng … Do đó không nên gượng ép, để cố tình đưa trò chơi vào tất cả cácgiờ học làm văn
2.4 Giải pháp 4: Lựa chọn thời gian vận dụng trò chơi
Khi áp dụng phương pháp trò chơi vào trong giờ học, giáo viên phải biếtlựa chọn thời điểm nội dung bài cần áp dụng trò chơi cho thích hợp, cụ thể là:
2.4.1 Sử dụng trò chơi vào đầu giờ học trong phần khởi động
Trang 11Cách vận dụng đó, vừa có thể kiểm tra được kiến thức bài cũ để giải quyếttrò chơi, đồng thời bước đầu nhận ra nội dung kiến thức bài học mà các em sắpđược học Bên cạnh đó, còn tạo tâm lý thoải mái, phấn khởi, học sinh hào hứnghọc tập hơn, giải tỏa tâm lý mệt mỏi, căng thẳng tinh thần do giờ học trước hoặcmệt mỏi do hoàn cảnh xung quanh gây ra.
2.4.2 Sử dụng trò chơi nhằm hình thành tri thức mới
Trò chơi thường được tổ chức sau khi đã tìm hiểu hoạt động 1 (tìm hiểuchung, tìm hiểu ngữ liệu ), từ những kiến thức thực tế qua hoạt động 1, vậndụng những kiến thức đó, giáo viên tổ chức trò chơi cho học sinh khám phá,phát hiện ra tri thức mới, tri thức đó nằm ngay trong nội dung bài học
2.4.3 Sử dụng trò chơi để hình thành kỹ năng
Xác định mục đích của việc tổ chức trò chơi nhằm hình thành kỹ năng chocác em, chúng ta tổ chức trò chơi trên cơ sở vận dụng những tri thức của bài vừahọc Từ đó, giúp học sinh hình thành được những kỹ năng lựa chọn, cách giảiquyết khi gặp những tình huống trong cuộc sống cũng như một số kỹ năng quantrọng khi làm bài
2.4.4 Sử dụng trò chơi nhằm củng cố tri thức, hình thành thái độ
Khác với việc tổ chức trò chơi vào các thời điểm và mục đích khác nhaunhư trên, ở thời điểm tổ chức trò chơi để củng cố tri thức, hình thành thái độ cómục đích khác đó là: để học sinh thâu tóm được nội dung bài học, giúp khắc sâu,nhớ rõ hơn nội dung vừa học xong Thời điểm tổ chức trò chơi với mục đích nàythiết nghĩ vào cuối giờ học là hợp lý nhất
2.5 Giải pháp 5: Lựa chọn nội dung tổ chức trò chơi
Nội dung phải vừa sức học, phải đảm bảo đủ thông tin kiến thức mà họcsinh đã nắm được, không dễ quá và cũng không khó quá
Nội dung cần phù hợp với cuộc sống thực tế của học sinh, giúp các em dễvận dụng vào thực tiễn Nội dung trò chơi phải có tính khả thi, trò chơi đưa raphải phù hợp với thực tế trường, lớp
2 6 Giải pháp 6: Sử dụng phương tiện khi tổ chức trò chơi
Thực tế, qua các tiết dự giờ đồng nghiệp ở trường tôi, tôi thấy thường khicho học sinh chơi trò chơi, đa số chỉ tổ chức “suông” mà thiếu sự chuẩn bị như:không hóa trang nhân vật, không đủ phiếu cá nhân, không có thẻ xanh, thẻ đỏ đểphục vụ đánh giá, không có phần thưởng…Chính vì điều đó, mà mỗi lần tổ chứctrò chơi là một lần thiếu hấp dẫn học sinh, dẫn đến sự đơn điệu và nhàm chán
Vì vậy để tổ chức trò chơi trong giờ học văn đòi hỏi giáo viên và học sinh phảichuẩn bị đầy đủ các phương tiện cần thiết
2.7 Giải pháp 7: Chọn cách tổ chức trò chơi có hiệu quả
* Trò chơi có thể tổ chức theo các bước sau:
- Bước phổ biến trò chơi:
Trang 12+ Giáo viên giúp học sinh nắm vững trò chơi như: Tên trò chơi, nội dung,cách chơi, cách phân thắng bại …
+ Giáo viên chọn một số học sinh tham gia trò chơi, bảo đảm qua các giờhọc, lần lượt học sinh được tham gia tất cả, đặc biệt chú ý những học sinh nhútnhát, ít phát biểu
- Bước học sinh thực hiện trò chơi:
