TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY
Thông tin chung
> Tên công ty: Công ty Cổ phần Xi măng Vicem Hải Vân.
> Lịch sử hình thành và phát triển:
- Công ty Cổ phần Xi măng Vicem Hải Vân được thành lập theo quyết định số 2309/QĐ-UB của Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam - Đà Nằng ngày 15/12/1994.
Công ty Cổ phần Xi măng Vicem Hải Vân được thành lập vào ngày 15/12/1994 với công nghệ tự động từ Hãng Krup-Polysius, Đức, có tổng công suất thiết kế 520.000 tấn xi măng/năm Sự ra đời của sản phẩm xi măng Hải Vân đã đánh dấu bước phát triển mới cho công ty Để tối đa hóa tiêu thụ, công ty đã mở rộng mạng lưới bán hàng và nhanh chóng đưa sản phẩm vào hầu hết các thị trường miền Trung-Tây Nguyên, cũng như xuất khẩu sang Lào và Campuchia Xi măng Hải Vân đáp ứng nhu cầu xây dựng cho các công trình dân dụng, công nghiệp và giao thông, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế Đà Nẵng và khu vực miền Trung - Tây Nguyên.
- Giai đoạn từ 1998 — 2001: Vào thời điểm năm 2001 Công ty được Tổng công ty
Công nghiệp Xi măng Việt Nam tiếp nhận về làm thành viên Tổng công ty Công nghiệp
Xi măng Việt Nam đã hỗ trợ công ty vượt qua những khó khăn tài chính, đồng thời mở ra cơ hội phát triển mới trong lĩnh vực sản xuất và kinh doanh.
Giai đoạn 2002-2007, Công ty đã hoàn thành xuất sắc các chỉ tiêu sản xuất kinh doanh, doanh thu và lợi nhuận, với mức nộp ngân sách năm sau tăng 110% so với năm trước Điều này không chỉ đảm bảo việc làm và thu nhập ổn định cho người lao động mà còn góp phần tích cực vào sự tăng trưởng kinh tế của đất nước.
Kể từ khi cổ phần hóa vào ngày 01/4/2008, công ty đã chuyển đổi từ doanh nghiệp nhà nước sang công ty cổ phần với vốn điều lệ ban đầu là 185 tỷ đồng, trong đó Nhà nước nắm giữ 76,44% và các cổ đông khác 23,56% Năm 2013, công ty đã tiếp nhận Nhà máy Xi măng Áng Son II, hiện là Nhà máy Xi măng Vạn Ninh, với công suất thiết kế 540.000 tấn Clinker/năm, và tăng vốn điều lệ lên 399,6 triệu đồng Đến năm 2016, công ty thực hiện sáp nhập Công ty Cổ phần đá xây dựng Hòa Phát và phát hành cổ phiếu, nâng vốn điều lệ lên 415,25 triệu đồng.
2017 thực hiện chiến lược mở rộng công ty tiếp tục đầu tư trạm trung chuyển xi măng tại Quy Nhon với công suất thiết kế 500.000 tấn xi măng/năm.
1.2 Đặc điểm hoạt động của công ty
> Hình thức sở hữu vốn:
- Vốn điều lệ của công ty là 415.252.500.000 VND, tưong ướng với 41.525.250 cổ phần, mệnh giá cổ phần là 10.000 VND.
Đặc điếm hoạt động của công ty
> Ngành nghề kinh doanh và hoạt động chính:
- Sản xuất và kinh doanh clinker, xi măng, các sản phẩm từ xi măng.
- Sản xuất và kinh doanh đá xây dựng.
^ Chu kỳ sản xuất, kinh doanh thông thường:
- Chu kỳ sản xuất, kinh doanh thông thường của công ty được thực hiện trong thời gian không quá 12 tháng.
- Trụ sở chính: số 65 Nguyễn Văn Cừ, phường Hòa Hiệp Bắc, quận Liên Chiểu, Thành phố Đà Nằng.
- Công ty có các chi nhánh phụ thuộc sau:
• Nhà máy Xi măng Vạn Ninh tại thôn Áng Sơn, xã Vạn Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình.
• Xí nghiệp Đá Xây dựng Hòa Phát tại 185 Lê Trọng Tấn, phường Hòa Phát, quận Cẩm Lệ, Thành Phố Đà Nằng.
• Xí nghiệp Tiêu thụ tại tổ 24 Nguyễn Phước Chu, phường Hòa Hiệp Bắc, quận Liên Chiểu, Thành phố Đà Nằng.
^ Niên độ kế toán, đơn vị tiền tệ sử dụng trong kế toán:
- Niên độ kế toán của công ty bắt đầu từ ngày 01 tháng 01 và kết thúc vào ngày 31 tháng 12 năm dương lịch.
- Đơn vị tiền tệ sử dụng trong kế toán là Đồng Việt Nam (VND).
PHÂN TÍCH CÁC CHỈ TIÊU TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY
Phân tích cấu trúc tài chính
2.1.1 Phân tích cơ cấu tài sản
3 Nợ phải thu ngắn 1 hạn 59.686.168.27
8 Tỷ trọng Nợ phải thu ngắn hạn/ Tổng
Bảng 1 Phân tích cơ cấu tài sản
TỶ TRỌNG TIỀN/TỔNG TS
Hình 1 Tỷ trọng Tiền/Tổng tài sản qua các năm
Tỷ trọng tiền trên tổng tài sản của doanh nghiệp đã giảm dần trong 3 năm qua, cho thấy khả năng thanh toán của công ty bị ảnh hưởng do nguồn tiền hạn chế Tuy nhiên, điều này cũng có lợi khi nguồn vốn không bị ứ đọng, mà được sử dụng linh hoạt để đầu tư vào sản xuất kinh doanh, từ đó nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của công ty.
TỶ TRỌNG HÀNG TỒN KHO/TỔNG TS
■ Hàng tồn kho/Tổng TS
Hình 2 Tỷ trọng HTK/Tổng tài sản qua các năm
Tỷ trọng hàng tồn kho so với tổng tài sản của công ty đã tăng từ 12,48% lên 13,53% vào năm 2020, sau khi chứng kiến sự giảm nhẹ vào năm 2019 Tuy nhiên, chỉ tiêu này vẫn cần được theo dõi để đánh giá hiệu quả quản lý tài sản.
Trong ba năm qua, công ty đã nỗ lực tiêu thụ, hạn chế dự trữ và giảm thiểu tồn kho thành phẩm, giúp tăng hiệu quả sử dụng vốn và tránh ứ đọng vốn cũng như chi phí bảo quản Tuy nhiên, việc duy trì hàng tồn kho ở mức thấp có thể ảnh hưởng đến tiến độ sản xuất và tiêu thụ, đặc biệt khi có đơn hàng lớn nhưng không đủ hàng hóa để đáp ứng, dẫn đến tình trạng "cháy kho" và mất khách hàng.
TỶ TRỌNG NỢ PHẢI THU NGẮN HẠN/TỔNG TS
■ Nợ phải thu/Tổng TS
Hình 3 Tỷ trọng nợ phải thu ngắn hạn/Tổng TS qua các năm
Tỷ trọng Nợ phải thu ngắn hạn/Tổng TS của công ty đã giảm mạnh từ 6,72% năm 2019 xuống 2,75% và tiếp tục xuống 1,82% vào năm 2020, cho thấy chính sách tín dụng của công ty hoạt động hiệu quả, giảm thiểu tình trạng vốn bị chiếm dụng Tuy nhiên, sự giảm sút này có thể không khuyến khích khách hàng mua hàng, dẫn đến nguy cơ doanh thu sụt giảm trong tương lai.
TỶ TRỌNG TSCĐ/TỔNG TS
Hình 4 Tỷ trọng TSCĐ/Tổng TS qua các năm
Tỷ trọng tài sản cố định trên tổng tài sản của công ty đã tăng từ 69,50% vào cuối năm 2018 lên 70,75% vào cuối năm 2019 và 75,67% vào năm 2020, cho thấy tài sản cố định chiếm ưu thế trong cơ cấu tài sản của doanh nghiệp Điều này chứng tỏ công ty đã nỗ lực đầu tư vào tài sản cố định nhằm nâng cao năng lực sản xuất Tuy nhiên, việc gia tăng tỷ trọng này cũng tiềm ẩn rủi ro, vì nếu không sử dụng hiệu quả các tài sản cố định để tạo ra lợi nhuận, công ty có thể phải đối mặt với những hậu quả nghiêm trọng.
2.1.2 Phân tích cơ cấu nguồn vốn
2.Ì.2.Ì Phân tích tính tự chủ về tài chính
4 Tỷ suất tự tài trợ
Bảng 2 Phân tích tính tự chủ về tài chính
Tỷ suất nợ của công ty đã giảm từ 53,34% năm 2018 xuống 44,43% năm 2020, cho thấy doanh nghiệp đang cải thiện nhận thức về việc giảm nợ trong tổng nguồn vốn Điều này không chỉ giảm áp lực hoàn trả nợ mà còn giảm áp lực về thời gian chuyển đổi tài sản thành tiền Đồng thời, tỷ suất tự tài trợ của công ty cũng tăng lên, mang lại sự ổn định và độc lập tài chính cho doanh nghiệp.
■ Tỷ suất nợ ■ Tỷ suất tự tài trợ
Hình 5 Tỷ suất nợ và tỷ suất tự tài trợ của công ty qua các năm
2.1.2.2 Phân tích cân bằng tài chính
(không tính nợ vay ngắn hạn)
Bảng 3 Bảng tính VLĐR, Nhu cầu VLĐR và Ngân quỹ ròng
Vốn lưu động ròng của doanh nghiệp từ năm 2018 đến 2020 liên tục âm và có xu hướng giảm, cho thấy nguồn vốn thường xuyên không đủ để tài trợ cho tài sản dài hạn Điều này buộc doanh nghiệp phải sử dụng nguồn vốn tạm thời, dẫn đến hai hậu quả chính: không đạt trạng thái cân bằng tài chính và vi phạm nguyên tắc tài trợ vốn, gây áp lực về thời gian hoàn trả Do đó, doanh nghiệp phải đối mặt với áp lực xoay vòng các khoản vay ngắn hạn và tìm kiếm nguồn vốn ngắn hạn thay thế.
Vào năm 2018, nhu cầu vốn lưu động ròng của công ty đạt 17.943.135.326 VND, cho thấy công ty đang ở trạng thái cân bằng tài chính dài hạn Tuy nhiên, vào năm 2019 và 2020, nhu cầu này đã giảm xuống dưới 0, cho thấy công ty không còn đạt trạng thái cân bằng tài chính Mặc dù nhu cầu vốn lưu động ròng trong hai năm này đều âm, nhưng có dấu hiệu tích cực khi nó có xu hướng tăng trở lại gần mức 0, cho thấy triển vọng khả quan cho cân bằng tài chính của công ty trong tương lai.
Chỉ tiêu Ngân quỹ ròng của công ty trong ba năm qua đều âm, cho thấy tình trạng mất cân bằng tài chính ngắn hạn Mặc dù năm 2019 có sự cải thiện với Ngân quỹ tăng, nhưng đến năm 2020, chỉ tiêu này lại giảm sâu, thấp hơn cả năm 2018 Công ty cần khẩn trương tìm kiếm giải pháp để khắc phục tình trạng này, nhằm tránh sự tiếp diễn của mất cân bằng tài chính trong những năm tới.
Phân tích hiệu quả hoạt động của công ty
Trước khi phân tích hiệu quả hoạt động của Công ty Cổ phần Xi măng Vicedm Hải Vân, cần tính toán các chỉ tiêu bình quân cần thiết.
Nợ phải thu bình quân 49.687.204.056,0 41.690.396.123,5 19.026.068.087,0
Bảng 4 Bảng tính các chỉ tiêu bình quân cần dùng0
2.2.1 Phân tích hiệu quả sử dụng tài sản
1 Doanh thu thuần về bán hàng và
2 Doanh thu hoạt động tài chính 25.660.16
5 Tổng tài sản bình quân 987.238.714.372,
6 Hiệu suất sử dụng TS
Bảng 5 Bảng tính hiệu suất sử dụng tài sản qua các năm
Hiệu suất sử dụng tài sản của công ty đã giảm từ 0,99 đồng doanh thu trên mỗi đồng tài sản bình quân năm 2018 xuống còn 0,77 đồng vào năm 2020, tương ứng với mức giảm 0,22 Trong giai đoạn 2018-2020, tổng tài sản bình quân của công ty cũng giảm, nhưng tỷ lệ giảm doanh thu lớn hơn, dẫn đến hiệu suất sử dụng tài sản giảm sút.
TS của công ty tiếp tục giảm, cho thấy hiệu suất sử dụng tài sản ngày càng thấp Nguyên nhân có thể là do hàng tồn kho còn nhiều hoặc tài sản cố định chưa hoạt động hết công suất, dẫn đến tình trạng trì trệ trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Hiệu suất sử dụng tài sản
Hình 6 Hiệu suất sử dụng tài sản qua các năm
2.2.2 Phân tích tốc độ luân chuyển vốn lưu động
1 Doanh thu thuần về bán hàng và
6 Nợ phải thu bình quân 49.687.204.056,0 41.690.396.123,5 19.026.068.087,0
9 Số vòng quay 21,70 22,94 36,83 phải thu khách hàng
10 Số ngày 1 vòng quay VLĐ
11 Số ngày 1 vòng quay hàng tồn kho
12 Số ngày 1 vòng quay phải thu khách hàng
Bảng 6 Bảng tính các chỉ tiêu phản ánh tốc độ luân chuyển VLĐ
SỐ VÒNG QUAY VỐN LƯU ĐỘNG
Hình 7 Số vòng quay vốn lưu động qua các năm
Số vòng quay vốn lưu động (VLĐ) đã có sự cải thiện tích cực trong năm 2019, nhưng sang năm 2020, chỉ số này lại có xu hướng giảm, gần như trở về mức của năm 2018 Mặc dù mức giảm không lớn, nhưng điều này cho thấy hiệu quả luân chuyển VLĐ trong năm 2020 kém hơn so với năm 2019.
Hình 8 Số vòng quay hàng tồn kho qua các năm
Số vòng quay hàng tồn kho (HTK) của doanh nghiệp tăng vào năm 2019 nhưng giảm vào năm 2020, cho thấy tốc độ bán hàng nhanh chóng trong năm 2019 và xu hướng chậm lại trong năm tiếp theo Sự giảm sút này làm gia tăng rủi ro cho doanh nghiệp, đặc biệt khi hạn sử dụng của xi măng chỉ kéo dài 60 ngày từ ngày sản xuất, có thể ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm và dẫn đến nguy cơ mất khách hàng.
SỐ VÒNG QUAY PHẢI THU KHÁCH HÀNG
Hình 9 Số vòng quay phải thu khách hàng qua các năm
Trong giai đoạn 2018-2020, số vòng quay khoản phải thu khách hàng có xu hướng tăng, đặc biệt năm 2020 ghi nhận sự nhảy vọt với mức tăng 13,89 vòng so với năm 2019 Hệ số vòng quay khoản phải thu cao cho thấy khả năng thu hồi nợ hiệu quả của công ty và sự thận trọng trong việc cấp tín dụng cho khách hàng Chính sách tín dụng thận trọng giúp ngăn ngừa rủi ro nợ khó đòi, nhưng nếu quá cẩn trọng, công ty có thể mất khách hàng tiềm năng vào tay đối thủ cạnh tranh có chính sách tín dụng linh hoạt hơn.
2.2.3 Phân tích khả năng sinh lời
2.2.3.I Tỷ suất lợi nhuận/doanh thu
1 Doanh thu thuần về bán hàng và
2 Doanh thu hoạt động tài chính 25.660.16
Bảng 7 Tỷ suất lợi nhuận/doanh thu
Chỉ tiêu ROS cho thấy mức lợi nhuận trước thuế trên mỗi 100 đồng doanh thu, với kết quả chỉ đạt 0,94% vào năm 2018 và giảm xuống 0,73% vào năm 2019, cho thấy công ty đang sử dụng chi phí không hiệu quả Mặc dù tỷ suất lợi nhuận có xu hướng tăng nhẹ vào năm 2020, nhưng mức ROS vẫn rất thấp, dưới 1% trong cả ba năm Sự gia tăng chi phí lãi vay và chi phí quản lý doanh nghiệp, lên đến hơn 54 nghìn tỷ VND trong năm 2019, đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi nhuận gộp khoảng 71 nghìn tỷ VND, yêu cầu công ty cần tăng cường kiểm soát chi phí để cải thiện hiệu quả kinh doanh.
Hình 10 ROS qua các năm
2.2.3.2 Tỷ suất sinh lời của tài sản
2 Tổng tài sản bình quân 987.238.714.372,
Bảng 8 Tỷ suất sinh lời của tài sản
Chỉ tiêu ROA (Return on Assets) cho biết hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp, cụ thể là lợi nhuận trước thuế tạo ra từ mỗi 100 đồng tài sản bình quân Trong những năm gần đây, chỉ tiêu này của công ty đã giảm đáng kể, từ 0,94% vào năm 2018 xuống còn 0,71% và 0,63% trong hai năm tiếp theo Sự giảm sút này cho thấy tổng tài sản bình quân của công ty cũng đang có xu hướng giảm dần.
Từ năm 2018 đến 2020, chỉ tiêu ROA đã giảm do lợi nhuận trước thuế sụt giảm mạnh hơn so với tổng tài sản bình quân Cụ thể, từ năm 2019 đến 2020, tổng tài sản bình quân giảm 77.420.560.238,5 VND (8,57%), trong khi lợi nhuận trước thuế giảm tới 1.191.662.250 VND (18,61%) Để hiểu rõ hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến sự biến động này, chúng ta sẽ áp dụng mô hình Dupont.
ROA = ROS x Hiệu suất sử dụng tài sản
Các chỉ tiêu ROA, ROS và hiệu suất sử dụng tài sản đã được tính ở các bảng trên được tổng hợp lại như sau:
Bảng 9 Chỉ tiêu ROA, ROS và hiệu suất sử dụng TS qua các năm
Xét sự ảnh hưởng của nhân tố ROS đến ROA: (0,73% - 0,94%) x 0,99 = - 0,21%
Xét sự ảnh hưởng của nhân tố Hiệu suất sử dụng TS đến ROA:
Từ phân tích trên, ta thấy chỉ tiêu ROA giảm từ năm 2018 đến năm 2019 là do sự ảnh hưởng của 2 nhân tố:
- Nhân tố ROS giảm làm cho ROA giảm 0,21%.
- Nhân tố Hiệu suất sử dụng tài sản giảm làm cho ROA giảm 0,02%.
Từ đó làm cho ROA giảm 0,23%.
Xét sự ảnh hưởng của nhân tố ROS đến ROA: (0,82% - 0,73%) x 0,96 = 0,08%
Xét sự ảnh hưởng của nhân tố Hiệu suất sử dụng TS đến ROA:
Từ phân tích trên, ta thấy chỉ tiêu ROA giảm từ năm 2019 đến năm 2020 là do sự ảnh hưởng của 2 nhân tố:
- Nhân tố ROS tăng làm cho ROA tăng 0,08%.
- Nhân tố Hiệu suất sử dụng tài sản giảm làm cho ROA giảm 0,16%.
Từ đó làm cho ROA giảm 0,08%
Phân tích ROA theo mô hình Dupont cho thấy, nếu công ty duy trì Hiệu suất sử dụng tài sản ở mức 0,96 trong năm 2020 như năm 2019, chỉ tiêu ROA có thể tăng thêm 0,08% Do đó, công ty cần tập trung vào việc cải thiện hiệu suất sử dụng tài sản để tránh sự sụt giảm nghiêm trọng như đã xảy ra trong năm 2020.
2.2.3.3 Tỷ suất sinh lời kinh tế của tài sản
4 Tổng tài sản bình quân (4) 987.238.714.372,
Bảng 10 Tỷ suất sinh lời kinh tế của tài sản
Chỉ tiêu RE khác với chỉ tiêu ROA ở chỗ không trừ chi phí lãi vay vào lợi nhuận trước thuế, giúp đánh giá khả năng sinh lời của tổng tài sản bình quân một cách chính xác hơn Chỉ tiêu này cho biết mỗi 100 đồng tài sản bình quân tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận trước thuế và lãi vay, với chỉ số càng cao thể hiện hiệu quả sử dụng tài sản lớn hơn Theo bảng 10, RE giữ mức 3,62% trong năm 2018 và 2019, nhưng giảm 1,22% xuống còn 2,40% vào năm 2020, mặc dù tổng tài sản bình quân đã giảm 8,57% so với năm trước.
2019, tuy nhiên vì chi phí lãi vay đã giảm xuống gần một nửa và lợi nhuận cũng giảm đi
Hình 11 ROA qua các năm
Tỷ lệ RE giảm xuống 18,61% do lợi nhuận trước thuế và lãi vay giảm nhanh hơn tổng tài sản bình quân, điều này hợp lý khi tỷ suất nợ của công ty đã giảm dần từ 2018 đến 2020 So với chỉ tiêu ROA, RE luôn cao hơn ROA một cách đáng kể, chủ yếu do chi phí lãi vay Công ty có thể nâng cao chỉ tiêu RE bằng cách tăng cường sử dụng nợ vay thay vì vốn chủ sở hữu, tuy nhiên, điều này có thể tạo ra áp lực hoàn trả vốn cho công ty.
Hình 12 RE qua các năm
2.2.3.4 Tỷ suất sinh lời của VCSH
2 Vốn chủ sở hữu bình quân 443.652.764.917,5 438.327.038.735,5 437.442.100.865,0
Bảng 11 Tỷ suất sinh lời của VCSH
Tỷ suất sinh lời của vốn chủ sở hữu (ROE) đã giảm đi đáng kể từ 1,59% xuống 1,02% trong giai đoạn 2018 - 2020, nhất là năm 2019 giảm tới 0,43% so với năm 2018
Từ năm 2018 đến năm 2020, tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu bình quân giảm từ 1,59% xuống còn 1,16% Điều này cho thấy rằng trong năm 2018, mỗi 100 đồng vốn chủ sở hữu bình quân tạo ra 1,59 đồng lợi nhuận sau thuế, nhưng đến năm 2020, con số này chỉ còn 1,02 đồng.
ROE của công ty đang ở mức thấp và giảm dần do lợi nhuận sau thuế sụt giảm nhanh hơn so với vốn chủ sở hữu bình quân Mặc dù chỉ tiêu ROS có xu hướng tăng nhẹ từ năm 2019 đến 2020, các chỉ tiêu khác đều cho thấy sự giảm sút rõ rệt qua từng năm, với năm 2019 thấp hơn năm 2018 và năm 2020 lại thấp hơn năm 2019 Điều này cho thấy khả năng sinh lời của công ty đang suy giảm Mặc dù đại dịch COVID-19 có thể là một yếu tố ảnh hưởng, nhưng sự sụt giảm trong khả năng tạo ra lợi nhuận đã bắt đầu từ năm 2019.
Phân tích rủi ro hoạt động của công ty
2.3.1 Phân tích rủi ro tài chính
3 Lợi nhuận trước thuế và lãi vay
Bảng 12 Đòn bẩy tài chính
Rủi ro tài chính liên quan đến quyết định sử dụng nợ để tài trợ cho hoạt động doanh nghiệp Đòn bẩy tài chính của doanh nghiệp đã tăng lên vào năm 2019, nhưng sau đó giảm xuống gần mức năm 2018 vào năm 2020 Dựa vào số liệu, có thể thấy rằng đòn bẩy tài chính của công ty khá cao, dẫn đến rủi ro tài chính lớn Do đó, công ty cần thận trọng trong việc sử dụng nợ để tránh những tình huống xấu có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình tài chính của mình.
2.3.2 Phân tích rủi ro phá sản
3 Tiền và tương 1 đương tiền 26.724.721.269 20.710.148.811 7.913.429.360
5 Khả năng thanh 6 toán hiện hành
6 Khả năng thanh toán nhanh
7 Khả năng thanh toán tức thời
8 Số vòng quay hàng tồn kho 6,5
9 Số vòng quay nợ phải thu 21,70 22,94 36,83
10 Số ngày 1 vòng quay hàng tồn kho
11 Số ngày 1 vòng 17 16 10 quay phải thu khách hàng
Bảng 13 Phân tích rủi ro phá sản
Hình 14 Các chỉ số khả năng thanh toán của công t y
Khả năng thanh toán nợ ngắn hạn của Công ty Cổ phần Xi măng Vicem Hải Vân đang giảm mạnh qua các năm, tiềm ẩn nguy cơ phá sản cao Các chỉ tiêu như Khả năng thanh toán hiện hành, Khả năng thanh toán nhanh và Khả năng thanh toán tức thời đều dưới 1 trong các năm 2018, 2019 và 2020, với xu hướng giảm dần Cụ thể, năm 2018, mỗi đồng nợ ngắn hạn được đảm bảo bởi 0,71 đồng tài sản ngắn hạn, nhưng con số này giảm xuống 0,59 đồng vào năm 2019 và 0,43 đồng vào năm 2020 Đặc biệt, lượng tiền chỉ chiếm 1% trong cơ cấu tài sản vào năm 2020, dẫn đến Khả năng thanh toán tức thời chỉ đạt 0,02, một giá trị rất thấp Nếu tình hình này không được cải thiện, công ty có nguy cơ cao sẽ phải đối mặt với phá sản trong thời gian ngắn.
Khả năng thanh toán hiện hành Khả năng thanh toán nhanhKhả năng thanh toán tức thời
■ Số vòng quay nợ phải thu ■ Số vòng quay hàng tồn kho
Hình 15 Số vòng quay nợ phải thu và số vòng quay HTK của công ty
Để đánh giá khả năng thanh toán của công ty, cần xem xét khả năng chuyển hóa nợ phải thu và hàng tồn kho thành tiền Phân tích cho thấy tốc độ luân chuyển nợ phải thu tăng qua các năm, với số vòng quay cao trong các năm 2018, 2019, 2020, cho thấy khả năng chuyển hóa thành tiền tốt Đặc biệt, độ dài vòng quay khoản phải thu giảm từ 17 ngày năm 2019 xuống chỉ còn 10 ngày năm 2020, cho phép công ty chuyển hóa nợ phải thu thành tiền nhiều lần trong năm Điều này giúp công ty sử dụng số tiền từ khách hàng để trả nợ hiệu quả hơn.
Chỉ tiêu tốc độ luân chuyển hàng tồn kho đã có sự biến động trong 3 năm qua, cụ thể vào năm 2018, thời gian một vòng quay hàng tồn kho là 56 ngày.
Từ năm 2019, thời gian thanh khoản của Công ty Cổ phần Xi măng Vicem Hải Vân đã giảm xuống còn 51 ngày, nhưng đến năm 2020, con số này lại tăng lên 66 ngày, cho thấy rõ ràng rủi ro thanh khoản của công ty.
NHẬN XÉT VÀ ĐÁNH GIÁ
Nguyên nhân và các yếu tố tác động đến tình hình tài chính của công ty
Yếu tố kinh tế đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của doanh nghiệp, bao gồm các chỉ tiêu như sự ổn định, tốc độ tăng trưởng, lạm phát và sức mua Trước đại dịch COVID-19, tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam duy trì ở mức 6-7%, giúp ngành xây dựng phát triển và tài chính của công ty Vicem Hải Vân ổn định Tuy nhiên, trong giai đoạn bất ổn hiện nay, tốc độ tăng trưởng kinh tế chậm lại, khiến nhiều công trình và dự án bị trì hoãn, ảnh hưởng tiêu cực đến tình hình kinh doanh của doanh nghiệp.
Vào ngày 9/2/2021, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã ban hành Nghị định 09/2021/NĐ-CP nhằm quản lý sản xuất và sử dụng vật liệu xây dựng, đảm bảo an toàn và bảo vệ môi trường Các quy định trước đó đã đề cập đến việc bảo vệ người lao động và xử lý chất thải Do đó, Vicem Hải Vân buộc phải sử dụng một phần tài chính của mình để tuân thủ các quy định pháp luật này.
Để bắt kịp xu hướng công nghệ và không bị tụt lại phía sau, công ty Vicem Hải Vân đã chuẩn hóa quy trình sản xuất và ứng dụng các thành tựu của công nghiệp 4.0 Đặc biệt, công ty đã phát triển công nghệ xi măng Zero Emission-Natural Cycle, cho ra mắt nhiều mẫu sản phẩm mới với các đặc tính vượt trội.
Sản phẩm xi măng MAXPRO nổi bật, góp phần quan trọng vào việc tăng cường tài chính của công ty qua từng năm và nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường.
Tại Việt Nam, nhu cầu xây dựng ngày càng tăng đã thúc đẩy ngành sản xuất xi măng phát triển mạnh mẽ, đóng góp đáng kể vào tài chính của công ty Sự vững vàng về năng lực tài chính không chỉ giúp công ty mở rộng sản xuất mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động kinh doanh khác.
Dự đoán xu thế về tình hình tài chính của công ty trong các năm tới
Trong bối cảnh dịch COVID-19, hoạt động sản xuất tại các nhà máy vẫn được duy trì, nhưng xuất khẩu xi măng của Việt Nam sang các thị trường chính như Trung Quốc, Philippines và Bangladesh đã giảm từ 15-20% trong quý I/2020 do nhu cầu giảm sút Các biện pháp phong tỏa nghiêm ngặt ở những quốc gia này đã làm đình trệ nhiều đơn hàng xuất khẩu Dự báo, sau đại dịch, nhu cầu xuất khẩu sẽ phục hồi chậm do áp lực tồn kho cao, dẫn đến cạnh tranh gia tăng trên thị trường Trong nước, lĩnh vực xây dựng không để ở, vốn có mức tăng trưởng cao, cũng bị ảnh hưởng bởi sự suy giảm lượng khách du lịch và dòng vốn FDI vào Việt Nam Các phân khúc xây dựng quan trọng như bất động sản nhà ở và cơ sở hạ tầng chưa có động lực hỗ trợ đáng kể, trong khi nhu cầu xây mới tiếp tục tăng trưởng thấp, tạo ra những hạn chế tiêu cực cho các doanh nghiệp xi măng, đặc biệt là Công ty Cổ phần Xi măng Vicem Hải Vân.
Ngành xi măng hiện đang đối mặt với tình trạng tiêu thụ kém cả trong nước lẫn xuất khẩu, dẫn đến áp lực từ mức tồn kho cao nhất trong nhiều năm Sự cạnh tranh giá gay gắt giữa các doanh nghiệp do hàng hóa tiêu thụ chậm và tồn kho ứ đọng đã gây khó khăn cho khả năng thanh toán các khoản chi phí hoạt động Trong bối cảnh dịch bệnh vẫn chưa được kiểm soát, doanh nghiệp cũng không kỳ vọng vào sự tăng trưởng mạnh về doanh thu trong thời gian tới.
Các công ty xi măng thường bị ảnh hưởng bởi giá than và giá điện Năm 2020, giá điện giữ ổn định và giá than thấp do nhu cầu giảm trong thời gian dịch COVID-19 Nếu trong những năm tới, nhu cầu than phục hồi mạnh và giá điện tăng, các công ty sẽ khó có thể điều chỉnh giá bán kịp thời, dẫn đến suy giảm biên lợi nhuận gộp.