Nhận ra được tầm quan trọng của kiến thức thông tin KTTT đối với giáo dục đại học, nhiều trường đại học trong nước đã có những nỗ lực cho việc đổi mới phương pháp giáo dục, đặc biệt là x
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Tính cấp thiết của đề tài :
Thế kỷ XX, trong đó sự phát triển có tính chất bùng nổ của công nghệ thông tin và truyền thông, những tiến bộ công nghệ sinh học, sự chuyển dịch sang nền kinh tế dựa trên tri thức, xu hướng toàn cầu hóa, xu thế giao lưu văn hóa toàn cầu, sự ra đời nền kinh tế điện tử, sự có mặt của máy tính cá nhân và Internet ở khắp mọi nơi…đang tác động và làm thay đổi mọi lĩnh vực hoạt động của con người, đưa thế giới từ kỷ nguyên công nghiệp sang
kỷ nguyên thông tin và phát triển kinh tế tri thức Đứng trước những sự chuyển biến lớn lao của xã hội, việc nghiên cứu và học tập của sinh viên gặp nhiều thuận lợi song cũng không ít khó khăn
Dẫu rằng sinh viên ở các trường đại học đang được giáo dục trong một môi trường với sự trang bị khá đầy đủ cơ sở vật chất cũng như môi trường để tiếp cận với các nguồn lực thông tin đã mở rộng trên phạm vi toàn cầu, song đứng trước sự phát triển mạnh mẽ của sản lượng thông tin cũng như các phương tiện lưu trữ, truyền tải, cung cấp thông tin phát triển theo cấp số nhân không ngừng như hiện nay, con người trở nên thật nhỏ bé
Sinh viên ngày nay đang được học tập trong một môi trường rộng mở
và linh hoạt, nơi mà các kiến thức và kỹ năng xử lý, sử dụng thông tin được xem như nhân tố quan trọng hàng đầu Vì vậy: “Giáo dục cần phải được đổi mới thông qua các hình thức học tập mới để giúp sinh viên trở nên tích cực
và chủ động hơn trong kỷ nguyên thông tin” Theo đó: việc học tập nên dựa vào các nguồn thông tin về thế giới thực, việc học tập nên hướng vào vấn đề
“tương tác” và “tích hợp” hơn là bị động và manh mún, việc học tập phải dựa trên cơ sở “cộng tác”, nên sử dụng các công nghệ truyền thông hiện đại trong việc học tập”.[8,tr.137]
Trang 2Nhìn chung, mỗi sinh viên chúng ta chỉ lưu lại một ít những gì chúng
ta nghe được trên lớp hoặc ở các môi trường học tập khác nếu như chúng ta không tham gia tích cực vào quá trình học tập và áp dụng những kiến thức
đã học vào giải quyết các vấn đề cụ thể Cho nên phương pháp giáo dục là một điều rất quan trọng, làm thế nào để đưa sinh viên trở thành trung tâm của quá trình dạy và học Sinh viên sẽ là những người tiếp nhận tri thức, xử
lý tri thức và tạo ra tri thức một cách chủ động Hay nói cách khác, sinh viên
phải là người có Kiến thức thông tin để có khả năng học tập suốt đời
Nhận ra được tầm quan trọng của kiến thức thông tin (KTTT) đối với giáo dục đại học, nhiều trường đại học trong nước đã có những nỗ lực cho việc đổi mới phương pháp giáo dục, đặc biệt là xuất phát điểm bắt đầu đào tạo KTTT cho sinh viên từ trung tâm thông tin – thư viện của mỗi trường đại học Nổi bật phải kể đến như Trung tâm học liệu Đại học Cần Thơ, Trung tâm Thông tin – Thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội, Trung tâm Thông tin – Thư viện Đại học Hà Nội, Trung tâm học liệu Đại học Huế, Trung tâm Thông tin học liệu Đại học Đà Nẵng, Trung tâm Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia…
Chúng ta biết rằng: “Thư viện chính là công cụ truyền bá tri thức một cách tĩnh lặng, là nơi chuyển tải thông tin một cách nhẹ nhàng, nhưng có tác động cao và hiệu quả lớn, không chỉ là hình thức cho người đọc mượn một cuốn sách, cung cấp một sản phẩm thông tin, mà nhiệm vụ (nội dung) của thư viện chính là sự chuyển tải những tri thức đến người đọc, người dùng tin những thông tin cần thiết và bổ ích trong việc tự học tập và nghiên cứu, xây dựng một xã hội học tập trong nhân dân” Hiện tại, với việc chuyển đổi
sang hình thức đào tạo theo tín chỉ, việc giáo dục KTTT cho sinh viên lại càng quan trọng, hơn lúc nào hết thư viện chứng tỏ được là một phần không thể thiếu được của cộng đồng Đào tạo KTTT cho người dùng tin một cách hiệu quả, khoa học để sinh viên biết chủ động, sáng tạo trong việc lựa chọn thông tin, trang bị cho mình kỹ năng học tập suốt đời luôn là vấn đề tác giả
Trang 3tìm hiểu Bên cạnh đó hiện tại Trung tâm Thông tin – Thư viện Trường Đại học Hà Nội – một trong những thư viện đại học đang triển khai đào tạo KTTT sớm nhất trên địa bàn Hà Nội, nhằm tìm ra các giải pháp cụ thể, thực
tế, phù hợp triển khai KTTT cho các thư viện đại học nói chung Do đó tác
giả đã quyết định lựa chọn đề tài: “Tìm hiểu hoạt động đào tạo kiến thức
thông tin dành cho sinh viên tại Trung tâm Thông tin - Thư viện Trường Đại học Hà Nội” làm khóa luận tốt nghiệp cử nhân ngành Thông tin – Thư
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu :
- Nhiệm vụ 1: Nghiên cứu lý thuyết về kiến thức thông tin, tầm quan trọng của KTTT với giáo dục đại học hiện nay
- Nhiệm vụ 2: Tìm hiểu và phân tích những cơ sở triển khai KTTT phù hợp với hoàn cản kinh tế, chính trị, xã hội và con người Việt Nam
- Nhiệm vụ 3: Khảo sát thực trạng thực tiễn hoạt động đào tạo KTTT dành cho sinh viên tại Trung tâm Thông tin - Thư viện Trường Đại học Hà Nội Phân tích số liệu thu được và đưa ra những nhận định ban đầu
về hiệu quả hoạt động đào tạo KTTT của thư viện
- Nhiệm vụ 4: Đưa ra những nhận xét và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo KTTT tại thư viện, cố gắng trong tương lai không xa đưa KTTT trở thành môn học bắt buộc đối với sinh viên trước khi tốt nghiệp
Trang 4Kỷ yếu hội thảo khoa học của Khoa Thông tin – Thư viện Trường Đại học
Khoa học xã hội và nhân văn
Từ ngày 8-12/5/2006 ở trường Đại học Hà Nội, được sự tài trợ của UNESCO đã phối hợp với Trung tâm Thông tin Phát triển Việt Nam (VDIC)
và Trung tâm Tài nguyên Tri thức Phát triển Úc (ADS) tổ chức khóa bồi dưỡng năng lực đào tạo kiến thức thông tin cho cán bộ thư viện của một số trường đại học tại Việt Nam
Một số bài khóa luận không nhiều nghiên cứu về vấn đề KTTT với việc đào tạo nguồn lực cho ngành Thông tin - Thư viện, và đổi mới phương pháp giáo dục để đào tạo KTTT cho sinh viên tốt hơn
Tuy nhiên chưa có một công trình nào đi sâu vào việc đào tạo KTTT xuất phát điểm từ thư viện, đặc biệt là Trung tâm Thông tin - Thư viện Đại học Hà Nội Thiết nghĩ, trong điều kiện thư viện đang ngày một được nhìn nhận đúng đắn từ xã hội như hiện nay, thì đây quả là vấn đề đáng lưu tâm
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Kiến thức thông tin của sinh viên trường Đại học Hà Nội
4.2 Phạm vi nghiên cứu
về thực trạng đào tạo KTTT tại Trung tâm, tác giả đã khảo sát và phỏng vấn sinh viên các khóa 06, 07, 08, 09
