22 CHƯƠNG 2: CÁC VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VÀ THỰC TIỄN TRONG VIỆC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BIÊN GIỚI TRÊN ĐẤT LIỀN GIỮA VIỆT NAM VÀ TRUNG QUỐC... Lý do chọn đề tài Quản lý nhà nước QLNN về biên giới t
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH HỐ CHÍ MINH
KHOA LUẬT QUỐC TẾ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
VẤN ĐỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BIÊN GIỚI TRÊN ĐẤT LIỀN GIỮA VIỆT NAM VÀ TRUNG QUỐC
SINH VIÊN THỰC HIỆN: NGUYỄN THỊ MAI TRANG KHOÁ: 34 MSSV: 0955050215
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN: NGUYỄN THỊ VÂN HUYỀN
TP HỒ CHÍ MINH, 2013
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi Các phân tích và số liệu được công bố trong khóa luận là trung thực và xuất phát từ quá trình tìm tòi, nghiên cứu của tôi
TP.HCM, ngày 01 tháng 6 năm 2013
Tác giả Nguyễn Thị Mai Trang
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tôi xin gửi lời cám ơn đến Th.S Nguyễn Thị Vân Huyền - người
đã định hướng, gợi mở những ý tưởng khoa học ban đầu trong tôi và tận tình chỉ bảo tôi từ việc tiếp cận đề tài cho đến việc thiết lập đề cương nghiên cứu; trong quá nghiên cứu, cô đã chỉ ra cho tôi những sai sót cần phải sửa chữa để khóa luận được hoàn thiện cả về nội dung và hình thức
Tôi xin chân trọng gửi lời cảm ơn đến các Thầy, Cô giáo của trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh; đặc biệt là các Thầy, Cô giáo trong Khoa Luật quốc
tế đã chỉ bảo, trang bị kiến thức lý luận và thực tiễn cho tôi hoàn thành khóa học và khóa luận này
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, người thân, bạn bè… đã luôn ủng hộ, động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
TP.HCM, tháng 6/2013
Tác giả Nguyễn Thị Mai Trang
Trang 4DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
1 BĐBP: Bộ đội biên phòng
2 BGQG: Biên giới quốc gia
3 BGTĐL: Biên giới trên đất liền
4 KVBG: Khu vực biên giới
5 QLNN: Quản lý nhà nước
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG LIÊN QUAN TỚI QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BIÊN GIỚI TRÊN ĐẤT LIỀN GIỮA VIỆT NAM VÀ TRUNG QUỐC 4
1.1 Các khái niệm liên quan tới vấn đề quản lý nhà nước về biên giới trên đất liền giữa Việt Nam và Trung Quốc 4
1.1.1 Biên giới 4
1.1.2 Biên giới trên đất liền 6
1.1.3 Khu vực biên giới trên đất liền 8
1.1.4 Quản lý nhà nước về biên giới trên đất liền 8
1.2 Lược sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam và Trung Quốc 10
1.2.1 Biên giới trên đất liền giữa Việt Nam và Trung Quốc từ thời Văn Lang – Âu Lạc đến trước năm 1887 10
1.2.2 Biên giới trên đất liền giữa Việt Nam và Trung Quốc từ năm 1887 đến trước năm 1999 12
1.2.3 Biên giới trên đất liền giữa Việt Nam và Trung Quốc từ năm 1999 đến nay 16
1.3 Vai trò và đặc điểm của biên giới trên đất liền giữa Việt Nam và Trung Quốc 19
1.3.1 Vai trò của biên giới trên đất liền giữa Việt Nam và Trung Quốc 19
1.3.2 Đặc điểm của biên giới trên đất liền giữa Việt Nam và Trung Quốc 20
1.3.2.1 Đặc điểm điều kiện địa lý tự nhiên 20
1.3.2.2 Đặc điểm điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội 22
CHƯƠNG 2: CÁC VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VÀ THỰC TIỄN TRONG VIỆC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BIÊN GIỚI TRÊN ĐẤT LIỀN GIỮA VIỆT NAM VÀ TRUNG QUỐC 25
Trang 62.1 Nguyên tắc tiến hành quản lý nhà nước về biên giới trên đất liền 25
