Yêu cầu điều tra của Kiểm sát viên trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự về chức vụ từ thực tiễn tỉnh Đồng Nai. Yêu cầu điều tra của Kiểm sát viên trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự về chức vụ từ thực tiễn tỉnh Đồng Nai. Yêu cầu điều tra của Kiểm sát viên trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự về chức vụ từ thực tiễn tỉnh Đồng Nai. Yêu cầu điều tra của Kiểm sát viên trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự về chức vụ từ thực tiễn tỉnh Đồng Nai. Yêu cầu điều tra của Kiểm sát viên trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự về chức vụ từ thực tiễn tỉnh Đồng Nai.
Trang 1Hà Nội, năm 2021
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
- -DOÃN CAO SƠN
YÊU CẦU ĐIỀU TRA CỦA KIỂM SÁT VIÊN TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ VỀ CHỨC VỤ
TỪ THỰC TIỄN TỈNH ĐỒNG NAI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ
Trang 2Hà Nội, năm 2021
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
- -DOÃN CAO SƠN
YÊU CẦU ĐIỀU TRA CỦA KIỂM SÁT VIÊN TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ VỀ CHỨC VỤ
TỪ THỰC TIỄN TỈNH ĐỒNG NAI
Ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số : 8.38.01.04
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS ĐINH XUÂN NAM
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi
Công trình được thực hiện dưới sự hướng dẫn của Tiến sĩ Đinh Xuân Nam
Các tài liệu tham khảo, các số liệu sử dụng trong luận văn này là trung thực, đảm bảo tính khách quan, khoa học và có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng
Đồng Nai, ngày tháng 3 năm 2021
Tác giả Luận văn
Doãn Cao Sơn
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Luận văn “Yêu cầu điều tra của Kiểm sát viên trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự về
chức vụ từ thực tiễn tỉnh Đồng Nai” đã được hoàn thành thể hiện kết quả tổng hợp, cô đọng
của hai năm học cao học tại Học viện Khoa học xã hội
Tôi xin được trân trọng bày tỏ lòng biết ơn các thầy, cô là các giáo sư, phó giáo sư, tiến
sĩ đã tham gia giảng dạy lớp cao học khoá 2019 - 2021, đặc biệt xin cảm ơn TS Đinh XuânNam – Trường Đào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm sát tại thành phố Hồ Chí Minh đã nhiệt tình,nghiêm túc, trực tiếp hướng dẫn, chỉ đạo tôi hoàn thành luận văn này
Nhân dịp này tôi xin được chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong Hội đồng chấmluận văn; cảm ơn Học viện Khoa học xã hội đã giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn
Tác giả
Doãn Cao Sơn
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ YÊU CẦU ĐIỀU TRA CỦA KIỂM SÁT VIÊN TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ VỀ CHỨC VỤ 8
1.1.Những vấn đề lý luận về yêu cầu điều tra của Kiểm sát viên trong giai đoạn điều tra vụ ánhình sự về chức vụ 8
1.2.Quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về yêu cầu điều tra của Kiểm sát viêntrong giai đoạn điều tra vụ án hình sự về chức vụ 24
Chương 2: THỰC TIỄN THI HÀNH QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH
SỰ VỀ YÊU CẦU ĐIỀU TRA CỦA KIỂM SÁT VIÊN TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA
VỤ ÁN HÌNH SỰ VỀ CHỨC VỤ VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH TẠI TỈNH ĐỒNG NAI 30
2.1.Các kết quả đạt được về yêu cầu điều tra của Kiểm sát viên trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự về chức vụ tại tỉnh Đồng Nai 30
2.2.Thực trạng đề ra yêu cầu điều tra của Kiểm sát viên trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự
3.1.Tăng cường nhận thức, trách nhiệm về yêu cầu điều tra của Kiểm sát viên trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự về chức vụ 64
3.2.Tiếp tục hoàn thiện các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về yêu cầu điều tra của Kiểm sát viên trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự về chức vụ 65
3.3.Tăng cường năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ của Kiểm sát viên, Điều tra viên67
3.4.Tăng cường công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành 69
3.5.Tăng cường quan hệ phối hợp giữa Kiểm sát viên và Điều tra viên, giữa Viện kiểm sát và
Cơ quan điều tra 02 cấp tỉnh Đồng Nai 70
KẾT LUẬN 74 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 76
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BLHS: Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) BLTTHS:
Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015CQĐT: Cơ quan điều tra ĐTV:
Điều tra viênKSV: Kiểm sát viên KSĐT:
Kiểm sát điều tra TAND: Tòa án nhân dân
THQCT: Thực hành quyền công tố VKS:
Viện kiểm sátVKSND: Viện kiểm sát nhân dân YCĐT:
Yêu cầu điều tra
Trang 7MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra gắn Công tố với hoạt động điềutra là chủ trương lớn của Đảng và nhà nước ta đã được khẳng định trong Nghị quyết đại hộiĐảng lần thứ XI, lần thứ XII và tiếp tục được khẳng định trong Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày02/06/2005 của Bộ Chính trị về “Chiến lược cải cách Tư pháp đến năm 2020” Thể chế hóaquan điểm của của Đảng, Luật tổ chức VKSND năm 2014, BLTTHS năm 2015 đã quy định cụthể nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND khi thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra vụ ánhình sự, trong đó có một trong những nội dung quan trọng thuộc quyền năng của VKS đó làquyền đề ra yêu cầu điều tra
Quán triệt và thực hiện chủ trương của Đảng và các quy định của pháp luật, ngày
06/12/2013, Viện trưởng VKSND tối cao đã ban hành Chỉ thị số 06/CT-VKSTC “Về tăng
cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra gắn công tố với hoạt động điều tra đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm” Triển khai và thực hiện nghiêm túc chủ trương
lớn của Đảng, các quy định của pháp luật và Chỉ thị của Viện trưởng VKSND tối cao, trongnhững năm vừa qua, ngành kiểm sát tỉnh Đồng Nai đã có nhiều cố gắng trong việc thực hiệnquyền đề ra yêu cầu điều tra đối với các vụ án hình sự nói chung và các vụ án hình sự về chức
vụ nói riêng Qua báo cáo tổng kết hàng năm về công tác đấu tranh phòng chống tham nhữngtrên địa bàn tỉnh Đồng Nai, do thực hiện tốt yêu cầu điều tra ngay từ khi khởi tố vụ án hình sựcho đến khi kết thúc điều tra, nên hầu hết các vụ án hình sự về chức vụ đã hạn chế được tìnhtrạng trả hồ sơ điều tra bổ sung, việc điều tra, truy tố, xét xử đều đảm bảo đúng người, đúng tội,đúng pháp luật Tuy nhiên, do tính chất phức tạp của các vụ án hình sự về chức vụ là tội phạmthường xảy ra đã lâu nên tài liệu, chứng cứ đã lưu trữ nên việc thu thập thường mất nhiều thờigian; hành vi phạm tội liên quan đến nhiều lĩnh vực chuyên ngành; đối tượng phạm tội làngười có chức vụ, quyền hạn, có quan hệ và có năng lực trình độ chuyên môn trong việc thựchiện tội phạm và che dấu tội phạm rất tinh vi, khai báo không thành khẩn; việc phát hiện thugiữ kịp thời tài liệu chứng cứ; việc kê biên, phong tỏa tài sản gặp nhiều khó khăn; tài liệuchứng cứ có nhiều bút lục Chính vì vậy vẫn còn một số tồn tại, hạn chế nhất định như: KSVchưa bám sát hồ sơ ngay từ khi khởi tố vụ án hình sự và trong suốt quá trình khởi tố, điều tracác vụ án hình sự về chức vụ, do đó không phát hiện được vi phạm tố tụng của CQĐT cũngnhư không phát hiện được những mâu thuẫn còn tồn tại giữa các tài liệu, chứng cứ chứng minhtội phạm và người phạm tội để đề ra yêu cầu CQĐT khắc phục kịp thời Thậm chí có những vụ
án KSV không đề ra yêu cầu điều tra mặc dù ĐTV có những vi phạm pháp luật cụ thể; một sốYCĐT còn chung chung, không đề ra YCĐT cụ thể là ĐTV vi phạm gì theo quy định củaBLTTHS hoặc trong vụ án về chức vụ cần phải điều tra làm rõ những vấn đề gì, thậm chí cóKSV đề ra những yêu cầu điều tra nhưng CQĐT không thể thực hiện được hoặc đề ra yêu cầu
Trang 8điều tra sơ sài, từ ngữ không chính xác dẫn đến còn một số vụ án hình sự về chức vụ sau khikết thúc điều tra, CQĐT chuyển hồ sơ và bản kết luận điều tra, đề nghị truy tố sang VKS, khi
đó KSV mới phát hiện các vi phạm của CQĐT, hồ sơ còn thiếu chứng cứ hoặc các tài liệuchứng cứ còn có mâu thuẫn, không thể khắc phục được trong giai đoạn truy tố nên phải trả hồ
sơ điều tra bổ sung, kéo dài thời hạn tố tụng không cần thiết
Những tồn tại nêu trên có nhiều nguyên nhân khác nhau nhưng nguyên nhân chủ yếu vàcăn bản là một số lãnh đạo, Kiểm sát viên VKSND hai cấp tỉnh Đồng Nai chưa nhận thức đầy
đủ ý nghĩa về yêu cầu điều tra, chưa nghiên cứu kỹ hồ sơ để phát hiện các vi phạm tố tụng củaCQĐT và các mâu thuẫn giữa các tài liệu, chứng cứ, chưa quan hệ tốt với CQĐT vàĐTV
Chính vì vậy việc lựa chọn vấn đề “Yêu cầu điều tra của Kiểm sát viên tronggiai đoạn điều tra
vụ án hình sự về chức vụ từ thực tiễn tỉnh Đồng Nai” là đề tài luận văn Thạc sĩ là đáp ứng yêu
cầu tất yếu khách quan hiện nay
2.Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Vấn đề đề ra yêu cầu điều tra trong giai đoạn điều tra các vụ án về chức vụ của Kiểm sátviên luôn nhận được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu lý luận và những người làm công tácthực tiễn đặc biệt là đội ngũ Kiểm sát viên VKSND các cấp được giao nhiệm vụ THQCT vàKSĐT, KSXX vụ án hình sự Chính vì vậy có thể viện dẫn một số công trình luận văn, bài viếtđiển hình sau đây có liên quan đến đề tài luận văn
- Vũ Đắc Thới (2011), bàn về bản yêu cầu điều tra của Kiểm sát viên, tạp chí kiểm sát
- Trường Đào tạo, Bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm sát tại Thành phố Hồ Chí Minh (2020),
kỹ năng thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra, kiểm sát
Trang 9xét xử sơ thẩm các vụ án tham nhũng, chức vụ, tập bài giảng bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm sát.
