Theo định nghĩa của triết học Mác – Lênin, ý thức là một phạm trù song song, được quyết định với phạm trù vật chất, có mối quan hệ hữu cơ với vật chất, và theo đó ý thức là sự phản ánh n
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐH KINH TẾ QUỐC DÂN
VIỆN THƯƠNG MẠI VÀ KINH TẾ
QUỐC TẾ
TIỂU LUẬN
LỚP : TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN _(120)_10 KHÓA
62
0
– 2020
Trang 2PHẦN MỞ ĐẦU
Ý thức là một trong hai phạm trù thuộc vấn đề cơ bản của triết học Nó
là hình thức cao của sự phản ánh của thực tại khách quan, hình thức mà riêng con người mới có ý thức của con người là cơ năng của cái “ khối vật chất đặc biệt phức tạm mà người ta gọi là bộ óc con người” (theo LêNin) Tác động của
ý thức xã hội đối với con người là vô cùng to lớn Nó không những là kim chỉ nam cho hoạt động thực tiễn mà con là động lực thực tiễn Sự thành công hay thất bại của thực tiễn, tác động tích cực hay tiêu cực của ý thức đối với sự phát triển của tự nhiên, xã hội chủ yếu phụ thuộc vào vai trò chỉ đạo của ý thức mà biểu hiện ra là vai trò của khoa học văn hoá và tư tưỏng
Vì vậy, em chọn đề tài “ Phân tích quan niệm của chủ nghĩa duy vật biện chứng về ý thức và vai trò của ý thức trong thực tiễn và liên hệ với thực tiễn đổi mới ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài nghiên cứu
Bài tiểu luận của em đã hoàn thành, song do mới tiếp cận với triết học, cũng như năng lực nghiên cứu còn hạn chế nên khó có thể tránh được những thiếu sót nhất định; rất mong nhận được ý kiến đánh giá từ giáo viên hướng dẫn Phạm Văn Sinh để bài tiểu luận của em được hoàn chỉnh hơn Em xin chân thành cảm ơn
Trang 3PHẦN NỘI DUNG
I. QUAN NIỆM CỦA CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG VỀ Ý
THỨC VÀ VAI TRÒ CỦA Ý THỨC
1. Ý THỨC LÀ GÌ? NGUỒN GỐC, BẢN CHẤT, THUỘC TÍNH VÀ KẾT CẤU CỦA Ý THỨC
Ý thức là một trong hai phạm trù cơ bản được nhiều trường phái triết học quan tâm nghiên cứu Tuy nhiên tùy theo các cách lý giải khác nhau
mà đã xuất hiện những quan niệm rất khác nhau và từ đó trở thành cơ sở để hình thành các trường phái triết học khác nhau Trong đó, hai đường lối cơ bản đối lập nhau là chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm
Đứng vững trên lập trường của chủ nghĩa duy vật biện chứng mà cốt lõi
là chủ nghĩa duy vật kết hợp với phép biện chứng, triết học Mác – Lênin đã góp phần làm sáng tỏ vấn đề ý thức cùng với mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức
Theo định nghĩa của triết học Mác – Lênin, ý thức là một phạm trù song song, được quyết định với phạm trù vật chất, có mối quan hệ hữu cơ với vật chất, và theo đó ý thức là sự phản ánh năng động, sáng tạo thế giới vật chất khách quan vào bộ óc con người Ý thức dùng để chỉ toàn bộ đời sống tinh thần của con người, bao gồm nhiều yếu tố khác nhau như tri thức, tình cảm và trong đó nhân tố căn bản nhất theo lí luận triết học Mác là tri thức
1.1 Nguồn gốc của ý thức
a Theo quan điểm của chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa duy vật trước Mác
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy tâm, khi lý giải về nguồn gốc ra
đời của ý thức, các nhà triết học duy tâm quan niệm ý thức là nguyên thể đầu tiên, tồn tại vĩnh viễn, là nguyên nhân sinh thành, chi phối sự tồn tại và biến đổi của toàn bộ thế giới vật chất
Chủ nghĩa duy tâm có thể được chia thành hai khuynh hướng lớn:
Quan điểm của chủ nghĩa duy tâm chủ quan tuyệt đối hóa vai trò của
cảm giác, cùng lúc phủ nhận sự tồn tại của thế giới khách quan và khẳng
Trang 4định mọi sự vật, hiện tượng chỉ là phức hợp những cảm giác của cá nhân, của chủ thể Một số triết gia tiêu biểu của khuynh hướng này có thể kể đến George Berkeley với luận điểm “tồn tại là cảm nhận được”, sự vật chỉ là sự tổng hợp của những biểu tượng và được bao gói trong một cái tên, sự vật cũng mất đi khi cảm giác về nó không còn nữa; hay David Hume với khẳng định rằng tất cả những nội dung của ý thức đều bắt nguồn từ kinh nghiệm giác quan
Trong khi đó, chủ nghĩa duy tâm khách quan lại tuyệt đối hóa vai trò
của lý tính, khẳng định thế giới “ý niệm”, hay “ý niệm tuyệt đối” là bản thể tồn tại khách quan bên ngoài con người, sinh ra toàn bộ thế giới hiện thực Plato và G.Hegel là hai trong số những đại diện tiêu biểu nhất của chủ nghĩa duy tâm khách quan Theo Plato, vốn chịu ảnh hưởng sâu sắc khuynh hướng duy lý trong triết học Hy Lạp cổ đại, đã xem nhẹ vai trò của nhận thức cảm tính và đồng thời tuyệt đối hóa vai trò của nhận thức lý tính Cũng từ đó mà ông chia thế giới thành hai loại: thế giới của những ý niệm
và thế giới của những sự vật cảm tính Theo ông, thế giới của những ý niệm
là tồn tại chân thực, vĩnh viễn, tuyệt đối, bất biến và nó là cơ sở tồn tại của thế giới của các sự vật cảm tính Còn thế giới của các sự vật cảm tính (hay giới tự nhiên) là tồn tại không chân thực, phụ thuộc vào thế giới của các ý niệm, là cái bóng của ý niệm Đồng thời, ông cũng cho rằng để nhận thức được chân lý, người ta phải từ bỏ mọi cái hữu hình cảm tính, “hồi tưởng” lại những gì mà linh hồn bất tử đã quan sát được trong giới ý niệm Quan điểm của Hegel thì cho rằng, khởi nguyên của thế giới không phải là vật chất mà là “ý niệm tuyệt đối” hay “tinh thần thế giới” và ý niệm tuyệt đối tồn tại vĩnh viễn
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật siêu hình, đối lập với các
quan niệm của chủ nghĩa duy tâm, các nhà duy vật siêu hình lại tuyệt đối hóa yếu tố vật chất, đồng nhất vật chất và ý thức, coi ý thức cũng chỉ là một
dạng vật chất đặc biệt, do vật chất sản sinh ra ,“óc tiết ra ý thức cũng như
gan tiết ra mật” Họ coi thế giới giống như một cỗ máy cơ giới khổng lồ
mà mỗi bộ phận tạo nên nói luôn ở trạng thái biệt lập, tĩnh tại và nếu có biến đổi thì đó chỉ là sự tăng giảm đơn thuần về số lượng và do nguyên nhân ngoại sinh gây ra
Điển hình của chủ nghĩa duy vật siêu hình có thể kể đến hệ thống các quan điểm của d’Holbach, Denis Diderot hay Ludwig Feuerbach, Thế giới quan của Holbach được dựng nên từ nền tảng vật chất và ông đã chỉ ra
Trang 5rằng thế giới này không gì khác hơn đó là thế giới vật chất Trong tác phẩm
Hệ thống tự nhiên hay là quy luật của thế giới vật lý và của thế giới tinh thần, ông đã khẳng định “ Thế giới, đó là sự kết hợp kỳ diệu của tất cả những vật đang tồn tại, bất cứ chỗ nào chúng ta cũng chỉ thấy vật chất
và chuyển động; trước mặt chúng ta toàn thế giới chỉ là một sợi dây chuyền vô tận và liên tục của nguyên nhân và kết quả” Diderot cũng cho
thấy tính duy vật triệt để khi quả quyết rằng thế giới là vật chất tồn tại khách quan trong trạng thái thường xuyên vận động và vì thế khởi điểm của thế giới là phải bắt đầu từ vật chất Đối với nhà triết học này, tất cả sự vật hiện tượng trong thế giới đều có chung nguồn gốc vật chất, “cảm giác
là đặc tính chung của vật chất hay là sản phẩm của tính tổ chức của vật chất” Quan điểm của Feuerbach cho rằng bản chất của thế giới là vật chất, giới tự nhiên không hề phụ thuộc vào con người, nằm ngoài tầm kiểm soát của con người, không do một ai sáng tạo ra và không ai có thể tiêu diệt được Bên cạnh đó ông cũng tuyệt đối hóa mọi mặt sinh học của con người, không thấy mặt xã hội của con người
Chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa duy vật siêu hình đều thuộc lớp bản thể học nhất nguyên chứ không phải nhị nguyên hay đa nguyên, cho rằng tất cả thế giới đều thuộc về một bản chất, nguyên lý, chất hay năng lượng, tất cả đều có một khởi nguyên Mặc dù có những ý nghĩa và vai trò nhất định, chúng đều có những quan niệm phiến diện, sai lầm và hạn chế, không thể đạt đến chân lý của sự nhận thức, thiếu cơ sở giải quyết các vấn đề thực tiễn xã hội
b Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng
Karl Marx đã đưa ra khẳng định của quan điểm duy vật biện chứng
về ý thức: “ý thức chẳng qua chỉ là vật chất được đem chuyển vào trong
đầu óc con người và được cải biến đi ở trong đó.”
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, có thể khái quát
ý thức có nguồn gốc tự nhiên và nguồn gốc xã hội
người và hoạt động của nó cùng mối quan hệ giữa con người với thế giới khách quan Trong đó, thế giới khách quan tác động đến bộ óc con người,
từ đó tạo ra khả năng hình thành ý thức của con người về thế giới khách quan Như vậy, ý thức chính là sự phản ánh của con người về thế giới khách quan
Trang 6Nhân tố chủ yếu đầu tiên tạo nên nguồn gốc tự nhiên của ý thức chính là bộ não người Chú nghĩa duy vật biện chứng khẳng định ý thức là hình thức phản ánh đặc trưng chỉ có ở con người và là hình thức phản ánh cao nhất của thế giới vật chất Ý thức là sự phản ánh thế giới hiện thực bởi
lâu dài về mặt sinh vật - xã hội của thế giới vật chất, có cấu trúc đặc biệt phát triển, rất tinh vi và phức tạp, nặng trung bình 1.7 kg, bao gồm 14 -15
tỷ tế bào thần kinh Sự phân khu của não bộ và hệ thống dây thần kinh liên
hệ với các giác quan để thu nhận và xử lý thông tin từ thế giới khách quan vào não bộ, hình thành những phản xạ có điều kiện và không có điều kiện, điều khiển các hoạt động của cơ thể trong quan hệ với thế giới bên ngoài
Nhân tố chủ yếu thứ hai tạo nên nguồn gốc tự nhiên của ý thức là mối quan hệ giữa con người với thế giới khách quan tạo nên hiện tượng
ý thức con người diễn ra trên cơ sở hoạt động sinh lý thần kinh của bộ óc người Sự phụ thuộc của ý thức vào hoạt động của bộ óc thể hiện ở chỗ khi
bộ óc bị tổn thương thì hoạt động ý thức sẽ bị rối loạn Tuy nhiên, nếu chỉ
có bộ óc người mà không có sự tác động của thế giới bên ngoài để bộ óc phản ánh lại tác động đó thì cũng không thể có ý thức Phản ánh là năng lực giữ lại, tái hiện lại của hệ thống vật chất này những đặc điểm của hệ thống vật chất khác trong quá trình trao đổi qua lại của chúng Phản ánh là thuộc tính chung, phổ biến của mọi đối tượng vật chất, song phản ánh được thể hiện dưới nhiều hình thức: phản ánh vật lý, hoá học; phản ánh sinh học; phản ánh tâm lý và phản ánh năng động, sáng tạo (tức phản ánh ý thức) Những hình thức này tương ứng với quá trình tiến hoá của vật chất tự nhiên
Phản ánh vật lý, hoá học là hình thức thấp nhất, đặc trưng cho vật
chất vô sinh Phản ánh vật lý, hoá học thể hiện qua những biến đổi về cơ,
lý, hoá (thay đổi kết cấu, vị trí, tính chất lý – hoá qua quá trình kết hợp, phân giải các chất) khi có sự tác động qua lại lẫn nhau giữa các dạng vật chất vô sinh Ví dụ như mặt nước, mặt gương phản chiếu ánh sáng (sự phản ánh này mang tính đơn giản, không phân biệt, không lựa chọn) Hình thức phản ánh này mang tính thụ động, chưa có định hướng lựa chọn của vật nhận tác động
Phản ánh sinh học là hình thức phản ánh cao hơn, đặc trưng cho
giới tự nhiên hữu sinh Tương ứng với quá trình phát triển của giới tự nhiên
Trang 7hữu sinh, phản ánh sinh học được thể hiện qua tính kích thích, tính cảm ứng, phản xạ Tính kích thích là phản ứng của thực vật và động vật bậc thấp bằng cách thay đổi chiều hướng sinh trưởng, phát triển, thay đổi màu sắc, thay đổi cấu trúc, khi nhận sự tác động trong môi trường sống Chẳng hạn như hoa hướng dương biết hướng về phía mặt trời để hấp thụ được nhiều năng lượng, rễ cây phát triển mạnh về hướng có nhiều dinh dưỡng (sự phản ánh đã có lựa chọn).Tính cảm ứng là phản ứng của động vật có hệ thần kinh tạo ra năng lực cảm giác, được thực hiện trên cơ sở điều khiển của quá trình thần kinh qua cơ chế phản xạ không điều kiện, khi có
sự tác động từ bên ngoài môi trường lên cơ thể sống Ví dụ như mèo xù lông, co mình khi cảm thấy trời lạnh
Phản ánh tâm lý là sự phản ánh đặc trưng cho động vật đã phát
triển đến trình độ có hệ thần kinh trung ương, được thực hiện thông qua cơ chế phản xạ có điều kiện đối với những tác động của môi trường sống Chẳng hạn như con người có tâm lý đau buồn khi người thân yêu mất
Phản ánh ý thức là hình thức phản ánh năng động, sáng tạo chỉ có ở
con người Đây là sự phản ánh có tính chủ động lựa chọn thông tin, xử lý thông tin để tạo ra những thông tin mới, phát hiện ý nghĩa của thông tin Ví
dụ như tác phẩm Tây Du Ký là một tác phẩm hư cấu với những nhân vật hư cấu, tình tiết hư cấu nhưng được viết dựa trên một câu chuyện có thật về một vị sư đã trải qua quãng đường đầy gian truân để thỉnh kinh, truyền dạy cho người trong quốc gia Hình tượng năm thầy trò là sự sáng tạo dựa trên những nét tính cách có thật của con người
Tuy vậy, sự ra đời của ý thức không phải chỉ có nguồn gốc tự nhiên
mà còn do nguồn gốc xã hội Sự phát triển của giới tự nhiên mới tạo ra
tiền đề vật chất có năng lực phản ánh, chỉ là nguồn gốc sâu xa của ý thức
Hoạt động thực tiễn của loài người mới là nguồn gốc trực tiếp quyết định
sự ra đời của ý thức Con người, nhờ có lao động mới làm nảy sinh ra những quan hệ xã hội, mà trước hết là quan hệ trong sản xuất Từ những quan hệ này làm nảy sinh ra ngôn ngữ C.Mác và Ph Ăngghen xũng đã
nhiều lần chỉ rõ rằng, ý thức không những có nguồn gốc tự nhiên mà còn
có nguồn gốc xã hội và là một hiện tượng mang bản chất xã hội.
Hai nhân tố cơ bản và trực tiếp nhất tạo thành nguồn gốc xã hội của
ý thức là lao động và ngôn ngữ
Trang 8Ý thức không chỉ là sự phản ánh tái tạo đơn thuần mà chủ yếu là sự phản ánh sáng tạo hiện thực khách quan Thông qua các hoạt động thực tiễn, những sáng tạo trong tư duy được con người hiện thực hoá, cho ra đời nhiều vật phẩm chưa có trong tự nhiên Đó là “giới tự nhiên thứ hai” in đậm dấu ấn của bàn tay và khối óc con người Bản thân là phương thức tồn tại cơ bản của con người, lao động mang tính xã hội đã làm nảy sinh nhu cầu giao tiếp, trao đổi kinh nghiệm giữa các thành viên trong xã hội Từ nhu cầu đó, bộ máy phát âm, trung tâm ngôn ngữ trong bộ óc con người được hình thành và hoàn thiện dần Ph.Ăngghen viết: “Đem so sánh con người với các loài vật, người ta sẽ thấy rõ rằng ngôn ngữ bắt nguồn từ lao động và cùng phắt triển với lao động, đó là cách giải thích duy nhất đúng
về nguồn gốc của ngôn ngữ”
Ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu vật chất mang nội dung của ý thức Nó xuất hiện trở thành “vỏ vật chất” của tư duy; là hiện thực trục tiếp của ý thức; là phương thức để ý thức tồn tại với tư cách là sản phẩm xã hội - lịch
sử Cùng với lao động, ngôn ngữ có vai trò to lớn đối với sự tồn tại và phát triển của ý thức Ngôn ngữ (tiếng nói và chữ viết) vừa là phương tiện giao tiếp, đồng thời vừa là công cụ của tư duy Nhờ ngôn ngữ con người có thể khái quát, trừu tượng hoá, suy nghĩ độc lập, tách khỏi sự vật cảm tính Cũng nhờ có ngôn ngữ mà con người có thể giao tiếp trao đổi tư tưởng, lưu giữ, kế thừa những tri thức, kinh nghiệm phong phú của xã hội đã tích luỹ được qua nhiều thế hệ cũng như thời kỳ lịch sử Lao động và ngôn ngữ là hai sức kích thích chủ yếu làm chuyển biến dần bộ óc của loài vượn người thành bộ óc con người và tâm lý động vật thành ý thức con người
Xem xét nguồn gốc tự nhiên và nguồn gốc xã hội của ý thức ta nhận thấy, ý thức xuất hiện là kết quả của quá trình tiến hoá lâu dài của giới tự nhiên, của lịch sử trái đất, đồng thời là kết quả trực tiếp của thực tiễn xã hội
- lịch sử của con người Trong đó, nguồn gốc tự nhiên là điều kiện cần, còn
nguồn gốc xã hội là điều kiện đủ để ý thức hình thành, tồn tại và phát triển.
Hoạt động thực tiễn phong phú của loài người chính là môi trường để ý thức hình thành, phát triển và khẳng định sức mạnh sáng tạo của nó
1.2 Bản chất và thuộc tính của ý thức
Trong lịch sử triết học, triết học duy tâm quan niệm ý thức là một thực thể độc lập, là thực tại duy nhất, từ đó cường điệu tính năng động của ý
Trang 9thức đến mức coi ý thức sinh ra vật chất chứ không phải là sự phản ánh của vật chất
Ngược lại, chủ nghĩa duy vật siêu hình lại đi tới tầm thường hóa vai trò của ý thức, coi ý thức cũng chỉ là một dạng vật chất; hoặc coi ý thức chỉ là
sự phán ánh giản đơn, thụ động thế giới vật chất, tách rời thực tiễn xã hội vốn rất phong phú, sinh động Những quan niệm sai lầm đó đã không cho phép con người hiểu được bản chất của ý thức, cũng như biện chứng của quá trình phản ánh ý thức
Chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng ý thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào bộ não con người thông qua thực tiễn, nên:
Thứ nhất, bản chất của ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách
quan, là sự phản ánh tích cực, sáng tạo thế giới vật chất vào bộ óc người.Cũng chính vì vậy mà ý thức có thuộc tính phụ thuộc vào vật chất khách quan và cũng đồng thời mang thuộc tính ảo (hay phi cảm giác) Từ đặc trưng phụ thuộc vào thế giới khách quan của ý thức cho thấy để tìm được nguồn gốc của ý thức phải tìm đến hiện thực khách quan nào Cũng
vì vậy mà V.I Lê-nin đã nhận định rằng ý thức là hình ảnh chủ quan nhưng là của thế giới khách quan (hay nó có nguồn gốc khách quan và phản ánh khách quan) Đồng thời, ý thức mang thuộc tính ảo (hay thuộc tính phi cảm giác) Vì vậy mà để tồn tại trong đời sống thực tế, nó phải mượn hình thái vật chất nào đó để biểu hiện, gọi là ngôn ngữ
Khi nói ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan, cùng có nghĩa là ý thức là sự phản ánh năng động, sáng tạo thế giới Vì vậy mà ý thức mang thuộc tính sáng tạo (hay tạo ra cái mới) Sáng tạo là thuộc tính đặc trưng bản chất nhất của ý thức Tính năng động, sáng tạo của sự phản ánh thể hiện ở khả năng hoạt động tâm – sinh lý của con người trong việc định hướng tiếp nhận thông tin, chọn lọc thông tin, xử lý thông tin, lưu giữ thông tin và trên cơ sở những thông tin đã có, nó có thể tạo ra những thông tin mới và phát hiện ý nghĩa của thông tin được tiếp nhận Tính chất năng động, sáng tạo của sự phản ánh còn được thể hiện ở quá trình con người tạo
ra những ý tưởng, giả thuyết, huyền thoại, trong đời sống tinh thần của mình hoặc khái quát bản chất quy luật khách quan, xây dựng các mô hình
tư tưởng, tri thức trong các hoạt động của con người Sức sáng tạo của ý thức trong tinh thần và sức sáng tạo của con người trong thực tiễn khác nhau về bản chất nhưng chỉ là những biểu hiện khác nhau của năng lực
Trang 10sáng tạo, khẳng định sức mạnh của còn người trong nhận thức và cải tạo thế giới
Thứ hai, ý thức là một hiện tượng xã hội và mang bản chất xã hội, vì
thế mà đồng thời, tính xã hội là một trong những thuộc tính của ý thức Sự
ra đời và tồn tại của ý thức gắn liền với hoạt động thực tiễn, chịu sự chi phối của không chỉ các quy luật tự nhiên mà còn (và chủ yếu là) các quy luật xã hội; được quy định bởi nhu cầu giao tiếp xã hội và các điều kiện sinh hoạt hiện thực của đời sống xã hội Với tính năng động, ý thức đã sáng tạo lại hiện thực theo nhu cầu của thực tiễn xã hội
1.3 Kết cấu của ý thức
Ý thức là một hiện tượng tâm lý – xã hội có kết cấu phức tạp Để có thể hiểu rõ hơn về kết cấu của ý thức, ta cần tiếp cận nghiên cứu nó theo
nhiều hướng, cụ thể là theo yếu tố hợp thành (theo chiều ngang) và theo
chiều sâu của nội tâm (theo chiều dọc).
a Các lớp cấu trúc của ý thức
Theo chiều ngang, ý thức bao gồm những yếu tổ cơ bản nhất là: tri thức, tình cảm và ý chí Trong đó, tri thức là yếu tố quan trọng nhất
Tri thức (sự hiểu biết về các lĩnh vực của đời sống xã hội) là kết quả
quá trình nhận thức của con người về thế giới hiện thực, tái hiện trong tư duy những thuộc tính, những quy luật của thế giới ấy và diễn đạt chúng bằng ngôn ngữ Tri thức là phương thức tồn tại của ý thức và là điều kiện
để ý thức phát triển “Phương thức mà theo đó ý thức tồn tại và theo đó một cái gì đó tồn tại đối với ý thức là tri thức Tri thức là hành vi duy nhất của ý thức Cho nên một cái gì đó nảy sinh ra đối với ý thức chừng nào ý thức biết cái đó” Tri thức có nhiều loại (về tự nhiên, xã hội, con người), nhiều cấp độ (tri thức thường như cảm tính, kinh nghiệm, tiền khoa học; tri thức khoa học như lý tính, lý luận và khoa học)
Tình cảm (tâm trạng, ước vọng, ý chí, nghị lực, ) là những rung
động biểu hiện thái độ của con người đối với nhau, với thực tại xung quanh
và đối với chính bản thân mình Là hình thức đặc biệt của sự phản ánh thực tại (giữa con người với nhau và giữa con người với thế giới khách quan); tình cảm tham gia vào mọi hoạt động của con người; là yếu tố quan trọng
để điều chỉnh các hoạt động đó Tình cảm có tính chủ động và tính thụ động Có nhiều hình thức tình cảm, như tình cảm đạo đức, tình cảm thẩm