1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Định tội danh tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh

82 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 819,55 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trước thực trạng nêu trên, tác giả cho rằng việc nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn việc áp dụng pháp luật của các cơ quan tư pháp trong việc định tội danh đối với tội lạm dụng tín nh

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

- -

TRƯƠNG THẾ TRỌNG

ĐỊNH TỘI DANH TỘI LẠM DỤNG TÍN NHIỆM

CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan nội dung luận văn “Định tội danh tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh” là công trình

nghiên cứu khoa học của riêng tôi thực hiện với sự hướng dẫn khoa học của Phó giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Thanh Dương Tất cả những tài liệu, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này hoàn toàn trung thực và chưa được công bố trong bất

kỳ công trình khoa học nào khác

Tác giả luận văn

Trương Thế Trọng

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐỊNH TỘI DANH TỘI LẠM DỤNG TÍN NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN 7

1.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của việc định tội danh tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản 7 1.2 Cơ sở pháp lý và quy trình định tội danh đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định của pháp luật hình sự Việt Nam 16

Chương 2: TÌNH HÌNH CÓ LIÊN QUAN VÀ THỰC TIỄN ĐỊNH TỘI DANH ĐỐI VỚI TỘI LẠM DỤNG TÍN NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 29

2.1 Tình hình có liên quan đến hoạt động định tội danh tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh 29 2.2 Tình hình cán bộ làm công tác định tội danh đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh 35 2.3 Thực tiễn định tội danh đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản tại Thành phố Hồ Chí Minh 38

Chương 3: YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM HIỆU QUẢ ĐỊNH TỘI DANH ĐÚNG ĐỐI VỚI TỘI LẠM DỤNG TÍN NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 54

3.1 Yêu cầu bảo đảm hiệu quả định tội danh đúng đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản tại Thành phố Hồ Chí Minh 54 3.2 Các giải pháp đảm bảo hiệu quả định tội danh đúng đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản tại Thành phố Hồ Chí Minh 60

KẾT LUẬN 72 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 74

Trang 5

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1: Số lượng các vụ án hình sự về tội phạm xâm phạm sở hữu giai đoạn 2016-2020 31 Bảng 2: Số lượng các bị cáo phạm các tội xâm phạm sở hữu giai đoạn 2016-

2020 32

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hưởng ứng sự phát triển mạnh mẽ của xu thế toàn cầu hóa kinh tế, Việt Nam, nước đang phát triển cũng hoàn toàn thuận lợi hội nhập nền kinh tế quốc tế Trong các nhiệm vụ đổi mới, đất nước ta chú trọng đổi mới kinh tế và thực chất của đổi mới kinh tế chính là chuyển từ mô hình kinh tế tập trung quan liêu hành chính bao cấp sang phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Cùng với việc cơ chế thị trường được vận dụng đầy đủ, linh hoạt sẽ phát huy mạnh mẽ và có hiệu quả mọi nguồn lực nhằm phát triển nhanh và bền vững nền kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” Tuy vậy, kinh tế thị trường cũng có những hạn chế, khuyết tật của nó như phân hóa giàu nghèo, thất nghiệp, ô nhiễm môi trường…và kinh tế thị trường cũng đã tác động nhiều đến văn hóa, lối sống và đạo đức con người, làm phát sinh nhiều loại tội phạm xuất hiện, trong đó có nhóm tội phạm xâm phạm đến quyền sở hữu mang tính chất chiếm đoạt như tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, lừa đảo chiếm đoạt tài sản, cướp tài sản, trộm tài sản, cướp giật tài sản, cưỡng đoạt tài sản, là những tội có những biểu hiện hành vi, mục đích khác nhau nhưng đều xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của con người, đều tác động xấu đến đời sống xã hội

Thành phố Hồ Chí Minh là một đô thị lớn cả về chính trị, kinh tế, văn hóa… của cả nước Thành phố Hồ Chí Minh nằm ở “ngã tư” giữa các con đường hàng hải quốc tế, là tâm điểm của khu vực Đông Nam Á, là đầu mối giao thông nối liền các tỉnh trong vùng và là cửa ngõ quốc tế với dân số 8.893.082 người (tính đến thời điểm 01/4/2019) [40] Thành phố Hồ Chí Minh giữ vai trò quan trọng bậc nhất trong nền kinh tế Việt Nam, chiếm 22,2% tổng sản phẩm cả nước (giai đoạn 2016 - 2020) và 27% tổng thu ngân sách của cả nước (năm 2019) [16] Song song với điều kiện kinh tế, xã hội phát triển, dân cư đông đúc tại thành phố Hồ Chí Minh, thì các loại tội phạm phát sinh cũng nhiều hơn về số lượng, phức tạp về tính chất, trong đó

có loại tội phạm lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản Đây là loại tội phạm xâm

Trang 7

phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của con người Đi đôi với việc đời sống ngày càng nâng cao, mức độ tích lũy vốn, tài sản cũng càng lớn, vì vậy mà loại tội phạm này đã và đang diễn biến phức tạp, tăng về số lượng, tính chất và thủ đoạn ngày càng tinh vi Đây là một thực tế khách quan

Việc định tội danh đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản tại Thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian vừa qua cũng đã đạt được nhiều kết quả, góp phần không nhỏ vào công tác phòng, chống tội phạm của cả nước nói chung và Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng Bên cạnh đó, thực tiễn định tội danh đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản vẫn còn nhiều khó khăn, vướng mắc, hạn chế như: việc xác định tội danh, quyết định hình phạt, vấn đề hình sự hóa các quan hệ dân sự, quan hệ kinh tế Vừa qua Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 có hiệu lực từ 01/01/2018 đã có nhiều nội dung đổi mới liên quan đến loại tội phạm lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản Điều này đặt ra yêu cầu cần phải có quá trình nghiên cứu về lý luận, áp dụng vào thực tiễn đúng đắn và thống nhất hơn

Trước thực trạng nêu trên, tác giả cho rằng việc nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn việc áp dụng pháp luật của các cơ quan tư pháp trong việc định tội danh đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, đánh giá kết quả đạt được, những hạn chế còn tồn tại và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả việc áp dụng các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam trong việc định tội danh đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản tại Thành phố Hồ Chí Minh là cần thiết

Từ những lý do trên, học viên chọn đề tài “Định tội danh tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh” làm đề tài luận

văn thạc sỹ luật của mình

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Thực tiễn nghiên cứu khoa học pháp lý liên quan đến các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt trong pháp luật hình sự Việt Nam nói chung và tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản nói riêng là đề tài thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu khoa học xã hội Trong tình hình hiện nay thì số lượng các bài viết,

Trang 8

công trình nghiên cứu về cải cách tư pháp và áp dụng pháp luật của Tòa án trong việc định tội danh các loại tội phạm nói chung và tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản nói riêng khá phong phú Điển hình như:

- “Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam – Phần các tội phạm” của Trường Đại

học Luật Hà Nội, do Giáo sư tiến sỹ Nguyễn Ngọc Hòa chủ biên, được Nhà xuất bản Công an nhân dân xuất bản năm 2019;

- “Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam – Phần các tội phạm” của Trường Đại

học Kiểm sát Hà Nội do Tiến sỹ Phạm Mạnh Hùng và Tiến sỹ Lại Viết Quang chủ biên, được Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội xuất bản năm 2019;

- Luận văn thạc sỹ luật học năm 2014 “Phân biệt các tội xâm phạm sở hữu với các

vi phạm trong giao dịch dân sự về tài sản” của tác giả Nguyễn Khánh Vân tại Đại học

Luật Hà Nội;

- Luận văn thạc sỹ luật học năm 2016 “Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

trong pháp luật hình sự Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thị Hồng Minh tại Đại học Luật

Hà Nội;

- Bài viết “Một số bất cập khi áp dụng pháp luật về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt

tài sản” của tác giả Dương Thị Hải Yến đăng trên Tạp chí Kiểm sát số 16 năm 2015

- Bài viết “Những điểm mới của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản quy

định trong Bộ luật Hình sự” của tác giả Đinh Văn Quế đăng trên Tạp chí Tòa án số 8

năm 2016

- Bài viết “Bàn về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản ” của tác giả Lê

Quang Sáng đăng trên Tạp chí Khoa học Kiểm sát số 3 năm 2014

- Sách chuyên khảo “Các tội phạm xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt” của

tác giả Cao Thị Oanh, được Nhà xuất bản Tư pháp, Hà Nội xuất bản năm 2015

Có thể nhận thấy những công trình nghiên cứu nói trên tuy đã có những phân tích khá sâu sắc về loại tội phạm lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, đã nêu ra những vướng mắc, bất cập của pháp luật hiện hành trong việc xử lý loại tội phạm này Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu hầu như đều dựa trên các quy định của

Bộ luật Hình sự năm 1999, được sửa đổi bổ sung năm 2009 Sau khi Bộ luật Hình

sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 có hiệu lực, thì tổng quan có thể nhận thấy các

Trang 9

bài viết liên quan đến tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản chủ yếu là các bài viết chuyên khảo dung lượng nhỏ, chưa tổng quan hết các quy định, ít bài viết đánh giá hiệu quả hay hạn chế, bất cập của việc áp dụng các quy định mới của Bộ luật Hình sự năm 2015 về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trên thực tiễn Việt Nam và đặc biệt là Thành phố Hồ Chí Minh Điều này đặt ra cho tác giả yêu cầu phải nghiên cứu đề tài định tội danh đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Luận văn nghiên cứu, làm rõ những vấn đề lý luận việc định tội danh đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản như khái niệm, đặc điểm, vai trò, quy trình định tội danh tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

- Luận văn nghiên cứu các quy định của pháp luật về định tội danh tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trong Bộ luật Hình sự và Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, có sự đối chiếu, so sánh với các quy định trước đây

- Đánh giá thực tiễn định tội danh đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh

- Đề xuất các giải pháp áp dụng đúng trong việc định tội danh đối với tội lạm

dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu dưới góc độ luật về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và góc độ lý luận và thực tiễn trong việc trong việc định tội danh tội lạm dụng

Trang 10

tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh Cụ thể, đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề sau:

- Các vấn đề về lý luận, các quan điểm về định tội danh tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản như khái niệm, đặc điểm, vai trò, quy trình định tội danh đối với loại tội phạm này

- Các quy định của pháp luật hình sự về định tội danh tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

- Thực tiễn định tội danh đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh bao gồm những kết quả đạt được, những khó khăn tồn tại cũng như nguyên nhân của tình hình

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi về không gian: Đề tài nghiên cứu trên cơ sở tổng hợp số liệu tình hình giải quyết các vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh

- Phạm vi về thời gian: Từ ngày 01/01/2018 đến 01/01/2021

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về vấn đề nhà nước và pháp luật nói chung, về các vấn đề tội phạm và hình phạt, về đấu tranh phòng, chống tội phạm; lý luận về tội phạm học

Quá trình nghiên cứu luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: Phương pháp tổng hợp, phân tích, đánh giá, thống kê, khái quát hóa, phương pháp lịch sử, tư duy logic, phương pháp quy nạp, diễn giải… để làm sáng tỏ nội dung và phạm vi nghiên cứu của đề tài

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1 Về phương diện lý luận

Luận văn góp phần làm sáng tỏ, bổ sung, hoàn thiện lý luận về định tội danh đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản bao gồm các khái niệm, đặc điểm

Trang 11

tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản; Khái niệm, đặc điểm, vai trò của việc định tội danh đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản; Quy trình định tội danh đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành trên cơ sở đánh giá, so sánh với pháp luật hình sự Việt Nam trước đây

6.2 Về thực tiễn

Luận văn góp phần hoàn chỉnh, hoàn thiện chính sách và góp phần hiệu quả việc áp dụng đúng pháp luật hình sự về định tội danh đối với loại tội phạm lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài Phần mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn

Trang 12

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐỊNH TỘI DANH TỘI LẠM DỤNG TÍN NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN

1.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của việc định tội danh tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1.1.1 Khái niệm định tội danh tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

- Khái niệm định tội danh

Để xác định một tội phạm nói chung và tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản nói riêng và truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội thì các cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng phải thực hiện nhiều hoạt động tố tụng khác nhau theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự Hoạt động định tội danh là hoạt động trọng tâm của các hoạt động tố tụng hình sự, các hoạt động tố tụng hình sự khác có chức năng bổ trợ cho hoạt động định tội danh

Hoạt động định tội danh chính là hoạt động áp dụng pháp luật, trên cơ sở căn

cứ theo các quy định của pháp luật hình sự thì các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đưa ra kết luận về một tội phạm và truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội về tội phạm mà họ đã thực hiện

Hoạt động định tội danh bao gồm việc xác định tội phạm để từ đó xác định người phạm tội, hoặc ngược lại xác định người phạm tội rồi đến tội phạm

Thực tiễn có những hoạt động nghiên cứu khoa học hình sự, hoạt động bào chữa của Luật sư mang những đặc điểm giống với hoạt động định tội danh về việc xác định tội phạm, và trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội nhưng các hoạt động này không phải là hoạt động định tội danh, không phải là hoạt động áp dụng pháp luật mà chỉ mang tính chất nghiên cứu, tranh luận về lĩnh vực tội phạm và việc định tội danh Hệ quả của các hoạt động trên không dẫn đến truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội Tuy nhiên các hoạt động như nghiên cứu, bào chữa nói trên cũng có những mối liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến hoạt động định tội danh

Có quan điểm định nghĩa về định tội danh như sau: “Định tội danh là thuật

ngữ dùng để chỉ hoạt động đối chiếu sự phù hợp giữa các dấu hiệu thực tế của cấu

Trang 13

thành tội phạm với các dấu hiệu pháp lý của cấu thành tội phạm được miêu tả quy định trong Bộ luật Hình sự để xác định tội phạm đã xảy ra và người phạm tội, cũng như xác định không có tội phạm xảy ra và không có người phạm tội hoặc người bị tình nghi không phải là người thực hiện tội phạm (tức là họ không phạm tội) bằng việc ra kết luận bằng văn bản áp dụng pháp luật trong tố tụng hình sự của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng có thẩm quyền trong tố tụng hình sự”[7]

Tác giả cũng đồng tình với quan điểm trên, tuy nhiên khi nói đến mục đích của hoạt động định tội danh không chỉ đơn thuần là xác định có hay không có tội phạm và người phạm tội mà mục đích của hoạt động định tội danh là để xác định đúng tội phạm, tránh oan sai, không bỏ lọt tội phạm

Do đó, tác giả cho rằng định tội danh là hoạt động áp dụng pháp luật của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng có thẩm quyền nhằm đối chiếu sự phù hợp giữa các dấu hiệu thực tế của cấu thành tội phạm với các dấu hiệu pháp lý của cấu thành tội phạm được miêu tả quy định trong Bộ luật Hình sự để xác định đúng tội phạm, tránh oan sai nhưng cũng không bỏ lọt tội phạm

- Khái niệm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

Theo Từ điển Tiếng Việt thì “lạm dụng” là “sử dụng quá mức hoặc quá giới hạn đã được quy định” [39];

Theo Từ điển Hán Việt thì “tín nhiệm” nghĩa là “tin cậy trong một nhiệm vụ

cụ thể nào đó [12], “tài sản” là “tiền của, của cải nói chung” [13] hoặc là “của cải vật chất dùng để sản xuất hoặc tiêu dùng” [43] Theo Từ điển Tiếng Việt thì “tín nhiệm” có nghĩa là “coi là đáng tin” [24]

Theo quy định tại Điều 105 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì: “Tài sản là vật,

tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản”

Vật là một bộ phận của thế giới vật chất được giới hạn trong không gian, và chỉ được coi vật là đối tượng của quyền sở hữu nếu vật đó có khả năng thỏa mãn một nhu cầu nào đó của con người và con người có khả năng chi phối được, chiếm hữu được nó Tùy vào sự phát triển của khoa học kỹ thuật mà nhiều vật trong thế giới vật chất trở thành tài sản theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015

Trang 14

Tiền là vật ngang giá chung dùng làm thước đo giá trị các loại tài sản khác Tiền được coi là tài sản bởi nó có giá trị lưu hành, là phương tiện thanh toán trong các quan hệ pháp luật như hợp đồng, bồi thường thiệt hại Tuy nhiên, theo pháp luật dân sự Việt Nam thì ngoại tệ không được coi là tiền vì nó thuộc loại tài sản hạn chế lưu thông

Giấy tờ có giá được hiểu là giấy tờ trị giá được bằng tiền và chuyển giao được trong giao dịch dân sự Giấy tờ có giá có nhiều dạng khác nhau như cổ phiếu, trái phiếu, tín phiếu, kỳ phiếu Đặc điểm chung của giấy tờ có giá là: Xác định được bằng tiền; Chỉ được tạo ra bởi một số chủ thể có điều kiện do Luật định; Chỉ được coi là hợp lệ nếu được phát hành hợp pháp và ở thời điểm có hiệu lực; Khi chuyển nhượng không cần phải chuyển giao thực tế bằng hiện vật mà chỉ cần thông qua thủ tục giấy tờ tại tổ chức có trách nhiệm; Có giấy tờ có khả năng chuyển nhượng và có những giấy tờ có giá không có khả năng chuyển nhượng như cổ phiếu ưu đãi biểu quyết ; Giấy tờ có giá xác nhận quan hệ tài sản với những chủ thể nhất định như quyền đối với vốn góp

Quyền tài sản, theo quy định tại Điều 115 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì

“Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác” Bộ luật

Dân sự hiện hành công nhận một số quyền sau đây là quyền tài sản: Quyền tài sản phát sinh từ quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng, quyền đòi nợ, được nhận số tiền bảo hiểm đối với vật bảo đảm, quyền tài sản đối với phần vốn góp trong doanh nghiệp, quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng, quyền sử dụng đất, quyền khai thác tài nguyên thiên nhiên, quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại

Như vậy, không phải loại tài sản nào cũng là đối tượng của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, ví dụ như các quyền tài sản, giấy tờ có giá

Theo Từ điển Hán Việt thì “chiếm” là “lấy làm của mình” [6] hoặc “dùng sức mạnh, thế lực mà lấy làm của mình” [12]

Trang 15

Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là “hành vi cố ý chuyển dịch một cách trái pháp luật tài sản của người khác thành tài sản của mình, hoặc một nhóm người hoặc cho người khác mà mình quan tâm” [3]

Từ những phân tích trên đây, tác giả cho rằng có thể đưa ra khái niệm định tội danh đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản như sau:

Định tội danh đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là hoạt động

áp dụng pháp luật, theo đó, đối chiếu sự phù hợp giữa các dấu hiệu thực tế của cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản với các dấu hiệu pháp lý của cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được quy định trong Bộ luật Hình

sự để xác định việc có tội phạm hay không và trách nhiệm hình sự đối với người

phạm tội đã thực hiện tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

Chủ thể thực hiện hoạt động định tội danh là cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng hình sự có thẩm quyền được Bộ luật Tố tụng hình sự năm

2015 quy định Tại Điều 34 của Bộ luật này đã quy định có 03 loại cơ quan tiến hành tố tụng gồm Cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát, Tòa án [21] Trong các cơ quan tiến hành tố tụng thì có nhiều người tiến hành tố tụng nhưng không phải tất cả những người tiến hành tố tụng đều có thẩm quyền định tội danh mà chỉ có các chức danh cụ thể sau: Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra [21]; Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát [21]; Chánh án, Phó Chánh án Tòa án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân [21] mới có thẩm quyền định tội danh Những người tiến hành

tố tụng khác như Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thư ký Tòa án, Thẩm tra viên, chỉ thực hiện các hoạt động hỗ trợ cho hoạt động định tội danh, giúp việc cho những người có thẩm quyền định tội danh chính xác và đúng quy định