2.1.1 Nguyên tắc đảm bảo đúng đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng; sự chỉ đạo của Nhà nước trong công tác đối ngoại ở khu vực và với Trung Quốc 25
2.1.2 Nguyên tắc nắm vững những quy định pháp luật quốc tế và pháp luật của Nhà nước ta đối với vấn đề biên giới, lãnh thổ nói chung và quản lý nhà nước về biên giới nói riêng 25
2.1.3 Nguyên tắc nắm vững đặc điểm tự nhiên, xã hội, thực trạng BGQG 26
2.1.4 Nguyên tắc đảm bảo biên giới hòa bình, ổn định đi đôi với phát triển kinh tế - văn hóa
2.2.2 Chủ thể quản lý nhà nước về biên giới trên đất liền Việt – Trung 33
2.2.3 Khách thể quản lý nhà nước về biên giới trên đất liền Việt – Trung 37
2.2.4 Nội dung quản lý nhà nước về biên giới trên đất liền giữa Việt Nam – Trung Quốc 38
2.2.5 Hình thức quản lý nhà nước về biên giới trên đất liền giữa Việt Nam – Trung Quốc47
2.2.6 Phương pháp quản lý nhà nước về biên giới trên đất liền Việt Nam – Trung Quốc 49
2.3 Thực tiễn trong công tác quản lý nhà nước về biên giới trên đất liền Việt – Trung 51
2.3.1 Những thành tựu cơ bản trong công tác quản lý nhà nước về biên giới trên đất liền Việt – Trung 51
2.3.2 Những hạn chế trong quản lý nhà nước về biên giới trên đất liền Việt – Trung 59
2.4 Một số giải pháp nhằm cải thiện công tác quản lý nhà nước về biên giới trên đất liền Việt – Trung 64
KẾT LUẬN 1
Trang 71
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Quản lý nhà nước (QLNN) về biên giới trên đất liền (BGTĐL) giữa Việt Nam
và Trung Quốc là một vấn đề có vai trò quan trọng cả về pháp lý và thực tiễn Tuy nhiên chưa có nhiều người nghiên cứu về mảng đề tài riêng biệt này Với mục đích muốn tìm hiểu về hoạt động QLNN về BGTĐL ở tuyến biên giới phía Bắc cũng như góp phần nào làm giàu thêm nguồn tài liệu nghiên cứu về vấn đề biên giới cho các
bạn sinh viên khóa sau, tác giả đã chọn đề tài: Vấn đề quản lý nhà nước về biên giới trên đất liền giữa Việt Nam và Trung Quốc
2 Mục tiêu và đối tƣợng nghiên cứu
- Mục tiêu nghiên cứu: việc nghiên cứu đề tài gớp phần làm sáng tỏ thực trạng, đặc điểm của đường BGTĐL Việt Nam – Trung Quốc và chỉ ra được những vấn đề pháp lý và thực tiễn về công tác QLNN về BGTĐL giữa Việt Nam và Trung Quốc; từ
đó đưa ra các giải pháp nhằm cải thiện công tác quản lý này
- Đối tượng nghiên cứu: công tác QLNN về BGTĐL ở tuyến biên giới phía Bắc với Trung Quốc
3 Tình hình nghiên cứu đề tài
Nghiên cứu về biên giới, lãnh thổ luôn là vấn đề thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học và quản lý Trong đó có các công trình nghiên cứu ở các mức độ khác nhau
có đề cập tới QLNN về BGTĐL, đó là:
- Quản lý nhà nước của Bộ đội biên phòng (BĐBP) Việt Nam trên tuyến biên
giới đất liền: Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hoàng Hữu
Chiến, Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Quốc Hoàn, Hà Nội, 2004 Công trình nghiên cứu của tác giả Hoàng Hữu Chiến cho chúng ta cái nhìn bao quát về hoạt động QLNN trên tuyến biên giới đất liền của một chủ thể chuyên trách, đó là BĐBP Tác giả đã phân tích cụ thể những vấn đề lý luận về QLNN trên tuyến biên giới đất liền, làm rõ được vị trí quan trọng bậc nhất của BĐBP trong công tác quản lý và bảo
Trang 82
vệ tuyến biên giới đất liền dưới các khía cạnh chủ thể, khách thể, nội dung, hình thức
và phương pháp QLNN trên tuyến biên giới đất liền của BĐBP Tuy nhiên, luận văn
