Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu Với việc nghiên cứu đề tài tiểu luận “Lý luận giá trị thặng dư của Mác và sự vận dụng vào chính sách phát triển kinh tế của Việt Nam” nhằm đạtnhững mục đích
Trang 1HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
-TIỂU LUẬN KINH TẾ CHÍNH TRỊ
Đề tài: LÝ LUẬN GIÁ TRỊ THẶNG DƯ VÀ SỰ VẬN
DỤNG VÀO CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ
CỦA VIỆT NAM
Sinh viên: LÊ HƯƠNG GIANG
Trang 2Đề tài: LÝ LUẬN GIÁ TRỊ THẶNG DƯ VÀ SỰ VẬN DỤNG
VÀO CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ CỦA VIỆT NAM
Sinh viên: LÊ HƯƠNG GIANG Lớp: TRUYỀN THÔNG MARKETING A2 Giáo viên hướng dẫn: TRẦN THỊ NGỌC MINH
Trang 3Hà Nội, tháng 1 năm 2022
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu 2
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
5 Kết cấu đề tài 2
NỘI DUNG 4
Chương 1 Giới thiệu chung về lý luận giá trị thặng dư của C.Mác 4
Chương 2 Nội dung lý luận của Mác về giá trị thặng dư 5
1 Nguồn gốc của giá trị thặng dư 5
1.1 Công thức chung của tư bản 5
1.2 Hàng hoá sức lao động 6
1.3 Sự sản xuất giá trị thặng dư 7
1.4 Tư bản bất biến và tư bản khả biến 8
2 Bản chất của giá trị thặng dư 9
3 Các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư 9
3.1 Sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối 9
3.2 Sản xuất giá trị thặng dư tương đối 10
3.3 Giá trị thặng dư siêu ngạch 10
Chương 3 Sự vận dụng lý luận giá trị thặng dư vào chính sách phát triển kinh tế của Việt Nam 11 Chương 4 Hướng phát triển của lý luận giá trị thặng dư trong bối cảnh mới 17
KẾT LUẬN 20
TÀI LIỆU THAM KHẢO 21
Trang 5LÝ LUẬN GIÁ TRỊ THẶNG DƯ CỦA MÁC VÀ SỰ VẬN DỤNG VÀO CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ CỦA VIỆT NAM
MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Kinh tế chính trị Mác - Lênin có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triểncủa đời sống xã hội Trong quá trình phát triển đất nước hiện nay, yêu cầuhọc tập, nghiên cứu của bộ môn kinh tế chính trị Mác - Lê-nin được chú trọnghơn, góp phần quan trọng khắc phục tình trạng lý luận kinh tế lạc hậu, chủnghĩa giáo điều, lý luận xa rời, chủ nghĩa tách biệt lý thuyết và cuộc sống Sựhình thành tư duy kinh tế mới Trong điều kiện xây dựng và phát triển nềnkinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, loại hình kinh tếnày luôn gắn với những phạm trù và quy luật kinh tế nhất định Trong đó cóphạm trù giá trị thặng dư hay nói cách khác là sự tồn tại của giá trị thặng dư
là một nhân tố khách quan tất yếu của Việt Nam khi Việt Nam chuyển sangnền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa Tuy nhiên, hiện nay nước ta đangthực hiện nền kinh tế thị trường nhiều thành phần định hướng xã hội chủnghĩa Tuy nhiên, ở một mức độ nhất định, thành kiến đối với một số thànhphần kinh tế như khu vực kinh tế tư nhân và các nhà tư bản vẫn tồn tại và coicác thành phần kinh tế này là chế độ bóc lột Quan điểm này không chỉ xảy rađối với một số cán bộ, đảng viên cao cấp làm công tác quản lý trong bộ máynhà nước mà cả những người trực tiếp làm kinh tế tư nhân ở nước ta hiện nay.Theo lý luận của Mác, vấn đề bóc lột liên quan trực tiếp đến giá trị thặng dư
Vì vậy, việc nghiên cứu, tìm hiểu chất lượng và lượng giá trị thặng dư sẽ giúpchúng ta nhận thức đúng đắn về con đường xây dựng xã hội chủ nghĩa ở ViệtNam mà Đảng và Nhà nước ta đã lựa chọn Tổng hợp những điều đã học, bàitiểu luận của em sẽ nêu nội dung cơ bản của “giá trị thặng dư”, cũng như một
số ý nghĩa thực tiễn có được khi nghiên cứu vấn đề Ngoài ra, cũng có một số
Trang 6ý kiến cho việc vận dụng giá trị thặng dư trong nền kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa của nước ta.