Định tội danh là một hoạt động áp dụng pháp luật nên trình tự, thủ tục thực hiện hoạt động định tội danh đều phải hết sức chặt chẽ theo quy định của pháp luật

mà cụ thể là Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 Hoạt động định tội danh được tiến hành thông qua nhiều giai đoạn mà tại phần sau của luận văn này tác giả sẽ khái quát về vấn đề này

Trang 16

1.1.2 Đặc điểm định tội danh đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

Từ khái niệm về định tội danh đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản có thể rút ra một số đặc điểm của hoạt động này như sau:

Bản chất của hoạt động định tội danh đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là hoạt động áp dụng pháp luật, do đó, định tội danh mang những đặc điểm chung của hoạt động áp dụng pháp luật:

- Thứ nhất, hoạt động định tội danh đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm

đoạt tài sản là hoạt động áp dụng pháp luật mang tính quyền lực nhà nước

Hoạt động định tội danh đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được tiến hành bởi những cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng hình

sự có thẩm quyền tiến hành trong phạm vi quyền hạn được pháp luật quy định Đây

là những chủ thể được trao quyền lực nhà nước để thực hiện nhiệm vụ công vụ Định tội danh vừa là nhiệm vụ vừa là quyền hạn Những chủ thể này được Bộ luật

Tố tụng hình sự quy định tại Điều 34 gồm có Cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát, Tòa

án là các cơ quan tiến hành tố tụng và Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra; Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát; Chánh án, Phó Chánh án Tòa án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân là những người tiến hành tố tụng có thẩm quyền định tội danh Những người tiến hành tố tụng khác như đã đề cập ở trên là các Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thư ký Tòa án, Thẩm tra viên, sẽ thực hiện các hoạt động

hỗ trợ cho hoạt động định tội danh theo đúng quy định

Hoạt động định tội danh thể hiện ý chí của nhà nước, nên việc định tội danh không chỉ phải phù hợp với pháp luật thực định mà còn phải phù hợp với chủ trương, chính sách của Nhà nước tùy từng giai đoạn Việc định tội danh luôn được đảm bảo thi hành bằng các sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước Hoạt động định tội danh mang tính bắt buộc đối với người phạm tội thực hiện hành vi tội phạm nói chung và tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản nói riêng

Trang 17

- Thứ hai, hoạt động định tội danh tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

phải tuân theo trình tự, thủ tục chặt chẽ và có hình thức theo quy định của pháp luật hình sự

Việc định tội danh đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản nhằm xác định có tội phạm xảy ra hay không và có người phạm tội hay không có người phạm tội Trong trường hợp có người phạm tội và tội phạm thì người phạm tội phải gánh chịu trách nhiệm hình sự - hệ quả bất lợi, khi người phạm tội phải gánh chịu những hình phạt mà Bộ luật Hình sự đã quy định Xuất phát từ điều này mà pháp luật buộc phải quy định rõ ràng về điều kiện, trình tự, thủ tục, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong quá trình định tội danh, tránh việc định tội danh tùy tiện, không đúng, không chính xác gây thiệt hại cho người phạm tội, hoặc người bị tình nghi phạm tội, người không có hành vi phạm tội

Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã quy định về các giai đoạn tố tụng khác nhau của hoạt động định tội danh như giai đoạn điều tra, giai đoạn truy tố, giai đoạn xét xử Mỗi giai đoạn được pháp luật quy định vô cùng chặt chẽ về thẩm quyền, trình tự tiến hành, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể Việc không tuân thủ đúng trình tự thủ tục mà Bộ luật Tố tụng hình sự quy định sẽ làm cho hoạt động định tội danh không đúng, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của con người

- Thứ ba, hoạt động định tội danh tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

là hoạt động điều chỉnh mang tính cá biệt Mục đích của việc định tội danh là cá biệt hóa các quy phạm pháp luật hình sự trong những điều kiện, yếu tố cụ thể Hoạt động định tội danh đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là hoạt động đối chiếu các dấu hiệu thực tế của cấu thành tội phạm với các dấu hiệu pháp lý được

Bộ luật Hình sự quy định Thông qua hoạt động định tội danh, các quy tắc xử sự chung của pháp luật hình sự sẽ được cá biệt hóa một cách chính xác thành quy tắc

xử sự cụ thể cho mỗi trường hợp cụ thể Tất nhiên, các quy tắc xử sự cụ thể nói trên không được trái với các quy tắc xử sự chung mà pháp luật quy định

- Thứ tư, hoạt động định tội danh đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt

tài sản được thực hiện bằng việc ra kết luận bằng văn bản áp dụng pháp luật Nội

Trang 18

dung của các kết luận trong hoạt động định tội danh luôn chứa đựng nội dung định tội danh Hình thức của các kết luận phải được ban hành bằng văn bản, tương ứng với từng giai đoạn tố tụng và thẩm quyền giải quyết và phải phù hợp với các quy định của pháp luật hình sự Cụ thể các hình thức văn bản áp dụng pháp luật trong hoạt động định tội danh ở các giai đoạn tố tụng bao gồm: Quyết định khởi tố/không khởi tố vụ án; Quyết định thay đổi bổ sung quyết định khởi tố vụ án; Quyết định khởi tố bị can; Quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can; Quyết định đình chỉ điều tra bị can; Quyết định điều tra bổ sung, điều tra lại; Quyết định phục hồi điều tra, Quyết định nhập hoặc tách vụ án hình sự để tiến hành điều tra; Kết luận điều tra; Quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung; Bản cáo trạng; Bản kháng nghị; Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án; Bản án; Quyết định trả hồ sơ để điều tra, xét xử lại; Quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm, [21]

Thứ năm, mục đích của hoạt động định tội danh tội lạm dụng chiếm đoạt tài

sản là làm sao xác định đúng tội, tránh oan sai, tránh bỏ lọt tội phạm Việc định tội danh đúng sẽ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức, là cơ sở để buộc người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự với các mức hình phạt cụ thể theo quy định của Bộ luật Hình sự

Việc định tội danh đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh cũng mang những đặc điểm đặc thù như tác giả đã phân tích như trên Đó là hoạt động định tội danh đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh là một hoạt động áp dụng pháp luật mang tính quyền lực nhà nước; Hoạt động định tội danh tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản phải tuân theo trình tự, thủ tục chặt chẽ và có hình thức theo quy định của pháp luật hình sự; Hoạt động định tội danh tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là hoạt động điều chỉnh mang tính cá biệt; Hoạt động định tội danh đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được thực hiện bằng việc

ra kết luận bằng văn bản áp dụng pháp luật; Mục đích của hoạt động định tội danh tội lạm dụng chiếm đoạt tài sản là làm sao xác định đúng tội, tránh oan sai, tránh bỏ lọt tội phạm Tuy nhiên, tác giả cũng cho rằng hoạt động định tội danh tội lạm dụng

Trang 19

tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh còn chịu chi phối riêng của các đặc điểm kinh tế, xã hội, dân cư riêng biệt Thành phố Hồ Chí Minh là một đô thị lớn có trình độ phát triển cao bậc nhất cả nước, dân cư đông, do đó, tình hình tội danh tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh chiếm số lượng lớn hơn và tính chất phức tạp hơn so với nhiều địa phương khác trên cả nước Tuy nhiên hoạt động định tội danh loại tội phạm này trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh luôn được bảo đảm thực hiện tốt do có sự vượt trội

về nền tảng kỹ thuật và trình độ con người Điều này góp phần lớn cho sự ổn định tình hình trật tự, trị an của Thành phố, góp phần cho sự phát triển của địa phương này nói riêng và Thành phố nói chung

1.1.3 Vai trò của việc định tội danh đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

Định tội danh đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là cơ sở để buộc người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự với các mức hình phạt cụ thể theo quy định của Bộ luật Hình sự Do đó nếu các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng thực hiện hoạt động định tội danh đúng quy định của pháp luật thì việc người phạm tội bị phán quyết phải chịu mức hình phạt tương ứng cho mức độ nguy hiểm của hành vì là khách quan, có căn cứ, đúng trình tự, đúng pháp luật

Việc xác định đúng tội danh đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản sẽ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức Khoản 3 Điều 51

Hiến pháp năm 2013 đã khẳng định: “Tài sản hợp pháp của cá nhân, tổ chức đầu

tư, sản xuất, kinh doanh được pháp luật bảo hộ” Hoạt động định tội danh đúng bảo

vệ quyền sở hữu hợp pháp của các chủ thể đối với tài sản của mình Việc bảo vệ đúng đắn, kịp thời, nghiêm trị các hành vi xâm phạm quyền sở hữu tài sản sẽ tạo ra động lực cho con người sử dụng tài sản của mình cho hoạt động sản xuất, tiêu dùng, tạo ra của cải vật chất cho xã hội và nâng cao đời sống cho con người

Việc định tội danh đúng thể hiện trách nhiệm, đạo đức công vụ của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, thể hiện sự nhận thức đúng đắn trong việc định tội danh đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản Chỉ khi

Trang 20

việc định tội danh đúng đắn thì mới áp dụng đúng đắn các quy định của pháp luật hình sự Việc định tội danh đúng thể hiện tính hiệu quả, hiệu lực trong việc áp dụng pháp luật hình sự của các cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền

Việc định tội danh đúng sẽ loại trừ các trường hợp cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng quy trách nhiệm hình sự và hình phạt cho người không có hành vi tội phạm, góp phần bảo vệ quyền con người