Trang 55 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Khóa luận dựa trên cơ sở quan điểm của chủ nghĩa xã hội và tư tưởng
Hồ Chí Minh về công tác sách báo và thư viện, các chỉ thị, nghị quyết, các văn bản pháp quy về giáo dục và đào tạo của Đảng và Nhà nước
5.2 Phương pháp nghiên cứu
đang công tác tại Trung tâm
6.2 Về mặt thực tiễn :
Kết quả nghiên cứu của khóa luận là cơ sở để khẳng định sự cần thiết đáng lưu tâm và hiệu quả thu được khả quan từ hoạt động đào tạo KTTT của thư viện đại học dành cho sinh viên Qua đó, thúc đẩy hơn nữa, sự quan tâm, đồng thuận và đầu tư của BLĐ nhà trường đại học dành cho thư viện để thư viện có thể phát huy hết khả năng vốn có của mình
7 Bố cục của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục tham khảo, nội dung cơ bản của niên luận được trình bày trong 3 chương:
Trang 6Chương 1: Tầm quan trọng của kiến thức thông tin trong giai đoạn hiện nay với quá trình đổi mới phương pháp đào tạo đại học theo hình thức tín chỉ
Chương 2: Thực trạng hoạt động đào tạo kiến thức thông tin cho sinh viên tại Trung tâm Thông tin - Thư viện Trường Đại học Hà Nội
Chương 3: Một số nhận xét và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo kiến thức thông tin cho sinh viên tại Trung tâm
Trang 7NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: TẦM QUAN TRỌNG CỦA KIẾN THỨC THÔNG TIN TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY VỚI QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC THEO HÌNH THỨC TÍN CHỈ
1.1 Kiến thức thông tin (Information Literacy) 1.1.1 Khái niệm kiến thức thông tin
Khái niệm “kiến thức thông tin” được Paul Zurkowski, Chủ tịch Hội công nghiệp thông tin (Mỹ) lần đầu tiên được đề cập đến năm 1974 Vào thời điểm đó, do sự phát triển vũ bão của thông tin, cũng như nhu cầu của cộng đồng về việc sử dụng tài nguyên thông tin, kiến thức thông tin được
xem như là “những kỹ thuật và kỹ năng sử dụng các công cụ thông tin khác
nhau, cũng như những nguồn lực cơ bản trong việc thiết lập các giải pháp thông tin cho vấn đề của người dùng” [8,tr.135] Tuy nhiên, từ năm 1989, khi bản báo cáo cuối cùng của Hiệp Hội thư viện Hoa Kỳ được công bố, khái niệm kiến thức thông tin đã được hầu hết các cơ quan giáo dục đặc biệt chú ý
Theo Hiệp hội các thư viện Đại học và thư viện nghiên cứu Mỹ (ACRL, 1989), kiến thức thông tin là sự hiểu biết và một tập hợp các khả năng cho phép các cá nhân có thể “nhận biết thời điểm cần thông tin và có thể định vị, thẩm định và sử dụng thông tin cần thiết một cách hiệu quả” Cheek và các tác giả khác trích dẫn ý tưởng của McKie với sự khẳng định
rằng: “kiến thức thông tin là khả năng nhận biết nhu cầu thông tin, tìm kiếm,
tổ chức, thẩm định và sử dụng thông tin trong việc ra quyết định một cách hiệu quả, cũng như áp dụng những kỹ năng này vào việc tự học suốt đời”
[8,tr.135]
Kiến thức thông tin không chỉ đơn thuần là những kỹ năng cần thiết
để tìm kiếm thông tin một cách có hiệu quả, nó bao gồm cả những kiến thức
về các thể chế xã hội và các quyền lợi do pháp luật quy định để truy cập các
Trang 8nguồn thông tin Rõ ràng xét về tổng thể, KTTT liên quan đến việc xác định nhu cầu thông tin, xây dựng các biểu thức tìm tin, lựa chọn và xác minh nguồn tin, thẩm định thông tin, tổng hợp và sử dụng thông tin
Kiến thức thông tin giúp trả lời những câu hỏi quan trọng như: “Có thể đáp ứng được nhu cầu tin ở đâu?”;“Có thể đáp ứng được nhu cầu thông tin nhờ những kỹ năng nào?”;“Thông tin nào cần được sử dụng và hành vi
sử dụng như thế nào được coi là hợp lý?”[15,tr.203]
Có nhiều hướng tiếp cận nội dung Kiến thức thông tin, nhưng theo tôi
hướng tiếp cận của Viện kiến thức thông tin Australia và New Zealand – ANZILL (Australian and New Zealand Institute for Information Literacy) là bao quát nhất Theo tổ chức này, cấu trúc của KTTT gồm: kỹ năng cơ bản,
kỹ năng thông tin, giá trị và niềm tin
- Nhóm các kỹ năng cơ bản bao gồm: kỹ năng giải quyết vấn đề, cộng tác và làm việc theo nhóm, giao tiếp và suy nghĩ tích cực
- Nhóm các kỹ năng thông tin bao gồm: tìm kiếm thông tin, sử dụng nguồn tin và sự thành thạo về công nghệ thông tin
- Nhóm giá trị và niềm tin bao gồm: sử dụng thông tin một cách thông minh và có đạo đức, đến trách nhiệm xã hội và sự tham gia các hoạt động công cộng
Sơ đồ 1: các yếu tố của kiến thức thông tin
Kiến thức thông tin
Kỹ năng cơ bản Kỹ năng thông tin
Giá trị niềm tin
Trang 91.1.2 Thế nào là người có kiến thức thông tin
Theo Viện Kiến thức thông tin Úc và New Zealand cho rằng một người có kiến thức thông tin là người có khả năng [8,tr.135] :
- Nhận dạng được nhu cầu tin của bản thân
- Xác định được phạm vi của thông tin mà mình cần
- Thẩm định thông tin và nguồn của chúng một cách tích cực và hiệu quả
- Phân loại, lưu trữ, vận dụng và tái tạo nguồn thông tin được thu thập hay tạo ra
- Biến nguồn thông tin được lựa chọn thành cơ sở tri thức
- Sử dụng thông tin vào việc học tập, tạo tri thức mới, giải quyết vấn
đề, và ra quyết định một cách có hiệu quả
- Nắm bắt được các khía cạnh kinh tế, pháp luật, chính trị và văn hóa trong việc sử dụng thông tin
- Truy cập và sử dụng các nguồn thông tin hợp pháp và hợp đạo đức
- Sử dụng thông tin và tri thức để thực hiện các quyền công dân và trách nhiệm xã hội
- Trải nghiệm kiến thức thông tin như một phần của học tập độc lập cũng như tự học suốt đời
Qua đó chúng ta nhận ra rằng: “Người có kiến thức thông tin là người
đã học được cách thức để học Họ biết cách học bởi họ nắm được phương thức tổ chức tri thức, tìm kiếm thông tin và sử dụng thông tin, do đó những người khác có thể học tập từ họ Kiến thức thông tin tạo lập cơ sở cho quá trình học tập suốt đời (Lifelong learning), người có KTTT luôn tìm được thông tin cần thiết cho bất kỳ nhiệm vụ hoặc quyết định nào một cách chủ động.”[8,tr.136]
Trong môi trường Đại học, theo ACRL (Association of College and Research Libraries) sinh viên có kiến thức và kỹ năng thông tin, được thể hiện ở những khả năng sau:
Trang 101) Khả năng xác định được bản chất và mở rộng nhu cầu tin
- Định nghĩa và thống nhất các nhu cầu tin
- Nhận ra sự khác nhau giữa các loại, các nguồn nhân lực thông tin
- Xem xét giá trị và lợi ích của thông tin thu được
- Đánh giá bản chất và mở rộng nhu cầu thông tin
2) Khả năng tìm kiếm thông tin theo nhu cầu một cách có kết quả và hiệu quả
- Lựa chọn những phương pháp tìm kiếm thích hợp, hoặc lựa chọn những hệ thống truy cập thông tin được thiết kế một cách hiệu quả
- Tìm kiếm thông tin trực tuyến hoặc sử dụng các phương pháp khác
- Lựa chọn chiến lược tìm nếu cần thiết
- Lấy ra, ghi lại, quản lý thông tin và các nguồn của nó
