Mác đã đưa ra quan niệm: “Hàng ngày tái tạo ra đời sống của bản thân mình con người còn tạo ra những người khác, sinh sôi nảy nở - đó là quan hệ giữa chồng và vợ, cha mẹ và con cái, đó l
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG HỒ CHÍ MINH
KHOA LÝ LU ẬN CHÍNH TRỊ
HI ỆN NAY
H ọ và tên sinh viên:
Mã s ố sinh viên:
L ớp, hệ đào tạo:
Lê Th ị Thu Trang
030836200211 D14
Ch ấm điểm
TP H Ồ CHÍ MINH – NĂM 2021
Trang 2M ỤC LỤC
L ời mở đầu
1 Cơ sở lý luận 1
1.1 Khái ni ệm 1
1.2 Ch ức năng của gia đình 1
2 Nh ững biến đổi của gia đình Việt Nam hiện nay 1
2.1 Th ực trạng xã hội hiện nay 1
2.2 Nh ững biến đổi của gia đình Việt Nam 2
2.2.1 Bi ến đổi về quy mô, kết cấu của gia đình 2
2.2.2 Bi ến đổi trong thực hiện các chức năng 3
2.2.3 Bi ến đổi trong các mối quan hệ gia đình 6
3 Phương hướng xây dựng gia đình hiện nay
3.1 Đánh giá sự biến đổi gia đình hiện nay 7
3.2 Phương hướng xây dựng và phát triển gia đình 8
4 K ết luận
TÀI LI ỆU THAM KHẢO
Trang 3L ời mở đầu
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng có câu nói: “Xã hội tốt thì gia đình càng tốt, gia đình tốt thì xã hội mới tốt” Gia đình là một phần không thể thiếu trong cuộc đời
của mỗi con người, nó còn là một tế bào vô cùng quan trọng đối với xã hội, là nhân tố chủ chốt xây dựng và phát triển đất nước
Trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội, các gia đình Việt Nam hiện nay
đã và đang có nhiều sự thay đổi để thích nghi với điều kiện thời đại mới Những thay đổi này có nhiều điểm khác biệt với các giá trị truyền thống và tác động nhiều mặt lên tình hình kinh tế - văn hóa - xã hội - con người
Nhận thức được tầm quan trọng của gia đình và ảnh hưởng của những biến đổi từ gia đình, tôi quyết định lựa chọn chủ đề tiểu luận về những biến đổi của gia đình Việt Nam hiện nay
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, có thể sẽ còn tồn tại các sai sót không đáng có, rất mong sự góp ý và điều chỉnh từ giảng viên để bài tiểu luận được hoàn thiện hơn
Trân trọng cảm ơn
Trang 41 Cơ sở lý luận
1.1 Khái ni ệm
Đề cập đến vấn đề gia đình, trong tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức”, C Mác đã đưa
ra quan niệm: “Hàng ngày tái tạo ra đời sống của bản thân mình con người còn
tạo ra những người khác, sinh sôi nảy nở - đó là quan hệ giữa chồng và vợ, cha
mẹ và con cái, đó là gia đình…”
Có thể hiểu rằng: Gia đình là một hình thức cộng đồng xã hội đặc biệt, được hình thành, duy trì và củng cố chủ yếu dựa trên cơ sở hôn nhân, quan hệ huyết
thống và quan hệ nuôi dưỡng, cùng với những quy định về quyền và nghĩa vụ của các thành viên trong gia đình
1.2 Ch ức năng của gia đình trong xã hội
Thứ nhất, gia đình có chức năng sinh đẻ (tái sản xuất con người) nhằm duy trì
nòi giống, góp phần cung cấp sức lao động, nguồn nhân lực cho xã hội
Th ứ hai là chức năng nuôi dưỡng, giáo dục Gia đình là môi trường xã hội hóa
đầu tiên của con người và là chủ thể của sự giáo dục Đây là chức năng quan trọng trong việc định hướng và hình thành nhân cách cho mỗi người
Chức năng thứ ba của gia đình là chức năng kinh tế, tổ chức tiêu dùng Đây là
chức năng cơ bản quan trọng của gia đình nhằm tạo ra của cải, vật chất, là chức năng đảm bảo sự sống còn của gia đình, đảm bảo cho gia đình được ấm no, giàu
có làm cho dân giàu, nước mạnh
Ngoài ra còn có chức năng thỏa mãn nhu cầu sinh lý, duy trì tình cảm gia đình Đây cũng là chức năng gắn bó mật thiết với sự phát triển tự nhiên về mặt sinh học
và tâm lý, thỏa mãn khao khát bản năng của con người
2 Nh ững biến đổi của gia đình Việt Nam hiện nay
2.1 Th ực trạng xã hội hiện nay
Dưới tác động của công nghiệp hóa – hiện đại hóa, như một xu thế tất yếu, xã
hội hiện đại đang dần khoác lên mình một vỏ bọc mới, quy mô nền kinh tế tăng
Trang 5nhanh, tăng cường hội nhập sâu rộng, nâng cao vị thế trên trường quốc tế Không chỉ phát triển về kinh tế, mà Việt Nam còn có những biến chuyển trong văn
hóa-xã hội Đất nước Việt Nam sau 35 năm đổi mới thật sự đã có những bước tiến vượt
bậc, kéo theo đó là những quan điểm, suy nghĩ mới về các vấn đề xã hội, trong đó
có vấn đề về “Gia đình”- tế bào của xã hội Gia đình trong thời kì quá độ không
chỉ biến đổi về quy mô, kết cấu mà còn cả về chức năng và các mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình
2.2 Nh ững biến đổi của gia đình Việt Nam hiện nay
2.2.1 Bi ến đổi về quy mô, kết cấu của gia đình
Xã hội Việt Nam đang trong thời kì “quá độ”, cuộc sống của thời đại mới có nhiều điểm khác biệt so với trước kia Suy nghĩ của con người ngày càng trở nên độc lập, họ tôn trọng quyền tự do cá nhân, bình đẳng trong lối sống, nếp sinh hoạt hàng ngày và truyền dạy chúng cho các thế hệ sau này Mô hình gia đình truyền
thống với đa thế hệ cùng nhau sống chung một mái nhà dường như đã không còn phù hợp với nhu cầu của con người và điều kiện của ngày nay nữa Thay vào đó, gia đình hạt nhân (đơn thế hệ) lại được đánh giá cao và áp dụng ngày càng rộng rãi vì nó phù hợp với tình hình mới và đáp ứng nhu cầu, tâm lý của con người
thời đại mới
Nói rõ hơn về gia đình hạt nhân, mô hình gia đình này có thể nói là một sự thu nhỏ của gia đình truyền thống về mặt quy mô Nếu ở các gia đình của thời kì trước
có thể tồn tại ba hoặc bốn thế hệ cùng một nhà thì ngày nay, hầu hết mọi người đều
lựa chọn sống trong gia đình hạt nhân với chỉ hai thế hệ (bố mẹ - con), hoặc cá biệt còn có cả gia đình đơn thân (cha hoặc mẹ đơn thân nuôi dạy con)
Khi sống trong một gia đình đơn thế hệ, con người hiện đại cảm thấy thoải mái
và tự do hơn, riêng tư hơn và tránh được những mâu thuẫn giữa các thế hệ (mẹ
chồng – nàng dâu, …) Tuy vậy, những giá trị tình cảm truyền thống trong gia đình
có thể bởi vì sự thu nhỏ quy mô này mà dần nhạt phai, khoảng cách thế hệ ngày càng giãn ra, các thành viên trong gia đình ngày càng xa cách, đó thật sự là một mất mát về tinh thần mà chúng ta cần lưu tâm
Trang 62.2.2 Bi ến đổi trong thực hiện các chức năng
Bi ến đổi về chức năng sinh đẻ (tái sản xuất con người)
Việc sinh đẻ là nhiệm vụ cơ bản và quan trọng của gia đình Các quan điểm về
việc sinh đẻ có tác động to lớn đến chuẩn mực mà các ông bố, bà mẹ hướng đến Ngày nay khi xã hội ngày một phát triển, quan niệm về chuyện sinh sản này cũng
có rất nhiều đổi khác để phù hợp với đời sống đương đại
Cụ thể, ngày trước, chuẩn mực mà các gia đình truyền thống ưa chuộng là đẻ nhiều và phải đẻ con trai Thứ nhất là “đẻ nhiều”, tâm niệm “đông con hơn nhiều
của”, “con đàn cháu đống” đã ăn sâu vào tâm trí của thế hệ ông bà ta ngày trước
Sở dĩ họ cho rằng như vậy là bởi khi sinh nhiều con, sau này bố mẹ, ông bà già yếu
sẽ có con cháu bên cạnh sum vầy, chăm sóc, còn là để dự phòng nếu có tai nạn bất
trắc mất con thì còn đứa khác để nuôi Tuy nhiên, việc đẻ nhiều đã dẫn đến những
hệ lụy mà ai cũng thấy, đó là những đứa trẻ sinh ra trong điều kiện gia đình khó khăn thì không được nuôi dưỡng, học hành đầy đủ, từ đó dẫn đến những gia đình nghèo đói, vất vả và rồi kéo theo sự suy thoái cho xã hội Nhưng đó chưa phải là
tất cả, ngoài quan niệm “đẻ nhiều” thì còn có quan niệm “phải đẻ con trai” Đây là quan niệm “trọng nam khinh nữ” bắt nguồn từ Nho giáo, Khổng Tử đã nói: “Cha
có con trai thì con cũng phải có con trai, nghĩa là ông phải có cháu trai, nếu không được như thế thì bị coi là nhà vô phúc và người con trai đó bị coi là bất hiếu” Sự sùng bái lệch giới tính “Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô” này trong một thời gian dài đã gây nên ám ảnh nghiêm trọng đến ý thức hệ cho cả một thời đại, gây ra
sự bất bình đẳng cho cả một xã hội và tàn dư của nó vẫn còn tồn đọng đến tận bây
giờ
Nhưng ngày nay, dưới thời kì quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội, con người ở thời đại mới với tư tưởng tiến bộ đã có cách nhìn nhận khác biệt và tiến bộ hơn so với
thời kì trước Đó là đẻ ít và tôn trọng giới tính của con cái Ở Việt Nam, từ những năm 70 và 80 của thế kỉ trước, Nhà nước đã tiến hành vận động chính sách kế hoạch hóa gia đình, khuyến khích mỗi cặp vợ chồng chỉ nên sinh 1-2 con Bước sang thập niên đầu thế kỉ 21, dân số đang trên đà già hóa, vì đảm bảo lợi ích gia
Trang 7đình và xã hội, Nhà nước đã điều chỉnh thông điệp “Dù gái hay trai, chỉ hai là đủ” khuyến khích mỗi cặp vợ chồng nên sinh đủ hai con Việc sinh con ít không chỉ
phụ thuộc vào chính sách phát triển bền vững của nhà nước mà còn bị tác động không ít từ điều kiện làm việc, nhịp sống bận rộn của các bậc cha mẹ trong vòng xoáy phát triển kinh tế Để tập trung cho sự nghiệp và có nhiều thời gian cho bản thân hơn nên con người thời đại mới chọn việc sinh ít con Sự thay đổi thứ hai về chức năng sinh đẻ của gia đình, đó là đề cao sự bình đẳng giới tính con cái Mặc
dù những tàn dư của quan niệm “Trọng nam khinh nữ” vẫn còn dai dẳng nhưng tư tưởng về sự bình đẳng đã được tôn vinh hơn bao giờ hết, gái hay trai đều như nhau,
“có hoa mừng hoa, có nụ mừng nụ”
Nhìn chung, trong gia đình hiện đại, sự bền vững của hôn nhân phụ thuộc chủ
yếu vào tâm lý, tình cảm, kinh tế, học vấn và nhiều yếu tố khác chứ không còn là
việc có con hay con trai hay không Sự biến đổi trong chức năng sinh đẻ là một cột
mốc đánh dấu sự tiến bộ trong hệ tư tưởng của con người thời kì mới
Bi ến đổi về chức năng kinh tế và tổ chức tiêu dùng
Thực tế cho thấy rằng xã hội mới hiện nay chức năng sản xuất đang dần bị suy
giảm hoặc mất đi, thay vào đó chức năng tiêu dùng lại được tăng cường Lí do để
giải thích cho hiện tượng này chính là do sự chuyển đổi của kinh tế gia đình qua hai hình thức: thứ nhất, chuyển đổi từ kinh tế tự cung tự cấp sang kinh tế hàng hóa
và thứ hai là sự mở rộng quy mô kinh tế từ việc sản xuất đáp ứng nhu cầu trong nước sang đáp ứng nhu cầu toàn cầu
Từ một đơn vị sản xuất khép kín chỉ để đáp ứng nhu cầu gia đình, thì nay trở thành đơn vị đáp ứng nhu cầu của người khác hay xã hội Dưới cơ chế xã hội lấy việc sản xuất phục vụ cho sự trao đổi thì việc sản xuất tự cung tự cấp của gia đình
bị suy giảm Sự phát triển của kinh tế hàng hóa làm cho nguồn thu nhập gia đình tăng lên, từ đó khiến gia đình trở thành một đơn vị tiêu dùng quan trọng trong xã
hội Chính xu hướng cá nhân hóa thu nhập này đã dẫn đến phạm vi hoạt động như một đơn vị kinh tế của gia đình bị thu hẹp lại
Trang 8Bối cảnh hội nhập kinh tế thế giới như hiện nay kéo theo sự cạnh tranh sản phẩm mạnh mẽ với các nước trên khu vực và trên thế giới, kinh tế gia đình gặp khá nhiều khó khăn vì phần lớn các gia đình có quy mô kinh tế nhỏ, tự sản xuất là chính, khó chuyên sâu trong nền kinh tế hàng hóa hiện đại
Bi ến đổi về chức năng giáo dục (xã hội hóa)
Vấn đề biến đổi rõ rệt nhất về chức năng giáo dục trong thời đại hiện nay, đó là: vai trò giáo dục của các chủ thể trong gia đình có xu hướng giảm, tuy vậy tiêu chuẩn giáo dục con cái của các gia đình lại có xu hướng tăng
Cụ thể, thay vì giống như ngày trước con cái bị đặt nặng về giáo dục đạo đức,
lối giao tiếp, ứng xử sao cho khuôn phép với dòng họ, làng xóm, thì nay với hệ thống giáo dục xã hội đang ngày càng được phát triển và mở rộng, con cái trong các gia đình được trang bị kiến thức khoa học hiện đại, tư duy phát triển để hòa
nhập toàn cầu Nhà trường, các trung tâm giáo dục đang dần phát huy tối ưu vai trò giáo dục xã hội vì thế mà chức năng giáo dục của gia đình giảm đi Tuy nhiên, trong môi trường giáo dục của nhà trường cũng có nhiều hạn chế, con cái ít bị đặt
nặng vấn đề đạo đức nên thường phát sinh những hiện tượng tiêu cực như bỏ học, nói tục, cư xử kém, tệ nạn xã hội, … Đây có thể xem là mâu thuẫn thực tế giữa giáo dục xã hội và giáo dục gia đình
Mặc dù vai trò giáo dục của gia đình giảm nhưng tiêu chuẩn chất lượng giáo dục lại được phần lớn các gia đình quan tâm hơn bao giờ hết Tất cả cũng bởi vì quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa hiện nay của đất nước cũng như xu thế bắt
kịp thế giới, đòi hòi nguồn nhân lực chất lượng cao để đáp ứng nhu cầu xã hội Cha
mẹ kì vọng và quan tâm nhiều hơn đến việc học tập của con cái, tuy nhiên điều này lại không đều với tất cả Theo các cuộc khảo sát về mức độ quan tâm giáo dục, người miền núi/dân tộc thiểu số ít chăm lo đến việc học tập của con hơn các gia đình đồng bằng và thành thị Người dân thành thị đầu tư tài chính và tạo điều kiện cho con cái họ phát triển ngay từ khi chúng còn nhỏ tuổi (7-14 hoặc thậm chí nhỏ hơn) Điều này cũng gây ra sự chênh lệch tri thức đối với thế hệ trẻ hiện nay
Trang 9Bi ến đổi về chức năng thỏa mãn nhu cầu tâm sinh lý, duy trì tình cảm
- Nhu cầu tình cảm được xem trọng hơn là trách nhiệm, ràng buộc lẫn nhau: Trong gia đình hiện nay, nhu cầu tâm sinh lý, tình cảm đang dần tăng lên Sự bền vững,
hạnh phúc của gia đình không còn phụ thuộc nhiều vào vấn đề kinh tế mà chủ yếu
là sự hòa hợp trong đời sống tình cảm giữa các thành viên trong gia đình
- Tình cảm của các thành viên trong gia đình hiện đại có thể kém phong phú hơn
so với hình thái gia đình truyền thống, một phần vì chính sách sinh ít con của chính
phủ và cũng đến từ nhận thức, mong muốn của vợ chồng Điều này làm cho những ông bà, bố mẹ, con cái thiếu sự cảm nhận đa dạng về các mối quan hệ trong gia đình như tình anh/chị/em, …
- Phân hóa giàu nghèo: Kinh tế toàn cầu hóa tác động đến phân hóa giàu nghèo
giữa các gia đình
Quan h ệ hôn nhân và quan hệ vợ chồng
Dưới tác động của khoa học công nghệ và xu hướng đề cao sự tự do hóa cá nhân, mối quan hệ hôn nhân thời hiện đại đang tồn tại nhiều mặt trái Thứ nhất, trong thời kì hội nhập, con người trở nên bận rộn hơn rất nhiều, công việc căng
thẳng, áp lực, di chuyển nhiều, … khiến cuộc sống hôn nhân của các cặp vợ
chồng trở nên lỏng lẻo hơn Điều này dễ nhận thấy khi tỉ lệ ly hôn ngày một cao, đặc biệt là ở các gia đình trẻ Theo khảo sát năm 2019, Tổng cục Thống kê cho
thấy tỉ lệ ly hôn ở Việt Nam từ 1,4% (2009) đã tăng lên 2,1%, trung bình hằng năm Việt Nam có 600000 vụ ly hôn, trong đó phần lớn là do phụ nữ đệ đơn Không dừng lại ở đó, tình trạng vợ chồng ly thân, ngoại tình, giới trẻ sống thử, chung sống không kết hôn cũng gia tăng đáng kể Bên cạnh đó, bạo lực gia đình, xâm hại tình dục vẫn còn là một vấn nạn Kết hôn đồng tính đang dần được xã
hội chấp nhận, hiện tượng này đang diễn ra chủ yếu ở giới trẻ, tuy nhiên vẫn chưa được pháp luật nước ta cho phép Áp lực từ công việc cũng khiến rất nhiều người lựa chọn kết hôn muộn hoặc thậm chí không kết hôn
Trang 10Ngoài ra, trong quan hệ vợ chồng, vai trò của người phụ nữ đang dần được
khẳng định nhờ vào kết quả của phong trào nữ quyền Các thành viên trong gia đình và xã hội đang góp phần san sẻ gánh nặng công việc nội trợ cho người phụ
nữ, tạo cơ hội giúp họ phát huy tiềm năng của mình trong việc hội nhập và phát triển
Quan h ệ giữa giá trị, chuẩn mực văn hóa gia đình
Phần lớn hình thái gia đình hiện nay là gia đình hạt nhân, tồn tại khá ít mô hình gia đình truyền thống Nếu trong gia đình truyền thống, các thế hệ cùng chung sống dưới một mái nhà, tình cảm giữa ông bà – cha mẹ - con cháu được gắn kết thì ngày nay, mối quan hệ này đang dần phai nhạt đi rất nhiều Khoảng cách thế hệ cũng góp phần gây nên những mâu thuẫn trong lối suy nghĩ và cách hành xử của các thành viên trong gia đình đối với nhau Ông bà thường bảo thủ và áp đặt, con cháu
thế hệ sau lại mang tư duy phóng khoáng, tự do Gia đình càng nhiều thế hệ, mâu thuẫn các thế hệ càng lớn
Một vấn đề nữa phát sinh, đó là sự thay đổi về chuẩn mực văn hóa gia đình Tầm quan trọng của giáo dục từ gia đình dần giảm sút, con cái của các gia đình hiện đại
chủ yếu được giáo dục từ hệ thống giáo dục xã hội, giáo dục gia đình từ lời dạy dỗ, khuyên bảo của ông bà, cha mẹ dần ít đi và bị coi nhẹ Sự thiếu quan tâm từ gia đình chính là một trong những nguyên nhân phát sinh tệ nạn xã hội: trẻ em nghiện hút, bạo lực gia đình, bạo lực học đường, … gây nên nguy cơ đe dọa hạnh phúc gia đình
3.1 Đánh giá sự biến đổi gia đình hiện nay
M ặt tích cực
Sự biến đổi về quy mô, kết cấu, chức năng cũng như các mối quan hệ trong gia đình giúp các gia đình ngày càng hoàn thiện, linh động thích nghi trong môi trường phát triển, năng động Gia đình Việt Nam đang dần tiếp cận nền văn minh, giá trị