Bên cạnh việc định tội danh đúng thì việc các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng định tội danh sai đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản sẽ gây ra những hậu quả vô cùng to lớn, cụ thể: thể hiện quá trình định tội danh không khách quan và đúng quy định, không đúng trình tự thủ tục dẫn đến việc kết tội oan cho người không thực hiện hành vi phạm tội hoặc bỏ lọt tội phạm, xâm phạm quyền con người, ảnh hưởng đến tính hiệu lực, hiệu quả của các cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động định tội danh, gây sa sút niềm tin của nhân dân đối với hoạt động định tội danh Việc định tội danh sai, áp dụng trách nhiệm hình sự sai có thể gây nên tình trạng oan sai, dẫn đến trách nhiệm bồi thường của cơ quan thực hiện hoạt động định tội danh, gây tốn kém tiền bạc của nhà nước, thiệt hại nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của con người Thực tiễn đã cho thấy không ít

vụ án oan sai do việc đánh giá các tài liệu chứng cứ nhằm xác định tội phạm và người phạm tội chưa cẩn trọng, nóng vội, không khách quan mà mang tính chủ quan, định kiến có tội

Định tội danh sai đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản sẽ ảnh hưởng đến tính nghiêm minh và đúng đắn của các quyết định áp dụng pháp luật, làm giảm hiệu quả giáo dục người phạm tội trở thành người có ích cho xã hội, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của người phạm tội, giảm hiệu quả ngăn ngừa người phạm tội phạm tội mới Việc định tội danh sai cũng làm giảm tính hiệu quả trong công tác giáo dục người dân tôn trọng pháp luật, trong công tác đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm nói chung và tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản nói riêng, nhiều trường hợp gây ra dư luận xã hội, thái độ bức xúc của người dân, ảnh hưởng đến tình hình trật tự, ổn định của địa phương

Trang 21

1.2 Cơ sở pháp lý và quy trình định tội danh đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định của pháp luật hình sự Việt Nam

1.2.1 Cơ sở pháp lý của việc định tội danh đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định của Bộ luật Hình sự và Bộ luật Tố tụng hình sự

1.2.1.1 Dấu hiệu pháp lý của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

Về mặt khoa học hình sự thì cấu thành tội phạm được coi là cơ sở pháp lý của định tội danh [32] Để làm cơ sở định tội danh, cần nghiên cứu, nắm vững cấu thành tội phạm Cấu thành tội phạm là tổng hợp những dấu hiệu chung có tính đặc trưng cho mỗi loại tội phạm cụ thể được quy định trong Bộ luật Hình sự Các dấu hiệu chung có tính đặc trưng cho mỗi loại tội phạm cụ thể luôn được phản ánh trong bốn yếu tố:

- Mặt khách quan của tội phạm: Là những biểu hiện bên ngoài của tội phạm gồm có hành vi gây nguy hiểm cho xã hội, hậu quả nguy hiểm cho xã hội, mối quan

hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả cũng như các biểu hiện khác như công cụ, phương tiện, thời gian, địa điểm, hoàn cảnh phạm tội

- Mặt chủ quan của tội phạm: Là những biểu hiện tâm lý bên trong tội phạm

là lỗi, mục đích và động cơ phạm tội

- Khách thể của tội phạm: Quan hệ xã hội bị xâm hại

- Chủ thể của tội phạm: Là con người cụ thể, có năng lực trách nhiệm hình sự

và đạt độ tuổi mà pháp luật quy định chịu trách nhiệm hình sự

Cấu thành tội phạm có thể được phân loại theo nhiều tiêu chí, cụ thể như:

- Phân loại tội phạm theo mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội thì có cấu thành tội phạm cơ bản, cấu thành tội phạm tăng nặng, cấu thành tội phạm giảm nhẹ Trong đó, cấu thành tội phạm cơ bản là cấu thành tội phạm chỉ có dấu hiệu định tội, dấu hiệu này mô tả tội phạm và cho phép phân biệt tội này với tội khác Cấu thành tội phạm tăng nặng là cấu thành tội phạm mà ngoài dấu hiệu định tội còn có thêm dấu hiệu phản ánh tội phạm có mức độ tính chất nguy hiểm tăng hơn bình thường Cấu thành tội phạm giảm nhẹ là cấu thành tội phạm mà ngoài dấu hiệu định tội còn

có thêm dấu hiệu phản ánh tội phạm có mức độ tính chất nguy hiểm giảm xuống so

Trang 22

với bình thường Trong các loại cấu thành tội phạm nói trên thì chỉ có cấu thành tội phạm cơ bản có ý nghĩa trong việc định tội danh

- Phân loại tội phạm theo đặc điểm cấu trúc của cấu thành tội phạm thì có cấu thành tội phạm vật chất và cấu thành tội phạm hình thức Theo đó, cấu thành tội phạm vật chất là cấu thành tội phạm có mặt khách quan của tội phạm là hành vi, hậu quả, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả Cấu thành tội phạm hình thức là cấu thành có mặt khách quan của tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội Tuy nhiên việc phân loại này cũng không mang lại ý nghĩa trong việc định tội danh, việc phân loại này chỉ có ý nghĩa phân biệt loại tội theo nhóm, hiểu sâu thêm về tính chất của từng nhóm tội phạm Nhiều trường hợp nhiều tội danh được quy định trong

Bộ luật Hình sự không thể phân biệt được tội đó là dạng tội có cấu thành hình thức hay vật chất ví dụ như tội xâm phạm quyền khiếu nại, tố cáo

Đối chiếu với quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì cấu thành tội phạm đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được xác định như sau:

Thứ nhất, mặt khách quan của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản bao

gồm các dấu hiệu sau đây:

- Về hành vi: Có một trong các hành vi sau đây:

+ Có hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác Chiếm đoạt tài sản là “hành

vi cố ý chuyển biến một cách trái pháp luật tài sản của người khác thành tài sản của mình” [3] sau khi vay, mượn, thuê hay nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt hoặc đến thời hạn trả lại tài sản, mặc dù có điều kiện và khả năng trả tài sản nhưng cố tình không trả

Được xem là có hành vi chiếm đoạt khi có một trong các dấu hiệu sau: Một là, có điều kiện và khả năng trả lại tài sản nhưng cố tình không trả Có điều kiện, khả năng trả được hiểu là người phạm tội có các tài sản như nhà, đất, tiền mặt hoặc có nguồn tài sản như được hưởng thừa kế chưa chia Hành vi cố tình không trả được hiểu là tìm mọi cách để thoái thác việc trả nợ, hoặc tuyên bố không trả nợ hoặc né tránh việc trả nợ Nếu như có hứa trả nợ và chưa có điều kiện trả nợ

Trang 23

(chưa thể chia thừa kế, chưa thể bán tài sản nhà, đất ) thì không coi là cố tình không trả

Hai là, có thủ đoạn gian dối để không phải trả lại tài sản Dùng thủ đoạn gian dối là đưa ra thông tin không đúng sự thật nhưng làm cho người khác tin là thật Việc đưa ra các thông tin giả có thể được thực hiện bằng lời nói, chữ viết, hành động Tuy nhiên cần phân biệt thủ đoạn gian dối trong cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản Cụ thể, đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản thì người phạm tội đã có ý thức chiếm đoạt tài sản trước khi thực hiện các giao dịch tài sản, còn đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản thì người phạm tội không có ý thức chiếm đoạt tài sản trước khi thực hiện các giao dịch

về tài sản Thời điểm xuất hiện thủ đoạn gian dối khác nhau cũng sẽ tương ứng với loại tội phạm khác nhau Một lưu ý khác rằng thủ đoạn gian dối phải gắn liền và có mối quan hệ nhân quả với hành vi dùng thủ đoạn gian dối Do đó, có một số hành vi tuy có thủ đoạn gian dối nhưng là để chiếm giữ, sử dụng tài sản (thay vì chiếm đoạt tài sản) thì sẽ bị truy cứu tội chiếm giữ trái phép tài sản hoặc tội sử dụng trái phép tài sản mà không bị truy cứu tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

Ba là, có hành vi bỏ trốn Hành vi bỏ trốn được hiểu là hành vi trốn tránh để không phải thực hiện nghĩa vụ trả tiền sau khi đã tham gia các giao dịch liên quan đến tài sản như vay, mượn, thuê tài sản Theo Từ điển Tiếng Việt thì “trốn tránh” là

“trốn để khỏi phải gặp, phải làm hoặc phải chịu điều không hay, không thích nào đó” [31] Một số tiêu chí xác định một người có hành vi bỏ trốn hay không thì cần căn cứ vào việc họ rời bỏ nơi cư trú là lén lút hay công khai (có khai báo tạm vắng hay không), lý do của việc rời bỏ nơi cư trú, mục đích của việc rời bỏ nơi cư trú, việc rời bỏ nơi cư trú là tạm thời hay vô thời hạn Nếu việc rời bỏ nơi cú trú được thực hiện một cách lén lút, không khai báo tạm vắng tại cơ quan công an có thẩm quyền hoặc công khai nhưng không xác định được thời hạn, lý do của việc rời bỏ nơi cư trú không có lý do chính đáng thì được xác định là hành vi bỏ trốn Hành vi

bỏ trốn là dấu hiệu khách quan của cấu thành cơ bản tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 140 Bộ luật Hình sự năm 1999 Tuy nhiên thực

Trang 24

tiễn áp dụng gặp nhiều khó khăn khi xác định hành vi bỏ trốn Do đó, từ Bộ luật năm 2015, hành vi bỏ trốn đã không còn được xem là dấu hiệu khách quan của cấu thành cơ bản tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

Bốn là, có hành vi sử dụng tài sản mà mình đã có được thông qua các giao dịch dân sự vay, thuê, mượn vào mục đích bất hợp pháp như hối lộ, đánh bạc, buôn bán hàng giả, mua bán ma túy dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản cho bên vay, cho mượn hoặc giao tài sản “Dùng tài sản vào mục đích bất hợp pháp” được hiểu rằng là việc dùng tài sản vào những việc trái pháp luật, thực tiễn thì việc dùng tài sản với mục đích trái pháp luật ở đây chỉ là trái pháp luật hình sự như hối

lộ, đánh bạc, mua bán ma túy, buôn lậu

Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản thông thường cũng có giai đoạn phạm tội chưa đạt nhưng thường rất hy hữu do tài sản chiếm đoạt do người phạm tội quản lý, nên hành vi phạm tội đồng nghĩa với việc chiếm đoạt đã hoàn thành Chỉ trong trường hợp người phạm tội dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản nhưng vì lý do khách quan nên chưa thể chiếm đoạt được thì trường hợp này thuộc giai đoạn phạm tội chưa đạt

