Nghiên cứu tội phạm chúng ta không chỉ nghiên cứu khái niệm, bản chất của tội phạm mà còn phải nghiên cứu các yếu tố các dấu hiệu cấu thành tội phạm và các trường hợp không phải là tội p
Trang 1Bài tiểu luận môn pháp luật đại cương
Đề tài: Tội phạm và cấu thành tội phạm
A Lời nói đầu
TP là một hiện tượng tiêu cực nhất tr XH TP xuất hiện cùng với sự ra đời của NN và PL, cũng như khi XH phân chia thành giai cấp đối kháng Để bảo vệ quyền lợi của giai cấp thống trị, NN đã quy định hvi nào là TP và áp dụng TNHS hoặc hình phạt đối với ng nào thực hiện các hvi đó Do đó, TP k chỉ mang thuộc tính lịch sử XH mà còn mang bản chất là 1 hiện tượng pháp lý
Nhận thức được tầm quan trọng và ý nghĩa pháp lý của việc xác định
rõ khái nhiệm TP, LHS VN cũng như LHS các nước XHCN đều có định nghĩa thống nhất khái niệm TP thể hiện rõ bản chất XH của TP, qua đó phản ánh quan điểm, đường lối đúng đắn chính sách HS của NN tr từng giai
đoạn của lịch sử và CM, bảo vệ các lợi ích của toàn thể nhân
dân Hơn nữa, KN TP tr LHS còn là cơ sở để phân biệt TP với các vi
phạm PL khác và với hvi trái đạo đức, cũng như các TH k phải là TP, qua đó, bảo vệ, củng cố và duy trì trật tự PL, góp phần đấu tranh phòng ngừa
và chống TP, bảo vệ một cách hữu hiệu lợi ích của NN, của XH, các
quyền, lợi ích hợp pháp của công dân
Trang 2Nghiên cứu tội phạm chúng ta không chỉ nghiên cứu khái niệm, bản chất của tội phạm mà còn phải nghiên cứu các yếu tố các dấu hiệu cấu thành tội phạm và các trường hợp không phải là tội phạm (loại trừ trách nhiệm hình sự)
B Nội dung
Chương I: Những vấn đề chung về tội phạm
1. Khái niệm tội phạm
Nghiên cứu về tội phạm là vấn đề cơ bản và quan trọng nhất của luật Hình sự Việt Nam Bởi lẽ, tội phạm là đối tượng đấu tranh phòng ngừa và chống của chính sách hình sự của Nhà nước, vì thế có nhiều quan
điểm khác nhau về khái niệm tội phạm Một số quan điểm cho rằng:
“Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, có lỗi, được quy định trong BLHS và phải chịu hình phạt”; hay: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho
xã hội, có lỗi, trái pháp luật hình sự và phải chịu hình phạt”,
Khái niệm tôi phạm đã được ghi nhận định nghĩa lập pháp trong
khoản 1, điều 8 BLHS 1999 (sửa đổi bổ sung 2009): “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa''”.
Trang 3Từ đó có thể đưa ra định nghĩa khoa học của khái niệm tội phạm như
sau: “TP là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS do người có năng lực TNHS và đủ tuổi chịu TNHS thực hiện 1 cách có lỗi (Cố
ý hoặc vô ý) xâm phạm đến các quan hệ xã hội được BLHS xác lập và bảo vệ.”
2. Đặc điểm của tội phạm
2.1 Đặc điểm thứ nhất của tội phạm: Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội
Tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm là một đặc điểm đầu tiên và quan trọng của tội phạm Tội phạm hay bất cứ vi phạm pháp luật nào đều có tính nghuy hiểm cho XH Nên tính nguy hiểm cho XH là 1 trong những căn
cứ để phân biệt hành vi phạm tội với các hành vi vi phạm pháp luật khác Những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm nhưng tính nguy hiểm không đáng kể thì không phải là tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp khác
Việc đánh giá hành vi nào là hành vi nguy hiểm cho xã hội phụ thuộc vào tình hình phát triển của xã hội và yêu cầu đấu tranh phòng ngừa tội phạm Nếu trước đây, hành vi trộm cắp dưới 2 triệu đồng dược coi là hành vi nguy hiểm cho xã hội và người thực hiện hành vi này có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội trộm cắp tài sản, thì hiện nay, hành vi này không
bị coi là hành vi nguy hiểm cho xã hội nữa Ngược lại có hành vi trước đây chưa được coi là hành vi nguy hiểm cho xã hội, nhưng nay lại coi là nguy hiểm cho xã hội và được coi là tội phạm Ví dụ: hành vi xâm
phạm quyền ứng cử của công dân, trước đây chưa được coi là hành vi nguy hiểm cho xã hội, nay hành vi này được coi là hành vi nguy hiểm cho xã hội
Trang 4Tính nguy hiểm cho XH phụ ,-À X XẠ ,,z ,
thuộc vào nhiêu yêu tô khác nhau:
hình thức lỗi, hậu quả, công cụ, phương tiện pham tội, phương thức thủ đoạn
phạm tội, thời gian, không gian phạm tội, địa điểm, hoàn cảnh
phạm tội, động cơ mục đích phạm tội, nhân thân người phạm tội cũng
như tình hình an ninh trật tự, an toàn XH nơi sảy ra sự việc,
2.2 Đăc điểm t hứ hai của t ôi phạm: t ính t rái PL của t ôi phạm
Đây là đặc điểm thể hiện nguyên tắc pháp chê XHCN theo LHSVN Bất kỳ hành vi nào được cơi là tội phạm cũng đêu được quy định trong BLHS Do đó không ai bị truy cứu TNHS và phải chịu TNHS nêu đã thực hiện 1 hành vi mà không được BLHS quy định là tội phạm Tức
là 1 người thực hiện hành vi nguy hiểm đên đâu nhưng hành vi đó chưa được quy định trong BLHS thì hành vi đó k được coi là tội phạm
Để khẳng đinh rõ điêu này, điêu 2 BLHS quy định: “Chỉ người nào phạm 1 tôi đã được BLHS quy định mới phải chịu TNHS"
Đặc điểm này có ý nghĩa vê phương diện thực tiễn là tránh việc xử lý tùy tiện của người áp dụng pháp luật: giúp cơ quan lập pháp kịp thời bổ sung sửa đổi BLHS theo sát sự thay đổi của tình hình kTXH để công tác đấu tranh phòng chông TP đạt hiệu quả
2.3 Đăc điểm thứ ba của TP: là hành vi được thực hiên môt cách
có lỗi (cốý hoăc vô ý).
Trang 5TP phải là hành vi nguy hiểm cho xã hội do con người thực hiện 1 cách có lỗi cố ý hoặc vô ý Khi có sự kiện TP được thực hiện 1 cách có lỗi thì tính chất lỗi là phạm trù liên quan đến hành vi còn lỗi là phạm trù liên quan đến ng phạm tội
Khi hành vi khách quan gây nguy hiểm cho XH bị LHS cấm, được con ng thực hiện 1 cách có lỗi dưới hình thức cố ý hoặc vô ý thì hành vi đó mang tính chất lỗi và hành vi đó trở thành hvii phạm tội, ng có lỗi trong thực hiện TP phải chịu TNHS
Nếu hvi nguy hiểm cho XH bị LHS cấm được thực hiện trong thực tế nhưng ng thực hiện hvi đó không có lỗi thì không bị coi là hvi phạm tội, ng không có lỗi trong việc thực hiện hvi đó không phải chịu TNHS theo quy định của BLHS
2.4 Đăc điểm thứ tư của tôi phạm: Là hành vi do người có năng lưc TNHS thực hiên và đủ tuổi chịu TNHS thực hiên.
Người có năng lực TNHS là người mà tại thời điểm thực hiện hành vi nguy hiểm cho XH bị LHS cấm ở trong trạng thái bình thường và hoàn toàn
có khả năng nhận thức được đầy đủ hành vi, tính chất thực tế và tính chất pháp lý của hành vi do mình thực hiện, cũng như khả năng điều khiển được đầy đủ hành vi đó
Năng lục TNHS có mối liên quan chặt chẽ trực tiếp với lỗi, có năng lực TNHS là cơ sở cần và đủ để có lỗi trong việc thực hiện TP, vì để có lỗi trong việc thực hiện TP thì chủ thể của hành vi đó nhất thiết phải là người có năng lực TNHS
Trang 6Người đủ tuổi chịu TNHS là ng mà tại thời điểm phạm tội đã đạt đến
độ tưởi do LHS quy định để có thể có khả năng nhận thức được đầy đủ tính chất thực tế và tính chất pháp lý của hvi do mình thực hiện cũng như có khả năng điều khiển hvi đó
Điều 12 BLHS quy định Tuổi chịu trách nhiệm hình sự: “1 Người từ
đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm 2 Người
từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự
về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng”.
Người đủ tuổi chịu TNHS nhưng không có năng lực TNHS thì hành
vi phạm tội của người đó không được coi là TP Ví dụ: Một người 20 tuổi (đủ tuổi chịu TNHS) nhưng do bị tâm thần (không có năng lực TNHS)
thực hiện hành vi giết ng, thì người này không phải chịu TNHS
—4 Mối quan hệ giữa 4 đặc điểm của tội phạm: chỉ khi nào có sự tổng hợp của cả 4 đặc điểm thì một hành vi mới bị coi là TP, còn như
thiếu dù chỉ 1 trong 4 đặc điểm đó thì hvi nhất thiết không thể bị coi là tội phạm
3. Phân loại tội phạm
Việc phân loại tội phạm có ý nghĩa rất quan trọng trong việc quy
định các nguyên tắc xử lý, thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, thời
hiệu thi hành bản án và các quy định khác về điều kiện áp dụng một số loại hình phạt hoặc biện pháp tư pháp, v.v Phân loại tội phạm còn là cơ
Trang 7sở để cụ thể hóa TNHS, quy định khung hình phạt, bảo đảm nguyên tắc cá
thể hóa TNHS và hình phạt Ngoài ra, việc phân loại tội phạm còn có ý nghĩa đối với việc quy định một số chế định tạm giam, tạm giữ trong BLHS.
Phân loại TP trong LHS là chia những hvi nguy hiểm trong xã hội bị LHS cấm thành từng loại nhất định theo những tiêu chí này hay những tiêu chí khác để làm tiền đề cho cá thể hóa TNHS và hình phạt hoặc tha miễn TNHS và hình phạt
Khoản 2 điều 8 BLHS đã kết hợp 3 tiêu chí phân loại TP: tính chất, mức độ nguy hiểm cho XH của TP và mức cao nhất của khung hình phạt để phân thành 4 loại:
hiểm của hvi
Mức cao nhât của khung hình phạt
4 Đặc biệt nghiêm
trọng
Đặc biệt lớn Trên 15 năm tù, chung
thân hoặc tử hình
4. Các trường hợp không phải là TP:
Các TH k phải là TP theo BLHS hiện hành bao gồm:
- Hvi có tính chất nguy hiểm k đáng kể (khoản 4 Điều 8)
- Sự kiện bất ngờ (điều 11)
- Ng chưa đủ tuổi chịu TNHS thực hiện (điều 12)
Trang 8- Tình trạng k có NLTNHS (khoản 1 điều 13)
- Phòng vệ chính đáng (điều 15)
- Tình thế cấp thiết (điều 16)
Chương II: Cấu thành tôi phạm
1 Những vấn đề chung về CTTP
1.1 Khái niêm CTTP
CTTP là cơ sở pháp lý để truy cứu TNHS đối với người phạm tôi, ngoài ra, CTTP còn là yếu tố bảo đảm các quyền và tự do của công dân, của con người, làm ranh giới để xử lý giữa trường hợp hành vi đã CTTP hay không CTTP
khoa học có thể hiểu CTTP là tổng hợp những dấu hiệu được quy định trong LHS đặc trưng cho môt loại TP cụ thể
CTTP của môt loại TP cụ thể là tổng hợp các dấu hiệu (khách quan và chủ quan) đặc trưng cho khách thể và mặt khách quan, chủ thể và mặt chủ quan của TP Các dấu hiệu có quan hệ chặt chẽ, thiếu môt dấu hiệu nào sẽ không có CTTP
1.2 Phân loai CTTP
Căn cứ vào mức đô nguy hiểm cho XH của hành vi phạm tôi
có thể
chia cấu thành tôi phạm thành: cấu thành tôi phạm cơ bản; cấu thành tôi phạm tăng nặng; cấu thành tôi phạm giảm nhẹ
Dưới góc đô
Trang 9CTTP cơ bản là tổng hợp các dấu hiệu đặc trưng, bắt buộc với mọi trường hợp phạm tội của một loại tội, phản ánh bản chất của loại tội đó và cho phép phân biệt được loại TP này với các loại TP khác Nội dung của CTTP cơ bản chỉ bao gồm những dáu hiệu định tội Đây là các cấu thành tội phạm được thể hiện ở khoản 1 của đa số các tội phạm Ví dụ như tội trộm cắp tài sản (khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự), tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ gây hậu quả nghiêm trọng (khoản 1 Điều 202 Bộ luật hình sự)
CTTP tăng nặng bao gồm những dấu hiệu định tội và những dấu hiệu thể hiện mức độ nguy hiểm cho XH của TP tăng lên rõ rệt
CTTP giảm nhẹ bao gồm những dấu hiệu định tội và nững dấu hiệu thể hiện mức độ nguy hiểm cho XH giảm đi rõ rệt
Căn cứ vào cấu trúc của CTTP có thể chia cấu thành tội phạm thành: cấu thành tội phạm hình thức; cấu thành tội phạm vật chất; cấu thành tội phạm hỗn hợp Trong đó:
CTTP hình thức thức là cấu thành tội phạm có duy nhất một yếu tố bắt buộc về mặt khách quan của tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội Tội phạm có cấu thành tội phạm hình thức được coi là hoàn thành từ thời điểm thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được mô tả trong điều luật phần các tội phạm Bộ luật hình sự
CTTP vật chất là cấu thành tội phạm mà các dấu hiệu bắt buộc thuộc mặt khách quan của tội phạm bao gồm: hành vi phạm tội, hậu quả do hành
vi phạm tội gây ra; và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu
Trang 10quả do hành vi phạm tội gây ra Tội phạm có cấu thành tội phạm
được coi là hoàn thành từ thời điểm có thiệt hại xảy ra.
Cấu thành tội phạm hỗn hợp là loại cấu thành tội phạm mà các dấu hiệu thuộc mặt khách quan của cấu thành tội phạm vừa có yếu tố của
cấu thành tội phạm hình thức, vừa có yếu tố của cấu thành tội phạm vật chất
2 Các yếu tố CTTP
TP là một thể thống nhất giữa yếu tố chủ quan và khách quan
nhưng về lý luận có thể chia thành các bộ phận cấu thành Các bộ phận CTTP được coi là các yếu tố CTTP
Các yếu tố CTTP bao gồm: Khách thể, mặt khách quan, chủ thể và mặt chủ quan của TP
2.1 Yếu tố thứ nhất của CTTP: Khách thể của TP
Khách thể của TP là các quan hệ XH được BLHS xác lập và bảo vệ
bị TP xâm hại bằng cách gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại trong
một chừng mực nhất định
Có thể phân khách thể của TP thành 3 loại:
Khách thể chung: Khách thể chung là tổng thể các quan hệ XH do LHS bảo vệ bị các TP xâm hại Bất kỳ TP nào cũng xâm hại đến khách thể chung của TP Khách thể chung của TP được liệt kê tại Điều 8 BLHS
Trang 11và trên cơ sở đó các nhà làm luật phân chia các loại TP có cùng tính chất
trong cùng một chương tương ứng tại phần các TP của BLHS.
Khách thể loại: Khách thể loại là nhóm các quan hệ xã hội có cùng tính chất liên hệ qua lại với nhau, được 1 nhóm các quy pham PLHS bảo vệ
và bị 1 nhóm các tội phạm xâm hại Khách thể loại là cơ sở để phân loại các tội phậm trong phần các tội phạm của LHS thành các chương
Khách thể trực tiếp: Khách thể trực tiếp là quan hệ xã hội cụ thể được
1 quy phạm PLHS bảo vệ và bị 1 loại tội phạm trực tiếp xâm hại
Khách thể trực tiếp là căn cứ để quy định các loại tội phạm vào các
chương mục nhất định của BLHS
2.2 Yếu t ố thứ hai của CTTP: Măt khách quan của t ôi phạm
Mặt khách quan của tội phạm là mặt bên ngoài của tội phạm hay là những dấu hiệu của tội phạm biểu hiện ra ngoài thế giới khách quan
Các biểu hiện khách quan của TP:
- Hvi nguy hiểm cho XH là xử sự cụ thể của con ng được thể hiện qua thế giới khách quan dưới nhiều hình thức nhất định, gây ra thiệt hại cho các quan hệ XH được LHS bảo vệ
Các dạng của hvi nguy hiểm cho xã hội gồm hành động phạm tội và không hành động phạm tội Hành động PT: là chủ thể làm 1 việc mà PL cấm qua đó làm thay đổi trạng thái bình thường của đối tượng tác động gây thiệt hại cho khách thể của tội phạm Không hành động phạm tội: là chủ thể không làm hoặc làm không đầy đủ 1 việc mà PL quy định phải làm mặc dù
co đủ khả năng và điều kiện để thực hiện việc đó, làm