2 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu
Với việc nghiên cứu đề tài tiểu luận “Lý luận giá trị thặng dư của Mác và
sự vận dụng vào chính sách phát triển kinh tế của Việt Nam” nhằm đạtnhững mục đích sau:
- Đối với cá nhân:
+ Củng cố kiến thức và nâng cao tầm nhìn về môn kinh tế chính trị.+ Rèn luyện kỹ năng nghiên cứu khoa học dựa trên việc nghiên cứu vàtham khảo nhiều nguồn tài liệu khác nhau
- Đối với nội dung đề tài:
+ Cung cấp những kiến thức khách quan, cơ bản nhất về giá trị thặngdư
+ Nghiên cứu, tìm ra những hướng phát triển mới của lý luận giá trịthặng dư đối với nền kinh tế nước ta
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: lý luận giá trị thặng dư của C.Mác và sự vận
dụng vào chính sách phát triển kinh tế của Việt Nam
- Phạm vi nghiên cứu: sự vận dụng lý luận giá trị thặng dư ở nước ta
trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp phân tích nội dung, tổng hợp tài liệu, nghiên cứu, phân tíchtài liệu
Trang 7Chương 2: Nội dung lý luận của Mác về giá trị thặng dư
Chương 3: Sự vận dụng lý luận giá trị thặng dư vào chính sách phát triển kinh
tế của Việt Nam
Chương 4: Hướng phát triển của lý luận giá trị thặng dư trong bối cảnh mới
Trang 8NỘI DUNG
Chương 1 Giới thiệu chung về lý luận giá trị thặng dư của C.Mác
Học thuyết giá trị thặng dư là học thuyết khoa học và cách mạng được ra đời ởthế kỷ XIX, được coi là hòn “đá tảng” trong Bộ “Tư bản”, C.Mác vạch rõ nguồngốc, bản chất của giá trị thặng dư là phần dôi ra ngoài giá trị sức lao động củangười công nhân bị nhà tư bản chiếm Vì vậy, Người khẳng định: sứ mệnh lịch
sử giai cấp công nhân là tiến hành cuộc đấu tranh giai cấp, xóa bỏ chế độ ngườibóc người, xóa bỏ chủ nghĩa tư bản, xây dựng chủ nghĩa cộng sản mà giai đoạnthấp là chủ nghĩa xã hội Học thuyết giá trị thặng dư được hình thành trên cơ sởhọc thuyết giá trị lao động mà trực tiếp là việc phát hiện ra tính chất hai mặt củalao động sản xuất hàng hóa gồm: Lao động cụ thể và lao động trừu tượng Việcphát hiện ra tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa có ý nghĩa to lớn
về mặt lý luận; nó đem đến cho lý thuyết giá trị lao động một cơ sở khoa họcthực sự Các nhà kinh tế trước C.Mác thấy được lao động tạo ra giá trị, nhưngkhông tách ra được lao động cụ thể hay trừu tượng tạo ra giá trị Chỉ đến C.Mácmới cho thấy rõ rằng, chỉ có lao động trừu tượng mới tạo ra giá trị của hàng hóa;đặc biệt là tìm ra được trên thị trường một loại hàng hóa đặc biệt – hàng hóa sứclao động – và việc sử dụng hàng hóa sức lao động có thể tạo ra được giá trị lớnhơn giá trị bản thân nó, chính là chìa khóa để giải quyết mâu thuẫn của công thứcchung của tư bản (T-H-T’) Tất cả thành quả đó, tạo nên cơ sở khoa học vữngchắc giúp C.Mác giải thích được nguồn gốc thực sự và quá trình vận động, biếnđổi của giá trị thặng dư, thành lợi nhuận, lợi tức, địa tô trong sản xuất, lưu thông,phân phối; giúp phân tích được bản chất của tư bản bất biến và tư bản khả biến…xây dựng nên học thuyết khoa học về giá trị thặng dư, về tích lũy, về tái sản xuất