Ngoài ra tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản còn có một trong các dấu hiệu khác đó là: Giá trị tài sản bị chiếm đoạt từ bốn triệu đồng trở lên; Hoặc tài sản

bị chiếm đoạt dưới bốn triệu đồng nhưng thuộc trường hợp đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản hoặc các tội chiếm đoạt tài sản quy định tại các Điều 168, 169, 170,

171, 172, 173, 174, 290 chưa được xóa án tích mà còn vi phạm; Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại

Thứ hai, khách thể tội lạm dụng chiếm đoạt tài sản: Hành vi tội phạm đã xâm

phạm đến quyền sở hữu tài sản của tổ chức, công dân Người phạm tội lạm dụng chiếm đoạt tài sản đã xâm phạm đến quan hệ sở hữu mà pháp luật bảo vệ Quan hệ

sở hữu là quan hệ xã hội trong đó quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản được tôn trọng bảo vệ [33] Do đó, hành vi xâm phạm đến quan hệ sở hữu tức là xâm phạm đến các quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản

Trang 25

Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản thuộc nhóm các tội phạm xâm phạm quyền sở hữu Do đó, khách thể của các tội lạm dụng chiếm đoạt tài sản cũng giống như một số tội như tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, tội cưỡng đoạt tài sản, tội cướp tài sản

Thứ ba, mặt chủ quan của tội lạm dụng chiếm đoạt tài sản thì người phạm tội

thực hiện tội phạm này với lỗi cố ý

Thứ tư, chủ thể của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là con người cụ

thể có năng lực trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự đã thực hiện hành vi phạm tội Theo đó, chủ thể thực hiện tội phạm được xác định là người đủ độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có đầy đủ khả năng nhận thức, khả năng điều khiển hành vi Theo quy định tại Khoản 1 Điều 12 Bộ luật Hình sự thì chỉ những người từ

đủ 16 tuổi trở lên mới có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1.2.1.2 Định tội danh tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trong trường hợp có đồng phạm

Trong thực tiễn xảy ra các tội phạm nói chung và tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản nói riêng thì tội phạm có thể do một chủ thể thực hiện hoặc cũng

có thể là sự phối hợp cùng tham gia của nhiều chủ thể khác nhau Khi có nhiều chủ thể cùng thực hiện tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản thì việc định tội đối với họ là rất phức tạp Cơ sở pháp lý của việc định tội danh tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trong trường hợp có đồng phạm đã được Bộ luật Hình sự quy định chi tiết Cụ thể:

Theo Khoản 1 Điều 17 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì: “Đồng phạm là trường

hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm” Quy định trên có sự kế

thừa nguyên vện từ Điều 20 Bộ luật Hình sự năm 1999 Tuy nhiên tại Bộ luật Hình

sự năm 2015, các nhà làm luật đã bổ sung thêm quy định về “người đồng phạm” tại

Khoản 4, theo đó “Người đồng phạm bao gồm người tổ chức, người thực hành,

người xúi giục, người giúp sức”

Trang 26

Để xác định được có đồng phạm hay không có đồng phạm thực hiện tội phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản hay không thì có thể dựa vào dấu hiệu về mặt chủ thể, chủ quan và khách quan của tội phạm đó Việc phân loại các hình thức đồng phạm từ trước đến nay được dựa vào dấu hiệu chủ quan và khách quan của tội phạm

Căn cứ vào các đặc điểm về mặt chủ quan thì đồng phạm được phân loại thành đồng phạm có thông mưu trước và đồng phạm không có thông mưu trước

+ Đồng phạm không có thông mưu trước là hình thức đồng phạm trong đó không có sự thỏa thuận bàn bạc với nhau về việc cùng thực hiện một tội phạm, hoặc

là có sự thỏa thuận nhưng không đáng kể [36] Ở hình thức đồng phạm này không

có sự bàn bạc trước với nhau về kế hoạch thực hiện tội phạm hay phân công vai trò như tổ chức hay thực hành hay xúi giục hay giúp sức Cũng có trường hợp các đồng phạm nhất trí thực hiện tội phạm ngay tại hiện trường và bắt tay ngay vào việc thực hiện tội phạm hoặc đồng phạm được hình thành khi có người đang thực hiện tội phạm và người khác thấy cũng cùng tham gia phạm tội

+ Đồng phạm có thông mưu trước là hình thức đồng phạm trong đó giữa những người đồng phạm đã có sự thỏa thuận bàn bạc trước với nhau về tội phạm cùng thực hiện [36] Ở hình thức đồng phạm này, do có sự phân công vai trò nên quan hệ giữa các đồng phạm chặt chẽ hơn Tính chất của hình thức đồng phạm này nguy hiểm hơn đồng phạm không có thông mưu trước

Đồng phạm trong các vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản chủ yếu là đồng phạm có thông mưu

Căn cứ vào các đặc điểm về mặt khách quan thì có thể phân loại thành đồng phạm giản đơn và đồng phạm phức tạp

+ Đồng phạm giản đơn là hình thức đồng phạm trong đó những người cùng tham gia vào việc phạm tội đều có vai trò là người thực hành [36] Theo đó, mỗi đồng phạm đều trực tiếp thực hiện hoặc góp phần thực hiện tội phạm Tuy nhiên, sự cấu kết giữa các đồng phạm trong hình thức này không đáng kể, mỗi đồng phạm chỉ

Trang 27

biết về hoạt động phạm tội của một hoặc nhiều người khác tại thời điểm bắt đầu hay trong quá trình thực hiện tội phạm

+ Đồng phạm phức tạp là hình thức đồng phạm, trong đó có một hoặc một số người tham gia giữ vai trò là người thực hành, còn những người đồng phạm khác giữ vai trò tổ chức, xúi giục hay giúp sức [36] Hình thức đồng phạm này có sự bàn bạc trước về kế hoạch phạm tội và có sự phân công vai trò nên giữa các đồng phạm

có sự liên hệ tương đối chặt chẽ Hình thức đồng phạm này không chỉ có người thực hành mà có cả người tổ chức, người xúi giục,

Thông qua lý luận về các hình thức đồng phạm mà tác giả xác định trên sẽ giúp cho hoạt động định tội danh tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được thực hiện chặt chẽ, đúng đắn hơn, không bỏ lọt tội phạm cũng như xác định trách nhiệm hình sự phù hợp cho từng người đồng phạm

1.2.1.3 Định tội danh tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trong trường hợp có cấu thành tăng nặng

Định tội danh các tội phạm nói chung và tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản nói riêng đã cho thấy mỗi tội phạm được thực hiện bởi những con người khác nhau thì có những tình tiết, diễn biến khác nhau, mức độ, tính chất nguy hiểm của từng loại tội phạm và người phạm tội cũng khác nhau Do vậy, để có căn cứ xác định tính chất nguy hiểm của tội phạm một cách chính xác nhằm phân hoá trách nhiệm hình sự và cá thể hoá hình phạt thì Điều 51, Điều 52 Bộ luật Hình sự năm

2015 đã quy định về các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự

Khái niệm tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự hiện nay chưa được định nghĩa trong Bộ luật Hình sự hiện hành cũng như Bộ luật Hình sự năm 1999 Tuy nhiên, có thể hiểu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là những tình tiết được quy định trong Bộ luật Hình sự, là một trong những căn cứ để Tòa án cá thể hóa trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với người phạm tội theo hướng nghiêm khắc hơn trong phạm vi một khung hình phạt nếu có tình tiết này trong vụ án hình sự

Nếu như cấu thành tội phạm ảnh hưởng ngang nhau đối với các chủ thể của tội phạm thì tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự lại ảnh hưởng khác nhau đối với

Trang 28

người phạm tội khác nhau trong cùng một vụ án hình sự đối với một tội phạm cụ thể Trong quá trình định tội danh tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản có thể

có một hoặc nhiều người phạm tội, có một hoặc nhiều tội phạm, do vậy, việc xác định tình tiết định tội và tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự cần theo nguyên tắc: Không sử dụng tình tiết định tội của tội phạm này làm tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của tội phạm khác; Không sử dụng tình tiết tăng nặng của người phạm tội này làm tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự cho người phạm tội khác

Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự có vai trò hỗ trợ cho cho các dấu hiệu cấu thành tội phạm để xác định chính xác tội danh và tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội

Cấu thành tội phạm và các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của các tội phạm nói chung và tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản nói riêng vừa thể hiện tính khái quát vừa thể hiện tính cụ thể của hoạt động áp dụng pháp luật hình sự

1.2.1.4 Hoạt động định tội danh tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trong các giai đoạn tố tụng hình sự

Tương ứng với các giai đoạn của tố tụng hình sự thì định tội danh tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản cũng có những đặc điểm riêng biệt Theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 thì hoạt động định tội danh trong các giai đoạn tố tụng hình sự được thể hiện như sau:

Thứ nhất, định tội danh trong giai đoạn điều tra là tiền đề cho hoạt động định

tội danh ở các giai đoạn tiếp theo Thẩm quyền tiến hành hoạt động điều tra được quy định tại Điều 163 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 [21] Cơ sở phát sinh hoạt động định tội danh trong giai đoạn điều tra đó là các căn cứ để khởi tố vụ án [21], cụ thể:

- Cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát, Tòa án, Bộ đội biên phòng, lực lượng cảnh sát điều tra và các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành hoạt động điều tra phát hiện dấu hiệu tội phạm như quân đội, công an

- Người phạm tội tự thú: Đây là trường hợp người phạm tội thực hiện hành vi tội phạm chưa bị phát hiện nhưng đã chủ động trình báo với cơ quan có thẩm