3) Khả năng đánh giá thông tin và nguồn tin tìm được một cách nhanh chóng, phối hợp các thông tin và nguồn tin được lựa chọn trong kiến thức
cơ bản của mình và đánh giá hệ thống
- Tóm tắt các ý chính từ các thông tin được tích hợp
- Áp dụng các tiêu chuẩn ban đầu để đánh giá thông tin và các nguồn của nó
- Tổng hợp những ý chính để xây dựng các ý tưởng mới
- So sánh những kiến thức mới với những kiến thức trước đó, để xác định các giá trị mới, những mâu thuẫn, hoặc những định tính của thông tin
- Xác định kiến thức mới có tác động đến hệ thống đánh giá của cá nhân hay không và từng bước điều hòa sự tác động đó
- Quyết định có cần thiết phải xem xét lại các kiến thức hay không
4) Khả năng làm việc theo nhóm hoặc độc lập, sử dụng thông tin có hiệu quả để hoàn thành một mục đích nhất định
- Áp dụng những thông tin cũ và mới để xây dựng kế hoạch và tạo ra một sản phẩm cụ thể, hoặc kế hoạch trình bày
Trang 11- Kiếm tra lại quá trình phát triển của sản phẩm, hoặc có kế hoạch trình bày
- Truyền bá sản phẩm, hoặc trình bày ý tưởng một cách có hiệu quả
5) Khả năng hiểu biết rộng về nhiều lĩnh vực như: kinh tế, luật pháp, các vấn đề xã hội xung quanh việc sử dụng thông tin và truy cập, sử dụng thông tin đúng cách, đúng luật
- Hiểu quy cách, luật pháp và các vấn đề kinh tế, xã hội xung quanh thông tin và công nghệ thông tin
- Có ý thức làm theo luật, theo các quy tắc, các chính sách của tổ chức
và các quy ước nghề nghiệp, có liên quan đến việc truy cập và sử dụng thông tin
- Biết nhìn nhận việc sử dụng thông tin trong việc truyền bá các sản phẩm hoặc thuyết trình
Như vậy, một người có KTTT không đơn giản chỉ là người có kiến thức rộng, hiểu biết sâu Kiến thức vô cùng đa dạng và phong phú, làm sao để sử dụng nó một cách hữu hiệu nhất, biết đánh giá đúng giá trị của thông tin Sinh viên chúng ta nếu nắm được các khả năng cần có của một người có KTTT như Viện kiến thức thông tin Úc và New Zealand, hay theo ACRL hoặc tổ chức thư viện Mỹ đưa ra chắc chắn các bạn sẽ làm chủ được bất kỳ nguồn thông tin nào
1.1.3 Tiêu chuẩn về kiến thức thông tin
1) Nhóm tiêu chuẩn kiến thức thông tin
Tiêu chuẩn 1: Sinh viên có kiến thức thông tin biết đánh giá thông tin một cách hiệu quả
Nhận biết rằng thông tin chính xác và toàn diện là cơ sở của những quyết định thông minh
Xác định một loạt các nguồn tin có thể
Trang 12 Phát triển và sử dụng các chiến lược xác định thông tin một cách có hiệu quả
Tiêu chuẩn 2: Sinh viên có KTTT có thể đánh giá thông tin một cách thành thạo và khách quan
Phân biệt rõ ràng các khái niệm sự kiện, quan điểm và ý kiến
Tiêu chuẩn 3: Sinh viên có KTTT sử dụng thông tin một cách đúng đắn
và sáng tạo
Áp dụng thông tin trong suy luận và giải quyết vấn đề
Xây dựng, lưu truyền thông tin và ý tưởng dưới nhiều dạng thức thích hợp
liên quan đến các lợi ích cá nhân
Tiêu chuẩn 5: Sinh viên là một người học độc lập là một người có KTTT
và đánh giá cao nguồn thông tin và các cách biểu hiện sáng tạo khác của thông tin
tạo
Trang 13 Phát triển các sản phẩm một cách sáng tạo dưới nhiều hình thức khác nhau
Tiêu chuẩn 6: Sinh viên là người học tập là một người có KTTT và luôn
tìm kiếm các thông tin và tri thức mới
kiếm thông tin cá nhân
Phát huy các chiến lược chỉnh sửa, nâng cao và cập nhật tri thức tự có
3) Nhóm các tiêu chuẩn về trách nhiệm xã hội
Tiêu chuẩn 7: Sinh viên có đóng góp tích cực đến cộng đồng học tập và cho xã hội là một người có tri thức thông tin và nhận thức được tầm quan trọng của thông tin trong xã hội dân chủ
Tiêu chuẩn 8: Sinh viên có đóng góp tích cực đến cộng đồng học tập và
cho xã hội là một người có tri thức thông tin và thực hiện tốt hành vi đạo đức đối với thông tin và công nghệ thông tin
Tôn trọng các nguyên tắc tự do trí tuệ
Tôn trọng quyền sở hữu trí tuệ
Tiêu chuẩn 9: Sinh viên có đóng góp tích cực đến cộng đồng học tập và cho xã hội là một người có tri thức thông tin và tham gia một cách hiệu quả vào quá trình tìm tòi và tiếp thu thông tin
Chia sẻ tri thức và thông tin với người khác
của họ
giải pháp
Trang 14 Hợp tác cùng mọi người cả đích thân và thông qua công nghệ để thiết kế, phát triển và đánh giá các vấn đề và giải pháp thông tin
1.2 Vai trò của kiến thức thông tin trong giai đoạn hiện nay
đối với giáo dục đại học
Kiến thức thông tin trong giai đoạn hiện nay, đặc biệt đối với giáo dục đại học có vai trò vô cùng quan trọng Kiến thức thông tin là một kỹ năng cần thiết nhằm giúp người học, người nghiên cứu gặt hái được những thành công nhất định trong quá trình học tập, nghiên cứu khoa học Việc sử dụng ngày càng nhiều các kỹ thuật học tập chủ động, sự phổ biến của các nguồn thông tin điện tử và kinh nghiệm ngày càng tăng của cán bộ thư viện trong việc dạy cách sử dụng thư viện và các nguồn thông tin đã thúc đẩy nhu cầu thực thi các chương trình kiến thức thông tin Howard Simmons, Cựu giám đốc của ủy ban các bang miền trung đã chú ý vào tính trung gian và tầm quan trọng của kiến thức thông tin:
“Kiến thức thông tin phải được coi như một khái niệm có liên kết chặt chẽ đến cải tiến chương trình đại học – và nó không chỉ là con ngựa gỗ của cán bộ thư viện Theo tôi, kiến thức thông tin – theo nghĩa hẹp – vẫn được nhiều người coi là một hoạt động ngoại biên trừ khi nó là một thành tố không thể tách rời của quá trình giảng dạy và học tập Hiểu một cách rộng rãi, kiến thức thông tin nên được coi như một chiến lược để nâng cao năng lực lĩnh hội cách học của sinh viên”[13,tr.95]
Để có cái nhìn đầy đủ, khách quan hơn về tầm quan trọng của KTTT đối với giáo dục đại học, chúng ta có thể đưa ra một số vai trò cơ bản của KTTT trong giáo dục đại học như sau:
1.2.1 Công cụ giúp cho việc học tập suốt đời
Học tập suốt đời là yếu tố đầu tiên được nhắc đến khi thảo luận tính cấp thiết của KTTT Không thể coi đào tạo là công cụ duy nhất để thu thập thông tin, nâng cao tri thức, phát triển học tập và sự nghiệp của mình
Trang 15“KTTT tạo lập cơ sở cho vấn đề tự học suốt đời Nó cho phép người học làm chủ nội dung thông tin, mở rộng diện quan tâm của học, giúp học có khả năng tự định hướng hơn, đồng thời kiểm soát tốt hơn việc học tập của họ KTTT nên đưa vào trong các chương trình đào tạo quốc gia, cũng như trong giáo dục đại học, giáo dục phi chính quy và vấn đề học tập suốt đời” (Theo Abid trong hội nghị Quốc tế lần thứ 70 về Thông tin – Thư viện do IFLA tổ chức).[5,tr.11]
1.2.2 Giảm thiểu hiệu quả sự bùng nổ thông tin