- Vũ Thị Bích Hằng (2016), Trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về chức vụ trongluật hình sự Việt Nam, luận văn thạc sĩ, khoa luật trường Đại học Quốc Gia Hà Nội
- Trần Văn Luyện, Phùng Thế Vác, Bình luận BLHS 2015, sửa đổi bổ sung 2017)Chương XXII các tội phạm về chức vụ, nhà xuất bản Công an nhân dân Hà Nội
- Nguyễn Diệp Ngọc (2018), Tội tham ô tài sản trong pháp luật hình sự Việt Nam, luậnvăn thạc sĩ Trường Đại học Luật Hà Nội
Qua nghiên cứu các sách chuyên khảo, luận văn, các bài viết nêu trên cho thấy, các tácgiả đã nghiên cứu trên nhiều phương diện, dưới nhiều góc độ khác nhau về những vấn đề liênquan đến định tội danh, liên quan đến các quy định của BLHS về các tội phạm chức vụ; về vịtrí, tầm quan trọng của yêu cầu điều tra; về hình thức và nội dung của yêu cầu điều tra Đây lànhững kiến thức lý luận và thực tiễn mà tác giả luận văn có thể tham khảo, kế thừa và phát triểntrong quá trình thực hiện đề tài luận văn thạc sĩ Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu trên chưa
có công trình nào nghiên cứu sâu về lý luận đề ra YCĐT của KSV, về đối tượng chứng minhtrong các vụ án hình sự về chức vụ để làm cơ sở đề ra YCĐT của KSV, cũng như chưa đánh giáđược những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân trong việc đề ra và thực hiện YCĐT của KSV…Đặc biệt, tại địa bàn tỉnh Đồng Nai, việc đề ra YCĐT và thực hiện YCĐT trong các vụ án hình
sự về chức vụ của KSV Viện kiểm sát 02 cấp thời gian qua cũng còn nhiều hạn chế, bất cập và
trên thực tế, chưa có một công trình, đề tài, bài viết nào nghiên cứu về vấn đề “Yêu cầu điều
tra của Kiểm sát viên trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự về chức vụ từ thực tiễn tỉnh Đồng Nai” Do đó, đề tài luận văn hoàn toàn mới, không trùng lặp với bất cứ công trình, đề tài, bài
viết nào đã được công bố
3.Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu của đề tài luận văn là: nghiên cứu những vấn đề lý luận và thựctiễn về yêu cầu điều tra của Kiểm sát viên khi được phân công thực hành quyền công tố vàkiểm sát điều tra các vụ án về chức vụ từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượngyêu cầu điều tra của KSV trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự về chức vụ
- Nhiệm vụ nghiên cứu: Để đạt được mục đích nghiên cứu đã đề ra, trong quá trình thựchiện, đề tài có những nhiệm vụ cụ thể sau đây
+ Nghiên cứu và phân tích, làm rõ khái niệm, đặc điểm, vai trò, mục đích và ý nghĩa củayêu cầu điều tra của Kiểm sát viên trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự về chức vụ
+ Nghiên cứu, phân tích và làm rõ thẩm quyền, phạm vi, cơ sở, nội dung và hình thức củayêu cầu điều tra của KSV trong giai đoạn điều tra vụ án về chức vụ
+ Khảo sát, thu thập thông tin, số liệu có liên quan đến các vụ án về chức vụ; các bảnYCĐT một số vụ án về chức vụ trên địa bàn tỉnh Đồng Nai
Trang 10+ Đánh giá thực tiễn thi hành quy định của pháp luật tố tụng hình sự về yêu cầu điều tracủa Kiểm sát viên trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự về chức vụ và thực tiễn thi hành tạitỉnh Đồng Nai rút ra những kết quả đạt được, những tồn tại, khó khăn, vướng mắc và nguyênnhân.
+ Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng yêu cầu điều tra của Kiểm sát viêntrong đoạn điều tra vụ án hình sự về chức vụ
4.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài luận văn là những vấn đề lý luận và pháp luật về yêucầu điều tra và thực tiễn thi hành quy định của pháp luật tố tụng hình sự về yêu cầu điều tra củaKiểm sát viên trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự về chức vụ
-Phạm vi nghiên cứu
+ Về nội dung bao gồm những vấn đề liên quan đến yêu cầu điều tra của KSV khi được phân công THQCT, KSĐT các vụ án về chức vụ
+ Về không gian: Trên địa bàn tỉnh Đồng Nai
+ Về thời gian: 05 năm, kể từ năm 2016 đến năm 2020
5.Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận: Trong quá trình thực hiện đề tài, luận văn sử dụng phương phápluận là phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác – Lênin; quan điểm của Đảng và Nhà nước
ta về đấu tranh phòng chống các tội phạm về tham nhũng, chức vụ nhằm bảo đảm cho việcnghiên cứu đề tài đi đúng hướng
- Phương pháp nghiên cứu cụ thể: Để đạt được mục đích yêu cầu đã đề ra trong quá trìnhthực hiện, đề tài sử dụng các phương pháp cụ thể sau đây:
+ Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh được sử dụng trong quá trình nghiên cứu lýluận, pháp luật và đánh giá thực tiễn hoạt động đề ra yêu cầu điều tra của KSV trong giai đoạnđiều tra vụ án về chức vụ để làm rõ sự khác biệt giữa yêu cầu điều tra loại án này so với cácloại án khác
+ Phương pháp thu thập thông tin, số liệu các vụ án về chức vụ có bản yêu cầu điều tracủa Kiểm sát viên và hồ sơ một số vụ án điển hình có hoặc không có bản yêu cầu điều tra đểphân tích đánh giá thực trạng đề ra yêu cầu điều tra của Kiểm sát viên đối với các vụ án vềchức vụ
6.Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Ý nghĩa lý luận Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần hoàn thiện về mặt lý luận
về yêu cầu điều tra và bổ sung những kinh nghiệm thực tiễn cho đội ngũ KSV khi đề ra YCĐTđối với các vụ án hình sự nói chung và các vụ án hình sự về chức vụ nói riêng nhằm bảo đảmthực hiện tốt chức năng thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn
Trang 11điều tra vụ án hình sự về chức vụ.
- Ý nghĩa thực tiễn Kết quả nghiên cứu của đề tài luận văn có thể dùng làm tài liệu thamkhảo, nghiên cứu tại các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng của ngành Kiểm sát
7.Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu; kết luận; tài liệu tham khảo; nội dung của luận văn được kết cấuthành 03 chương, cụ thể như sau:
Chương 1 Những vấn đề lý luận và pháp luật về yêu cầu điều tra của Kiểm sát viên tronggiai đoạn điều tra vụ án hình sự về chức vụ
Chương 2 Thực tiễn thi hành quy định của pháp luật tố tụng hình sự về yêu cầu điều tracủa Kiểm sát viên trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự về chức vụ và thực tiễn thi hành tạitỉnh Đồng Nai
Chương 3 Các giải pháp nâng cao chất lượng yêu cầu điều tra của Kiểm sát viên tronggiai đoạn điều tra vụ án hình sự về chức vụ
Trang 12Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ YÊU CẦU ĐIỀU TRA CỦA KIỂM SÁT VIÊN TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ VỀ CHỨC VỤ
1.1. Những vấn đề lý luận về yêu cầu điều tra của Kiểm sát viên trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự về chức vụ
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò, mục đích và ý nghĩa của yêu cầu điều tra của Kiểm sát viên trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự về chức vụ
- Khái niệm
Yêu cầu điều tra là hoạt động tố tụng của KSV trong thực hành quyền công tố và kiểmsát điều tra các vụ án hình sự nói chung và án hình sự về chức vụ nói riêng nhằm đảm bảo việcđiều tra vụ án tuân thủ đúng các quy định của pháp luật để xác định sự thật khách quan của vụ
án, không làm oan người vô tội, không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội Yêu cầu điều tra củaKSV có thể bằng lời nói hoặc bằng văn bản
Khái niệm về Bản yêu cầu điều tra
Hiện nay chưa có khái niệm chính thức về bản yêu cầu điều tra Qua tham khảo bài viếtcủa một số tác giả khi nghiên cứu về bản YCĐT của KSV được đăng trên tạp chí ngành kiểmsát có thể đưa ra một số khái niệm về bản yêu cầu điều tra như sau:
Theo quan điểm của tác giả Vũ Đức Thới [28, tr 15] thì: “Bản yêu cầu điều tra là một
văn bản pháp lý do Kiểm sát viên thực hiện trong quá trình giám sát hoạt động điều tra Nhằm xác định điều tra vụ án đúng hướng và việc điều tra phải khách quan, toàn diện, đầy đủ, chính xác đúng pháp luật nhằm tránh làm oan, sai và bỏ lọt tội phạm”.
Qua nghiên cứu và phân tích cho thấy khái niệm này đã làm rõ và xác định được giá trịcủa bản yêu cầu điều tra; chủ thể là KSV ban hành trong quá trình thực hiện chức năng THQCT
và KSĐT vụ án hình sự Tuy nhiên hạn chế của khái niệm này là chưa làm rõ được mục đích và
ý nghĩa của việc ban hành yêu cầu điều tra do đó chưa thỏa mãn được yêu cầu của khái niệmbản yêu cầu điều tra
Theo quan điểm nghiên cứu của tác giả Bùi Mạnh Cường [2, tr.23] và tác giả Vũ Việt
Hùng thì: “Bản yêu cầu điều tra là một văn bản tố tụng do Kiểm sát viên thực hành quyền
công tố trong giai đoạn điều tra thực hiện (ban hành), nêu rõ những vấn đề cần điều tra để thu thập, củng cố chứng cứ, hoàn thiện các thủ tục tố tụng bảo đảm cho việc điều tra, truy tố được toàn diện, khách quan và triệt để theo đúng quy định của pháp luật”.
Qua nghiên cứu và phân tích, chúng tôi thống nhất cao với quan điểm của tác giả BùiMạnh Cường và tác giả Vũ Việt Hùng về khái niệm bản yêu cầu điều tra của KSV Khái niệmnày không chỉ làm rõ được giá trị pháp lý, chủ thể ban hành trong giai đoạn nào của TTHS mà
Trang 13còn lãm rõ được nội hàm của khái niệm bản yêu cầu điều tra, mục đích, ý nghĩa của việc banhành bản yêu cầu điều tra.
Khi đưa ra khái niệm về bản yêu cầu điều tra, các tác giả đều dựa trên các quy định của
pháp luật quy định về chức năng, nhiệm vụ của VKS, của KSV trong việc ban hành bản yêucầu điều tra khi THQCT và KSĐT vụ án hình sự, từ đó xác định nội dung, phạm vi và ý nghĩacủa bản YCĐT để khái quát chúng thành khái niệm Tuy nhiên, do sự thay đổi của các quy địnhpháp luật và yêu cầu của thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm trong tình hình mới đặcbiệt là đối với tội phạm về chức vụ, đòi hỏi VKS phải tăng cường trách nhiệm công tố trong
hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra, theo đó “Viện kiểm sát các cấp chủ
động, tích cực đề ra yêu cầu điều tra đảm bảo có căn cứ, sát với nội dung vụ án” Do vậy khái
niệm về bản yêucầu điều tra cũng được nhận thức đầy đủ và toàn diện hơn Trên cơ sở kế thừacác quan điểm về khái niệm bản yêu cầu điều tra của KSV của các tác giả nêu trên đồng thờitrên cơ sở nghiên cứu những quy định của pháp luật thực định, nội hàm của bản yêu cầu điềutra, tác giả đưa ra khái niệm bản yêu cầu điều tra của KSV trong giai đoạn điều tra vụ án hình
sự về chức vụ như sau:
“Bản yêu cầu điều tra là văn bản tố tụng do Kiểm sát viên ban hành trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự về chức vụ theo quy định của pháp luật TTHS, nêu rõ những vấn đề cần yêu cầu CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, những vấn
đề cần điều tra để thu thập, củng cố chứng cứ, làm rõ tội phạm, người phạm tội và những vấn
đề cần chứng minh trong vụ án hình sự hoặc để hoàn thiện các thủ tục tố tụng nhằm bảo đảm việc điều tra được tiến hành một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ theo đúng quy định của pháp luật, không làm oan, sai và không bỏ lọt tội phạm”.
- Yêu cầu điều tra của KSV trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự về chức vụ có những đặc điểm cơ bản sau:
- Yêu cầu điều tra vụ án về chức vụ là văn bản pháp lý trong TTHS do KSV được giaonhiệm vụ THQCT và KSĐT trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự về chức vụ ban hành Bảnyêu cầu điều tra phải được đưa vào hồ sơ vụ án hình sự và lưu hồ sơ kiểm sát theo quy định tạikhoản 1 Điều 11 Thông tư liên tịch số 04/2018/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP ngày 19/10/2018của Viện KSND tối cao - Bộ Công an - Bộ Quốc phòng và quy định tại khoản 1 Điều 47 Quychế công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát việc khởi tố, điều tra và truy tố ban hành kèmtheo Quyết định số 111/QĐ-VKSTC ngày 17/4/2020 của Viện trưởng VKSND tối cao
- Yêu cầu điều tra vụ án về chức vụ của KSV có tính chất định hướng cho hoạt độngđiều tra giúp cho việc điều tra, xử lý vụ án được tiến hành một cách khách quan, nhanh chóng
và kịp thời Do đó, ĐTV được phân công điều
Trang 14tra vụ án và CQĐT phải có trách nhiệm thực hiện các yêu cầu điều tra của VKS (quy định tạikhoản 1 Điều 167 BLTTHS và khoản 2 Điều 11 Thông tư liên tịch số 04/2018/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP ngày 19/10/2018 của Viện KSND tối cao - Bộ Công an - Bộ Quốcphòng).
- Trong một vụ án hình sự về chức vụ, KSV có thể ban hành một hoặc nhiều yêu cầuđiều tra nếu trong quá trình điều tra, KSV thấy còn có những vấn đề cần điều tra mà ĐTV chưathực hiện nhằm bảo đảm để ĐTV kịp thời thu thập đầy đủ các chứng cứ, tài liệu của vụ án Do
đó, yêu cầu điều tra của KSV mang tính chất pháp lý đặc thù so với các văn bản tố tụng hình sựkhác
Đây chính là điểm khác biệt giữa yêu cầu điều tra vụ án về chức vụ của KSV với bản kếhoạch điều tra vụ án của ĐTV bởi vì, bản kế hoạch điều tra vụ án về chức vụ do ĐTV xây dựng
để báo cáo Lãnh đạo duyệt và tiến hành các hoạt động điều tra theo kế hoạch Nội dung bản kếhoạch điều tra vụ án về chức vụ bao gồm: Căn cứ lập kế hoạch, mục đích, yêu cầu, nội dungđiều tra, biện pháp tiến hành, dự kiến các tình huống xảy ra, báo cáo và đề xuất Nó mang tínhchất nội bộ của CQĐT không mang tính pháp lý bắt buộc và không được đưa vào hồ sơ vụ án
-Vai trò, mục đích và ý nghĩa của YCĐT
Thông qua YCĐT, KSV thể hiện rõ được quan điểm của mình trong việc thu thập, củng
cố chứng cứ và hoàn thiện thủ tục tố tụng trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự về chức vụ,nhằm mục đích làm rõ những vấn đề cần điều tra thu thập chứng cứ, hoàn thiện các thủ tục tốtụng, đảm bảo cho việc điều tra, truy tố các vụ án hình sự về chức vụ được khách quan, toàndiện, kịp thời, đúng pháp luật, tạo cơ sở vững chắc cho hoạt động THQCT và kiểm sát hoạtđộng xét xử của KSV tại phiên tòa
Yêu cầu điều tra của KSV trong giai đoạn điều tra vụ án về chức vụ có ý nghĩa cực kỳquan trọng đối với việc điều tra vụ án nói riêng và cả quá trình xử lý vụ án nói chung, đó là:
+ Yêu cầu điều tra có tính định hướng cho công tác điều tra nói chung và xử lý vụ án, bịcan nói riêng
+ Yêu cầu điều tra giúp cho việc điều tra, xử lý vụ án được tiến hành một cách kháchquan, toàn diện, đầy đủ, nhanh chóng và kịp thời
+ Yêu cầu điều tra còn có ý nghĩa khẳng định vị trí, vai trò của VKS; uy tín, năng lực,trình độ của KSV trong hoạt động THQCT ở giai đoạn điều tra VAHS
Thực tế cho thấy, yêu cầu điều tra vụ án về chức vụ được KSV ban hành kịp thời, đúngthời điểm và có chất lượng sẽ có ý nghĩa rất quan trọng đối với kết quả điều tra của CQĐT “
bảo đảm cho hoạt động điều tra, thu thập tài liệu, chứng cứ khách quan, toàn diện, đầy đủ” [9,
tr.2] và đúng hướng Đồng thời, giúp ĐTV khắc phục ngay những thiếu sót trong giai đoạn điềutra nhằm giải quyết vụ án được khách quan, toàn diện và triệt để, góp phần hạn chế oan, sai
Trang 15hoặc phải trả hồ sơ để điều tra bổ sung làm kéo dài thời gian giải quyết vụ án Thông qua đó,
uy tín của KSV, của VKS đối với ĐTV và CQĐT được nâng cao Ngược lại, yêu cầu điều tra
vụ án về chức vụ có nội dung chung chung, khó thực hiện hoặc không thể thực hiện được làmkéo dài thời gian giải quyết vụ án, thậm chí còn làm chệch hướng điều tra
Tóm lại, yêu cầu điều tra vụ án về chức vụ là sản phẩm kết tinh từ kết quả của hoạtđộng nghiên cứu, phân tích, tổng hợp, đánh giá, so sánh, đối chiếu các tài liệu, chứng cứ cótrong hồ sơ và các văn bản pháp luật có liên quan đến việc giải quyết vụ án của KSV, qua đógiúp KSV nắm chắc diễn biến của vụ án và tìm ra những tài liệu, chứng cứ còn thiếu, còn mâuthuẫn hoặc những vấn đề cần phải điều tra, xác minh, làm rõ mà ĐTV chưa thực hiện để đề racác nội dung yêu cầu điều tra có tính sát thực, cụ thể và trực tiếp giải quyết được các vấn đềcủa vụ án, tránh việc đề ra YCĐT chung chung, hình thức
1.1.2. Thẩm quyền, phạm vi, cơ sở, nội dung và hình thức của yêu cầu điều tra của KSV trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự về chức vụ
-Thẩm quyền đề ra yêu cầu điều tra
Thẩm quyền đề ra yêu cầu điều tra các vụ án về chức vụ được trao cho VKS và ngườithực hiện trực tiếp là KSV được phân công THQCT và KSĐT vụ án Đây là hoạt động tố tụngquan trọng trong việc gắn chặt chức năng công tố với điều tra theo tinh thần Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị về “Chiến lược cải cách Tư pháp đến năm 2020” vàđược cụ thể hóa tại khoản 7 Điều 14 Luật Tổ chức VKSND năm 2014; điểm e khoản 1 Điều 42
và khoản 6 Điều 165 BLTTHS năm 2015 Theo đó, khi được phân công THQCT và kiểm sát
việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự, KSV có nhiệm vụ, quyền hạn “Đề ra yêu cầu
điều tra và yêu cầu Cơ quan điều tra, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra tiến hành điều tra để làm rõ tội phạm, người phạm tội”.
Khoản 1 Điều 11 Thông tư liên tịch số 04/2018/TTLT-VKSNDTC- BCA-BQP ngày19/10/2018 của Viện KSND tối cao - Bộ Công an - Bộ Quốc phòng quy định về phối hợp giữa
CQĐT và VKS trong việc thực hiện một số quy định của BLTTHS cũng quy định rõ: “Kiểm
sát viên phải kịp thời trao đổi với Điều tra viên, Cán bộ điều tra được phân công điều tra vụ
án về những vấn đề cần điều tra ngay từ khi nhận được quyết định khởi tố vụ án hình sự và trong quá trình điều tra, bảo đảm để Điều tra viên, Cán bộ điều tra kịp thời thu thập đầy đủ các chứng cứ, tài liệu của vụ án….; Kiểm sát viên phải đề ra yêu cầu điều tra bằng văn bản, nêu rõ ràng, cụ thể những vấn đề cần điều tra, chứng cứ, tài liệu cần thu thập”.
Như vậy, việc “đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu CQĐT thực hiện” là một quyền năng
quan trọng và cơ bản của KSV Chỉ có KSV là chủ thể duy nhất khi được phân công nhiệm vụTHQCT và KSĐT trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự mới có thẩm quyền đề ra yêu cầu điềutra
Trang 16-Phạm vi đề ra yêu cầu điều tra
Đề ra yêu cầu điều tra trong các vụ án về chức vụ là nội dung thuộc phạm vi thực hànhquyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự Phạm vi này được bắt đầu từ khi cơ quan(người) tiến hành tố tụng hình sự có thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án hình sự và kết thúcbằng bản kết luận điều tra và quyết định của Cơ quan Điều tra về việc đề nghị Viện kiểm sáttruy tố bị can trước Tòa án hoặc đình chỉ vụ án hình sự về chức vụ
Theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 3 Luật Tổ chức VKSND năm 2014 khi thực
hiện chức năng THQCT, Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây: “Khi cần
thiết đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra thực hiện”; điểm e khoản 1 Điều 42 BLTTHS năm 2015 quy
định: “Kiểm sát viên được phân công thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp
luật trong tố tụng hình sự có những nhiệm vụ, quyền hạn: e) Đề ra yêu cầu điều tra…”; khoản
1 Điều 47 Quy chế công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát việc khởi tố, điều tra và truy tốban hành kèm theo Quyết định số 111/QĐ-VKSTC ngày 17/4/2020 của Viện trưởng VKSND
tối cao quy định: “Trường hợp thấy có những vấn đề cần điều tra mà Điều tra viên chưa thực
hiện thì Kiểm sát viên phải đề ra yêu cầu điều tra; Yêu cầu điều tra có thể được thực hiện nhiều lần, bằng lời nói trong trường hợp kiểm sát trực tiếp hoạt động điều tra hoặc bằng văn bản; Đối với vụ án thuộc trường hợp phạm tội quả tang, sự việc phạm tội đơn giản, chứng cứ
rõ ràng thì không cần thiết phải đề ra yêu cầu điều tra bằng văn bản”.
Ngoài ra, trong Quyết định số 379/QĐ-VKSTC ngày 10/10/2017 của Viện trưởngVKSND tối cao về ban hành hệ thống chỉ tiêu cơ bản đánh giá kết quả công tác nghiệp vụtrong ngành kiểm sát nhân dân hiện nay là Quyết định số 139/QĐ-VKSTC ngày 29/4/2020 củaViện trưởng VKSND tối cao cóquy định về tỷ lệ ban hành bản YCĐT trên tổng số án thụ lý là
≥ 80% đối với VKS cấp huyện và ≥ 90% đối với VKS cấp tỉnh và VKSND tối cao
Từ các quy định của pháp luật và quy định của ngành Kiểm sát cho thấy, không phải bất
kỳ vụ án về chức vụ nào KSV cũng phải đề ra yêu cầu điều tra Chỉ khi nào thấy “ cần thiết” hoặc “thấy có những vấn đề cần điều tra mà Điều tra viên chưa thực hiện” thì KSV mới đề ra
yêu cầu điều tra Trong một vụ án về chức vụ, KSV có thể ban hành một hoặc nhiều yêu cầuđiều tra và được thực hiện trong suốt quá trình điều tra Khi KSV thấy còn có những vấn đề cầnđiều tra mà ĐTV chưa thực hiện nhằm đảm bảo cho việc giải quyết vụ án được khách quan,toàn diện, triệt để và đúng pháp luật Đối với những vụ án phạm tội về chức vụ bị phát hiện vàbắt quả tang, sự việc phạm tội đơn giản, chứng cứ và thủ tục tố tụng đã đầy đủ, rõ ràng thì KSVkhông nhất thiết phải đề ra yêu cầu điều tra
Vấn đề đặt ra đối với các vụ án về chức vụ là khi nào, trong trường hợp nào KSV phải
“cần thiết” đề ra YCĐT nhất là đối với loại án tham nhũng đa số đều là án phức tạp có nhiều nội dung cần phải yêu cầu CQĐT tiến hành điều tra, làm rõ hoặc trường hợp nào KSV “thấy có
Trang 17những vấn đề cần điều tra mà Điều tra viên chưa thực hiện” thì phải ban hành YCĐT Trong
khi những nội dung này đối với ĐTV, CQĐT đương nhiên phải thực hiện mà không cần phụthuộc vào YCĐT của KSV như yêu cầu ĐTV xác định căn cước, lý lịch bị can, lập danh chỉbản của bị can v.v Do chưa có khung tiêu chí chung về vấn đề này nên sẽ có nhiều cách hiểu
và vận dụng khác nhau tùy thuộc vào khả năng nhận thức, đánh giá của từng KSV khi đượcphân công nhiệm vụ THQCT và KSĐT đối với từng vụ án hình sự về chức vụ
- Cơ sở đề ra YCĐT
Để việc đề ra các nội dung YCĐT trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự về chức vụđảm bảo chính xác và có căn cứ thì KSV cần phải xác định được cơ sở đề ra yêu cầu điều
tra, hay nói cách khác là “cần xác định đốitượng chứng minh, tức là nhóm các sự kiện, tình
tiết được làm sáng tỏ và khẳng định” [26, tr.127] Việc xác định đối tượng chứng minh có vai
trò định hướng cho hoạt động điều tra, thu thập chứng cứ, nếu xác định không đúng đối tượngchứng minh sẽ làm cho hoạt động điều tra, thu thập chứng cứ bị lãng phí thời gian và nguồnlực, không tập trung làm rõ được những vấn đề bản chất của vụ án hoặc bỏ sót các tình tiết,chứng cứ cần thiết cho việc chứng minh giải quyết vụ án
Theo quy định tại Điều 85 BLTTHS năm 2015 và các quy định pháp luật khác có liênquan thì những vấn đề cần phải chứng minh trong vụ án hình sự về chức vụ bao gồm:
+ Chứng cứ để chứng minh “có hành vi phạm tội xảy ra hay không” là chứng cứ để xác
định hành vi đã xảy ra có đủ yếu tố cấu thành tội phạm thuộc cấu thành của một tội phạm cụthể được quy định từ Điều 353 đến điều 366 Chương XXIII (các tội phạm về chức vụ) củaBLHS hay thuộc các trường hợp không phải là hành vi phạm tội (quan hệ dân sự, kinh tế
v.v…); chứng cứ chứng minh “thời gian, địa điểm và những tình tiết khác của hành vi phạm
tội” là chứng cứ xác định nếu có hành vi phạm tội xảy ra thì xảy ra vào thời gian nào, ở đâu;
phương pháp, thủ đoạn, công cụ, phương tiện thực hiện tội phạm như thế nào v.v…
+ Chứng cứ để chứng minh “ai là người thực hiện hành vi phạm tội” là chứng cứ xác
định một chủ thể cụ thể là người “có chức vụ, quyền hạn trong khi thực hiện công vụ, nhiệmvụ; được giao một nhiệm vụ nhất định và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiên công vụ,
nhiệm vụ” đã thực hiện hành vi phạm tội đó; chứng cứ chứng minh “có lỗi hay không có lỗi”
là chứng cứ xác định chủ thể có lỗi hoặc không có lỗi khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xãhội; nếu có lỗi thì là lỗi cố ý trực tiếp hay lỗi cố ý gián tiếp hoặc lỗi vô ý do quá tự tin hay lỗi
vô ý do cẩu thả theo quy định tại Điều 10 và Điều 11 của BLHS; chứng cứ chứng minh “có
năng lực trách nhiệm hìnhsự hay không” là chứng cứ xác định khi thực hiện hành vi nguy
hiểm cho xã hội, người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã đủ tuổi chịu trách nhiệmhình sự chưa; có mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khảnăng điều khiển hành vi của mình hay không; nếu có thì mắc bệnh đó vào thời gian nào, trong
giai đoạn tố tụng nào; chứng cứ chứng minh “mục đích, động cơ phạm tội” là chứng cứ xác
Trang 18định chủ thể thực hiện hành vi phạm tội với mục đích, động cơ gì; mục đích, động cơ phạm tội
là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự hay là tình tiết định tội, tình tiết định khung hình phạtv.v…
+ Chứng cứ để chứng minh “tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
của bị can, bị cáo” là chứng cứ xác định bị can, bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách
nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 51của BLHS hoặc áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm
hình sự nào quy định tại Điều 52 của BLHS; chứng cứ chứng minh “đặc điểm về nhân thân
của bị can, bị cáo” là chứng cứ xác định lý lịch, tiền án, tiền sự của bị can, bị cáo.
+ Chứng cứ để chứng minh “tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra”
là chứng cứ để đánh giá tính chất, mức độ thiệt hại, hậu quả về vật chất, phi vật chất do hành viphạm tội về chức vụ gây ra
+ Chứng cứ để chứng minh “nguyên nhân và điều kiện phạm tội” là chứng cứ xác định
nguyên nhân chủ quan, khách quan, điều kiện cụ thể dẫn đến việc chủ thể thực hiện hành viphạm tội;
+ Chứng cứ để chứng minh “những tình tiết khác liên quan đến việc loại trừ trách
nhiệm hình sự, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt” là chứng cứ chứng minh những vấn
đề được quy định tại các điều 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 59, 88 và các điều luật kháccủa BLHS
+ Chứng cứ khác để chứng minh một hoặc nhiều vấn đề quy định tại Điều 85 củaBLTTHS mà thiếu chứng cứ đó thì không có đủ căn cứ để giảiquyết vụ án hình sự về chức vụ,như: chứng cứ để chứng minh vị trí, vai trò của từng bị can, bị cáo trong trường hợp đồngphạm hoặc phạm tội có tổ chức; chứng cứ để xác định trách nhiệm dân sự của bị can, bị cáo vànhững vấn đề khác có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật v.v…
- Về hình thức
Ngoài các trường hợp KSV đề ra YCĐT bằng lời nói khi kiểm sát trực tiếp một số hoạtđộng điều tra theo quy định tại Khoản 1 Điều 11 Thông tư liên tịch số 04/2018/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP ngày 19/10/2018, thì các hoạt động điều tra khác, KSV phải đề raYCĐT bằng văn bản
Khi ban hành YCĐT bằng văn bản, KSV phải thực hiện theo đúng mẫu văn bản tố tụng
do Viện trưởng VKSND tối cao quy định (mẫu số 20 trong danh mục biểu mẫu tố tụng hình sự
Ban hành kèm theo Quyết định số 07/QĐ- VKSTC ngày 02/01/2008, hiện nay là mẫu số 83 trong danh mục biểu mẫu tố tụng hình sự Ban hành kèm theo Quyết định số 15/QĐ-VKSTC ngày 09/01/2018 của Viện trưởng VKSND tối cao) Theo quy định này, văn bản yêu cầu điều
tra gồm 02 phần chính: Căn cứ để ban hành bản YCĐT và những nội dung yêu cầu CQĐT cầntiến hành điều tra, xác minh làm rõ
Thể thức, kỹ thuật trình bày văn bản phải đảm bảo thực hiện theo Thông tư số
Trang 1901/2011/TT-BNV ngày 19/01/2011 của Bộ Nội vụ hướng dẫn thể thức và kỹ thuật trình bày vănbản hành chính; Quy định về thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản hành chính trong ngànhKSND ban hành kèm theo Quyết định số 393/QĐ-VKSTC ngày 01/7/2016 của Viện trưởngVKSNDTC Bản yêu cầu điều tra phải đảm bảo chính xác về mặt câu từ, văn phong, chính tả.
Việc ký văn bản YCĐT phải đúng thẩm quyền, trong vụ án về chức vụ có nhiều KSV
tham gia giải quyết thì bản YCĐT phải do KSV thụ lý chính ký Đối với những vụ án về chức
vụ trọng điểm, phức tạp; vụ án dư luận xã hội đặc biệt quan tâm, vụ án có bị can là người giữchức vụ quyền hạn nhấtđịnh trong Cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và trường hợp xét thấy cóthể phải thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can thì trước khi kýbản yêu cầu điều tra, KSV phải báo cáo xin ý kiến lãnh đạo đơn vị, Lãnh đạo Viện (khoản 1Điều 47 Quy chế 111)
- Về nội dung của yêu cầu điều tra
Đối với mỗi loại tội phạm về chức vụ khác nhau như vụ án tham ô tài sản, vụ án nhậnhối lộ đòi hỏi nội dung YCĐT cũng khác nhau, phù hợp với cấu thành tội phạm, đặc trưng cụthể của loại tội đó Trong từng tội phạm chức vụ cụ thể, đối với mỗi vụ án khác nhau thì việc đề
ra nội dung YCĐT cũng khác nhau, phù hợp với tính chất, diễn biến của từng vụ án Hiện nay,không có khuôn mẫu chung về nội dung YCĐT đối với tất cả các loại tội phạm Tuy nhiên, đốivới vụ án hình sự về chức vụ nào thì cũng đòi hỏi phải làm rõ tội phạm, người thực hiện hành
vi phạm tội và những vấn đề cần chứng minh trong vụ án hình sự như đã nêu trên Các nộidung YCĐT phải được diễn đạt mạch lạc, nêu rõ ràng, cụ thể những vấn đề cần điều tra, chứng
cứ, tài liệu cần thu thập; có phương pháp trình bày bảo đảm thứ tự vấn đề và lôgic về nội dung.Nội dung bản YCĐT phải toàn diện, đầy đủ, triệt để, giúp cho công tác điều tra đi đúng hướng,phục vụ tốt hoạt động truy tố, xét xử; tránh đề ra yêu cầu điều tra một cách chung chung, khôngsát với hồ sơ và tiến độ điều tra Để thực hiện được nhiệm vụ này, KSV phải có kiến thứcchuyên môn tốt, am hiểu một số quy định về lĩnh vực, ngành liên quan đến vụ án chức vụ đanggiải quyết như vụ án liên quan đến lĩnh vực tài chính, ngân hàng…; nắm chắc các dấu hiệu cấuthành, đặc trưng của từng tội phạm cụ thể; bám sát hoạt động điều tra của ĐTV; nắm chắc hồ
sơ thông qua nghiên cứu đầy đủ toàn bộ tài liệu, chứng cứ đã được CQĐT thu thập, kịp thờiphát hiện hành vi phạm tội, đối tượng phạm tội chưa được CQĐT xác minh, làm rõ hoặc nhữngtình tiết còn mâu thuẫn cần được làm sáng tỏ; những tình tiết mới phát sinh trong vụ án; nhữngvấn đề về dân sự trong vụ án về chức vụ; về ápdụng một số biện pháp điều tra đặc biệt theoquy định của BLTTHS; những vấn đề về hoàn thiện thủ tục TTHS; vấn đề về khám xét, thu giữ
đồ vật tài sản, niêm phong tài sản, phong tỏa tài sản tham nhũng, vấn đề về tạm thời cấm xuấtnhập cảnh, thu hồi tài sản tham nhũng… Trong đó cần lưu ý:
- Để xác định khách thể là hoạt động đúng đắn, hợp pháp của cơ quan, tổ chức, đơn vịnày đã bị xâm phạm thì KSV phải yêu cầu ĐTV thu thập các văn bản, tài liệu chứng cứ quy
Trang 20định chức năng, nhiệm vụ (quy chế, nội quy làm việc, điều lệ hoạt động) của cơ quan, tổ chức,đơn vị mà người phạm tội về chức vụ đang công tác.
- KSV phải yêu cầu ĐTV thu thập tài liệu chứng cứ xác định chủ thể có chức vụ, quyềnhạn được giao, được phân công là gì, đã có hành vi phạm tội pháp luật như thế nào trong khi thihành công vụ, nhiệm vụ; các chứng cứ vật chất, là các văn bản như công văn, quyết định, hợpđồng…và các dấu tích bút phê ý kiến chỉ đạo … nằm rải rác ở các tài liệu khác nhau hoặc ở các
cơ quan, tổ chức, cá nhân khác nhau hoặc tồn tại dưới dạng dữ liệu điện tử Nếu yêu cầu điềutra thu được đầy đủ tài liệu, chứng cứ thì chúng ta mới có thể chủ động nghiên cứu, đánh giá,tổng hợp và đưa ra các quan điểm đề xuất, quyết định xử lý chính xác, có căn cứ, đúng phápluật ngay từ khi CQĐT ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can
Đối với người phạm tội chức vụ là Đảng viên, là cấp ủy viên thì sau khi khởi tố hoặctạm giam bị can yêu cầu CQĐT phải có văn bản thông báo cho cấp ủy hoặc Ủy ban kiểm tra cóthẩm quyền tiến hành các thủ tục đình chỉ sinh hoạt đảng theo quy định của Điều lệ Đảng hoặc
có văn bản báo cáo Tổ chức Đảng quản lý Đảng viên đó biết và tổ chức đảng cấp trên của mìnhtheo Chỉ thị số 26-CT/TW ngày 09/11/2018 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo củaĐảng đối với các cơ quan bảo vệ pháp luật trong công tác điều tra, xử lý các vụ án, vụ việc
- Đối với các vụ án về chức vụ liên quan đến các lĩnh vực đầu tư xây dựng, tài chính,
kế toán, bảo hiểm, ngân hàng… cần thiết phải trưng cầu giám định tư pháp, định giá tài sản đểxác định thiệt hại, thì KSV phải yêu cầu ĐTV khẩn trương thu thập đầy đủ các hồ sơ, tài liệu,đối tượng trưng cầu giám định, định giá tài sản để kịp thời ban hành quyết định trưng cầu giámđịnh, trưng cầu định giá và nội dung yêu cầu điều tra phải định hướng nội dung giám định chođúng, sát với vấn đề cần kết luận, thường xuyên theo dõi, đôn đốc việc triển khai thực hiệnquyết định trưng cầu giám định, yêu cầu tổ chức, cá nhân được trưng cầu giám định khẩntrương thực hiện để sớm ban hành kết luận giám định làm cơ sở cho việc điều tra, xử lý vụ ánđảm bảo có căn cứ, đúng quy định của pháp luật, tránh việc phải yêu cầu trưng cầu giám định,định giá tài sản lại hoặc bổ sung, làm kéo dài thời hạn điều tra vụ án
- KSV yêu cầu ĐTV làm rõ giá trị tài sản chiếm đoạt, của hối lộ cũng như trị giá tàisản thiệt hại thực tế do hành vi phạm tội gây ra quy định tại các điều 353, 354, 355 và 358 củaBLHS có mối quan hệ nhân quả như thế nào với hành vi phạm tội (không bao gồm tiền, tài sản,lợi ích vật chất khác mà người phạm tội đã hoặc sẽ chiếm đoạt) để làm cơ sở định tội danh vàxác định tình tiết định khung tăng nặng, giảm nhẹ có căn cứ, chính xác và đúng pháp luật
- KSV yêu cầu ĐTV thu thập các tài liệu chứng cứ xác định hành vi của bị can là lợi dụngchức vụ, quyền hạn được giao để làm trái, không làm hoặc làm không đúng quy định của phápluật hay là vượt quá quyền hạn, chức trách, nhiệm vụ được giao mặc dù không được giao,không được phân công nhiệm vụ, quyền hạn trong lĩnh vực đó để họ thực hiện hành vi phạm
Trang 21tội; các tài liệu chứng cứ xác định yếu tố lỗi của bị can và đồng phạm, làm rõ vai trò, tráchnhiệm của những người liên quan trong vụ án; các tài liệu chứng cứ xác định người phạm tội cóđộng cơ vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác quy định tại các tội Lợi dụng chức vụ, quyền hạntrong khi thi hành công vụ (Đ356);tội Lạm quyền trong khi thi hành công vụ (Đ357) và tộiGiả mạo trong công tác (Đ359) bảo đảm cho việc khởi tố, xử lý bị can và các đối tượng liênquan có căn cứ, đúng pháp luật.
- Về công tác thu hồi tài sản thiệt hại trong các vụ án về chức vụ, do đối tượng phạm tội
là những người có chức vụ, quyền hạn, có trình độ, kiến thức pháp luật nên thường có thủ đoạnđối phó, bào chữa, che giấu hành vi phạm tội và tài sản tham nhũng hoặc có vụ án xảy ra saumột thời gian dài mới được phát hiện, xử lý dẫn đến việc thu hồi tài sản cũng còn chậm và gặpnhiều khó khăn Vì vậy, ngay sau khi khởi tố vụ án, KSV phải kịp thời đề ra các yêu cầu điềutra tiến hành điều tra xác minh, làm rõ tài sản bị thất thoát, chiếm đoạt để kịp thời áp dụng cácbiện pháp cần thiết để thu giữ, kê biên, phong tỏa tài sản, tài khoản… tránh việc tẩu tán cũngnhư làm mất mát, hư hỏng tài sản, nhằm đảm bảo cho việc thu hồi tài sản đạt hiệu quả cao nhấtcho nhà nước và các công ty, doanh nghiệp
1.1.3. Mối quan hệ giữa Yêu cầu điều tra với Kiểm sát điều tra của Kiểm sát viên trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự về chức vụ
Giữa YCĐT với hoạt động KSĐT của KSV trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự về chức vụ có sự giống nhau và khác nhau sau đây:
- Khác nhau
+ Đối tượng: Đối tượng của YCĐT chính là quyền đề ra YCĐT của KSV trong giaiđoạn điều tra vụ án hình sự về chức vụ và ĐTV, CQĐT phải có trách nhiệm thực hiện các nộidung YCĐT của KSV nhằm truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội và truy tố họ ra trướcTòa án để xét xử Đối tượng của công tác KSĐT là việc tuân theo pháp luật của cơ quan điềutra, cơ quan được giao một số nhiệm vụ điều tra, những người có thẩm quyền trong điều tra và
Trang 22những người tham gia tố tụng khác trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự về chức vụ.
+ Về nhiệm vụ: Đề ra YCĐT là nhiệm vụ thực hành quyền công tố của KSV trong giaiđoạn điều tra vụ án hình sự về chức vụ được quy định tại khoản 6 Điều 165 BLTTHS CònKSĐT là nhiệm vụ kiểm sát việc tuân theo pháp luật của KSV trong việc khởi tố, điều tra vàlập hồ sơ vụ án hình sự về chức vụ của CQĐT, của ĐTV; kiểm sát hoạt động tố tụng hình sựcủa người tham gia tố tụng; yêu cầu Cơ quan điều tra, cung cấp tài liệu liên quan để kiểm sátviệc tuân theo pháp luật trong việc khởi tố, điều tra… và một số nhiệm vụ quyền hạn khácđược quy định tại Điều 166 BLTTHS
+ Nội dung: Nội dung của YCĐT chính là các tài liệu, chứng cứ mà KSV yêu cầu ĐTVthu thập để làm rõ tội phạm, người phạm tội và các tình tiết chứng cứ khác của vụ án Việc đề
ra YCĐT được thể hiện dưới 02 hình thức bằng lời nói hoặc bằng văn bản
Nội dung của KSĐT chính là hoạt động nghiên cứu, kiểm tra, đánh giá tính có căn cứ
và tính hợp pháp của các tài liệu chứng cứ, các tài liệu tố tụng có trong hồ sơ vụ án mà ĐTV,CQĐT thu thập, ban hành; là kiểm tra, giámsát hoạt động của các chủ thể tiến hành tố tụng vàchủ thể tham gia tố tụng trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự về chức vụ
- Mối quan hệ
Giữa YCĐT với hoạt động KSĐT của KSV trong giai đoạn điều tra vụ án về chức vụ cóđối tượng, nhiệm vụ và nội dung không giống nhau, nhưng lại có mối quan hệ chặt chẽ, biệnchứng và hỗ trợ cho nhau bởi vì, YCĐT và Kiểm sát điều tra của KSV trong giai đoạn điều tra
vụ án hình sự về chức vụ đều có chung một mục đích là nhằm đảm bảo cho việc khởi tố, điềutra các vụ án hình sự về chức vụ được khách quan, kịp thời, đúng người, đúng tội, đúng phápluật, không bỏ lọt tội phạm, người phạm tội và không làm oan, sai Hoạt động kiểm sát điều tracác vụ án hình sự về chức vụ của KSV có hiệu quả là điều kiện để bảo đảm thực hành quyềncông tố trong việc đề ra YCĐT của KSV được đúng đắn, chính xác, khách quan và ngược lại
1.2. Quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về yêu cầu điều tra của Kiểm sát viên trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự về chức vụ
1.2.1. Các quy định của các văn bản luật về yêu cầu điều tra của Kiểm sát viên trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự về chức vụ
VKSND là cơ quan duy nhất được giao nhiệm vụ THQCT, KSĐT tất cả các vụ án hình
sự nói chung, vụ án hình sự về chức vụ nói riêng và phải chịu trách nhiệm trước Nhà nước,trước xã hội về quyết định truy tố của mình Do đó, để xác định sự thật khách quan của vụ án,giúp cho việc truy tố của VKS có căn cứ, đúng pháp luật thì KSV có trách nhiệm đề ra yêu cầuđiều tra Trong giai đoạn điều tra, KSV không phải là người chứng kiến các hoạt động điều tra
mà phải sử dụng tất cả các quyền năng pháp lý, trong đó có quyền đề ra yêu cầu điều tra để yêucầu CQĐT tiến hành điều tra nhằm phát hiện, thu thập, củng cố chứng cứ bảo đảm cho việctruy tố người phạm tội được chính xác, đúng pháp luật
Trang 23Tại khoản 7 Điều 14 Luật tổ chức VKSND năm 2014 quy định khi THQCT trong giai
đoạn điều tra vụ án hình sự, VKSND có nhiệm vụ, quyền hạn“Đề ra yêu cầu điều tra và yêu
cầu Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra thực hiện việc điều tra để làm rõ tội phạm, người phạm tội”.
Điểm e khoản 1 Điều 42 BLTTHS năm 2015 quy định “Kiểm sát viên được phân công
thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự có những nhiệm vụ, quyền hạn: … e) Đề ra yêu cầu điều tra”.
Khoản 6 Điều 165 BLTTHS năm 2015 quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của VKS khi
thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự là: “Đề ra yêu cầu điều tra và
yêu cầu Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra tiến hành điều tra để làm rõ tội phạm, người phạm tội”.
Tóm lại, việc “đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu CQĐT thực hiện” là một quyền năng
pháp lý quan trọng và cơ bản của KSV được pháp luật tố tụng hình sự quy định và chỉ có KSVkhi được phân công nhiệm vụ THQCT và KSĐT trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự về chức
vụ mới có thẩm quyền này
1.2.2. Các quy định của các văn bản dưới luật về yêu cầu điều tra của Kiểm sát viên trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự về chức vụ
Khoản 1 Điều 11 Thông tư liên tịch số 04/2018/TTLT-VKSNDTC- BCA-BQP ngày19/10/2018 của VKSND tối cao, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng quy định rõ, ngoài các trường
hợp kiểm sát trực tiếp hoạt động điều tra thì KSV được quyền “đề ra yêu cầu điều tra bằng lời
nói”, còn đối với các hoạt động điều tra khác thì “Kiểm sát viên phải đề ra yêu cầu điều tra bằng văn bản, nêu rõ ràng, cụ thể những vấn đề cần điều tra, chứng cứ, tài liệu cần thu thập”.Nghị quyết số 96/2019/QH14 ngày 27/11/2019 của Quốc hội về công tác phòng, chống
tội phạm và vi phạm pháp luật, công tác của Viện kiểm sát nhân dân, của Tòa án nhân dân và
công tác thi hành án, có yêu cầu: “Viện kiểm sát nhân dân tối cao chỉ đạo các Viện kiểm sát áp
dụng đồng bộ các giải pháp để thực hiện tốt hơn công tác thực hành quyền công tố,… kiểm sát chặt chẽ các hoạt động điều tra, kịp thời đề ra yêu cầu điều tra để giải quyết vụ án khẩn trương, đúng pháp luật”.
Trong ngành Kiểm sát nhân dân, Viện trưởng VKSND tối cao cũng đã ban hành nhiềuquy định liên quan đến việc đề ra yêu cầu điều tra của KSV khi được phân công THQCT vàKSĐT trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự nói chung và án hình sự về chức vụ nói riêng, cụthể:
Chỉ thị số 06/CT-VKSTC ngày 06/12/2013 của Viện trưởng VKSND tối cao “về tăng
cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm” nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác
đấu tranh, phòng chống tội phạm; bảo đảm việc truy cứu trách nhiệm hình sự đúng người, đúng
Trang 24tội, đúng pháp luật, hạn chế đến mức thấp nhất việc bỏ lọt tội phạm, kiên quyết không để xảy ra
oan, sai, trong đó có nội dung chỉ đạo“Viện kiểm sát các cấp chủ động, tích cực đề ra yêu cầu
điều tra bảo đảm có căn cứ, sát với nội dung vụ án”.
Chỉ thị số 04/CT-VKSTC ngày 10/7/2015 của Viện trưởng VKSND tối cao “về tăng
cường các biện pháp phòng chống oan, sai và nâng cao trách nhiệm trong giải quyết bồi thường thiệt hại cho người bị oan trong hoạt động tố tụng hình sự” trong đó, có nội dung yêu
cầu các đơn vị trong toàn ngành Kiểm sát phải“tăng cường ban hành các yêu cầu điều tra”.
Chỉ thị số 05/CT-VKSTC ngày 27/4/2020 của Viện trưởng VKSND tối cao “về tăng
cường trách nhiệm công tố trong giải quyết các vụ án hình sự, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm” trong đó có nội dung yêucầu VKSND các cấp “Trong giai đoạn khởi
tố, điều tra vụ án, phải nắm chắc tiến độ điều tra vụ án, chủ động đề ra yêu cầu điều tra chính xác để hỗ trợ Điều tra viên thu thập chứng cứ làm rõ vụ án”.
Khoản 1 Điều 47 Quy chế công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát việc khởi tố, điềutra và truy tố ban hành kèm theo Quyết định số 111/QĐ- VKSTC ngày 17/4/2020 của Viện
trưởng VKSND tối cao quy định “Kiểm sát viên phải kịp thời trao đổi với Điều tra viên, Cán
bộ điều tra được phân công điều tra vụ án về những nội dung điều tra ngay từ khi nhận được quyết định khởi tố vụ án hình sự và trong quá trình điều tra Trường hợp thấy có những vấn đề cần điều tra mà Điều tra viên chưa thực hiện thì Kiểm sát viên phải đề ra yêu cầu điều tra; Yêu cầu điều tra có thể được thực hiện nhiều lần, bằng lời nói trong trường hợp kiểm sát trực tiếp hoạt động điều tra hoặc bằng văn bản Yêu cầu điều tra phải nêu rõ ràng, cụ thể những vấn đề cần điều tra, chứng cứ, tài liệu cần thu thập Văn bản yêu cầu điều tra được đưa vào hồ sơ vụ
án, lưu hồ sơ kiểm sát”.
Ngoài ra, tại các Chỉ thị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao về công táckiểm sát hàng năm (từ năm 2016 đến năm 2020) đều chỉ đạo toàn ngành kiểm sát thực hiện tốtcác chỉ tiêu, nhiệm vụ chuyên môn được giao trong đó có nội dung yêu cầu VKS các cấp tăngcường trách nhiệm công tố, gắn công tố với hoạt động điều tra trong việc đề ra yêu cầu điều tranhư Chỉ thị số 01/CT-VKSNDTC ngày 25/12/2015 của Viện trưởng VKSND tối cao về công
tác của ngành Kiểm sát nhân dân năm 2016 đã chỉ rõ: “VKSND các cấp thực hiện tốt các biện
pháp tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra; thực thi đầy đủ, hiệu quả nhiệm vụ, quyền hạn theo luật định để chống oan sai, chống bỏ lọt tôi phạm ngay từ giai đoạn đầu của tố tụng hình sự và đảm bảo hoạt động điều tra tuân thủ đúng quy định của pháp luật; thực hiện nghiêm các quy định của ban chỉ đạo Trung ương về Phòng, chống tham những trong quá trình giải quyết các vụ án tham nhũng; chủ
Trang 25động áp dụng các biện pháp thu hồi tài sản tham nhũng”; “tăng cường yêu cầu kiểm tra xác minh, yêu cầu điều tra”; Chỉ thị số 01/CT-VKSTC ngày 17/12/2019 của Viện trưởng VKSND
tối cao về công tác kiểm sát năm 2020 đã khẳng định: “Chủ động phối hợp ngay từ đầu với
CQĐT và các đơn vị liên quan để yêu cầu xác minh, yêu cầu điều tra đúng và kịp thời”; “Kiểm sát viên phải năm chắc, thực hiện đầy đủ các biện pháp nghiệp vụ, thể hiện vai trò công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra; Viện kiểm sát các cấp phải thể hiện vai trò, trách nhiệm trong công tác phát hiện, điều tra, xử lý có hiệu quả các tội phạm về tham nhũng, chức vụ”.
Như vậy có thể thấy rằng, trong những năm vừa qua Lãnh đạo ngành kiểm sát luônquan tâm đến việc tăng cường trách nhiệm công tố, gắn công tố với hoạt động điều tra trong đó
có hoạt động đề ra yêu cầu điều tra của KSV Việc đề ra yêu cầu điều tra vừa là quyền, vừa làtrách nhiệm của KSV khi được phân công THQCT trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự nóichung và án hình sự về chức vụ nói riêng Nếu KSV làm tốt được điều này thì chính nó đã gópphần rất lớn vào việc truy tố, xét xử của VKS đảm bảo có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúngpháp luật, hạn chế đến mức thấp nhất việc bỏ lọt tội phạm và để xảy ra oan, sai đáp ứng yêucầu đấu tranh phòng, chống tội phạm và yêu cầu cải cách tư pháp
Trang 26Kết luận chương 1
Nghiên cứu những vấn đề lý luận và pháp luật về yêu cầu điều tra của KSV trong giaiđoạn điều tra vụ án hình sự về chức vụ, luận văn đã tập trung phân tích, làm rõ khái niệm kháiniệm, đặc điểm, vai trò, mục đích và ý nghĩa của yêu cầu điều tra; về thẩm quyền, phạm vi, cơ
sở đề ra yêu cầu điều tra; về hình thức, nội dung của yêu cầu điều tra cũng như các quy địnhcủa pháp luật và của ngành kiểm sát nhân dân về yêu cầu điều tra của KSV… Qua đó khẳngđịnh, đề ra yêu cầu điều tra là một quyền năng pháp lý được trao cho KSV khi thực hiện nhiệm
vụ THQCT, KSĐT trong giai đoạn điều tra vụ án về chức vụ nói riêng Đây không chỉ là quyềnhạn mà còn là trách nhiệm của KSV được phân công Yêu cầu điều tra là hoạt động tố tụnghình sự quan trọng, định hướng cho hoạt động điều tra thu thập tài liệu, chứng cứ của ĐTVđược tiến hành một cách khách quan, toàn diện, đầy đủ nhanh chóng và kịp thời để làm rõ tộiphạm, người phạm tội và những vấn đề phải chứng minh trong vụ án về chức vụ hoặc yêu cầu
về mặt thủ tục tố tụng góp phần đảm bảo cho việc điều tra, truy tố đúng quy định của pháp luật,chống oan, sai và bỏ lọt tội phạm Kết quả nghiên cứu những vấn đề lý luận và pháp luật về yêucầu điều tra của KSV trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự về chức vụ là cơ sở để đánh giáthực trạng đề ra yêu cầu điều tra và thực hiện yêu cầu điều tra của KSV tại Chương 2
Trang 27Chương 2 THỰC TIỄN THI HÀNH QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VỀ YÊU CẦU ĐIỀU TRA CỦA KIỂM SÁT VIÊN TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA VỤ
ÁN HÌNH SỰ VỀ CHỨC VỤ VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH TẠI TỈNH ĐỒNG NAI
2.1. Các kết quả đạt được về yêu cầu điều tra của Kiểm sát viên trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự về chức vụ tại tỉnh Đồng Nai
- Số liệu án hình sự về kinh tế chức vụ đã khởi tố, điều tra từ năm 2016 đến năm 2020
Theo số liệu báo cáo tổng kết của VKSND tỉnh Đồng Nai, từ ngày 01/12/2015 đến30/11/2020, Cơ quan tiến hành tố tụng 02 cấp tỉnh Đồng Nai đã khởi tố, điều tra 41 vụ/61 bịcan về tội phạm chức vụ, cụ thể: Năm 2016 khởi tố 05 vụ/10 bị can, năm 2017 khởi tố 06 vụ/11
bị can (tăng 20% về số vụ, 10% về số bị can so với cùng kỳ năm 2016), năm 2018 khởi tố 09vụ/18 bị can (tăng 50% về số vụ, 63,6% về số bị can so với cùng kỳ năm 2017), năm 2019khởi tố 11 vụ/09 bị can (tăng 11,1% về số vụ, giảm 50% về số bị can so với cùng kỳ năm 2018)
và năm 2020 khởi tố 10 vụ/13 bị can (giảm 9% về số vụ, tăng 44,4% về số bị can so với cùng
kỳ năm 2019)
Tội phạm xảy ra chủ yếu là: Tội tham ô tài sản 20 vụ/27 bị can (chiếm 48,7% số vụ án
mới khởi tố và tăng 26,6% so với cùng kỳ từ năm 2011-2015) Điển hình là vụ án Vũ Hoàng
Đang nguyên nhân viên quản lý hóa đơn kiêm chấm xóa nợ của Điện lực Biên Hòa Từ tháng9/2014 đến tháng 10/2015, Vũ Hoàng Đang đã có hành vi cấu kết với Hồ Thanh Trúc nguyênnhân viên của ngân hàng An Bình thực hiện hành vi thu tiền điện của khách hàng nhưng giữ lạimột phần để chiếm đoạt, sau đó che dấu hành vi bằng cách sử dụng ủy nhiệm chi chấm xóa nợcho khách hàng nộp tiền mặt mà Trúc và Đang chiếm đoạt, lấy ủy nhiệm chi của khách hàngsau chấm xóa nợ cho khách hàng trước Bằng thủ đoạn này Trúc và Đang đã tham ô chiếmđoạt của Điện lựcBiên Hòa số tiền 9.755.423.447 đồng Vụ án đã được Cơ quan Cảnh sát điềutra Công an tỉnh Đồng Nai khởi tố vụ án, khởi tố bị can Vũ Hoàng Đang cùng 05 đồng phạm vềcác tội “Tham ô tài sản” và tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” để điều tra, xửlý
Tội nhận hối lộ 08 vụ/17 bị can (chiếm 19,5 số vụ án mới khởi tố và tăng 33,3% so với
cùng kỳ từ năm 2011-2015) Điển hình là vụ án Lê Văn Thái nguyên cán bộ Đội Cảnh sát điều
tra tội phạm về Môi trường Công an thành phố Biên Hoà Ngày 08/12/2017, trong lúc tuần tra,Thái phát hiện 02 xe bồn hút hầm cầu biển số 54Y-9579 và 54X-4876 do anh Đỗ Văn Huy làmchủ đang xả chất thải trái quy định tại khu vực trồng cao su của Lữ Đoàn pháo binh 75 thuộcphường Tân Phong, thành phố Biên Hoà Quá trình làm việc với anh Đỗ Văn Huy, Thái đã cóhành vi đòi anh Huy đưa tiền hối lộ để bỏ qua lỗi vi phạm cho anh Huy Đến 18 giờ 30 phút,ngày 11/12/2017, tại quán hải sản Hào Phát, số 78/4, đường Trương Định, khu phố 2, phườngTân Mai, thành phố Biên Hoà, Lê Văn Thái đang nhận hối lộ 50.000.000 đồng (Năm mươi
Trang 28triệu đồng) của anh Đỗ Văn Huy thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đồng Nai bắtquả tang.
Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ 06 vụ/07 bị can (chiếm tỉ lệ
14,6%, tăng 20% so với cùng kỳ từ năm 2011-2015); Tội Lạm dụng chức vụ quyền hạn chiếm
đoạt tài sản 05 vụ/08 bị can (chiếm tỉ lệ 12,2%, tăng 25% so với cùng kỳ từ năm 2011-2015)
- Số liệu, kết quả đề ra YCĐT của KSV
Trong số 41 vụ/61 bị can về chức vụ đã khởi tố, điều tra, có 31 vụ/40 bị can, KSV có đề
ra YCĐT đạt tỉ lệ 75,6% Trong đó, số vụ KSV ban hành 01 YCĐT là 31 vụ chiếm tỉ lệ 75,6%;
12 vụ có 2 YCĐT, chiếm tỉ lệ 38,7% và 07 vụ có 3 YCĐT chiếm tỉ lệ 22,6 % Tổng số YCĐT
mà KSV đã ban hành là 50 YCĐT Các đơn vị ban hành nhiều yêu cầu điều tra trong một vụ ánhình sự như: Phòng 3 VKS tỉnh có 04 vụ/14 vụ có 03 yêu cầu điều tra, chiếm tỉ lệ28,6%;VKSND thành phố Biên Hòa có 02vụ/03 vụ có 03 yêu cầu điều tra, chiếm tỉ lệ 66,7%
Số án KSV không ban hành YCĐT là 10 vụ/21 bị can chiếm tỉ lệ 24,4% Trong đó, một
số VKSND cấp huyện có tỉ lệ ban hành yêu cầu điều tra thấp như: VKSND huyện Thống Nhất 01vụ/04 vụ có yêu cầu điều tra chiếm tỉ lệ 25%; VKSND huyện Định Quán 02 vụ/04 vụ có yêu cầuđiều tra chiếm tỉ lệ 50% Những con số trên cho thấy, tỉ lệ ban hành yêu cầu điều tra của một sốVKSND cấp huyện chưa đạt chỉ tiêu theo yêu cầu của Ngành kiểm sát Thậm chí có đơn vị cấphuyện như VKSND huyện Nhơn Trạch thụ lý 02 vụ án về Tội nhận hối lộ nhưng không ban hànhyêu cầu điều tra nào
Qua nghiên cứu 50 YCĐT/31 vụ án hình sự về chức vụ được KSV ban hành, có 40 YCĐTđược KSV Viện kiểm sát 02 cấp tỉnh Đồng Nai ban hành đúng, kịp thời và có căn cứ (chiếm tỉ lệ80%) giúp cho hoạt động điều tra thu thập tài liệu, chứng cứ của ĐTV được tiến hành một cáchkhách quan, toàn diện, nhanh chóng và kịp thời để làm rõ tội phạm, người phạm tội và những vấn
đề phải chứng minh trong vụ án về chức vụ hoặc yêu cầu về mặt thủ tục tố tụng góp phần đảm bảocho việc điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự về chức vụ có căn cứ, đúng ngoài, đúng tội vàđúng pháp luật, không bỏ lọt tội phạm, người phạm tội và không làm oan, sai Còn lại, 10 YCĐT
do KSV ban hành có nội dung chung chung, không cụ thể, không sát với hồ sơ và tiến độ điều trahoặc yêu cầu những vấn đề CQĐT đương nhiên phải thực hiện, đã thực hiện hoặc những vấn đềkhông liên quan đến vụ án (chiếm tỉ lệ 20%), làm ảnh hưởng đến quá trình điều tra, giải quyết vụ ánhình sự về chức vụ
- Số liệu án hình sự về chức vụ bị Viện kiểm sát, Tòa án trả hồ sơ để điều tra bổ sung, điều tra lại có liên quan đến YCĐT của KSV.
Từ năm 2016 đến năm 2020, có 03 vụ án hình sự về chức vụ bị VKS ra Quyết định trả hồ
sơ để điều tra bổ sung; 04 vụ bị Tòa án nhân dân ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung; 02 vụ
bị Tòa án cấp phúc thẩm, giám đốc thẩm
Trang 29tuyên hủy án để điều tra lại có liên quan đến việc đề ra YCĐT của KSV không kịp thời, đầy đủ,
bỏ lọt tội phạm hoặc sót các tỉnh tiết, chứng cứ quan trọng khác của vụ án Điển hình là vụ án PhạmMinh Tân phạm tội “Nhận hối lộ” bị Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh tuyênhủy án tuyên hủy toàn bộ bản án hình sự phúc thẩm của TAND tỉnh Đồng Nai và bản án hình sự sơthẩm của TAND thành phố Biên Hòa để điều tra lại theo quy định của pháp luật vì lý do bỏ lọt hành
vi phạm tội“lừa đảo chiếm đoạt tài sản” của bị can Phạm Minh Tân và hành vi “đưa hối lộ” của
bà Nguyễn Thị Ánh
* Đánh giá, nhận xét chung
Trong 05 năm qua (từ năm 2016 đến năm 2020), KSV Viện kiểm sát 02 cấp tỉnh ĐồngNai trong quá trình thực hiện nhiệm vụ THQCT và KSĐT các vụ án hình sự về chức vụ đã tíchcực và chủ động bám sát hồ sơ vụ án để đề các YCĐT nhìn chung đều đảm bảo kịp thời, chínhxác và có căn cứ ngay từ khi khởi tố vụ án hình sự và trong suốt quá trình điều tra, góp phầnlàm cho hoạt động điều tra thu thập tài liệu chứng cứ của ĐTV được khách quan, toàn diện vàđúng pháp luật Do vậy, hầu hết các vụ án hình sự về chức vụ đều được điều tra, truy tố, xét xửnghiêm minh, có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật Mặc dù vậy, vẫn còn một sốYCĐT của KSV ban hành chưa kịp thời, nội dung còn chung chung, không cụ thể hoặc không
có căn cứ làm ảnh hưởng đến tiến độ, điều tra giải quyết vụ án, thậm chí có một số vụ án hình
sự về chức vụ phải trả hồ sơ để điều tra bổ sung, hoặc bị cấp phúc thẩm, giám đốc thẩm tuyênhủy án để điều tra lại làm kéo dài thời hạn tố tụng không cần thiết
2.2. Thực trạng đề ra yêu cầu điều tra của Kiểm sát viên trong giai đoạn điều tra
tỉ lệ đề ra YCĐT năm sau cao hơn năm trước, cụ thể:
Từ năm 2016 đến năm 2020, KSV Viện kiểm sát 02 cấp đã ban hành 50 yêu cầu điềutra/41 vụ án hình sự về chức vụ đã khởi tố, đạt tỉ lệ 121,9% Trong đó: Năm 2016, VKS 02 cấp
đã ban hành 05 yêu cầu điều tra/05 vụ, đạt tỉ lệ 100% trên tổng số vụ án khởi tố; năm 2017 banhành 05 yêu cầu điều tra
/06 vụ, đạt tỷ lệ 83,3% trên tổng số vụ án khởi tố; Năm 2018 ban hành 08 YCĐT/09 vụ đạt tỉ lệ88,9% trên tổng số vụ án khởi tố; năm 2019 ban hành 16 yêu cầu điều tra 11 vụ đạt tỉ lệ145,5% trên tổng số án khởi tố và năm 2020 ban hành 16 bản yêu cầu điều tra /10 vụ đạt tỉ lệ160% trên tổng số án khởi tố Nhiều đơn vị có 100% số vụ án hình sự về chức vụ đều ban hànhbản yêu cầu điều tra như: Phòng 3 VKS tỉnh, VKSND thành phố Biên Hòa, VKSND huyện
Trang 30Vĩnh Cửu, VKSND huyện Long Thành.
- Về hình thức và nội dung của yêu cầu điều tra
Các yêu cầu điều tra về cơ bản đều được ban hành theo đúng biểu mẫu của Ngành (mẫu
số 20 trong danh mục biểu mẫu tố tụng hình sự Ban hành kèm theo Quyết định số VKSTC ngày 02/01/2008 của Viện trưởng VKSND tối cao và mẫu số 83 trong danh mục biểu mẫu tố tụng hình sự Ban hành kèm theo Quyết định số 15/QĐ-VKSTC ngày 09/01/2018 của Viện trưởng VKSND tối cao) Theo đó, các KSV đã chú trọng thực hiện các quy định về thể
07/QĐ-thức, kỹ thuật trình bày văn bản theo quy định của Bộ Nội vụ và của ngành Kiểm sát Hầu hếtcác yêu cầu điều tra đảm bảo chính xác về mặtcâu từ, văn phong, chính tả và việc ký văn bảnđúng thẩm quyền Trong đó, có 40/50 YCĐT do KSV đề ra nhìn chung đều đảm bảo có căn cứ,sát với nội dung vụ án (chiếm tỉ lệ 80%) được ĐTV, CQĐT thực hiện đầy đủ và nghiêm túc đápứng yêu cầu giải quyết vụ án, cụ thể:
+ Có 18 yêu cầu điều tra có nội dung toàn diện, đầy đủ, triệt để giúp cho việc điều tra đúng hướng, phục vụ tốt hoạt động truy tố, xét xử.
Trong quá trình THQCT và KSĐT vụ án về chức vụ nhiều KSV đã nghiên cứu kỹ cáctài liệu, chứng cứ ban đầu do CQĐT cung cấp; bám sát quá trình điều tra, kịp thời đề ra các yêucầu điều tra cụ thể, sát với nội dung vụ án án, nội dung yêu cầu điều tra toàn diện, đầy đủ,chính xác, định hướng tốt cho hoạt động điều tra của ĐTV, giúp CQĐT tiến hành điều tra đúnghướng, sau đó Tòa án xét xử có đầy đủ tài liệu chứng cứ kết tội bị cáo và áp dụng hình phạttương xứng với hành vi phạm tội Điển hình như: (1) Vụ án Vũ Hoàng Đang cùng đồng phạm
phạm “Tội tham ô tài sản”, “Tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” xảy ra tại Điện Lực thành phố Biên Hòa; (2) vụ Võ Thanh Tùng cùng đồng phạm phạm“Tội lạm dụng chức vụ
quyền hạn chiếm đoạt tài sản” xảy ra tại phòng Nội vụ thành phố Biên Hòa do Cơ quan CSĐT
- Công an tỉnh Đồng Nai khởi tố điều tra; (3) Vụ Đặng Thị Hòa cùng đồng phạm phạm “Tội
lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản” xảy ra Hội liên hiệp Phụ nữ xã Suối Tre,
thành phố Long Khánh, vụ Đỗ Thị Hạnh Đào phạm tội “Tham ô tài sản” xảy ra tại Bệnh viện
đa khoa huyện Vĩnh Cửu…
+ Có 05 YCĐT, KSV đã yêu cầu CQĐT củng cố tài liệu, chứng cứ để khởi tố vụ án, bị can về tội phạm chức vụ nhưng chưa được CQĐT khởi tố nên đã không để xảy ra việc bỏ lọt tội phạm và người phạm tội về chức vụ.
Trong quá trình THQCT, kiểm sát việc khởi tố, điều tra các vụ án về chức vụ, nhiềuKSV đã nắm chắc hồ sơ, bám sát hoạt động điều tra của ĐTV, nghiên cứu kỹ tài liệu, chứng cứ,kịp thời phát hiện những hành vi phạm tội,đối tượng phạm tội chưa được CQĐT xác minh, làm
rõ để khởi tố Từ đó, KSV đã chủ động báo cáo lãnh đạo đơn vị, đề ra YCĐT yêu cầu CQĐTthu thập, củng cố tài liệu, chứng cứ để khởi tố vụ án, bị can Do đó, đã không để xảy ra việc bỏlọt tội phạm và người phạm tội, thể hiện rõ vai trò, trách nhiệm công tố trong giai đoạn điều tra