Trang 29

quyền Nếu xét thấy việc tự thú có dấu hiệu tội phạm thì cơ quan có thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án

- Tố giác của công dân: Việc tố giác tội phạm có thể bằng văn bản hoặc bằng miệng đến cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát, Tòa án, tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội khác Khi nhận được tố giác tội phạm của công dân thì cơ quan có thẩm quyền phải tiếp nhận tin tố giác, ghi rõ ngày, tháng, năm tiếp nhận

- Tin báo của cơ quan nhà nước hoặc tổ chức xã hội: Các cơ quan nhà nước hoặc tổ chức xã hội khi nhận được tố giác của công dân hoặc trường hợp phát hiện

ra tội phạm thì phải có trách nhiệm báo tin cho cơ quan điều tra bằng băn bản Cơ quan điều tra trên cơ sở tin báo sẽ quyết định việc khởi tố hoặc không khởi tố vụ án

- Tin báo trên các phương tiện thông tin đại chúng: Khi có tin báo trên các phương tiện thông tin đại chúng như báo chí, truyền hình, truyền thanh, thì các cơ quan có thẩm quyền phải xem xét, xác minh tin báo Trường hợp vụ việc có dấu hiệu tội phạm thì sẽ ra quyết định khởi tố vụ án hình sự

Như vậy, từ các căn cứ để khởi tố vụ án nói trên, nếu có dấu hiệu tội phạm thì cơ quan có thẩm quyền sẽ ban hành quyết định khởi tố vụ án để bắt đầu giai đoạn điều tra Trong giai đoạn điều tra, hoạt động định tội danh thể hiện trong các trường hợp như đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án, khởi tố bị can, kết luận điều tra, phục hồi điều tra, thay đổi tội danh trong quá trình điều tra

Thứ hai, định tội danh trong giai đoạn truy tố: Thẩm quyền định tội danh

trong giai đoạn này là Viện Kiểm sát Sau khi kết thúc giai đoạn điều tra thì vụ án hình sự được chuyển sang giai đoạn truy tố Hoạt động định tội danh thể hiện trong các trường hợp: Truy tố bị can, đình chỉ vụ án, đình chỉ điều tra, trả hồ sơ điều tra

bổ sung Hoạt động định tội danh trong giai đoạn này cũng là cơ sở cho hoạt động định tội danh ở giai đoạn tiếp theo

Thứ ba, định tội danh trong giai đoạn xét xử: Thẩm quyền định tội danh

trong giai đoạn này là Tòa án Sau khi kết thúc giai đoạn truy tố thì vụ án hình sự được chuyển sang giai đoạn xét xử Hoạt động định tội danh thể hiện trong các

Trang 30

trường hợp: Xét xử vụ án (ban hành bản án gồm có bản án sơ thẩm, phúc thẩm), đình chỉ vụ án, trả hồ sơ điều tra bổ sung

Hoạt động định tội danh trong giai đoạn này hoặc là dẫn đến kết thúc quá trình định tội danh trong vụ án hình sự, hoặc sẽ là cơ sở cho việc định tội danh lại tại giai đoạn điều tra, truy tố (trường hợp trả hồ sơ vụ án hình sự)

Trong phạm vi đề tài này, tác giả tập trung nghiên cứu giai đoạn định tội danh trong hoạt động xét xử, thể hiện kết quả cuối cùng của quá trình định tội danh gồm nhiều giai đoạn, thể hiện tính đúng đắn, hiệu lực, hiệu quả của hoạt động định tội danh

1.2.2 Quy trình định tội danh đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

Hoạt động định tội danh đối với các tội phạm nói chung và tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản nói riêng đòi hỏi phải trải qua quá trình phức tạp, không thể tùy tiện tiến hành, cụ thể như sau :

Thứ nhất, phải tập hợp các dấu hiệu thực tế của cấu thành tội phạm đối với

tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản Việc tập hợp các dấu hiệu thực tế càng đầy đủ thì hoạt động định tội danh sẽ được tiến hành chính xác và hiệu quả hơn

Thứ hai, chọn quy định của Bộ luật Hình sự và các văn bản hướng dẫn thi

hành về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 140 Bộ luật Hình sự năm

1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009 và Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017) Trên cơ sở xác định đúng điều luật quy định về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản thì cần tiến hành nghiên cứu dấu hiệu cấu thành tội phạm được mô tả tại điều luật và hướng dẫn thi hành, đây là các dấu hiệu pháp lý

Thứ ba, đối chiếu sự phù hợp các dấu hiệu thực tế của cấu thành tội phạm

với các dấu hiệu pháp lý cấu thành tội phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản Việc đối chiếu được tiến hành đầy đủ và theo trình tự: Mặt khách quan của tội phạm, mặt chủ quan của tội phạm, chủ thể của tội phạm, khách thể của tội phạm Hệ quả của quá trình đối chiếu này có hai trường hợp xảy ra: Nếu các dấu hiệu thực tế của cấu thành tội phạm phù hợp với các dấu hiệu pháp lý cấu thành tội phạm tội lạm

Trang 31

dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được quy định tại Bộ luật Hình sự thì có thể kết luận tội phạm đã được thực hiện và xác định người phạm tội Nếu các dấu hiệu thực

tế của cấu thành tội phạm không phù hợp với các dấu hiệu pháp lý cấu thành tội phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản thì kết luận không có tội phạm được thực hiện và không có người phạm tội Lưu ý trong trường hợp này cũng cần đối chiếu dấu hiệu thực tế của cấu thành tội phạm với các dấu hiệu pháp lý của các loại tội phạm khác theo quy định của Bộ luật Hình sự cho đến khi tìm được có sự phù hợp, hoặc không có bất kỳ sự phù hợp nào thì kết luận không có tội phạm được thực hiện

Thứ tư, trên cơ sở kết luận về tội phạm và người phạm tội đã được thực hiện

bước trước đó, cơ quan có thẩm quyền ra quyết định áp dụng pháp luật tùy từng giai đoạn định tội danh Chẳng hạn giai đoạn điều tra thì ban hành Quyết định khởi tố vụ

án hoặc Quyết định không khởi tố vụ án hình sự; Quyết định khởi tố bị can; Quyết định thay đổi hoặc bổ sung Quyết định khởi tố bị can; Quyết định đình chỉ vụ án…; Giai đoạn truy tố thì có Bản cáo trạng, Quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung…; Giai đoạn xét xử thì có Bản án sơ thẩm, Bản án phúc thẩm, Quyết định trả hồ sơ để điều tra, xét xử lại, Quyết định đình chỉ vụ án…

Quá trình định tội danh đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản không phải là một quá trình đơn giản, mà đòi hỏi kiến thức, trình độ, kinh nghiệm,

kỹ năng, bản lĩnh của người áp dụng pháp luật Việc định tội danh đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản đòi hỏi phải tuân thủ các nguyên tắc nhất định, cụ thể như sau:

- Hoạt động định tội danh là hoạt động trung tâm của các hoạt động tố tụng hình sự, do đó, việc định tội danh phải tuân thủ các nguyên tắc mà Bộ luật Tố tụng hình sự quy định [21], cụ thể như nguyên tắc suy đoán vô tội; Nguyên tắc bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa; Nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước pháp luật; Nguyên tắc không ai bị kết án hai lần vì một tội phạm; Nguyên tắc xác định sự thật

vụ án; Nguyên tắc trách nhiệm của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng; Nguyên tắc trách nhiệm khởi tố và xử lý vụ án hình sự; Nguyên tắc tuân thủ pháp

Trang 32

luật trong hoạt động điều tra; Nguyên tắc trách nhiệm thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự; Nguyên tắc bảo đảm sự vô

tư của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng; Nguyên tắc thực hiện chế độ xét xử có Hội thẩm nhân dân; Nguyên tắc Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; Nguyên tắc Tòa án xét xử độc lập; Nguyên tắc Tòa án xét xử kịp thời, công bằng, công khai; Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm

- Hoạt động định tội danh chưa được quy định về các nguyên tắc đặc thù riêng biệt, tuy nhiên để hoạt động định tội danh đạt hiệu quả thì việc định tội danh đối với các tội phạm nói chung và tội lạm dụng tín nhiệm nói riêng cũng phải tuân thủ các yêu cầu như: Bảo đảm tính đầy đủ trong việc xác định các dấu hiệu thực tế của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản; Bảo đảm tính chính xác khi đối chiếu

sự phù hợp giữa các dấu hiệu thực tế của cấu thành tội phạm và dấu hiệu pháp lý của cấu thành tội phạm đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản; Bảo đảm việc định tội danh theo tất cả các vai trò của đồng phạm nhằm tránh việc bỏ sót người phạm tội

Trang 33

Tiểu kết Chương 1

Hoạt động định tội danh là hoạt động trọng tâm của các hoạt động tố tụng hình sự được quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 Các hoạt động tố tụng hình sự khác có chức năng bổ trợ cho hoạt động định tội danh Hoạt động định tội danh được tiến hành nhằm xác định tội phạm và người phạm tội Hoạt động định tội danh là hoạt động áp dụng pháp luật do đó hoạt động này mang tính chất quyền lực nhà nước, mang tính cá biệt và phải được tiến hành theo trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật, mang tính sáng tạo trong khuôn khổ quy định của pháp luật

và kết quả của hoạt động định tội danh là việc ra các kết luận về việc có tội phạm và người phạm tội hay không Hoạt động định tội danh có ý nghĩa vô cùng quan trọng, nếu hoạt động định tội danh được thực hiện đúng quy định của pháp luật sẽ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức, phán quyết đối với người phạm tội có hành vi nguy hiểm cho xã hội là hoàn toàn khách quan, có căn cứ, đúng trình

tự, đúng pháp luật Tuy nhiên, nếu hoạt động định tội danh không đúng gây ra thiệt hại, ảnh hưởng đến tính nghiêm minh và đúng đắn của các phán quyết, làm giảm hiệu quả giáo dục người phạm tội, giảm hiệu quả ngăn ngừa người phạm tội phạm tội mới Hoạt động định tội danh có nhiều giai đoạn khác nhau tương ứng với các giai đoạn tố tụng hình sự Hoạt động này là một quá trình phức tạp buộc các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng phải tuân thủ theo các nguyên tắc

mà Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 đã quy định và các nguyên tắc đặc thù riêng phù hơp với từng giai đoạn định tội danh

Trang 34

Chương 2 TÌNH HÌNH CÓ LIÊN QUAN VÀ THỰC TIỄN ĐỊNH TỘI DANH ĐỐI VỚI TỘI LẠM DỤNG TÍN NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 2.1 Tình hình có liên quan đến hoạt động định tội danh tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh

2.1.1 Thực trạng tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh

Về điều kiện tự nhiên, Thành phố Hồ Chí Minh nằm ở vị trí “ngã tư” giữa các con đường hàng hải quốc tế, đã trở thành tâm điểm của khu vực Đông Nam Á Thành phố Hồ Chí Minh là đầu mối giao thông nối liền các tỉnh trong vùng và là cửa ngõ quốc tế Thành phố Hồ Chí Minh ngày nay bao gồm 16 quận và 5 huyện và một thành phố

Về quy mô dân số: Theo thống kê của Cục Thống kê Thành phố Hồ Chí Minh thì: Dân số của thành phố đến thời điểm 01/4/2019 là 8.8993.082 người Bình quân một năm thành phố tăng khoảng 170.000 người bao gồm cả tăng tự nhiên và người nhập cư [41]

Về tốc độ phát triển kinh tế: Thành phố Hồ Chí Minh giữ vai trò quan trọng bậc nhất trong nền kinh tế Việt Nam, chiếm 22,2% tổng sản phẩm (GDP) và 27% tổng thu ngân sách của cả nước [16]

Với điều kiện kinh tế xã hội Thành phố Hồ Chí Minh vô cùng phát triển, dân

cư đông đúc thì bên cạnh việc đời sống con người ngày nâng cao về vật chất lẫn tinh thần thì hệ lụy phát sinh là các tệ nạn xã hội, tội phạm cũng hết sức phức tạp trong đó có tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản Cụ thể:

Trong 05 năm giai đoạn 2016- 2020, tại Thành phố Hồ Chí Minh đã có nhiều

vụ án về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản với nhiều bị cáo Theo số liệu thống kê thì từ các năm 2016 đến năm 2020 [25], tình hình tội phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản những năm gần đây tại Thành phố Hồ Chí Minh được khái quát như sau:

Trang 35

- Tổng số vụ án hình sự đối với các tội xâm phạm sở hữu được quy định tại Điều 168 đến Điều 180 Bộ luật Hình sự năm 2015 từ ngày 01/01/2016 đến ngày 31/12/2020 là 6902 vụ với 10038 bị cáo Trong đó:

+ Số vụ án hình sự đối với tội cướp tài sản: 332 vụ, 725 bị cáo, chiếm tỷ lệ 4,8% tổng số vụ án hình sự về các tội xâm phạm sở hữu

+ Số vụ án hình sự đối với tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản: 2 vụ, 2 bị cáo, chiếm tỷ lệ 0,003% tổng số vụ án hình sự về các tội xâm phạm sở hữu

+ Số vụ án hình sự đối với tội cưỡng đoạt tài sản: 111 vụ, 274 bị cáo, chiếm

tỷ lệ 1,6 %

+ Số vụ án hình sự đối với tội cướp giật tài sản: 1694 vụ, 2425 bị cáo, chiếm

tỷ lệ 24,54% tổng số vụ án hình sự về các tội xâm phạm sở hữu

+ Số vụ án hình sự đối với tội công nhiên cưỡng đoạt tài sản: 5 vụ, 6 bị cáo, chiếm tỷ lệ 0,007% tổng số vụ án hình sự về các tội xâm phạm sở hữu

+ Số vụ án hình sự đối với tội trộm cắp tài sản: 3819 vụ, 5361 bị cáo, chiếm

tỷ lệ 55,33% tổng số vụ án hình sự về các tội xâm phạm sở hữu

+ Số vụ án hình sự đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản: 580 vụ, 793 bị cáo, chiếm tỷ lệ 8,40% tổng số vụ án hình sự về các tội xâm phạm sở hữu

+ Số vụ án hình sự đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản: 170 vụ,

190 bị cáo, chiếm tỷ lệ 2,46%

+ Số vụ án hình sự đối với tội chiếm giữ tài sản trái phép: 17 vụ, 18 bị cáo, chiếm tỷ lệ 0,024% tổng số vụ án hình sự về các tội xâm phạm sở hữu

+ Số vụ án hình sự đối với tội sử dụng trái phép tài sản: 1 vụ, 1 bị cáo, chiếm

tỷ lệ 0,001% tổng số vụ án hình sự về các tội xâm phạm sở hữu

+ Số vụ án hình sự đối với tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản: 169

vụ, 234 bị cáo, chiếm tỷ lệ 2,45% tổng số vụ án hình sự về các tội xâm phạm sở hữu

+ Số vụ án hình sự đối với tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại đến tài sản của nhà nước, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp: 2 vụ, 8 bị cáo, chiếm tỷ lệ 0,0028% tổng

số vụ án hình sự về các tội xâm phạm sở hữu

Trang 36

+ Số vụ án hình sự đối với tội vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản: 0

vụ, 0 bị cáo, chiếm tỷ lệ 0% tổng số vụ án hình sự về các tội xâm phạm sở hữu

Có thể thấy rằng, trong các tội xâm phạm sở hữu thì tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản có số vụ nhiều thứ 5/13, đứng sau các loại tội phạm như trộm cắp tài sản (1/13), tội cướp giật tài sản (2/13), tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (3/13), tội cướp tài sản (4/13) – Bảng 1

Về bị cáo, số lượng các bị cáo phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản nhiều thứ 7/13 trong các tội xâm phạm sở hữu, đứng sau các tội trộm cắp tài sản (1/13), tội cướp giật tài sản (2/13), tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (3/13), tội cướp tài sản (4/13), tội cưỡng đoạt tài sản (5/13), tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (6/13) – Bảng 2

Bảng 1: Số lượng các vụ án hình sự về tội phạm xâm phạm sở hữu

5 Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản 170 2,46%

6 Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản 169 2,45%

10 Thiếu trách nhiệm gây thiệt hại đến tài sản của

nhà nước, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp

13 Vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản 0 0%

Trang 37

Bảng 2: Số lượng các bị cáo phạm các tội xâm phạm sở hữu giai đoạn 2016-2020

STT Loại tội phạm xâm phạm sở hữu Số lượng

bị cáo Tỷ lệ

6 Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản 234 2,33 %

7 Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản 190 1,89%

9 Thiếu trách nhiệm gây thiệt hại đến tài sản

của nhà nước, cơ quan, tổ chức, doanh

nghiệp

13 Vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản 0 0 %

Trong số 170 vụ án hình sự và 190 bị cáo bị truy tố về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản tính trong năm năm từ 2016 đến năm 2020, tổng số tài sản thiệt hại là 132.400.000 đồng [25] Trong đó, phân tích đặc điểm nhân thân các bị cáo đã xét xử thì thấy rằng:

+ Xét về tiêu chí nghề nghiệp thì không có bị cáo nào là cán bộ, công chức, không có bị cáo nào là đảng viên, có 1 bị cáo là không có nghề nghiệp

+ Xét về tiêu chí giới tính thì có 9 bị cáo là nữ

+ Xét về tiêu chí dân tộc thì có 4 bị cáo là người dân tộc thiểu số

+ Xét về tiêu chí độ tuổi thì không có bị cáo nào là thuộc độ tuổi từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi, có 6 bị cáo thuộc độ tuổi từ đủ 16 đến 18 tuổi, có 12 bị cáo thuộc

độ tuổi từ đủ 18 đến 30 tuổi

Trang 38

+ Xét về tiêu chí quốc tịch thì không có bị cáo là người nước ngoài

+ Xét về tiêu chí nghiện ma túy thì không có bị cáo nào nghiện ma túy

Hoặc phân tích đặc điểm nhân thân của người bị hại trong các vụ án hình sự nói trên thì không có bị hại nào nằm ở độ tuổi từ dưới 30 tuổi [25]

Như vậy có thể thấy rằng tình hình tội phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh cũng tương đối phức tạp khi thấy rằng người bị hại trong các vụ án đều thuộc lứa tuổi đã trưởng thành, trên 30 tuổi, hoàn chỉnh về mặt nhận thức Bị cáo trong các vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản có cả người chưa thành niên và người đã thành niên, thuộc nhiều lứa tuổi khác nhau, bị cáo có thể thuộc giới tính nữ, hoặc giới tính nam, đồng thời bị cáo còn

có cả những người thuộc dân tộc thiểu số

Trên cơ sở diễn biến của tình hình tội phạm lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản xảy ra trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, các cơ quan có thẩm quyền của Thành phố từ các cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát nhân dân hai cấp, Tòa án nhân dân hai cấp Thành phố Hồ Chí Minh đã có kế hoạch và không ngừng quyết tâm trong việc ngăn chặn và từng bước đẩy lùi loại tội phạm này Vì vậy, trong thời gian qua, công tác xử lý tội phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của các cơ quan có thẩm quyền đã đạt được những nhiều kết quả kết quả tích cực Các vụ án về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được phát hiện và xử lý chiếm tỉ lệ rất cao, tiến độ điều tra, truy tố, xét xử được bảo đảm, các vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản đều đã được cơ quan tiến hành tố tụng của Thành phố định tội danh đúng Sau khi xét xử có vụ án bị kháng cáo, kháng nghị và được cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm Tuy nhiên việc sửa bản án sơ thẩm đa số không sửa phần quyết định tội danh mà sửa phần quyết hình phạt