Sự bùng nổ thông tin cũng được xem là một nguyên nhân khác cho sự cần thiết của KTTT Thông tin được truyền tải đến mỗi cá nhân theo nhiều cách khác nhau: từ thư viện, từ nguồn cộng đồng, các tổ chức, các phương tiện truyền thông, Internet…và dưới rất nhiều dạng thức: đa phương tiện, đồ thị, thính giác, văn bản…Điều đó đặt ra vấn đề về tính xác thực, hợp lý, độ tin cậy của thông tin và cũng đặt ra nhiều thách thức cho các cá nhân trong việc đánh giá và nhận biết thông tin
Với sự phát triển mạnh mẽ của xã hội thông tin và sự ra đời của Internet, người học dễ dàng tìm kiếm thông tin cần thiết qua nhiều cách Tuy nhiên, nếu không có KTTT người học sẽ không biết lựa chọn thông tin, dễ rơi vào tình trạng quá tải thông tin, tiếp cận thông tin sai lệch, vận dụng thông tin không hiệu quả, hoặc không thể chuyển biến thông tin thành tri thức
1.2.3 Đổi mới phương pháp dạy và học
Phương pháp đào tạo tín chỉ như hiện nay có thể nói là sự “thay da đổi thịt” của giáo dục đại học ở Việt Nam Dần dần loại bỏ cách học “thầy đọc trò chép”, tạo ra cho sinh viên một không khí học chủ động hơn, luôn tìm tòi những cái mới và biến kiến thức thành của mình Hơn nữa, phương pháp giáo dục đóng một vai trò quan trọng trong việc giải quyết đầu ra Cho nên,
Trang 16phương pháp giáo dục cần phải được nâng cấp và đổi mới nhằm đưa sinh viên trở thành trung tâm của quá trình dạy và học Eskola gọi đây là “giảng dạy tích cực”, tức là sinh viên sẽ là người chủ động trong cách tiếp nhận tri thức, hơn nữa là phải biết xử lý và sáng tạo ra tri thức
Sau đây là biểu đồ về mức độ tiếp thu kiến thức của sinh viên trong môi trường đại học qua một số hình thức như: nghe, đọc, âm thanh – hình ảnh, minh họa, thảo luận nhóm, thực hành và dạy người khác – dùng ngay điều đã học Từ đó các trường đại học có thể đổi mới phương pháp dạy và học hiệu quả nhất, giúp sinh viên thu được lượng kiến thức từ những bài giảng hằng ngày ở giảng đường
Biểu đồ 1: mức tiếp thu kiến thức của sinh viên thông qua các hình thức học tập
Âm thanh, Hình ảnh Minh họa
Thảo luận nhóm Thực hành
Dạy người khác/ dùng ngay điều đã học
1.2.4 Nâng cao chất lƣợng nghiên cứu khoa học
Nghiên cứu khoa học (NCKH) được xem như một thước đo chất lượng của nền giáo dục và kinh tế tri thức của một quốc gia Hoạt động NCKH ở các trường đại học có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển khoa học – công nghệ vì đó là động lực thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa của đất nước Chính vì vậy, KTTT đóng một vai trò hết
Trang 17sức quan trọng trong việc rèn luyện cho sinh viên, giáo viên cũng như các nhà nghiên cứu khả năng thực hiện NCKH và nâng cao chất lượng NCKH
NCKH là thu thập, phân tích thông tin để hiểu biết về một hiện tượng,
đó là “quá trình điều tra có thông số và mục tiêu rõ ràng: khám phá, sáng tạo tri thức, xây dựng học thuyết”.[5,tr.13] Vì vậy, NCKH là một quá trình vận dụng nhiều kỹ năng của người nghiên cứu, mà chính KTTT giúp người đọc xây dựng và rèn luyện những kỹ năng đó Với định nghĩa NCKH vừa nêu trên, để tiến hành NCKH, người nghiên cứu trước hết phải trang bị cho mình những kiến thức và kỹ năng về KTTT như:
Nhận biết: biết được lúc nào cần thông tin, đặt giả thuyết cho vấn đề
Khả năng định vị: xác định nguồn cung cấp thông tin và tìm được nguồn tin cần có
Đánh giá thông tin
Khả năng phê phán: tư duy nhận xét, phê bình trước các vấn đề, hiện tượng
Khả năng sáng tạo: không ngừng đặt câu hỏi với những kiến thức, lý thuyết đã được đúc kết, tìm ra hướng đi mới, xây dựng tri thức, học thuyết mới
Tổ chức thông tin: chọn lọc và tổ chức thông tin theo thế giới quan của mỗi người
Khả năng ứng dụng: vận dụng hiệu quả thông tin đó vào thực tế giải quyết vấn đề
Không phải bất cứ sinh viên nào cũng có thể NCKH một cách thuận lợi mà không có sự rèn luyện của giáo viên về những kỹ năng của KTTT, qua đó là sự tự phát huy và không ngừng trau dồi các kỹ năng đó của bản thân họ KTTT chính là hành trang không thể thiếu trong NCKH, trong nền
Trang 18kinh tế tri thức, giúp sinh viên hòa nhập và phát triển bền vững trong xã hội thông tin
1.2.5 Tăng khả năng thích ứng với môi trường của sinh viên
Môi trường làm việc rất khắc nghiệt có tình cạnh tranh cao, nếu sinh viên chưa cọ xát và có một nền tảng vững chắc về KTTT sẽ không đủ tự tin bước vào môi trường mới hay đưa ra ý kiến của mình KTTT chắc chắn sẽ giúp sinh viên có một khả năng làm việc linh hoạt, năng động, hơn nữa là kỹ năng cộng tác nhóm hiệu quả, đánh giá chính xác năng lực cá nhân và một tinh thần làm việc, một đạo đức nghề nghiệp lành mạnh
1.3 Tình hình triển khai kiến thức thông tin hiện nay
1.3.1 Trên thế giới
Trên thế giới, việc nghiên cứu về KTTT đã được tiến hành từ giữa những năm 1970 Càng về sau mức độ nghiên cứu càng tăng lên KTTT đã được nhiều quốc gia và các tổ chức xã hội, nghề nghiệp nghiên cứu và phổ biến trên toàn cầu như Hội Công nghiệp thông tin Mỹ, Hiệp hội các thư viện đại học và chuyên ngành của Mỹ, Hội thư viện Mỹ, Liên hiệp các Hội thư viện thế giới, UNESCO Hiện nay, ở nước ngoài KTTT được coi như một môn khoa học với đầy đủ hệ thống lý luận, phương pháp nghiên cứu và phương pháp giảng dạy với những kỹ năng ứng dụng hiệu quả vào thực tế
Hoa Kỳ là nước đã bỏ ra nhiều công sức để nghiên cứu về KTTT Rất nhiều hội nghị, hội thảo đã được tổ chức ở các nước, các khu vực và quốc tế
về vấn đề này Ở khu vực Đông Nam Á, năm 2004 Thư viện Đại học Brunei Darussalam phối hợp với Hội Thư viện Brunei đã tổ chức một hội thảo về KTTT với sự tham dự của nhiều nước trong khu vực Trong tổ chức IFLA cũng có những thay đổi để đáp ứng với sự quan tâm đối với KTTT Vào năm
2001, tại hội nghị hàng năm tại Boston, Hoa Kỳ, IFLA đã đổi tên Bàn tròn
về đào tạo người dùng tin thành Tiểu ban Kiến thức thông tin Từ đó đến
Trang 19nay, Tiểu ban đã có nhiều hoạt động để phổ biến KTTT trên toàn thế giới, trong đó có ý định sẽ sử dụng chứng chỉ quốc tế về KTTT [7,tr.215] UNESCO cũng quan tâm tới vấn đề phổ biến KTTT trên phạm vi toàn cầu với những chương trình hoạt động hết sức phong phú Ở đây, tác giả muốn
đề cập đến một sự kiện, mà kết quả của nó đã giải quyết nhiều vấn đề liên quan đến KTTT Đó là sự kiện: vào tháng 9 năm 2003, dưới sự tài trợ của UNESCO, UB quốc gia về khoa học thư viện và thông tin và Diễn đàn quốc gia về KTTT (Hoa Kỳ) đã tổ chức một hội thảo bàn về KTTT Hội thảo này
đã ra một tuyên bố gọi là Tuyên bố Praha: tiến tới một xã hội có kiến thức thông tin (The Prague Declaration: Towards an Information Literate Society) Điều đáng chú ý là trong Tuyên bố Praha đã đưa ra 6 nguyên tắc
cơ bản quan trọng về kiến thức thông tin [7,tr.215] Đó là:
Việc hình thành xã hội thông tin là chìa khóa cho sự phát triển xã hội, văn hóa, kinh tế của các dân tộc và các cộng đồng, các thiết chế và các cá nhân trong thế kỷ XXI và những năm tiếp theo
KTTT bao gồm kiến thức về nhu cầu và yêu cầu tin, khả năng xác định, định vị, đánh giá, tổ chức và sáng tạo, sử dụng có hiệu quả và truyền thông tin tới các địa chỉ Đây là điều kiện đầu tiên để tham gia có hiệu quả vào xã hội thông tin và là một phần trong quyền cơ bản của con người được học tập suốt đời
KTTT trong quan hệ với sự tiếp cận tới các thông tin cần thiết và sử dụng
có hiệu quả thông tin và công nghệ truyền thông, sẽ đóng vai trò chủ đạo trong việc thủ tiêu các bất công bên trong và giữa các quốc gia, dân tộc và trong việc khuyến khích lòng khoan dung, hiểu biết lẫn nhau thông qua việc
sử dụng thông tin trong ngữ cảnh đa văn hóa và đa ngôn ngữ
Các chính phủ cần phát triển các chương trình liên ngành rộng lớn để khuyếch trương KTTT trên phạm vi cả nước như là bước đi cần thiết để loại
bỏ sự cách biệt về số hóa thông qua việc tạo lập tính công dân ở KTTT, xã hội dân sự có hiệu quả và lao động có tính ganh đua
Trang 20 KTTT là nhu cầu của mọi khu vực xã hội và mỗi khu vực có nhu cầu phù hợp với nhu cầu và ngữ cảnh đặc thù của mình
KTTT là một bộ phận quan trọng của Giáo dục dành cho mọi người mà
nó có thể đóng góp vào sự thành công của các Mục tiêu phát triển Thiên niên
kỷ của LHQ và thực hiện Tuyên bố toàn cầu về quyền con người
Đặc biệt, phải kể đến Mô hình 8 bước (Empowering Eight Model –
Generic Model for Information Literacy) mà Hội thảo quốc tế tại Shilanka
năm 2004 đã xây dựng dựa trên những vấn đề nghiên cứu lý thuyết và đúc rút từ làm việc với người dùng tin có thể gợi ý cho ta nhiều điều lý thú về kiến thức thông tin [14,tr.166]:
Bước 1: Xác định nhu cầu thông tin Bước 2: Xây dựng chiến lược/Khám phá nguồn tin Bước 3: Lựa chọn thông tin/Tìm kiếm thông tin Bước 4: Tổ chức thông tin
Bước 5: Sáng tạo trong dùng tin Bước 6: Trình bày thông tin Bước 7: Đánh giá thông tin Bước 8: Sử dụng thông tin
Mô hình này đã khái quát một cách khoa học 8 bước cần thiết trong KTTT Đây là mô hình hay, hiệu quả để chúng ta suy nghĩ nên áp dụng vào điều kiện giáo dục KTTT tại Việt Nam
Hiểu được tầm quan trọng không thể thiếu của KTTT trong một xã hội phát triển, nhiều nước trên thế giới đã có kế hoạch và triển khai KTTT rất hiệu quả, tiêu biểu phải kể đến như Mỹ, Oxtraylia, New Zealand…Ở những nước này, hệ thống các trường đại học được triển khai KTTT một cách có hệ thống, môn học KTTT được tích hợp trong khung chương trình đào tạo đại học và là một yếu tố không thể thiếu trong tiêu chí tốt nghiệp Đây là một cơ
sở tốt cho Việt Nam học tập, áo dụng vào thực trạng đào tạo sinh viên cho đất nước
Trang 211.3.2 Tại Việt Nam
Kiến thức thông tin có thể nói vẫn đang là một vấn đề khá mới ở Việt Nam, song hiện nay với sự phát triển mạnh mẽ của mọi lĩnh vực và ngành giáo dục luôn được xã hội coi trọng quan tâm hàng đầu, KTTT thực sự đang dành được sự nghiên cứu, khảo sát và triển khai khá hiệu quả các bước đầu tại một số đơn vị trường đại học Tiêu biểu xin kể đến như: Trung tâm học liệu Đại học Cần Thơ, Trung tâm Thông tin – Thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội, Trung tâm Thông tin – Thư viện Đại học Hà Nội, Trung tâm học liệu Đại học Huế, Trung tâm Thông tin học liệu Đại học Đà Nẵng, Trung tâm Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia…
Ở những đơn vị này, kế hoạch giảng dạy được phác thảo thành một khung chương trình đào tạo chính quy, khoa học, áp dụng cho mọi đối tượng cần tìm hiểu và học hỏi về KTTT, song cần nhận định rõ ràng rằng: KTTT vẫn chưa trở thành một yếu tố được quan tâm hàng đầu tại mọi đơn vị đào tạo đại học, chưa được tích hợp vào khung chương trình đào tạo đại học của nhà trường và hầu hết các sinh viên chỉ biết được một số kỹ năng thông tin
đơn lẻ chứ chưa có cái nhìn toàn diện về cái gọi là “Kiến thức thông tin”,
chưa thấu hiểu tầm quan trọng của KTTT trong việc học tập, nghiên cứu suốt đời của cá nhân để có chiến lược học tập, rèn luyện, tự tìm hiểu về KTTT trên các phương tiện truyền thông, mạng toàn cầu một cách có hiệu quả Cần nhìn nhận, Việt Nam phải phấn đấu, nỗ lực nhiều hơn nữa, tích cực học hỏi các nước triển khai KTTT thành công, tổ chức các hội nghị, hội thảo bàn bạc giữa các đơn vị đào tạo đại học, và quan trọng hơn là sự đồng thuận, thống nhất giữa các BLĐ, các khoa và cơ quan Thông tin – Thư viện trong mỗi trường đại học hiện nay Từ đó vạch nên một khung đào tạo chuẩn quốc gia về KTTT dựa trên những đặc thù về hành vi thông tin và hệ thống giáo dục của Việt Nam Khung chuẩn này chính là cơ sở để các cơ quan giáo dục đào tạo, cũng như các cơ quan thông tin thư viện có thể xây dựng cho riêng
Trang 22mình những chương trình kiến thức thông tin phù hợp Hơn thế nữa, nó giúp cho việc triển khai kiến thức thông tin tại Việt Nam trở nên đồng bộ và có hệ thống
1.3.3 Tại Trường Đại học Hà Nội
Với Trường đại học Hà Nội, vấn đề đào tạo KTTT cho sinh viên được quan tâm khá sớm, có thể khẳng định Đại học Hà Nội là đơn vị trường đại học gần như đầu tiên tại Hà Nội cân nhắc về việc triển khai KTTT Hiện nay, KTTT tại Trường Đại học Hà Nội vẫn chưa trở thành một bộ môn chính thức được tích hợp trong chương trình đào tạo của trường mà do chính Trung tâm Thông tin - Thư viện Trường Đại học Hà Nội trực tiếp đảm nhiệm đào tạo cho sinh viên của trường, mặc còn đơn lẻ và chưa có một chính sách đào tạo bài bản, chưa có văn bản pháp quy rõ ràng từ nhà trường, hầu như do các khoa trong trường chủ động gửi sinh viên cho Trung tâm đào tạo, và các khoa tự lên kế hoạch cho những buổi học đơn lẻ song có thể nhìn nhận một số điều kiện hiện có ở Trường Đại học Hà Nội như:
Tính chất của sinh viên học ngoại ngữ: năng động, hướng ngoại, khả năng ngoại ngữ tốt, nhanh nhạy với cái mới, kiến thức và xu hướng đang phổ biến trên thế giới, có quan hệ rộng với bạn bè nước ngoài, khả năng xử
lý thông tin khá tốt và hiệu quả
Trung tâm Thông tin – Thư viện của Trường Đại học Hà Nội được tự động hóa đồng bộ và hoàn toàn Cán bộ của Trung tâm trẻ, tiếp thu cái mới
có chọn lọc và nhanh chóng, nhiệt tình và có tâm huyết nghề nghiệp, thực sự
là đòn bẩy quan trọng cho việc triển khai KTTT
BLĐ nhà trường và Ban chủ nhiệm các khoa có mối quan hệ rất tốt với đại sứ quán các nước bạn, chủ động trong việc chuẩn bị nguồn tài liệu lưu chiểu phong phú, đa dạng và đầy đủ cho nhu cầu học tập của sinh viên trong toàn trường
Trang 23 Hiện tại, Trung tâm Thông tin – Thư viện của trường vẫn đang tiến hành rất đều đặn các hoạt động đào tạo KTTT của mình, tự xây dựng cho Trung tâm chiến lược, kế sách hoạt động hiệu quả, phù hợp nhất với những điều kiện đang có, hoàn cảnh hiện nay
Trong tương lai gần, Trung tâm Thông tin – Thư viện mong rằng sẽ nhận được sự đồng thuận từ phía ban lãnh đạo nhà trường, cùng với những điều kiện đang có, nhanh chóng đưa kiến thức thông tin trở thành môn học chính thức được tích hợp vào chương trình đào tạo bắt buộc đối với sinh viên trước khi tốt nghiệp đại học
Trang 24CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO KIẾN THỨC THÔNG TIN DÀNH CHO SINH VIÊN TẠI TRUNG TÂM THÔNG TIN – THƯ VIỆN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÀ NỘI
2.1 Sơ lược về sự hình thành và phát triển của Trung tâm
Thông tin - Thư viện Trường Đại học Hà Nội
Trung tâm Thông tin – Thư viện Trường Đại học Hà Nội ra đời ngay sau khi Trường Đại học Hà Nội được thành lập Thời kỳ mới thành lập Trung tâm hoạt động trên cơ sở một tổ công tác phục vụ tư liệu cho trường, trực thuộc phòng giáo vụ Hoạt động thư viện nghèo nàn, tài liệu chủ yếu là sách giáo trình, sách tham khảo chuyên ngành như: tiếng Nga và ngôn ngữ các nước Đông Âu (tiếng Ba Lan, tiếng Tiệp Khắc, tiếng Bungari…) Nguồn tài liệu chủ yếu là sách tài trợ, tặng biếu của các nước trong hệ thống xã hội chủ nghĩa
Năm 1967, trước yêu cầu mở rộng quy mô đào tạo và nâng cao chất lượng giảng dạy, Trường Đại học Ngoại ngữ Hà Nội đã mở thêm một số chuyên ngành như: tiếng Anh, tiếng Pháp Cùng với việc thành lập thêm một
số khoa và bộ môn, vốn tư liệu tăng lên đáng kể Đến năm 1984, lãnh đạo nhà trường quyết định tách tổ tư liệu ra khỏi phòng giáo vụ thành một đơn vị độc lập với tên gọi là: “Thư viện Trường Đại học Ngoại ngữ Hà Nội” Sau khi tách thành đơn vị độc lập, năm 1994 Thư viện đã xây dựng mới được toà nhà 2 tầng, vốn tài liệu ngày càng nhiều, phần nào đáp ứng được yêu cầu về
tư liệu cho công tác đào tạo của trường Trong quá trình hoạt động, Trung tâm đã không ngừng nâng cấp cơ sở vật chất kỹ thuật, đổi mới hoàn thiện tổ chức và hoạt động, từng bước ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động nghiệp vụ
Năm 2000 với việc đổi mới chương trình, phương pháp giảng dạy, nâng cao chất lượng đào tạo ngoại ngữ ở nước ta trong thời kỳ đổi mới, Ban Giám hiệu trường quyết định sáp nhập Thư viện với phòng Thông tin và đổi
Trang 25tên thành “Trung tâm Thông tin – Thư viện Trường Đại học Ngoại ngữ Hà Nội” Trung tâm thực hiện dự án nâng cấp hiện đại theo hướng mở, bằng nguồn vốn vay của Ngân hàng thế giới WB (World Bank) mức A vốn đầu tư 500.000 USD để đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất - kỹ thuật trụ sở, trang thiết
bị
Ngày 5/12/2003 Trung tâm đã đi vào hoạt động tại trụ sở mới và không ngừng hoàn thiện cơ sở vật chất, trang thiết bị Đặc biệt, năm 2005 Trung tâm đã ứng dụng và triển khai phần mềm quản trị thư viện điện tử Libol để nâng cao hiệu quả hoạt động thông tin thư viện Hiện nay, Trung tâm đã đi vào hoạt động ổn định và từng bước hiện đại, ngày càng đóng góp vào sự nghiệp giáo dục của Trường Đại học Hà Nội nói riêng và của ngành giáo dục đào tạo của nước ta nói chung trong thời đại mới
Sơ đồ 2: cơ cấu tổ chức của Trung tâm TTTV Đại học Hà Nội:
Bộ phận thư viện
Bộ Phận mạng máy tính
Bộ phận tiếp nhận trả lời thông tin
Bộ phận
an ninh giám sát
và môi trường
Bộ phận nghiệp
vụ thư viện
Bộ phận phục vụ thông tin thư viện
Bộ phận nghiệp
vụ kỹ thuật
Bộ phận phục vụ thông tin điện tử
BAN GIÁM ĐỐC
Trang 262.2 Cơ sở triển khai kiến thức thông tin tại Trung tâm Thông
tin – Thư viện Trường Đại học Hà Nội 2.2.1 Những yêu cầu xuất phát từ sự phát triển kinh tế - xã hội
Gần đây, chính phủ Việt Nam đã thông qua những quyết sách phát triển kinh tế xã hội quan trọng, trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến lĩnh vực thông tin Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2004), trong chiến lược tổng thể phát triển kinh tế xã hội Việt Nam, giáo dục và nhân tố con người được đặc biệt chú ý thông qua tuyên bố: “đổi mới giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ; phát huy hơn nữa nhân tố con người” Trong số 9 kế hoạch cụ thể, việc triển khai kiến thức thông tin đã được gián tiếp hỗ trợ thông qua
khẳng định “tiếp tục cải cách và đổi mới sâu sắc và toàn diện hệ thống giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; phổ cập hóa giáo dục phổ thông; ứng dụng những thành tựu khoa học
và công nghệ tiên tiến vào công tác giáo dục và đào tạo; phát triển kinh tế tri thức” [18,tr.3] Đó chính là cơ sở quan trọng cho việc triển khai kiến tức
thông tin tại Việt Nam Là một đơn vị đào tạo ngoại ngữ uy tín cho sinh viên hiện nay, Trường Đại học Hà Nội không thể đứng ngoài yêu cầu phát triển
ấy Đây là động lực mạnh mẽ hơn nữa để Trung tâm Thông tin – Thư viện của trường nhanh chóng tiếp thu, học hỏi và lên kế hoạch đào tạo kiến thức thông tin bài bản cho sinh viên với sự hỗ trợ, đồng thuận từ phía ban lãnh đạo nhà trường Rõ ràng, để bắt kịp với trình độ phát triển của thế giới cũng như nắm bắt và áp dụng những thành tựu công nghệ mới vào việc phát triển kinh tế – xã hội, Việt Nam nói chung và Trường Đại học Hà Nội nói riêng cần có một kế hoạch phát triển nguồn nhân lực phù hợp, trong đó KTTT cần được xem như là một nhân tố chủ chốt
2.2.2 Nhu cầu đổi mới phương pháp giáo dục đại học
Chính phủ Việt Nam cũng đã xác định cần phải đổi mới hệ thống giáo dục Mục đích là nhằm nâng cao hơn nữa khả năng học tập suốt đời cho mọi
Trang 27công dân; đào tạo ra lực lượng lao động có khả năng tiếp cận và giải quyết công việc một cách chủ động, sáng tạo và linh hoạt Điều này đã được cụ thể hóa thông qua chiến lược phát triển nhân lực tổng thể của Việt Nam như sau:
“nâng cao chất lượng giáo dục; cơ cấu lại hệ thống giáo dục và mở rộng phạm vi giáo dục ở tất cả các cấp độ; gắn liên giáo dục đào tạo với nghiên cứu khoa học và công nghệ; phát triển giáo dục, nghiên cứu khoa học nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội; nâng cao trình độ dân trí và trình
độ quản lý”.[18,tr.4] Do vậy, một phần đông các trường đại học hiện nay đã
chuyển sang phương pháp đào tạo theo hình thức tín chỉ, với yêu cầu sinh viên phải có ý thức và khả năng tự học rất cao Với đặc điểm sinh viên của Trường Đại học Hà Nội rất năng động, hướng ngoại và khả năng ngoại ngữ tốt thì việc nhanh chóng cho sinh viên tiếp thu cái mới, rèn luyện kỹ năng học tập, bồi dưỡng KTTT là vô cùng cần thiết
2.2.3 Lĩnh vực Thông tin – Thƣ viện ngày càng đƣợc xã hội chú ý đầu tƣ
Ngân sách đầu tư cho ngành Thông tin - Thư viện ngày càng được gia tăng đáng kể Hầu hết các cơ quan Thông tin - Thư viện, đặc biệt là các thư viện đại học, đang trong giai đoạn hiện đại hóa và tự động hóa Với Trung tâm Thông tin - Thư viện của Trường Đại học Hà Nội từ khi chuyển sang trụ
sở mới vào năm 2003 Trung tâm luôn không ngừng hoàn thiện cơ sở vật chất, trang thiết bị Đặc biệt, năm 2005 Trung tâm đã ứng dụng và triển khai phần mềm quản trị thư viện điện tử Libol để nâng cao hiệu quả hoạt động thông tin thư viện
Hiện nay, Trung tâm đã được tự động hóa hoàn toàn ở các khâu phục
vụ người dùng tin, mượn trả, tìm kiếm tự động qua OPAC Trung tâm được
sự quan tâm của các tổ chức nước ngoài nên nguồn tài liệu biếu tặng vô cùng phong phú, đầy đủ, đáp ứng phần lớn nhu cầu của sinh viên Quan trọng hơn, đội ngũ cán bộ thư viện được chọn lọc kỹ, đầu tư nâng cao trình
độ chuyên môn và ngoại ngữ, trở thành cầu nối quan trọng giữa thư viện và
Trang 28NDT Điều quan trọng hiện nay là phải trang bị cho NDT, bạn đọc KTTT để
sử dụng thư viện tốt và có thể học tập hiệu quả hơn
2.2.4 Cơ sở vật chất và hạ tầng thông tin đƣợc mở rộng và nâng cấp mạnh mẽ
Cơ sở vật chất là một yếu tố cực kỳ quan trọng đối với các cơ quan thông tin – thư viện Nó thể hiện sự vững mạnh của các cơ quan này trong tiến trình hoạt động
Hệ thống máy tính hiện nay của Trung tâm bao gồm hơn 200 máy, trong đó có 05 máy chủ và 200 máy trạm
Máy chủ gồm:
- 01 máy chủ web (web Libol) chạy trên hệ điều hành Windows
- 01 máy chủ chứa CSDL (Libol)
- 02 máy chủ proxy chia và quản lý kết nối Internet ra ngoài của các máy trạm
- 01 máy chủ chứa các CSDL số hoá và kiêm quản lý hệ thống an ninh thư viện
Với cơ sở vật chất và hạ tầng thông tin được trang bị khá hiện đại, và
sẽ được nâng cấp hơn nữa trong tương lai gần là một cơ sở vững chắc, thuận lợi cho việc triển khai đào tạo KTTT hiệu quả cho sinh viên tại Trung tâm
2.2.5 Những thay đổi &đổi mới trong lĩnh vực công nghệ thông tin
Công nghệ thông tin và các hoạt động thông tin đang đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong các mặt hoạt động của đời sống xã hội Chúng ta có thể
Trang 29dễ dàng nhận ra sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin hiện nay, hơn lúc nào hết Trung tâm cần đào tạo cho sinh viên – NDT những kỹ năng thông tin cơ bản để có thể sử dụng tri thức trong giai đoạn hiện nay, và lâu dài là kế hoạch triển khai KTTT bài bản để sinh viên tự rèn luyện được khả năng tự học tốt nhất
2.3 Thực trạng hoạt động đào tạo kiến thức thông tin dành cho sinh viên tại Trung tâm
Trung tâm Thông tin - Thư viện Trường Đại học Hà Nội được thành lập ngay từ những ngày ban đầu mới khai sinh của trường, song phải đến năm 2003 khi chuyển sang trụ sở mới, Trung tâm mới có những hoạt động đào tạo người dùng tin một cách chiến lược, rõ ràng và có hiệu quả
Thời gian đầu, khi mà kiến thức thông tin là vấn đề còn quá mới mẻ, Trung tâm đã có các chương trình đào tạo kỹ năng thông tin, đặc biệt là kỹ năng sử dụng thư viện cho cán bộ và sinh viên trong Trường Đại học Hà Nội Đầu mỗi năm học, Trung tâm có các chương trình “định hướng thư viện” để giới thiệu tổng quan về hệ thống, các sản phẩm và các dịch vụ thư viện truyền thống và thư viện số Chương trình này được tổ chức cho toàn cán bộ và sinh viên năm thứ nhất với số lượng khoảng gần 100 người/lớp kéo dài trong 2 tiếng và có tham quan thư viện
Ban đầu với các hoạt động như thế đã giúp cho sinh viên và cán bộ có những sự hiểu biết cơ bản để sử dụng thư viện hiệu quả cho mục đích học tập và nghiên cứu của bản thân Song đến tháng 5/2006, được sự tài trợ của UNESCO, trường Đại học Hà Nội đã phối hợp với Trung tâm Thông tin Phát triển Việt Nam (VDIC) và Trung tâm Tài nguyên Tri thức Phát triển Úc (ADS – Australian Development Scholarships Centre) tổ chức khóa bồi dưỡng năng lực đào tạo kiến thức thông tin cho cán bộ thư viện của một số trường Đại học tại Việt Nam Qua 2 ngày được làm việc với 4 chuyên gia trong lĩnh vực KTTT, các cán bộ của trường Đại học Hà Nội đã thấu hiểu hết tầm quan trọng không thể phủ nhận của KTTT đối với học sinh, sinh
Trang 30viên và những đối tượng khác trong việc hình thành kỹ năng thông tin cần thiết cho việc học tập hôm nay và hướng tới việc học tập suốt đời (Life-long Learning) của mỗi cá nhân và cả cộng đồng Từ những kiến thức đã thu thập được, cán bộ của Trung tâm đã nhanh chóng họp bàn và xây dựng một kế hoạch khá khả thi cho hoạt động đào tạo KTTT cho sinh viên, học viên và cán bộ đến sử dụng thư viện Sau đây là những điều mà tác giả đã ghi nhận được sau quá trình tham gia và khảo sát thực trạng tại Trung tâm Thông tin – Thư viện Trường Đại học Hà Nội :
2.3.1 Đào tạo kiến thức thông tin dành cho sinh viên năm thứ nhất
Thực trạng hoạt động đào tạo
Do đặc điểm của sinh viên năm thứ nhất là những học sinh vừa tốt nghiệp cấp 3, chưa định hình rõ ràng cho mình thư viện là gì, cách sử dụng vốn tài liệu và thư viện như thế nào mới là hiệu quả và cách tìm kiếm thông tin ra sao nên hoạt động đào tạo KTTT cho sinh viên năm thứ nhất phải bắt đầu từ những điều cơ bản và dễ hiểu nhất
Trung tâm Thông tin – Thư viện Trường Đại học Hà Nội đã tổ chức những buổi tập huấn khoảng 2 tiếng cho sinh viên năm thứ nhất, giới thiệu
và hướng dẫn kĩ càng những nội dung chủ yếu sau đây:
Nguồn lực của thư viện
Phương thức tổ chức tư liệu
Hướng dẫn tra cứu tư liệu
Quy trình vào mỗi phòng tư liệu
Chính sách mượn trả tài liệu
Cách xử lý các loại vi phạm
Cách sử dụng để tra tìm tài liệu trên mục lục tra cứu trực tuyến OPAC:
OPAC cho phép tìm kiếm và định vị thông tin bởi tên tài liệu, tên tác giả, chủ đề…
Tìm kiếm trong mục lục trực tuyến OPAC có những điều cần lưu ý:
Trang 31- Dữ liệu thư mục : tên tài liệu, tên tác giả, mô tả vật lý, chủ đề
- Dữ liệu xếp giá : vị trí, kí hiệu xếp giá, số lượng bản, số bản rỗi
Cách tìm kiếm tài liệu trên Internet: (tìm kiếm cơ bản)
Chúng ta biết rằng Internet là một nguồn cung cấp thông tin về mọi lĩnh vực vô cùng hữu ích, song để sử dụng hiệu quả Internet để tìm kiếm thông tin, tài liệu mình cần là một điều không hề dễ dàng Trung tâm đã đặc biệt chú trọng tập huấn đào tạo sinh viên năm thứ nhất về mảng kỹ năng này, với môi trường học tập năng động như Đại học Hà Nội thì nhất định kỹ năng tìm kiếm trên Internet sẽ vô cùng cần thiết Sinh viên đã được đào tạo những cách thức để tìm kiếm hiệu quả trên Internet như sau:
- Sử dụng dấu ngoặc kép để tìm chính xác cụm từ cần tìm
Ví dụ: muốn tìm trang, bài có cụm từ: Kiến thức thông tin, ta nhập
từ cần tìm như sau: “Kiến thức thông tin”
- Sử dụng kết hợp nhiều điều kiện: +, -, space (AND, OR, NOT)
Ví dụ: + “công ty cổ phần” + “thị trường chứng khoán”
+ “công ty cổ phần” – “thị trường chứng khoán”
- Để giới hạn việc tìm kiếm chỉ ở tiêu đề trang web, hãy sử dụng: Title: “thời trang”
- Kết hợp tìm trong nội dung và tiêu đề
Ví dụ: “thị trường chứng khoán” + title: “bản tin nhanh”
- Tìm theo dạng file: tìm kiếm theo tên mở rộng file
Ví dụ: muốn tìm kiếm tài liệu dạng Acrobat và có cụm từ “Bộ giáo dục”, thì chỉ cần phần mở rộng ra của tập tin (.PDF) Nhập vào google chuỗi sau: “Bộ giáo dục” filetype: pdf (pdf là chuẩn file của ebook thường được dùng làm ebook)
- Để giới hạn kết quả tìm kiếm chỉ trong phạm vi một website cụ thể
ta sử dụng từ khóa: site : hufs.edu.vn “Trung tâm”
Điều kiện tìm kiếm sinh viên nên tránh sử dụng những từ khóa quá thông dụng vì như vậy sẽ tìm ra rất nhiều trang thông tin chung chung
Trang 32- Các website tìm kiếm rất hiệu quả, nhanh chóng hiện nay: Google, Vinaseek
Các mẹo vặt khi tìm kiếm tài liệu trên Internet:
- Đừng băn khoăn về số lượng kết quả trả về, hầu hết các văn bản thích hợp nhất được đưa ra ngay trang đầu tiên
- Sử dụng dấu ngoặc kép để tìm chính xác tài liệu
- Để tìm các trang web có trở tới một liên kết (URL), hãy sử dụng url :netnam.vn “thời trang” “mùa hè”
- Không sử dụng các từ khóa chung chung để tránh thông tin nhận được không chính xác
- Sử dụng chữ không dấu để tìm trang tiếng Việt không dấu
- Một số trường hợp có thể sử dụng dấu nối để tìm chính xác những từ ghép
- Sử dụng dấu <url>: phần mở rộng văn bản> để tìm tài liệu khác web nhanh chóng
- Để tăng thêm khả năng có tài liệu liên quan nhất sẽ xuất hiện ở ngay đầu danh sách kết quả, hãy gõ một số từ đồng nghĩa với nội dung mà các bạn đang muốn tìm kiếm
Sau khi hoàn thành các buổi học, cán bộ thư viện trực tiếp giảng dạy
sẽ có một số câu hỏi và bài test nhỏ với các sinh viên liên quan tới những cách thức tìm kiếm tài liệu trên mục lục trực tuyến OPAC và Internet vừa giảng dạy Những bài test đó được chấm điểm và ghi vào danh sách lớp, nếu sinh viên nào không đủ điều kiện hoặc không tham dự buổi tập huấn thì sẽ không được cấp thẻ thư viện hoặc bị khóa thẻ trong một thời gian Đây là quy định nghiêm ngặt của Trung tâm mà không có ngoại lệ nào
Mục đích
Các buổi tập huấn đào tạo cho sinh viên năm thứ nhất kéo dài 2 tiếng thường được diễn ra vào đầu năm học, lúc sinh viên năm thứ nhất vừa nhập
Trang 33học, đang bỡ ngỡ trong việc sử dụng thư viện và vốn tài liệu Mục đích của những buổi đào tạo kỹ năng thông tin này rất rõ ràng và thiết thực:
Hướng dẫn bạn đọc có thể tìm kiếm thông tin, tài liệu mình cần một cách nhanh chóng, hiệu quả ngay tại thư viện bằng mục lục tra cứu trực tuyến OPAC và trên Internet (tìm kiếm cơ bản)
Sinh viên có thể hiểu rõ về thư viện, vốn tài liệu, không gian học tập và các quy định để giúp sinh viên có thể tự học ở thư viện một cách hiệu quả nhất
Giúp sinh viên biết cách đánh giá nguồn tin có xác thực hay không và biết cách sử dụng thông tin một cách hiệu quả nhất phù hợp với nhu cầu học tập, nghiên cứu của bản thân
Việc hướng dẫn tìm tin trên Internet giúp sinh viên hiểu rõ về cơ chế tìm tin, công dụng và các chức năng tìm kiếm trên Internet
Sinh viên biết cách phân tích yêu cầu tin và chuyển nó thành các lệnh tìm kiếm, cách sử dụng các toán tử để thu hẹp hoặc mở rộng phạm vi tìm kiếm
Sinh viên biết tự tạo lập hòm thư, sử dụng thành thạo các chức năng trong Yahoo Mail
Trang 34Bảng 1: Tỷ lệ sinh viên biết sử dụng thư viện sau buổi đào tạo thứ nhất
Nhìn vào kết quả, ta có thể thấy rõ rằng, ngay sau đào tạo thì hầu như các sinh viên chưa nắm được các kỹ năng cần thiết trước hết để sử dụng thư viện thành thạo và có hiệu quả, sau đó mới kể đến việc tìm tin trên Internet
Ghi nhận từ các cán bộ thư viện nơi đây và sinh viên được tập huấn thì hầu như sau buổi đầu tiên đào tạo những kỹ năng ấy, thư viện đã dành cho các bạn sinh viên năm thứ nhất, mà hiện tại là khóa 09 một thời gian ngắn sử dụng thư viện, để sinh viên có các thắc mắc và yêu cầu riêng Sau
đó, Trung tâm lại sắp xếp một buổi không chỉ tập huấn mà đưa các bạn đi đến tận các phòng ban, chỉ rõ cho các bạn biết cách sắp xếp tài liệu trong kho theo DDC để dễ dàng tìm tài liệu trong kho mở, hướng dẫn cách sử
Trang 35dụng OPAC tra tìm tài liệu ra sao, lắng nghe những thắc mắc từ sinh viên và chú ý những yêu cầu cá nhân mong muốn thư viện tốt hơn, qua đó các cán
bộ đề xuất lãnh đạo thay đổi để Trung tâm ngày càng đến gần với sinh viên hơn
Sau những buổi thực tế này, ta nhận rõ được sự tiến bộ của các bạn sinh viên năm thứ nhất trong việc sử dụng thư viện, điều đó thể hiện qua sự khảo sát và tổng kết của tác giả như sau:
Bảng 2:Tỷ lệ sinh viên biết sử dụng thư viện sau buổi đào tạo thứ hai
Sau đợt đào tạo kỹ năng tìm kiếm, thư viện bắt đầu áp dụng các quy định phạt đối với các vi phạm của sinh viên, với những sinh viên không tham dự buổi tập huấn thì mức độ còn cao hơn Đây chính là điều kiện tiên
Trang 36quyết giúp sinh viên năm nhất không thể không học những kỹ năng thông tin cần thiết cho bản thân mình
2.3.2 Đào tạo kiến thức thông tin dành cho sinh viên năm thứ hai, năm thứ ba
Thực trạng hoạt động đào tạo
Do đặc thù của sinh viên năm thứ hai, năm thứ ba được học trong một môi trường đa văn hóa, đa ngôn ngữ của Trường Đại học Hà Nội nên để có thể đào tạo kiến thức thông tin cho sinh viên một cách bài bản, các cán bộ phải nghiên cứu nhiều về lý thuyết và thực trạng triển khai KTTT ở một sổ nước thành công, làm bài học và áp dụng hiệu quả và thực trạng vào hoàn cảnh cụ thể của Trung tâm
Phải nói rằng, dù Trung tâm TT-TV Trường Đại học Hà Nội đã có cái nhìn rất đúng đắn về tầm quan trọng của KTTT với sinh viên không chỉ là thời gian học tập trong nhà trường mà còn có tác dụng to lớn trong việc hình thành kỹ năng học tập suốt đời và đã hoàn thành bản kế hoạch đào tạo KTTT dành cho sinh viên năm thứ hai, năm thứ ba khá khoa học và khả thi song cho đến hiện tại chưa được triển khai một cách đầy đủ, khoa học và chính thống trong thư viện bởi lẽ chưa có sự đồng thuận từ phía nhà trường Đại học Hà Nội, thư viện chưa được cấp kinh phí cho những hoạt động này Song, về phía thư viện vẫn đơn lẻ tổ chức những buổi đào tạo KTTT, nhằm mong muồn sinh viên có các kỹ năng thông tin cần thiết hỗ trợ tối đa việc học và nghiên cứu của cá nhân
Với đặc điểm sinh viên rất năng động, hướng ngoại, nhưng chưa biết
sử dụng công cụ tra cứu, tra tìm trên các CSDL online, CSDL điện tử Sinh viên không hài lòng với các tài liệu in ở trường, chưa biết cách trích dẫn tài liệu khi làm bài luận, bài kiểm tra của mình nên các bài nghiên cứu phần tài liệu tham khảo còn rất nghèo nàn Trung tâm đã có những buổi đào tạo KTTT với những nội dung sau đây: