Đảng Cộng sản Việt Nam đã trải qua 91 năm hình thành và phát triển, mỗi bước đi của Đảng cộng sản gắn liền với sự phát triển của đất nước Việt Nam. Thời chiến, Đảng lãnh đạo giai cấp công nhân đánh đuổi các thế lực thù địch ra khỏi đất nước, đem sự bình yên đến cho người dân Việt Nam. Trong thời bình, Đảng đã lãnh đạo và chỉ đạo, phát triển nước ta. Để có được các thành tựu như ngày nay, trong quá trình lãnh đạo, Đảng đã áp dụng các phương pháp cách mạng cho từng giai đoạn, từng thời kỳ phát triển của đất nước. Đó là phương pháp bạo lực cách mạng; phương pháp phát huy vai trò, sức mạnh của quần chúng nhân dân; phương pháp thắng từng bước, tiến tới giành thắng lợi cuối cùng; phương pháp dự báo thời cơ, tranh thủ thời cơ; phương pháp phát huy sức mạnh tổng hợp. Các phương pháp được lựa chọn nghiêm túc và linh hoạt. Việc vận dụng này được thể hiện như thế nào tại Đảng bộ Trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh? Kết quả ra sao? Để giải quyết vấn đề này, chúng tôi quyết định đi nghiên cứu đề tài này. Đó là “Phương pháp cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ cách mạng xã hội chủ nghĩa. Liên hệ với trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh trong việc phát huy sức mạnh tổng hợp hoàn thành nhiệm vụ chính trị trong giai đoạn hiện nay”
Trang 1BÀI THU HOẠCH LỚP CAO CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
TÊN MÔN HỌC:
LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
TÊN BÀI THU HOẠCH:
PHƯƠNG PHÁP CÁCH MẠNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ CÁCH MẠNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA LIÊN HỆ VỚI TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRONG VIỆC PHÁT HUY SỨC MẠNH TỔNG HỢP HOÀN THÀNH NHIỆM VỤ CHÍNH TRỊ TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY.
ĐIỂM TRUNG BÌNH CHUNG
TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2021
Trang 2Phần 1: Mở đầu 1
Phần 2: Nội dung 2
1 Khái niệm về phương pháp cách mạng của Đảng 2
1.1 Phương pháp 2
1.2 Phương pháp cách mạng .2
1.3 Phương pháp cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam 2
2 Nguyên tắc của phương pháp cách mạng 2
3 Các phương pháp cách mạng của Đảng 2
3.1 Phương pháp sử dụng bạo lực cách mạng quần chúng đấu tranh với bạo lực phản cách mạng 2
3.2 Phương pháp phát huy vai trò, sức mạnh của quần chúng nhân dân 3
3.3 Phương pháp dự báo thời cơ, tranh thủ thời cơ 4
3.4 Phương pháp thắng từng bước, tiến tới giành thắng lợi cuối cùng 5
3.5 Phương pháp phát huy sức mạnh tổng hợp 6
4 Liên hệ đơn vị công tác 7
Phần 3: Kết luận 12
Danh mục tài liệu tham khảo 13
Trang 3Phần 1: Mở đầu
Đảng Cộng sản Việt Nam đã trải qua 91 năm hình thành và phát triển, mỗi bước đi của Đảng cộng sản gắn liền với sự phát triển của đất nước Việt Nam Thời chiến, Đảng lãnh đạo giai cấp công nhân đánh đuổi các thế lực thù địch ra khỏi đất nước, đem sự bình yên đến cho người dân Việt Nam Trong thời bình, Đảng đã lãnh đạo và chỉ đạo, phát triển nước ta Để có được các thành tựu như ngày nay, trong quá trình lãnh đạo, Đảng đã áp dụng các phương pháp cách mạng cho từng giai đoạn, từng thời kỳ phát triển của đất nước Đó là phương pháp bạo lực cách mạng; phương pháp phát huy vai trò, sức mạnh của quần chúng nhân dân; phương pháp thắng từng bước, tiến tới giành thắng lợi cuối cùng; phương pháp dự báo thời cơ, tranh thủ thời cơ; phương pháp phát huy sức mạnh tổng hợp Các phương pháp được lựa chọn nghiêm túc và linh hoạt Việc vận dụng này được thể hiện như thế nào tại Đảng bộ Trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh? Kết quả ra sao?
Để giải quyết vấn đề này, chúng tôi quyết định đi nghiên cứu đề tài này Đó là
“Phương pháp cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ cách mạng xã hội chủ nghĩa Liên hệ với trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh trong việc phát huy sức mạnh tổng hợp hoàn thành nhiệm vụ chính trị trong giai đoạn hiện nay”
Bài nghiên cứu gồm có các nội dung sau:
Phần 1: Mở đầu
Phần 2: Nội dung
1 Khái niệm về phương pháp cách mạng của Đảng
2 Các nguyên tắc của phương pháp cách mạng
3 Các phương pháp cách mạng của Đảng
4 Liên hệ thực tiễn Phần 3: Kết luận
Trang 4Phần 2: Nội dung
1 Khái niệm về phương pháp cách mạng của Đảng
1.1 Phương pháp là phạm trù chỉ những biện pháp, hình thức, cách thức, mà
chủ thể lựa chọn sử dụng để xác định và giải quyết một yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra hoặc đáp ứng một đòi hỏi nhất định của thực tiễn
1.2 Phương pháp cách mạng chỉ chung tất cả những hình thức hoạt động,
cách thức tiến hành mà một chính đảng cách mạng sử dụng để vận động quần chúng thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ, nhằm đưa cách mạng đến thành công
1.3 Phương pháp cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam là phạm trù để
chỉ biện pháp, hình thức, cách thức mà Đảng Cộng sản Việt Nam sử dụng trong việc xác định phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ, xây dựng và giải quyết các mối quan
hệ một cách khoa học, nhằm thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ của cách mạng
2 Nguyên tắc của phương pháp cách mạng
Có hai nguyên tắc, đó là:
- Phương pháp vừa là khoa học vừa mang tính nghệ thuật
- Phương pháp là yếu tố quan trọng để xây dựng đường lối đúng và cũng là yếu
tố quyết định việc tổ chức thực hiện thắng lợi nhiệm vụ cách mạng Chúng có tác động qua lại với nhau, biến đường lối thành hiện thực, bổ sung hoàn thiện đường lối Đây chính là một trong những nhân tố quyết định thắng lợi cách mạng Do đó, phương pháp không thích hợp sẽ làm cho cách mạng dậm chân tại hoặc thất bại tạm thời
3 Các phương pháp cách mạng của Đảng
3.1 Phương pháp sử dụng bạo lực cách mạng quần chúng đấu tranh với bạo lực phản cách mạng
Một số quan điểm về bạo lực cách mạng: Theo Ph.Ăngghen, bạo lực là công
cụ của xã hội đang vận động, dùng để đập tan những thế lực chính trị đã lạc hậu, phản động Chủ nghĩ Mác – Lênin cho rằng bạo lực là quy luật phổ biến của cách mạng Và Hồ Chí Minh đã nói bản thân từ thực dân tự nó đã nói lên bạo lực rồi Bạo lực quần chúng nhằm lật đổ cả một chế độ bóc lột Trong cương lĩnh chính trị đầu tiên, Đảng ta cũng chủ trương sử dụng bạo lực cách mạng để giành chính quyền
Trong lịch sử cách mạng Việt Nam, bạo lực cách mạng gồm những hình thức đấu tranh được sử dụng làm công cụ để đập tan bộ máy chính quyền phong kiến thực
Trang 5dân đế quốc, thiết lập và bảo vệ chính quyền cách mạng, vì độc lập, thống nhất, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước Tính chất, đặc điểm chính trị, xã hội của nước ta là một nước thuộc địa, nửa phong kiến, kẻ thù luôn dùng bạo lực đàn áp quần chúng Đặc điểm trên quy định phương pháp cách mạng dân tộc dân chủ ở nước ta là bằng con đường cách mạng bạo lực
Bạo lực cách mạng nhất thiết phải là bạo lực của đông đảo quần chúng, dựa vào hai lực lượng chủ yếu: lực lượng quân sự và lực lượng chính trị, hai hình thức đấu tranh chủ yếu: đấu tranh quân sự, đấu tranh chính trị và sự kết hợp giữa hai hình thức ấy Mỗi thời điểm khác nhau, trên những địa bàn khác nhau, sử dụng các hình thức đấu tranh phù hợp và phối hợp giữa các hình thức khác nhau thể hiện rất rõ sự sáng tạo, linh hoạt về phương pháp cách mạng của Đảng
Ví dụ: Trong cuộc chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), Đảng lãnh đạo nhân dân thực hiện mục tiêu hoàn thành giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước Những vấn
đề cơ bản của phương pháp tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam là sử dụng bạo lực cách mạng với hai lực lượng: lực lượng chính trị quần chúng và lực lượng vũ trang nhân dân; tiến hành khởi nghĩa từng phần tiến lên tổng khởi nghĩa và
từ khởi nghĩa từng phần chuyển sang tiến hành chiến tranh cách mạng; kết hợp khởi nghĩa quần chúng với chiến tranh cách mạng, nổi dậy và tiến công, tiến công và nổi dậy; đánh địch trên cả ba vùng chiến lược: rừng núi, nông thôn đồng bằng và thành thị; đánh địch bằng cả ba mũi giáp công: quân sự, chính trị và binh vận; kết hợp ba thứ quân: bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích; kết hợp chiến tranh du kích với chiến tranh chính quy; kết hợp đánh lớn, đánh vừa và đánh nhỏ; làm chủ để tiêu diệt địch, tiêu diệt địch để làm chủ Tóm lại, thời kỳ kháng chiến chống đế quốc Mĩ sử dụng hình thức bạo lực rất linh hoạt
3.2 Phương pháp phát huy vai trò, sức mạnh của quần chúng nhân dân
Một số quan điểm về nhân dân: Theo chủ nghĩa Mác – Lênin, quần chúng nhân dân là chủ thể sáng tạo nên lịch sử Theo chủ tịch Hồ Chí Minh, khi nói về nhân dân,
Người đã nói “Dễ mười lần không dân cũng chịu, khó trăm lần dân liệu cũng xong” Tức là đem sức của dân, tiền của dân, của cải của dân để phục vụ cho dân Chủ nghĩa xã hội chỉ có thể xây dựng thành công trên cơ sở phát huy cao độ vai trò, tiềm năng, sức mạnh, sự sáng tạo của nhân dân Theo Đảng cộng sản Việt nam, cách mạng là sự nghiệp của dân, do dân và vì dân Quan điểm này được nhắc đến trong đại hội như “ phải quán triệt quan điểm dân là gốc, vì lợi ích nhân dân, dựa vào dân, phát huy vai trò làm chủ, tinh thần trách nhiệm, sức sáng tạo và mọi nguồn lực của nhân dân” (Đại
Trang 6hội XII), “ Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” (Đại hội XIII)
Trong thời kỳ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, lấy công – nông làm nòng cốt, huy động các tầng lớp nhân dân tham gia kháng chiến: tri thức, tiểu tư sản, phong kiến,… Trong thời kỳ cách mạng xã hội chủ nghĩa, phát huy cao độ vai trò
làm chủ của nhân dân về chính trị, kinh tế, văn hóa,…Cụ thể: về chính trị: Đảng
phải chủ trương và tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân tích cực tham gia xây dựng
hệ thống chính trị Về kinh tế: phát triền nền kinh tế nhiều thành phần, khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với giảm nghèo bền vững, phát triển kinh tế tư nhân Về văn hóa: xã hội hóa các hoạt động văn hóa, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, phong trào “ toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” Về xã hội: huy
động sức dân đi đôi với bồi dưỡng sức dân, chăm lo sức khỏe cho nhân dân, phát
triển giáo dục – đào tạo, thực hiện tiến bộ công bằng xã hội Về quốc phòng – an ninh: xây dựng thế trận toàn dân, an ninh nhân dân “thế trận toàn dân” là nền tảng xây dựng quân dội, công an nhân dân Về đối ngoại: Phát triển công tác đối ngoại
nhân dân theo phương châm “linh hoạt, sáng tạo và hiệu quả” Đồng thời, phát huy vai trò của nhân dân không chỉ trong thực hiện mà cả trong xây dựng đường lối Đó
là động viên được đông đảo các tầng lớp nhân tham gia góp ý xây dựng đường lối, làm cho đường lối của Đảng phản ánh được ý chí, tâm tư, nguyện vọng, quyền lợi của nhân dân Cuối cùng, phát huy vai trò, sức mạnh của nhân dân trong cách mạng
là một quy luật
3.3 Phương pháp dự báo thời cơ, tranh thủ thời cơ
Trong thời kỳ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, Đảng ta:
- Xác định các yếu tố khách quan tạo ra thời cơ, nó được thể hiện thông qua hội nghị Trung ương 8 (5/1941) “Tàu Tưởng đánh bại Nhật, cách mạng Nhật hay Pháp thành công, phe dân chủ giành thẳng lợi ở Thái Bình Dương, Liên Xô đại thắng” hay nhận định của Trung ương Đảng (2/1943) “phong trào cách mạng Đông Dương có thể bổng chốc tiến lên bằng những bước nhảy cao”
- Dự báo thời cơ chính xác, cụ thể chỉ thị Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta (12/3/1945) dự báo: Nhật đầu hàng Đồng minh nhưng Đồng minh chưa kịp vào nước ta (từ 15 đến 28/8/1945), hay Hội nghị Bộ chính trị giai đoạn 1974 –
1975 cũng nhận định “chưa bao giờ ta mạnh như lúc này cả thế và lực, chưa bao giờ ngụy lại yếu như lúc này, thời cơ giải phòng miền Nam đã đến.”
- Xây dựng lực lượng đủ mạnh để tạo và nắm bắt thời cơ
Trang 7- Khi thời cơ đến thì phải quyết tâm giành thắng lợi, cụ thể: Hồ Chí Minh khẳng định: “dù có phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải giành cho được độc lập”, hay chiến dịch Hồ Chí Minh, xác định “thần tốc, thần tốc hơn nữa, táo bạo, táo bạo hơn nữa,…”
Ví dụ: Trong cuộc kháng chiến chổng Mỹ, cứu nước, Đảng nắm vững phương châm chiến lược đánh lâu dài; đồng thời, biết tạo thời cơ, nắm vững thời cơ, mở những cuộc tiến công chiến lược làm thay đổi cục diện chiến tranh, tiến lên tổng lien công
và nổi dậy mạnh mẽ để giành thắng lợi cuối cùng Đây là một trong những cách đánh và cách thắng sát đúng với đặc điểm và thực tiễn cách mạng nước ta Nghệ thuật chớp thời cơ của Đảng thể hiện rõ nhất trong Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 Khi tình thế cách mạng trên chiến trường miền Nam chuyển biến có lợi, Hội nghị Bộ Chính trị mở rộng (từ ngày 18/12/1974 đến ngày 8/01/1975) nhận định: thời cơ giải phóng hoàn toàn miền Nam đã đển và quyết định giải phóng miền Nam trong hai năm
1975-1976; trong đó, năm 1975 tạo tiền đề để năm 1976 tiến tới tổng công kích, tổng khởi nghĩa Táo bạo mở chiến dịch Phước Long thắng lợi, đẩy chính quyền Sài Gòn tiến gần đến “ngày tận thế” Đó là thời cơ chiến lược thúc đẩy Đảng nhanh chóng đi tới quyết định mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy với mục tiêu cuối cùng
là đánh thẳng vào Sài Gòn - trung tâm đầu não của địch, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc Đảng nhận thức sâu sắc: thời gian là lực lượng, kịp thời chỉ đạo phát huy sức mạnh tổng hợp của cả dân tộc cho trận quyết chiến cuối cùng Sau Chiến dịch Tây Nguyên toàn thắng (3/1975), Bộ Chính trị hạ quyết tâm chuyển cuộc tiến công chiến lược thành cuộc Tổng tiến công chiến lược, nhằm hoàn thành
kế hoạch trong hai năm (1975 và 1976) trước mùa mưa năm 1975 Đây là một quyết định chiến lược dũng cảm và chinh xác Nhờ đó, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, mà đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử giành toàn thắng
Trong thời kỳ cách mạng xã hội chủ nghĩa, Đảng ta đã tranh thủ, nắm bắt thời
cơ, đẩy lùi nguy cơ, tạo và nắm bắt thời cơ là một nghệ thuật
3.4 Phương pháp thắng từng bước, tiến tới giành thắng lợi cuối cùng
Trong thời kỳ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, cách mạng là tiến công nhưng phải vững chắc; Việt Nam là một dân tộc nhỏ muốn đánh thắng đế quốc to phải biết thắng từng bước; tuân thủ theo quy luật lượng đổi chất đổi; phân tích so sánh sự tương quan, xác định kẻ thù, mục tiêu, nhiệm vụ trước mắt; nắm vững, kiên định mục tiêu cuối cùng (có tính nguyên tắc)
Trang 8Ví dụ: Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, nắm vững phương châm chiến lược đánh lâu dài, cách mạng miền Nam chuyển từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công, mở đầu bằng phong trào Đồng khởi; thực hiện chiến tranh cách mạng, lần lượt đánh bại các chiến lược chiến tranh của Mỹ; thực hiện từng bước “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”; biết tạo thời cơ và nắm vững thời cơ, mở những trận tiến công chiến lược làm thay đổi nhanh chóng cục diện chiến tranh, tiến lên thực hiện tổng tiến công và nổi dậy rộng khắp, giành thắng lợi cuối cùng bằng Đại thắng mùa Xuân năm 1975
Trong thời kỳ cách mạng xã hội chủ nghĩa, Đảng phải có hình thức và bước
đi thích hợp; đổi mới có trọng tâm và trọng điểm; kiên trì thực hiện các mục tiêu chiến lược lâu dài, các nhiệm vụ cơ bản
3.5 Phương pháp phát huy sức mạnh tổng hợp
Trong thời kỳ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, phát huy sức mạnh tổng hợp bằng sự phối hợp nhiều lực lượng, nhiều cách đánh khác nhau, nhiều hình thức đấu tranh khác nhau trên nhiều địa bàn khác nhau một cách thích hợp là nét đặc sắc
về phương pháp tiến hành cách mạng, là quy luật phát triển thắng lợi của cách mạng nước ta
Ví dụ: Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), Đảng đã xây dựng được các căn cứ địa, vùng giải phóng, các căn cứ lõm, cơ sở ở sâu trong lòng địch, trong đó cơ bản nhất là “căn cứ trong lòng dân” Đặc biệt, Đảng đã xây dựng hậu phương miền Bắc xã hội chủ nghĩa, đóng vai trò quan trọng quyết định nhất đối với sự phát triển của cách mạng cả nước, đối với sự nghiệp thống nhất đất nước Ngay từ những năm đầu kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Đảng đã sớm xác định: Muốn thống nhất đất nước, điều cốt yếu là ra sức củng cố miền Bắc, đồng thời giữ vững và đẩy mạnh cuộc đấu tranh ở miền Nam Đảng xác định trong bất cứ hoàn cảnh nào, miền Bắc cũng phải tiến lên chủ nghĩa xã hội và trên thực tế “miền Bắc
đã dốc vào chiến tranh cứu nước và giữ nước toàn bộ sức mạnh của chê độ xã hội chủ nghĩa và đã làm tròn một cách xuất sắc nghĩa vụ căn cứ địa cách mạng của cả nước”
Trong thời kỳ cách mạng xã hội chủ nghĩa, phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, của hệ thống chính trị; phát huy sức mạnh của các thành phần kinh tế, các dân tộc, thế giới; phát huy sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại
Trang 94 Liên hệ đơn vị công tác
Đảng bộ Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh (ghi tắt là Đảng
bộ Trường) hiện có 36 chi bộ, trong đó có 3 chi bộ sinh viên Tổng số đảng viên của Đảng bộ Trường là 366 người, trong đó có 89 đảng viên là sinh viên (chiếm 24.31%),
277 đảng viên là công chức, viên chức (chiếm 75.68%) Tính đến tháng 10/2021, đội ngũ của Trường có 807 công chức, viên chức, gồm 504 giảng viên, 09 nghiên cứu viên, 70 giáo viên và 224 viên chức hành chính Trong lực lượng giảng viên, có 03 giáo sư, 31 phó giáo sư, 143 tiến sĩ, 280 thạc sĩ và 45 cử nhân
Ban Chấp hành Đảng bộ Trường luôn phát huy vai trò hạt nhân chính trị lãnh đạo các hoạt động của Nhà trường; triển khai thực hiện các Nghị quyết, Kết luận của Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII; Nghị quyết chương trình hành động của Ban Chấp hành Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh; Nghị quyết chương trình hành động của Ban Chấp hành Đảng bộ Khối Đại học, Cao đẳng Thành phố
Hồ Chí Minh và các nghị quyết của Đảng bộ Trường đến các đảng viên, công chức, viên chức, người lao động và người học tại Trường Đặc biệt, Đảng bộ Trường tập trung triển khai các giải pháp đồng bộ để lãnh đạo chính quyền và các đoàn thể trong Nhà trường thực hiện Nghị quyết 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế Đây là Nghị quyết chiến lược ảnh hưởng rất lớn đến sự nghiệp đổi mới giáo dục và đào tạo Đồng thời, Đảng bộ Trường cũng quán triệt và thực hiện tốt Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, tạo những chuyển biến tích cực trong việc rèn luyện,
tu dưỡng của đảng viên, công chức, viên chức, người lao động và người học
Trong quá trình lãnh đạo, Ban chấp hành Đảng bộ Trường đã sử dụng nhiều phương pháp cách mạng của Đảng Các phương pháp được vận dụng linh hoạt để thực hiện các nhiệm vụ chính trị của Trường Cụ thể:
4.1 Phương pháp phát huy vai trò, sức mạnh của quần chúng nhân dân
Với lực lượng đội ngũ cán bộ trẻ, giảng viên có học vị, học hàm cao, giỏi chuyên môn, nghiệp vụ, Đảng đã chỉ đạo tăng số lượng và chất lượng trong công tác đào tạo các bậc học và nghiên cứu Kết quả đạt được trong công tác tuyển sinh, công tác giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng, phục vụ cộng đồng và nghiên cứu khoa học:
Trang 10(1) Công tác tuyển sinh
Trong giai đoạn 2015 - 2020, đối với đào tạo trình độ đại học hệ chính quy, điểm trúng tuyển và tỷ lệ nhập học hằng năm luôn trên 90%, mức cao so với các trường sư phạm trong cả nước Phương thức tuyển sinh cũng được cải tiến nhằm đảm bảo chất lượng và phù hợp với các điều kiện của các đối tượng có nhu cầu Đối với tuyển sinh trình độ sau đại học, phát huy tiềm lực về đội ngũ, cơ sở vật chất, Trường đã mở rộng quy mô (tăng thêm 01 đợt tuyển sinh hằng năm) và nâng cao chất lượng tuyển sinh
(2) Công tác đào tạo đại học
Quy mô các ngành đào tạo giáo viên được duy trì ổn định, trong đó, một số ngành tăng thêm theo nhu cầu xã hội như Giáo dục Tiểu học, Giáo dục Mầm non Chất lượng đào tạo từng bước được nâng cao Công tác quản lý đào tạo đã có nhiều cải tiến, đặc biệt trong khâu tổ chức đăng ký học phần, tổ chức thi và quản lý điểm Hoạt động thực hành, thực tập nghiệp vụ được triển khai đa dạng đáp ứng yêu cầu theo chương trình đào tạo và phù hợp thực tế theo yêu cầu của nhà tuyển dụng Trường cũng đã phát triển các ngành học mới đáp ứng yêu cầu thực tiễn (mở 05 ngành đào tạo mới và hoàn thành các điều kiện để xin phép mở thêm 04 ngành đào tạo trong giai đoạn sắp tới)
Trên cơ sở rà soát, đánh giá, cập nhật, điều chỉnh các chương trình đào tạo chung, công tác quản lý đào tạo đối với hệ vừa làm vừa học cũng đã tăng cường đổi mới, đảm bảo thống nhất chuẩn đầu ra và chất lượng đào tạo chung cho các hệ
Trong công tác liên kết đào tạo, Trường đã chủ động phối hợp với các địa phương và các cơ sở giáo dục để đẩy mạnh các hoạt động liên kết theo đúng quy định, tăng cường liên kết đào tạo với nước ngoài, xây dựng đề án liên kết đào tạo với một số trường đại học nước ngoài có các ngành đào tạo tương ứng phù hợp
(3) Công tác đào tạo sau đại học
Nhiệm vụ đào tạo sau đại học đã có nhiều thay đổi trong công tác quản lý và thực hiện Trong giai đoạn 5 năm qua, với sự nỗ lực của đội ngũ cán bộ của Trường,
hệ sau đại học đã có thêm 05 mã ngành đào tạo trình độ thạc sĩ và tiến sĩ, và 01 chương trình liên kết đào tạo với nước ngoài Công tác rà soát, điều chỉnh các chương trình thạc sĩ, tiến sĩ được thực hiện định kỳ 2 năm/ lần (2016, 2018) Công tác đào tạo, kiểm tra, đánh giá, thực hiện luận văn, luận án được triển khai thực hiện một cách nghiêm túc, đúng quy chế, quy định, hướng đến sự hài lòng cao nhất của người học