và khủng hoảng kinh tế
Trang 9Chương 2 Nội dung lý luận của Mác về giá trị thặng dư
1 Nguồn gốc của giá trị thặng dư
1.1 Công thức chung của tư bản
Giá trị thặng dư của C.Mác được trình bày chủ yếu trong tác phẩm “Tư bản”
có nội dung vô cùng rộng lớn bao gồm sự luận giải khoa học sâu sắc vềnhững điều kiện căn bản để hình thành các quy luật vận động xu hướng pháttriển của nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, trong đó những vấn đề quantrọng hàng đầu là nguồn gốc và bản chất của giá trị thặng dư Tiền là sản vậtcuối cùng của lưu thông hàng hoá, đồng thời là hình thái xuất hiện đầu tiêncủa tư bản Tiền trong lưu thông hàng hóa giản đơn vận động theo công thức:
H - T - H Tiền trong nền sản xuất tư bản chủ nghĩa vận động theo công thức:
T - H - T’
Điểm giống nhau của hai công thức lưu thông nói trên là đều cấu thành bởihai yếu tố hàng và tiền; đều chứa đựng hai hành vi đối lập nhau là mua vàbán; đều biểu hiện quan hệ kinh tế giữa người mua và người bán
Điểm khác nhau giữa hai công thức đó là: Lưu thông hàng hóa giản đơn bắtđầu bằng hành vi bán (H - T) và kết thúc bằng hành vi mua (T - H); điểm xuấtphát và điểm kết thúc đều là hàng hóa, tiền chỉ đóng vai trò trung gian, mụcđích là giá trị sử dụng Ngược lại, lưu thông của tư bản bắt đầu bằng hành vimua (T - H) và kết thúc bằng hành vi bán (H - T’); tiền vừa là điểm xuất phát,vừa là điểm kết thúc, còn hàng hóa đóng vai trò trung gian Mục đích của lưuthông tư bản là giá trị, và giá trị lớn hơn Tư bản vận động theo công thức T-H-T’, trong đó T’ = T + ∆T; ∆T là số tiền trội hơn được gọi là giá trị thặng dư
và ký hiệu bằng m Còn số tiền ứng ra ban đầu với mục đích thu được giá trịthặng dư trở thành tư bản Như vậy, tiền chỉ biến thành tư bản khi được dùng
Trang 10để mang lại giá trị thặng dư cho nhà tư bản Công thức: T – H – T’ với T’ = T+ m
Được gọi là công thức chung của tư bản Mọi tư bản đều vận động như vậynhằm mục đích mang lại giá trị thặng dư Như vậy, tư bản là tiền tự lớn lênhay giá trị sinh ra giá trị thặng dư
Thoạt nhìn, hình như giá trị thặng dư sinh ra trong lưu thông Nếu mua - bánngang giá thì chỉ có sự thay đổi hình thái của giá trị: từ tiền thành hàng hoặc
từ hàng thành tiền Còn tổng số giá trị trong tay mỗi người tham gia trao đổitrước sau vẫn không thay đổi Trong trường hợp trao đổi không ngang giá,hàng hóa có thể bán cao hơn hoặc thấp hơn giá trị Nhưng, trong nền kinh tếhàng hóa, mỗi người sản xuất đều vừa là người bán, vừa là người mua Cáilợi mà họ thu được khi bán sẽ bù lại cái thiệt khi mua hoặc ngược lại Trongtrường hợp có những kẻ chuyên mua rẻ, bán đắt thì tổng giá trị toàn xã hộicũng không hề tăng lên, bởi vì số giá trị mà những người này thu được chẳngqua chỉ là sự ăn chặn, đánh cắp số giá trị của người khác mà thôi Như vậylưu thông và bản thân tiền tệ trong lưu thông không hề tạo ra giá trị Nhưngnếu người có tiền không tiếp xúc gì với lưu thông, tức là đứng ngoài lưuthông thì cũng không thể làm cho tiền của mình lớn lên được