+ Các em thảo luận với nhau về việc thực hiện trò chơi
+ Một nhóm học sinh thực hiện trò chơi trước lớp, cả lớp theo dõi
+ Những em khác, nhóm khác có thể tiếp tục thực hiện trò chơi (đối với tròchơi sắm vai thì có cách giải quyết khác)
- Bước tổng kết, đánh giá:
+ Giáo viên hướng dẫn học sinh đánh giá việc thực hiện trò chơi: trò chơi
có được thực hiện đúng quy tắc không, có phù hợp với nội dung bài học không,
có thể rút ra bài học gì qua trò chơi này? Giáo viên nhận xét, đánh giá chung vàtuyên bố nhóm (hay cá nhân) thắng cuộc (nếu có)
+ Giáo viên khen thưởng nhóm có kết quả tốt bằng cách:
Tặng một tràng pháo tay cùng với những lời động viên khen ngợi
Khen bằng lời các thành viên trong nhóm
Tặng hoa cho nhóm thực hiện tốt
Trao thưởng một hoặc hai gói quà cho đội thắng
Thời gian tiến hành trò chơi: thường từ 3 - 7 phút
Như vậy, với những biện pháp đã vận dụng vào từng thời điểm, mục đích,nội dung khác nhau thật sự phát huy tác dụng, giờ dạy học thực sự là giờ “vừahọc, vừa chơi”, kết hợp được giữa “học và hành”, hấp dẫn học sinh và gây sựchú ý học hơn nhiều
3 Giải pháp 8: Vận dụng sáng tạo một số trò chơi học tập trong môn tiếng Việt lớp 4
Sau đây tôi xin giới thiệu một số trò chơi tiêu biểu mà tôi đã áp dụng trongquá trình dạy học cho học sinh lớp 4
Ví dụ : Bài tập 2 tiết Chính tả SGK/ 35 Điền vào chỗ trrống vần ut hay uc.Mục tiêu của bài tập là học sinh nhận diện được các tiếng có chứa vần ut, uc.Khi đó ta có thể tổ chức trò chơi có nội dung: Xếp các tiếng trong tập hợp sauthành 2 nhóm, một nhóm gồm các tiếng có vần ut và một nhóm gồm các tiếng
có vần uc Khi đó ta có thể tổ chức trò chơi có nội dung: điền từ chứa tiếng ut và
uc dưới hình thức thi đua giữa hai dãy …
Tiến hành thiết kế trò chơi Giáo viên tiến hành thiết kế trò chơi có hìnhthức chơi rõ ràng (người chơi, cách chơi …), nội dung thực hiện trò chơi phảiđảm bảo nội dung bài tập của sách giáo khoa hoặc bổ sung thêm nội dung tùy
Trang 13vào việc xác định mục tiêu bài tập cần rèn của giáo viên Đồng thời thông qua
đó rèn những kĩ năng cần thiết cho học sinh
Một nội dung trò chơi có thể được thể hiện thành các hình thức tổ chức tròchơi khác nhau
Ví dụ: Phân môn luyện từ và câu bài Mở rộng vốn từ: Nhân hậu - Đoàn kếtSGK Tiếng Việt 4 tập 1 trang 17 Nội dung trò chơi xếp các từ trong tập hợp sauthành hai nhóm: một nhóm gồm các từ chỉ tiếng nhân có nghĩa là người, mộtnhóm gồm các từ chỉ tiếng nhân có nghĩa là lòng thương người Ta có thể có cáchình thức tổ chức chơi như sau:
3.1 Trò chơi “Chung sức”: Giáo viên phát cho mỗi nhóm một tờ giấy Theo
lệnh của giáo viên, từng nhóm bàn bạc với nhau để thực hiện yêu cầu của tròchơi Khi nhóm đã thống nhất thì ghi kết quả vào giấy Ghi xong, dán tờ giấycủa nhóm lên bảng lớp Giáo viên sẽ tính điểm các nhóm theo hai chuẩn: Chuẩnchính xác và chuẩn nhanh nhẹn
3.2 Trò chơi “Chọn ô số”: Trò chơi được vận dụng vào phân môn Tập làm
văn, bài: Luyện tập tả con vật, TiếngViệt 4, tập 2, trang 120
- Mục tiêu: Giúp học sinh phát triển vốn từ ngữ miêu tả con vật, đặc biệt làcác từ miêu tả về hoạt động thường xuyên của con vật Phát triển kĩ năng trìnhbày của học sinh
- Chuẩn bị: Một bộ ảnh chụp con vật ở các tư thế hoạt động khác nhau vàđược đánh số từ 1 đến hết
Bảng phụ có kẻ sẵn ô số như sau: