Trong các cuộc đối thoại, Socrates hay Platon thường bắt đầu bằng việc họ tuyên bố không biết gì về một chủ đề và đưa ra câu hỏi cho các nhân vật khác, để rồi sau cùng, thu về những tri
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC Đề tài: Các hình thức của phép biện chứng và sự suy luận của tác giả Hướng dẫn khóa học: Học viên thực hiện: Lớp: Mã học viên: Khoa : Đầu tư MỤC LỤC Lời nói đầu……… 3
Nội dung……… 4
Chương 1: Một vài nét về phép biện chứng……… 4
Chương 2: Các hình thức của phép biện chứng……… 6
Trang 22.1 Phép biện chứng tự phát……… 6
2.1.1 Sự hình thành và phát triển………
2.1.2 Đặc điểm………
2.1.3 Tiêu biểu………
2.1.4 Nhận xét………
2.2 Phép biện chứng duy tâm……….7
2.2.1 Sự hình thành và phát triển………
2.2.2 Đặc điểm………
2.2.3 Tiêu biểu………
2.2.4 Nhận xét………
2.3 Phép biện chứng duy vật……… 9
2.3.1 Sự hình thành và phát triển………
2.3.2 Đặc điểm………
2.3.3 Nội dung………
2.3.4 Tiêu biểu………
2.3.5 Nhận xét………
2.4 Một vài ví dụ thực tiễn về áp dụng phép biện chứng……… 12
2.4.1 Khoa học………
2.4.2 Kinh tế………
2.4.3 Chính trị………
Chương 3: Suy luận và vận dụng……….14
Lời kết - Tài liệu tham khảo……… 15
LỜI NÓI ĐẦU
Tồn tại ở cả nền triết học phương Đông và phương Tây thời cổ đại, thuật ngữ “biện chứng “ ("dialectic") có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp cổ, và dần trở nên phổ biến qua những cuộc đối thoại kiểu Socrates của Platon
Socrates và Platon đều là những nhà triết học đến từ Hy Lạp Cổ đại, một người được coi là một trong những người xây dựng nên những viên gạch đầu tiên của nền triết học phương
Trang 3Tây, người còn lại thì sáng lập nên trường phái tư tưởng Platon, đồng thời xây dựng nên Học viện – nơi sản sinh ra nhiều lớp người trí thức kiệt xuất mà trong đó nổi bật là Aristoteles, người sau này trở thành thầy của Alexandros Đại đế Là một trong những tín đồ trẻ tận tụy của Socrates, tuy nhiên, mối quan hệ giữa Platon và Socrates vẫn còn ở trong các cuộc tranh luận giữa các nhà học giả Nhưng sau cùng, có một điều chắc chắn rằng, cả Platon và
Socrates đều bị ảnh hưởng lẫn nhau ở một khía cạnh nào đó và điều làm nên sợi dây liên kết giữa họ chính là những cuộc đối thoại làm nên sự phổ biến của phép biện chứng sau này Đối thoại Socrate là một cuộc tranh luận gồm 2 hay nhiều người, khác với hình thức hùng biện chỉ gồm có 1 người đơn phương thuyết phục người nghe đi theo lối suy nghĩ của mình, mà theo Susan Koba và Anne Tweed, đây là một hình thức tuyệt vời nhằm thúc đẩy tư duy phản
xạ và phản biện Trong các cuộc đối thoại, Socrates hay Platon thường bắt đầu bằng việc họ tuyên bố không biết gì về một chủ đề và đưa ra câu hỏi cho các nhân vật khác, để rồi sau cùng, thu về những tri thức đầy đủ và sâu sắc hơn về vấn đề.Về sau, khi sự phổ biến của các
“ cuộc đối thoại” như vậy càng ngày càng lớn, nó không chỉ kéo theo sự lan rộng của phép biện chứng mà còn khiến Socrates bị đưa ra xét xử và bị buộc tội “làm hư thanh niên” khi mà những “kẻ bắt chước” xuất hiện khắp Athens với những câu hỏi và lý luận một số được cho
là tìm ra sự thật, một số lại được coi là yêu sách – điều không thể chấp nhận nổi đối với nhiều người trong giới thượng lưu Hy Lạp
Như vậy, các “cuộc đối thoại của Socrates” hay “cuộc đối thoại của Platon” cũng là một dạng của lý luận biện chứng, đưa phương pháp tư duy biện chứng đến gần hơn với cuộc sống tinh thần con người khi các cuộc tranh luận có thể không đưa ra được một sự chắc chắn tuyệt đối nhưng tuyệt đối gây nên lòng hiếu kỳ và khả năng tìm ra “ sự thật” với năng suất hoạt động cao Giống như các cuộc tranh luận của Socrates ở cách ông gợi mở vấn đề, đưa ra các lập luận, lý luận dù đúng hay sai và đưa ra kết luận – một quá trình phát triển tư duy đặc trưng của con người thì ở biện chứng, cũng tồn tại thứ gọi là “tam đoạn biện chứng” gồm : chính
đề, phản đề và hợp đề
Trong lịch sử hình thành và hoàn thiện của phương pháp tư duy biện chứng, đứng trước sự biến đổi và phát triển không ngừng của tình hình thời cuộc nói chung và tiến bộ khoa học kỹ thuật nói riêng, phép biện chứng trải qua 3 hình thái phát triển, đó là: phép biện chứng tự phát, biện chứng duy tâm và biện chứng duy vật Mỗi hình thái biện chứng ra đời đều có một bối cảnh hình thành riêng, đó có thể là do biến động về mặt xã hội hay sự xuất hiện của các phát kiến mới trong nghiên cứu khoa học, mà chính sự khác biệt ấy đã đem lại cho các hình thái biện chứng những nét khác biệt căn bản Các phép biện chứng tự phát, duy tâm và duy vật lần lượt ra đời nhằm đáp ứng các nhu cầu lý giải thế giới của con người ở các mức độ khác nhau và tại các thời điểm khác nhau, đồng thời đóng vai trò như một bước chuyển mình, tự khắc phục những yếu điểm, hạn chế của phép biện chứng thời kỳ trước, phần nào phản ánh lên được trình độ nhận thức của con người qua các giai đoạn lịch sử
Như vậy, việc nghiên cứu các hình thái của phương pháp biện chứng sẽ đem lại nhiều giá trị khi ta có thể áp dụng chúng như một cách định hướng nhằm giải quyết các vấn đề thực tiễn, biết được quá trình phát triển nhận thức của loài người trong quá khứ tại từng giai đoạn biến động khác nhau của lịch sử cũng như hoàn thiện hơn nữa phương pháp tư duy này
Trang 4Nội dung
Chương 1: Một vài nét về phép biện chứng
Sự đối lập giữa 2 phương pháp tư duy biện chứng và siêu hình
Trong triết học, có 2 phương pháp tư duy chung nhất đối lập nhau: đó là phép biện chứng và siêu hình
Được biết đến với lối tư duy cứng nhắc, phép siêu hình cho phép con người ta nhìn nhận sự vật trong trạng thái tĩnh, tách biệt, cô lập đối tượng hoàn toàn ra khỏi những mối liên hệ qua lại giữa chúng cùng các sự vật khác Đồng thời, kết luận đồng nhất sự vật ở trạng thái tĩnh nhất thời đó với toàn thể, cho rằng sự biến đổi nếu có chỉ khiến sự vật thay đổi bên ngoài, không làm thay đổi về chất Trong những năm tháng đầu của thế kỉ XVIII, sự xuất hiện của phép siêu hình thực sự đã mang lại những đóng góp lớn cho cơ học cổ điển, chi phối hoàn toàn những người Pháp khi con người ta đặt sự vật ra khỏi những mối liên hệ nhất định và nhận thức nó ở trạng thái không biến đổi Thời điểm này, siêu hình đã thực sự đem lại những giá trị vô giá, hệ thống hóa các tài liệu khoa học tự nhiên, góp phần vào công cuộc chống lại chủ nghĩa duy tâm và tôn giáo Tuy nhiên, đến cuối thế kỉ XVIII, phép siêu hình đã bộc lộ những khuyết điểm chí mạng mà hoàn toàn có thể khiến chúng trở thành thứ xiềng xích lớn nhất cho sự phát triển của khoa học tự nhiên thời kỳ này Đó trở thành khiếm khuyết khi mọi
sự vật đều chứa đựng mâu thuẫn trong khi bản chất của phương pháp tư duy siêu hình lại bác
bỏ mâu thuẫn của sự vật trong quá trình biến đổi, vận động, tác động lẫn nhau của chúng Hay như theo Ph.Ăngghen đã chỉ rõ : “ Phương pháp đó chỉ nhìn những sự vật riêng biệt mà không nhìn thấy mối liên hệ qua lại giữa các sự vật ấy, chỉ nhìn thấy sự tồn tại của những sự vật ấy mà không nhìn thấy phát sinh và sự tiêu vong của sự vật ấy, chỉ nhìn thấy trạng thái tĩnh của những sự vật ấy mà quên mất sự vận động của những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy cây mà không thấy rừng” Trong trường học, các thầy cô cũng thường xuyên lấy một ví dụ kinh điển
để minh họa cho nhược điểm của phép siêu hình, đó là câu chuyện thầy bói xem voi Trong truyện, sự xuất hiện của những thầy mù chính là hiện thân của các khiếm khuyết phép siêu hình, các thầy xem xét riêng biệt các bộ phận của con voi rồi quy đó làm tổng thể dẫn đến những nhầm lẫn dở khóc dở cười mà không biết những bộ phận các thầy sờ thấy thực chất liên hệ với nhau, chúng đều chỉ là một bộ phận của tổng thể
Mặt khác,phép biện chứng nhận thức đối tượng trong mối liên hệ phổ biến vốn có của nó, tức không chỉ nhìn nhận đối tượng riêng biệt mà còn nhìn nhận nó trong tổng thể, đồng thời, nhận thức đối tượng ở trang thái luôn vận động, biến đổi, nằm trong khuynh hướng phổ quát
là phát triển Mà trong đó, nguồn gốc của sự vận động, thay đổi đó là sự đấu tranh của các mặt đối lập của mâu thuấn nội tại của bản thân sự vật Chính vì vậy, đối lập với phép siêu hình, sự ra đời của phép biện chứng như một cách để bù đắp các khiếm khuyết của siêu hình, thích hợp cho sự tìm hiểu khoa học của loài người sau này Hay nói cách khác, ở một khía cạnh nào đó thì tư duy siêu hình là một trường hợp đặc biệt của phép biện chứng Phương pháp tư duy biện chứng đã sửa chữa các sai lầm của siêu hình khi xem xét sự vật cả trong mối liên hệ của chúng với những sự vật khác, không chỉ nhìn ra sự hình thành mà còn quan
Trang 5tâm đến cả quá trình tiêu vong và biến đổi không ngừng của sự vật Có thể nói, cuộc khủng hoảng vật lý học cuối thế kỷ XIX đã đánh dấu chấm hết cho những luận diểm sai lầm của siêu hình, khi mà việc nghiên cứu chuyển từ giai đoạn sưu tập, chỉnh lý các phát hiện cũ sang nghiên cứu quá trình phát triển của sự vật hiện tượng, đồng thời , mở ra cơ hội cho sự phát triển biện chứng Ph.Ăngghen từng nhận xét rằng, trái ngược với siêu hình, biện chứng là tư duy mềm dẻo, linh hoạt, không tuyệt đối hóa những ranh giới nghiêm ngặt: “ Trong những trường hợp cần thiết, bên cạnh cái “hoặc là…hoặc là” thì còn có cả “cái này lẫn cái kia” nữa,
và thực hiện sự môi giới giữa các mặt đối lập” Như vậy, bằng cách phản ánh đối tượng một cách bao quát, chân thực, biện chứng trở thành công cụ hữa hiệu cho mọi khoa học, cải tạo thế giới quan và nhận thức của con người
Như đã đề cập ở trên, biện chứng cũng như tư duy khoa học thuần túy của con người, cũng gồm 3 đoạn biện chứng: chính đề, phản đề và hợp đề:
Chính đề: đầu tiên đưa ra một ý tưởng, lý thuyết, hoặc một xu hướng vận động nào
đó
Phản đề: sau khi có chính đề, sẽ luôn tồn tại các ý kiến trái chiều liên quan đến chính
đề ấy, chúng được gọi là "phản đề" Chính đề cùng phản đề sẽ luôn diễn ra tranh chấp như thế cho đến khi đặt được một kết quả nào đó mà có thể thỏa mãn cũng như giải thích được cả chính đề lẫn phản đề
Hợp đề: là giải pháp cuối cùng được chấp nhận sau cuộc đấu tranh giữa phản đề và chính đề, tuy nhiên, đây có thể không phải là hợp đề cuối cùng khi tiếp tục có những phản đề nổ ra
Chương 2: Các hình thức của phép biện chứng
Song song đó, với sự phát triển của triết học, biện chứng đã trải qua 3 giai đoạn hình thành
và phát triển ứng với mỗi thời kỳ lịch sử và đặc trưng tư duy khác biệt: phép biện chứng tự phát, phép biện chứng duy tâm và phép biện chứng duy vật
2.1 Phép biện chứng tự phát
2.1.1 Sự hình thành và phát triển
Ngay từ thời kỳ Cổ đại , các nhà biện chứng ở cả phương Đông lẫn phương Tây đã nhận thấy
sự hình thành, biến hóa và vận động vô cùng vô tận của sự vật cùng vũ trụ chứa đựng sự vật
ấy, đây chính là thời điểm hình thành nên phép biện chứng tự phát – hình thức đầu tiên của phép biện chứng trong lịch sử triết học Để rồi từ đây, phép biện chứng này trở thành nền tảng cho sự phát triển của nhiều hệ thống triết học ở cả phương Đông lẫn phương Tây Nói đến phép biện chứng tự phát , ta phải nhắc đến 3 nền triết học tiêu biểu của thời kỳ này: nền triết học Trung Quốc cổ đại, triết học Ấn Độ cổ đại và triết học Hy Lạp cổ đại
Đề cập tới phép biện chứng tự phát của nền triết học cổ đại Trung, không thể không nhắc đến
“biến dịch luận” - thuyết nói về những nguyên lý, quy luật biến đổi phổ biến trong vũ trụ và
“ngũ hành luận” - thuyết nói về những nguyên tắc tương tác, biến đổi của các tố chất bản thể trong vũ trụ của Âm dương gia Theo phái này, mọi tồn tại đều là sự thống nhất của các mặt
Trang 6đối lặp được gọi là 2 mặt âm-dương, đồng thời cho rằng xuất phát điểm của thế giới là từ các nhân tố: Kim – Mộc – Thủy – Hỏa – Thổ
Ở triết học Ấn Độ, ta lại thấy sự xuất hiện của phép biện chứng này đặc biệt ở đạo Phật Thế giới quan triết học Phật giáo cùng các tư tưởng biện chứng của nó biểu hiện rõ nét nhất qua các phạm trù cơ bản: “vô ngã”, “vô thường” và “nhân duyên” Trong thời kỳ này, triết học
Ấn Độ đã biểu hiện nhiều dấu vết của tư tưởng biện chứng sơ khai tuy còn bộc lộ nhiều hạn chế
Có thể nói, phép biện chứng tự phát được thể hiện rõ nét nhất ở nền triết học cổ đại Hy Lạp Ph.Ăngghen viết: “Những nhà triết học Hy Lạp cổ đại đều là những nhà biện chứng tự phát, bẩm sinh, và Arixtốt, bộ óc bách khoa nhất trong các nhà triết học ấy, cũng đã nghiên cứu những hình thức căn bản nhất của tư duy biện chứng… Cái thế giới quan ban đầu, ngây thơ, nhưng xét về thực chất thì đúng đó là thế giới quan của các nhà triết học Hy Lạp cổ đại và lần đầu tiên đã được Hêraclit trình bày một cách rõ ràng: mọi vật đều tồn tại và đồng thời lại không tồn tại, vì mọi vật đang trôi đi, mọi vật đều không ngừng thay đổi, mọi sự vật đều không ngừng phát sinh và tiêu vong”‘
2.1.2 Đặc điểm
Thời kỳ này, phép biện chứng tự phát đã giúp loài người có cái nhìn đầu tiên về sự vật hiện tượng trong sự biến hóa vô cùng của nó, thoát khỏi cách tư duy phiến diện bằng cách đặt đối tượng vào sự vận động, tổng kết ra những tri thức quý báu Các nhà triết học ở phương Đông lẫn phương Tây thời cổ đại đã thấy được các sự vật hiện tượng của vũ trụ vận động trong sự sinh thành, biến hóa vô cùng vô tận Ở đây có thể kể đến là các giá trị tư tưởng triết học của Đạo gia, Phật giáo,…
Tuy nhiên, do sự hạn chế của khoa học, những kết luận có được từ phép biện chứng này đều chưa được kiểm chứng Ph.Ăngghen nhận xét: “Trong triết học này, tư duy biện chứng xuất hiện với tính chất thuần phác tự nhiên chưa bị khuấy đục bởi những trở ngại đáng yêu… Chính vì người Hy Lạp chưa đạt tới trình độ mổ xẻ, phân tích giới tự nhiên, cho nên họ hãy còn quan niệm giới tự nhiên là một chỉnh thể và đứng về mặt toàn bộ mà xét chỉnh thế ấy Mối liên hệ phổ biến giữa các hiện tượng tự nhiên chưa được chứng minh về chi tiết: đối với
họ, mối liên hệ đó là kết quả của sự quan sát trực tiếp” Vào thời điểm này, phép biện chứng thậm chí còn chưa được trình bày thành 1 hệ thống lý luận mà mới chỉ manh nha biểu hiện các yếu tố của biện chứng Các nhà triết học mới chỉ nhận thấy cái đối lập mà chưa nhìn ra được các mặt đối lập, mới chỉ thấy được bức tranh chung về sự vận động mà chưa thấy được tiến trình vận động cụ thể, thấy cái chung mà suy ra ra cái riêng Hay nói một cách khái quát, phép biện chứng thời kỳ này chỉ thấy rừng mà không thấy cây
2.1.3 Tiêu biểu
Hưởng ứng phép biện chứng tự phát tiểu biểu phải kể tới Hêcralit Ông nhận định rằng vạn vật không ngừng vận động và phát triển như dòng chảy của một con sông vậy, do đó, không
ai tắm hai lần trên một dòng sông: “Chúng ta không thể tắm hai lần trên một dòng sông vì nước mới không ngừng chảy trên sông” hay quan niệm “Ngay cả mặt trời cũng mỗi ngày một mới” Theo ông, không có sự vật nào là đứng im tuyệt đối mà chúng luôn ở trong trạng thái vận động, biến đổi không ngừng
Trang 72.1.4 Nhận xét
Biện chứng ngây thơ phần nhiều dựa trên quan sát trực quan, chỉ có ý nghĩa vô thần, do không có khoa học nghiệm chứng nên mang ít giá trị khoa học, tính tin cậy không cao Bởi lẽ
đó, biện chứng tự phát thời kỳ này mang nhiều hạn chế, dễ dàng bị phép siêu hình lấn át
2.2 Phép biện chứng duy tâm
2.2.1 Sự hình thành và phát triển
Từ cuối thế kỉ XVIII, khi khoa học tự nhiên chuyển đối tượng nghiên cứu sang nghiên cứu
sự vật trong sự vận động và mối liên hệ với các sự vật khác thì phép siêu hình đã không còn phù hợp mà thay thế vào phương pháp tư duy cao cấp hơn-tư duy biện chứng Sự phát triển của các tri thức triết học trong thời kỳ này đòi hỏi phải có phép biện chứng với tư cách là một phương pháp lý giải các vấn đề cấp bách của triết học và hơn thế nâng nó lên thành một khoa học thật sự
Mặt khác, tương phản với sự phát triển công nghiệp ở Tây Âu, sự lạc hậu của Đức khiến cho giai cấp tư sản của quốc gia này buộc phải có cách nhìn mới hơn về thế giới và con người Trong khoảng thời gian này, triết học cổ điển Đức đã ra đời và phát triển cực thịnh, mang đến cho nhân loại một góc nhìn mới về cách nhìn nhận bản chất của hiện tượng cũng như tiến trình phát triển của nhân loại, trở thành 1 trong 3 nguồn gốc hình thành nên chủ nghĩa Mác- nguồn gốc triết học
2.2.2 Đặc điểm
Theo các nhà triết học, biện chứng bắt đầu từ tinh thần và kết thúc ở tinh thần Mà ở biện chứng duy tâm, thế giới hiện thực chỉ là sự phản ánh biện chứng ý niệm nên phép biện chứng của các nhà triết học cổ điển Đức thuộc phương pháp tư duy này Đối với Hêghen, tính chất duy tâm của ông bộc lộ ở chỗ ông cho rằng biện chứng là quá trình phát triển khởi đầu của
“ý niệm tuyệt đối”, coi biện chứng chủ quan là cơ sở của biện chứng khách quan “Ý niệm tuyệt đối” theo Hêghen, là nơi bắt đầu của tồn tại, nó tự “tha hóa” thành giới tự nhiên và trở
về với bản thân nó trong tồn tại tinh thần, ông viết: “… tinh thần, tư tưởng, ý niệm là cái có trước, còn thế giới hiện thực chỉ là một bản sao chép của ý niệm” Thời kỳ này, các nhà triết học duy tâm mà đỉnh cao là Hêghen cùng các nhà triết học cổ điển Đức đã mang lại nhiều giá trị thiết thực cho nhân loại bên cạnh những khuyết điểm mà biện chứng thời kỳ này bị mắc phải bởi tính thần bí V.I.Lênin từng nhận xét: “Hêghen đã đoán được một cách tài tình biện chứng của sự vật (của những hiện tượng, của thế giới, của giới tự nhiên) trong biện chứng của khái niệm” Ph.Ăngghen cũng cho rằng: “Tính chất thần bí mà phép biện chứng đã mắc phải ở trong tay Hêghen tuyệt nhiên không ngăn cản Hêghen trở thành người đầu tiên trình bày một cách bao quát và có ý thức những hình thái vận động chung của phép biện chứng Ở Hêghen phép biện chứng bị lộn ngược đầu xuống đất Chỉ cẩn dựng nó lại là sẽ phát hiện được cái hạt nhân hợp lý của nỏ ở đằng sau cái vỏ thần bí của nó.”
2.2.3 Tiêu biểu
Nói đến phép biện chứng duy tâm ở thời kỳ đỉnh cao của nền triết học cổ điển Đức thì không thể không nhắc tới Hêghen và Cantơ, mà theo Ph.Ăngghen:”Hình thức thứ hai của phép biện
Trang 8chứng, hình thức quen thuộc nhất với các nhà khoa học tự nhiên Đức, là triết học cổ điển Đức, từ Cantơ đến Hêghen” Nếu Cantơ xây dựng nên những giả thuyết tìm hiểu về sự hình thành của vũ trụ, của vạn vật thì Hêghen đã có công trong việc tìm ra các phạm trù, quy luật
cơ bản của biện chứng trong triết học, biến biện chứng trở thành một môn khoa học, mang lại
ý nghĩa vô cùng to lớn cho cách mạng triết học bất chấp những khiếm khuyết tồn đọng cấu thành bởi nhiều yếu tố
2.2.4 Nhận xét
Lần đầu tiên trong lịch sử triết học, phương pháp biện chứng đã được các nhà triết học Đức
hệ thống một cách logic những tư tưởng, nội dung, khái niệm quan trọng nhất Đồng thời, với ảnh hưởng từ bối cảnh nước Đức thời bấy giờ: chịu ảnh hưởng phát triển của các nước Tây Âu, muốn phản kháng và phát triển tuy nhiên lại vấp phải những khó khăn do còn yếu kém về kinh tế và chính trị dẫn đến xu hướng ưu tiên lập trường cải lương trong việc giải quyết những vấn đề của đất nước Chính điều này đã làm nên nét riêng của triết học cổ diển Đức nói chung và phép biện chứng duy tâm nói riêng: nội dung cách mạng dưới một hình thức duy tâm bảo thủ, đề cao vai trò tích cực của tư duy con người, coi con người là một thực thể hoạt động, là nền tảng, là điểm xuất phát của mọi vấn đề triết học – biện chứng bắt đầu ở tinh thần và kết thúc ở tinh thần Ngoài ra, phép biện chứng thời điểm này còn mắc phải một vài nhược điểm như: còn thiếu triệt để và khoa học, đề cao quá mức sức mạnh và trí tuệ con người do bị ảnh hưởng bởi thế giới quan duy tâm, là hệ thống triết học đóng với tư tưởng triết học nói chung và phép biện chứng duy tâm nói riêng đã ở thòi kỳ cực thịnh, không thể phát triển thêm nữa
2.3 Phép biện chứng duy vật
2.3.1 Sự hình thành và phát triển
Vào những năm 1840, khi Mỹ và Châu Âu đang ở những giai đoạn cuối của cách mạng công nghiệp lần thứ nhất, bên cạnh những phát kiến vượt bậc của khoa học công nghệ thì trong xã hội cũng đã nhen nhóm nảy sinh vấn đề giai cấp Chính điều đó đã dẫn đến sự nổi lên của nhiều cuộc đấu tranh từ giai cấp công nhân, tuy phong trào đấu tranh còn chưa thực sự phát triển do còn mang tính nhất thời, riêng lẻ nhưng không thể phủ nhận được ảnh hưởng của chúng tới tình hình mâu thuẫn giai cấp thời kỳ này Bất công xã hội ngày càng nghiêm trọng
ở các nước công nghiệp hóa lúc này không thể được giải thích bởi phép biện chứng duy tâm nữa, các cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân đòi hỏi một con đường, một vũ khí lý luận sắc bén góp sức Đồng thời, sự phát triển vượt bậc của khoa học tự nhiên khi ra đời 3 phát minh lớn: định luật bảo toàn và chuyển hoá năng lượng, học thuyết về tế bào và thuyết tiến hoá của Darwin đã đòi hỏi triết học chỉ ra được mối liên hệ về quá trình vận động của đối tượng trong tự nhiên, để rồi chỉ ra được tính toàn diện trong sự vận động của chúng Chính trong bối cảnh ấy, Marx và Ph.Ăngghen đã đề xuất xây dựng nên chủ nghĩa duy vật biện chứng Đánh dấu cho bước chuyển mình của phương pháp tư duy biện chứng này chính là sự
ra đời của tác phẩm “Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hêghen, lời nói đầu” cùng với hoàn thiện cơ sở biện chứng duy vật nhờ nhiều tác phẩm khác ở các giai đoạn khác sau này
Trang 9Sau sự thành công của Marx và Ph.Ăngghen, Leenin cùng các nhà triết học hậu thế đã góp phần hoàn thiện và đưa biện chứng duy vật lên tầm cao mới Đặc biệt, các đóng góp phát triển chủ nghĩa duy vật biện chứng của Lênin còn gắn liền với các phong trào cách mạng cùng con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội, để lại những cống hiến quý báu cho hậu thế 2.3.2 Đặc điểm
Ở phép biện chứng duy vật của C.Mác và Ph.Ăngghen có hai đặc điểm cơ bản:
Thứ nhất, đây là phép biện chứng được hình thành trên cơ sở của thế giới quan duy vật khoa học Đặc trưng này của phép tư duy không chỉ có sự khác biệt căn bản với phép biện chứng duy tâm theo tư tưởng Hêgghen mà còn là bước tiến vượt bậc trong trình độ phát triển biện chứng triết học so với các tư tưởng biện chứng khác trong lịch sử Như vậy, không chỉ loại trừ được tính chất duy tâm trong triết học cổ điển Đức, 2 ông đã kế thừa các “hạt nhân hợp lý” trong biện chứng duy tâm đồng thời xây dựng nên một biện chứng duy vật với bản chất khác hẳn các phép biện chứng thời kỳ trước Ph.Ăngghen từng nhận xét: “Có thể nói rằng hầu như chỉ có Mác và tôi là những người đã cứu phép biện chứng tự giác thoát khỏi triết học duy tâm Đức và đưa nó vào trong quan niệm duy vật về tự nhiên và về lịch sử”
Thứ hai, Mác và Ăngghen đã có công lớn trong việc tạo nên sự thống nhất giữa phép biện chứng duy vật với chủ nghĩa duy vật, khiến cho phép biện chứng trở thành phép biện chứng duy vật và chủ nghĩa duy vật trở thành chủ nghĩa duy vật biện chứng, nhờ vậy, phép tư duy không những có khả năng giải thích thế giới mà còn có thể trở thành công cụ để nhận thức và cải tạo thế giới Từ nền tảng khái quát sự tương tác và vận động, phát triển của các sự vật, hiện tượng của tự nhiên, xã hội, phép biện chứng duy vật cho ra những phương pháp luận chung nhất, đây thực sự là một phương pháp luận toàn diện hỗ trợ cho việc nhận thức và cải tạo thế giới
2.3.3 Nội dung
Nêu lên định nghĩa cơ bản của phép biện chứng này, Ph.Ăngghen cho rằng: “Phép biện chửng là khoa học về mối liên hệ phổ biến, “khoa học về những quy luật phổ biến của sự vận động và sự phát triển của tự nhiên, của xã hội loài người và của tư duy” Phép biện chứng duy vật trình bày một cách chặt chẽ, có hệ thống tính chất biện chứng của thế giới qua những nguyên lý và phạm trù cơ bản sau:
Trang 10
Phép biện chứng duy vật gồm 2 nguyên lý cơ bản:
Nguyên lý về sự phổ biến: bao quát những mối liên hệ phổ biến trong tư duy, tự nhiên
và xã hội Do đó, đây là nguyên tắc phương pháp luận chung nhất cho mọi hoạt động cùng suy nghĩ của loài người Sự toàn diện này đối lập với cách tư duy phiến diện, siêu hình
Nguyên lý về sự phát triển: giống như nguyên ký phổ biến, nguyên lý này là nguyên tắc chung nhất định hướng mọi hành vi và tư duy con người Nguyên tắc này đòi hỏi đánh giá sự vật, hiện tượng trong sự biến đổi và vận động của chúng, cần có tư duy linh hoạt, năng động, mềm dẻo, không sợ cái mới
Nguyên lý về sự phổ biến trong phép biện chứng duy vật lại được làm rõ thêm qua các quy luật và cặp phạm trù:
Các cặp phạm trù: cái riêng và cái chung, tất nhiên và nhẫu nhiên, bản chất và hiện tượng là cơ sở phương pháp luận của các phương pháp phân tích và tổng hợp; diễn dịch và quy nạp; khái quát hóa, trừu tượng hóa để nhận thức được toàn bộ các mối liên hệ trong hệ thống Như vậy, các cặp phạm trù này đóng vai trò giúp cho con người ta có thể hiểu được tương quan bản chất để rồi nhìn nhận ra được hệ thống mối liên hệ một cách toàn diện
Các cặp phạm trù: nguyên nhân và kết quả, khả năng và hiện thực thể hiện trình tự diễn ra mối liên hệ nối tiếp nhau theo một quá trình tự nhiên
Cặp phạm trù: nội dung và hình thức là cơ sở phương pháp luận nắm bắt biểu hiện hay các hình thức tồn tại của đối tượng trong sự phụ thuộc vào nội dung, thể hiện tính
đa dạng trong hoạt động nhận thức và thực tiễn
Ngoài ra, phép biện chứng duy vật còn có 3 quy luật cơ bản về sự phát triển :
Quy luật lượng – chất: quy luật này chỉ ra sự thay đổi về chất chỉ xảy ra khi khi sự vật, hiện tượng đã tích lũy những thya đỏi về lượng đạt đến ngưỡng nhất định
Quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập: bản chất là hạt nhân của phép biện chứng duy vật do nó đề cập tới các vấn đề quan trọng và cơ bản nhất: vấn đề nguồn gốc, động lực của sự phát triển, thể hiện quá trình đấu tranh bên trong giữa các mặt đối lập
Quy luật phủ định của phủ định: thể hiện xu hướng phát triển tiến lên theo hình thức xoáy ốc và tính chu kỳ của quá trình phát triển Phủ định biện chứng yêu cầu sự kế thừa được tuân thủ một cách có chọn lọc
2.3.4 Tiêu biểu
Tiêu biểu cho những đóng góp vào phép biện chứng duy vật thì phải kể đến sự xuất hiện của C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin Trong đó, C.Mác và Ph.Ăngghen đã xây dựng nên biện chứng duy vật mà V.I.Lênin sau này đã góp công lớn trong việc phát triển và hoàn thiện phép
tư duy này