"Vậy là tư bản không thể xuất hiện từ lưu thông và cũng không thể xuất hiện
ở bên ngoài lưu thông Nó phải xuất hiện trong lưu thông và đồng thời khôngphải trong lưu thông" Đó là mâu thuẫn của công thức chung của tư bản.C.Mác là người đầu tiên phân tích và giải quyết mâu thuẫn đó bằng lý luận vềhàng hóa sức lao động
1.2 Hàng hoá sức lao động
C.Mác đã tìm ra câu trả lời đó chính là hàng hoá sức lao động Sức lao động
là toàn bộ năng lực thể chất và tinh thần tồn tại trong cơ thể và được conngười đem ra vận dụng mỗi khi sản xuất một giá trị sử dụng nào đó Điều
Trang 11kiện để biến sức lao động thành hàng hoá đó chính là người lao động được tự
do về thân thể và người lao động không có đủ tư liệu sản xuất cần thiết để tựmình đứng ra tổ chức sản xuất nên muốn sống chỉ còn cách bán sức lao độngcho người khác sử dụng
Giống như mọi hàng hóa khác, hàng hóa sức lao động cũng có hai thuộc tính:giá trị và giá trị sử dụng Giá trị hàng hoá sức lao động cũng do thời gian laođộng xã hội cần thiết để sản xuất ra và tái sản xuất ra sức lao động gồm giá trị
tư liệu sinh hoạt cần thiết để tái sản xuất sức lao động và nuôi con người laođộng, chi phí đào tạo người lao động Còn giá trị sử dụng hàng hoá sức laođộng là năng lực lao động của con người (thể hiện ra khi tiêu dùng trong quátrình lao động) Giá trị sử dụng hàng hoá sức lao động là giá trị sử dụng đặcbiệt vì trong quá trình tiêu dùng, giá trị sử dụng không mất đi mà còn có khảnăng tạo ra giá trị mới lớn hơn giá trị sức lao động (giá trị thặng dư)
1.3 Sự sản xuất giá trị thặng dư
Mục đích của nhà tư bản ứng ra một số tiền mua tư liệu sản xuất và sức laođộng là để tạo ra giá trị thặng dư Quá trình nhà tư bản tiêu dùng hàng hóasức lao động và tư liệu sản xuất để sản xuất giá trị thặng dư có hai đặc điểm:một là, công nhân làm việc dưới sự kiểm soát của nhà tư bản; hai là, sảnphẩm làm ra thuộc sở hữu của nhà tư bản Ví dụ quá trình sản xuất giá trịthặng dư: Giả sử sản xuất giá trị thặng dư được thực hiện dưới hình thái sảnxuất cụ thể là sản xuất sợi Để tiến hành sản xuất sợi, nhà tư bản phải ứng ra
số tiền là 20USD để mua 1 kg bông, 3USD chi phí hao mòn máy móc để kéo
1 kg bông thành sợi, 5USD mua hàng hoá sức lao động để sử dụng trong 1ngày làm việc 8 giờ Tổng cộng mất 28USD Trong quá trình sản xuất sợi,bằng lao động cụ thể, người công nhân kéo bông thành sợi, theo đó giá trị củabông và hao mòn máy móc được chuyển vào giá trị của sợi; bằng lao động
Trang 12trừu tượng người công nhân tạo ra giá trị mới, giả định, trong 4 giờ lao độngcông nhân đã chuyển toàn bộ 1 kg bông thành sợi Giá trị sợi gồm:
Giá trị 1kg bông chuyển vào: 20USD
Hao mòn máy móc: 3USD
Giá trị mới bằng giá trị sức lao động: 5USD
đó số sợi sản xuất ra có giá trị 56USD Do đó, nhà tư bản thu được lượng giátrị thặng dư là 56USD - 51USD = 5USD
Như vậy, giá trị thặng dư là một bộ phận của giá trị mới dôi ra ngoài giá trị
sức lao động do công nhân làm thuê tạo ra và bị nhà tư bản chiếm không C.
Mác viết: "Bí quyết của sự tự tăng thêm giá trị của tư bản quy lại là ở chỗ tưbản chi phối được một số lượng lao động không công nhất định của ngườikhác" Việc nhà tư bản chiếm đoạt giá trị thặng dư do quá trình sản xuất tưbản chủ nghĩa tạo ra gọi là bóc lột giá trị thặng dư
1.4 Tư bản bất biến và tư bản khả biến
Trong quá trình sản xuất, giá trị của tư liệu sản xuất được lao động cụ thể củangười công nhân chuyển vào sản phẩm mới, và lượng giá trị của chúng không
Trang 13đổi so với trước khi đưa vào sản xuất Bộ phận tư bản này được gọi là tư bảnbất biến, ký hiệu là c
Bộ phận tư bản dùng để mua sức lao động thì lại khác Một mặt, giá trị của nóbiến thành các tư liệu sinh hoạt của người công nhân và biến đi trong tiêudùng của công nhân Mặt khác, trong quá trình sản xuất, bằng lao động trừutượng, người công nhân tạo ra giá trị mới không những đủ bù đắp sức laođộng của mình, mà còn có giá trị thặng dư cho nhà tư bản Do vậy, bộ phận tưbản dùng để mua sức lao động đã có sự biến đổi về lượng trong quá trình sảnxuất Bộ phận tư bản này được gọi là tư bản khả biến, ký hiệu là v
Như vậy, tư bản bất biến là điều kiện cần thiết không thể thiếu được để sảnxuất ra giá trị thặng dư, còn tư bản khả biến có vai trò quyết định ttrong quátrình đó, vì nó chính là bộ phận tư bản đã lớn lên
2 Bản chất của giá trị thặng dư
Giá trị thặng dư là kết quả của sự hao phí sức lao động trong sự thống nhấtcủa quá trình tạo ra và làm tăng giá trị Nếu giả định xã hội chỉ có hai giaicấp: giai cấp tư sản và giai cấp công nhân thì giá trị thặng dư mang bản chấtkinh tế - xã hội là quan hệ giai cấp – quan hệ bóc lột Giá trị thặng dư đượctạo ra bằng lao động sống chứ không phải do máy móc sinh ra
Thước đo để đo lường giá trị thặng dư về lượng:
- Tỉ suất giá trị thặng dư: m’ = m v x 100%
m’ = t '
t x 100%
- Khối lượng giá trị thặng dư: M = m’ V
3 Các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư
3.1 Sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối
Giá trị thặng dư tuyệt đối là giá trị thặng dư thu được do kéo dài thời gian laođộng vượt quá thời gian lao động tất yếu, trong khi năng suất lao động, giá trị
Trang 14sức lao động và thời gian lao động tất yếu không thay đổi Cần hạn chếphương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối Thời gian lao động khôngthể kéo dài vượt quá ngày tự nhiên Do giới hạn về thể chất và tinh thần củangười lao động, cần có thời gian để tái tạo sức lao động.
3.2 Sản xuất giá trị thặng dư tương đối
Giá trị thặng dư tương đối là giá trị thặng dư thu được do rút ngắn thời gianlao động tất yếu bằng cách nâng cao năng suất lao động trong ngành sản xuất
ra tư liệu sinh hoạt để hạ thấp giá trị sức lao động, nhờ đó tăng thời gian laođộng thặng dư lên ngay trong điều kiện độ dài ngày lao động, cường độ laođộng vẫn như cũ
Thí dụ, ngày lao động là 10 giờ, trong đó 5 giờ là lao động tất yếu, 5 giờ làlao động thặng dư Nếu giá trị sức lao động giảm đi 1 giờ thì thời gian laođộng tất yếu xuống còn 4 giờ Do đó, thời gian lao động thặng dư tăng từ 5giờ lên 6 giờ và m' tăng từ 100% lên 150%
Để hạ thấp giá trị sức lao động thì phải giảm giá trị các tư liệu sinh hoạt vàdịch vụ cần thiết cho người công nhân Muốn vậy phải tăng năng suất laođộng xã hội trong các ngành sản xuất tư liệu tiêu dùng và các ngành sản xuất
tư liệu sản xuất để trang bị cho ngành sản xuất ra các tư liệu tiêu dùng
3.3 Giá trị thặng dư siêu ngạch
Giá trị thặng dư siêu ngạch là phần giá trị thặng dư thu được do áp dụng côngnghệ mới sớm hơn các xí nghiệp khác làm cho giá trị cá biệt của hàng hóathấp hơn giá trị thị trường của nó Như thế nhà tư bản chỉ phải bỏ ra ít chi phíhơn các nhà tư bản khác mà vẫn bán được với giá như các nhà tư bản khác, từ
đó thu được giá trị thặng dư cao hơn Khi số đông các xí nghiệp đều đổi mới
kỹ thuật và công nghệ một cách phổ biến thì giá trị thặng dư siêu ngạch củadoanh nghiệp đó sẽ không còn nữa Giá trị thặng dư siêu ngạch là động lựcmạnh nhất để thúc đẩy các nhà tư bản đổi mới công nghệ để tăng năng suất