2.1.2 Nguyên nhân xảy ra tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh

Nguyên nhân của tình trạng tội phạm lạm dụng tín nhiệm nói trên có thể gồm

có các nguyên nhân cụ thể như sau:

Trang 39

Thứ nhất, nguyên nhân về kinh tế - xã hội: Thành phố Hồ Chí Minh là một

trong những đô thị lớn về kinh tế của cả nước Không chỉ riêng gì Thành phố Hồ Chí Minh mà hiện nay, cả nước đang thực hiện đường lối phát triển kinh tế theo định hướng kinh tế thị trường, và hệ lụy phát sinh là sự phân hóa giàu nghèo, thất nghiệp, di dân, tội phạm, một bộ phận nhân dân có sự sai lệch về nhận thức và hành động, trái với các chuẩn mực chung của xã hội, trái pháp luật Điều này làm cho vấn

đề tội phạm nói chung và tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản sẽ phát sinh và ngày càng phức tạp

Thứ hai, nguyên nhân về văn hóa, giáo dục: Trường học hiện nay nói chung

và Thành phố Hồ Chí Minh chú trọng dạy chữ nghĩa cho học sinh qua sách vở, mà chưa chú trọng đạo đức, nhân cách, ứng xử cho học sinh Chú trọng vào việc giáo dục, rèn luyện đạo đức cho những thế hệ tương lai cũng là một biện pháp hiệu quả nhằm làm giảm tình trạng tội phạm mai sau Hiện nay, việc giáo dục đạo đức chủ yếu thuộc về gia đình là một sự nhận thức chưa đầy đủ về nhiệm vụ của giáo dục

Thứ ba, nguyên nhân về tổ chức, quản lý: Vấn đề này phát sinh trong hoạt

động trong các cơ quan nhà nước mà chủ yếu là sự buông lỏng quản lý, đùn đẩy trách nhiệm Cơ chế quản lý hiện nay vẫn còn tàn dư của cơ chế quản lý cũ, tập trung, quan liêu, bao cấp Bộ máy quản lý vẫn còn cồng kềnh, đông nhưng hạn chế

về năng lực quản lý, chưa coi trọng nhân tài mà chú trọng vào yếu tố thân thích, gia đình, “một người làm quan, cả họ được nhờ” Quá trình tổ chức, quản lý xã hội trong nhiều lĩnh vực còn chưa chặt chẽ cũng làm cho tình hình tội phạm nói chung

và tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản nói riêng phát sinh và diễn biến phức tạp hơn Mặt khác, tình trạng dân cư tại Thành phố Hồ Chí Minh có một một bộ phận người nhập cư từ các địa phương khác Tuy nhiên, công tác quản lý tạm trú còn lỏng lẻo, là điều kiện tốt cho tội phạm phát triển không riêng gì tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

Thứ tư, nguyên nhân về chính sách pháp luật: Tình hình tội phạm nói chung

và tội lạm dụng tín nhiệm nói riêng trở nên phức tạp hơn cũng bởi sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước trong công tác ngăn chặn, phòng ngừa tội phạm chưa

Trang 40

được chặt chẽ, chưa chú trọng Công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm nâng cao nhận thức của người dân còn chưa đi sâu đi sát vào quần chúng, đội ngũ làm công tác này còn mỏng, chưa được đào tạo kỹ lưỡng về nghiệp vụ, công tác tuyên truyền còn chậm đổi mới về hình thức và phương pháp tuyên truyền, dẫn đến hiệu quả tuyên truyền thấp

Thứ năm, nguyên nhân từ chính các nạn nhân của tội lạm dụng tín nhiệm

chiếm đoạt tài sản: Nạn nhân của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là những con người được pháp luật bảo vệ khi bị xâm phạm về tài sản Nhiều trường hợp chính nạn nhân có vai trò làm nảy sinh tội phạm, vô tình đã tạo điều kiện cho người phạm tội như sơ hở trong quản lý tài sản, lòng tham của nạn nhân Nạn nhân của tội phạm lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản có thể thuộc nhiều lứa tuổi khác nhau, từ trẻ em đến người già, nam giới, nữ giới, người hạn chế về học vấn, người dân tộc thiểu số Mỗi nhóm nạn nhân đều có những đặc trưng tâm sinh lý khác nhau sẽ là những yếu tố thuận lợi có thể làm cho họ trở thành nạn nhân của tội phạm

2.2 Tình hình cán bộ làm công tác định tội danh đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh

Bên cạnh các cơ quan có thẩm quyền định tội danh khác như cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát thì Tòa án nhân dân hai cấp Thành phố Hồ Chí Minh với vai trò trung tâm của các cơ quan tư pháp, được Hiến pháp trao cho chức năng thực hành quyền tư pháp, là cơ quan duy nhất có chức năng xét xử Hoạt động xét xử các vụ

án hình sự nói chung và tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản nói riêng phản ánh hiệu quả, hiệu lực của hoạt động định tội danh trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh

Về bộ máy tổ chức thì:

Tại Tòa án nhân dân cấp tỉnh thì Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh

có 6 Tòa chuyên trách và 3 Bộ phận Các Tòa chuyên trách bao gồm Tòa Hình sự xét xử các vụ án hình sự; Tòa Dân sự giải quyết các vụ việc dân sự; Tòa Lao động giải quyết các vụ việc lao động; Tòa Kinh tế giải quyết các vụ việc kinh doanh - thương mại, phá sản; Tòa Hành chính giải quyết các vụ việc hành chính; Tòa Gia

Ngày đăng: 17/01/2022, 10:29

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Duy Bình (2012), Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản – Một số vướng mắc trong thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện, Tạp chí Tòa án nhân dân kỳ II tháng 11, số 22 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản – Một số vướng mắc trong thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện
Tác giả: Trần Duy Bình
Năm: 2012
2. Bộ Chính trị (2005), Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2005
3. Lê Cảm (2003), Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam – Phần các tội phạm, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam – Phần các tội phạm
Tác giả: Lê Cảm
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2003
5. Chính phủ (1993), Nghị định số 25-CP ngày 23 tháng 5 năm 1993 quy định chế độ phụ cấp đắt đỏ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 25-CP ngày 23 tháng 5 năm 1993 quy định chế độ phụ cấp đắt đỏ
Tác giả: Chính phủ
Năm: 1993
6. Nguyễn Văn Đạm (1999), Từ điển tường giải và liên tưởng Tiếng Việt, Nxb Văn hóa Thông tin Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tường giải và liên tưởng Tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Văn Đạm
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin Hà Nội
Năm: 1999
7. Nguyễn Ngọc Điệp - Đoàn Tấn Minh (2018), Phương pháp định tội danh đối với 538 tội danh trong Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, Nxb Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp định tội danh đối với 538 tội danh trong Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017
Tác giả: Nguyễn Ngọc Điệp - Đoàn Tấn Minh
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2018
8. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lấn thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lấn thứ XII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2016
9. Đỗ Ngọc Hải (2007), Pháp chế xã hội chủ nghĩa trong hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp ở nước ta hiện nay, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp chế xã hội chủ nghĩa trong hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp ở nước ta hiện nay
Tác giả: Đỗ Ngọc Hải
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Năm: 2007
10. Hội đồng Bộ trưởng (1985), Nghị định số 235-HĐBT ngày 18 tháng 9 năm 1985 của quy định chế độ phụ cấp chênh lệch giá sinh hoạt theo vùng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 235-HĐBT ngày 18 tháng 9 năm 1985 của quy định chế độ phụ cấp chênh lệch giá sinh hoạt theo vùng
Tác giả: Hội đồng Bộ trưởng
Năm: 1985
11. Hội đồng Chính phủ (1960), Nghị quyết về việc cải tiến chế độ lương và tăng lương năm 1960, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết về việc cải tiến chế độ lương và tăng lương năm 1960
Tác giả: Hội đồng Chính phủ
Năm: 1960
12. Nguyễn Quốc Hùng (1975), Hán – Việt Tân Từ điển, Nhà sách Khai trí, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hán – Việt Tân Từ điển
Tác giả: Nguyễn Quốc Hùng
Năm: 1975
13. Nguyễn Lân (2002), Từ điển từ và ngữ Hán – Việt, Nxb Bách khoa Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển từ và ngữ Hán – Việt
Tác giả: Nguyễn Lân
Nhà XB: Nxb Bách khoa Hà Nội
Năm: 2002
14. Nguyễn Thị Hồng Minh (2016), Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trong pháp luật hình sự Việt Nam, Luận văn thạc sỹ luật học năm 2016 tại Đại học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: i lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trong pháp luật hình sự Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Hồng Minh
Năm: 2016
15. Cao Thị Oanh (2015), Các tội phạm xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt, Nhà xuất bản Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các tội phạm xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt
Tác giả: Cao Thị Oanh
Nhà XB: Nhà xuất bản Tư pháp
Năm: 2015
16. Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh (2020), Văn kiện Đại hội Đại biểu Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh lần thứ XI, nhiệm kỳ 2020-2025, theo link https://www.hcmcpv.org.vn/van-ban-van-kien/-van-kien-dai-hoi-dai-bieu-dang-bo-tphcm-lan-thu-xi-1482982461 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh lần thứ XI, nhiệm kỳ 2020-2025
Tác giả: Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2020
17. Đinh Văn Quế (2016), Những điểm mới của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản quy định trong Bộ luật Hình sự, Tạp chí Tòa án số 8 năm 2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những điểm mới của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản quy định trong Bộ luật Hình sự
Tác giả: Đinh Văn Quế
Năm: 2016
20. Quốc hội (2009), BộLuật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: BộLuật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009)
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2009
21. Quốc hội (2015), Bộ Luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Luật Tố tụng hình sự năm 2015
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2015
23. Lê Quang Sáng (2014), Bàn về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, Tạp chí Khoa học Kiểm sát số 3 năm 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Tác giả: Lê Quang Sáng
Năm: 2014
24. Văn Tân, Nguyễn Văn Đạm (1994), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tiếng Việt
Tác giả: Văn Tân, Nguyễn Văn Đạm
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1994

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w