có phạm vi nghiên cứu trên toàn tuyến biên giới đất liền nên còn chưa trình bày được chi tiết tình hình của 3 tuyến biên giới đất liền, chưa chỉ ra được sự khác nhau trong công tác quản lý ở từng tuyến biên giới Bên cạnh đó, tác giả còn chưa chỉ ra được mối quan hệ của các chủ thể QLNN về BGTĐL với nhau khi thực hiện nhiệm vụ của mình
- Vai trò của Bộ đội biên phòng Việt Nam trong tổ chức thực hiện pháp luật về
quản lý và bảo vệ biên giới quốc gia trên tuyến biên giới đất liền Việt-Trung: Luận
văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Phạm Thị Thanh Huế, Người hướng dẫn: PGS.TS Chu Hồng Thanh, Hà Nội, 2008 Đối với luận văn của tác giả Phạm Thị Thanh Huế thì tập trung vào nghiên cứu khía cạnh tổ chức thực hiện pháp luật của hoạt động QLNN về BGTĐL, giới hạn của không gian là biên giới trên bộ Việt – Trung với chủ thể là BĐBP, tuy nhiên tác giả cũng chưa trình bày được mối liên hệ của các chủ thể QLNN trên tuyến BGTĐL Việt – Trung trong công tác tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý, bảo vệ biên giới
Ngoài ra còn các công trình nghiên cứu như khóa luận tốt nghiệp Biên giới đất
liền Việt Nam - Trung Quốc những vấn đề pháp lý và thực tiễn của tác giả Phạm Thị
Kiều My hay cuốn sách Biên giới trên đất liền Việt Nam – Trung Quốc do GS Vũ
Dương Ninh (chủ biên), PGS TS Nguyễn Hồng Thao cùng các đồng tác giả khác cùng nghiên cứu Các tác phẩm trên chỉ trình bày sơ lược về vấn đề QLNN trên tuyến biên giới đất liền Việt – Trung
Nhìn chung các đề tài nói trên đã đề cập đến nhiều khía cạnh của QLNN về BGTĐL với phạm vi nghiên cứu khác nhau Để có cái nhìn cụ thể hơn về QLNN về BGTĐL giữa Việt Nam – Trung Quốc, trong khóa luận này, tác giả sẽ chỉ ra mối liên
hệ của các chủ thể trong hoạt động quản lý đặc biệt này chứ không chỉ tập trung vào một chủ thể là BĐBP; bên cạnh đó là sự tác động của đặc điểm tuyến biên giới đất liền Việt – Trung tới quy định pháp lý và thực tiễn trong công tác QLNN về BGTĐL; cuối cùng là nêu ra một số giải pháp nhằm góp phần cải thiện hoạt động quản lý đặc thù này
Trang 93
4 Phạm vi nghiên cứu
Khóa luận nghiên cứu toàn diện về chủ thể, khách thể, nội dung, hình thức và phương pháp của công tác QLNN về BGTĐL; phạm vi của không gian là tuyến BGTĐL Việt Nam – Trung Quốc
5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về nhà nước và pháp luật để làm sáng tỏ vấn đề QLNN
về BGTĐL giữa Việt Nam và Trung Quốc
Ngoài ra tác giả còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khác như: thống kê,
so sánh, phân tích, tổng hợp… để làm sáng tỏ các vấn đề trong khóa luận
6 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng
Khóa luận góp phần khẳng định giá trị của vấn đề biên giới, lãnh thổ nói chung
và quản lý BGTĐL Việt – Trung nói riêng
Khóa luận có giá trị là tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm, tìm hiểu và nghiên cứu về vấn đề này; đặc biệt là các bạn sinh viên chuyên ngành luật quốc tế và luật hành chính
Trang 104
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG LIÊN QUAN TỚI QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BIÊN GIỚI TRÊN ĐẤT
LIỀN GIỮA VIỆT NAM VÀ TRUNG QUỐC
1.1 Các khái niệm liên quan tới vấn đề quản lý nhà nước về biên giới trên đất liền giữa Việt Nam và Trung Quốc
1.1.1 Biên giới
Thuật ngữ “biên giới” bắt đầu xuất hiện từ thế kỷ XIV, như vậy không đồng nghĩa với việc ý thức của quốc gia về biên giới bắt đầu xuất hiện vào giai đoạn này Ngay từ khi ra đời, các quốc gia cổ đại trên thế giới đã có ý thức củng cố và giữ gìn biên giới của mình Giữa các quốc gia cổ đại tồn tại những chướng ngại vật tự nhiên như rừng, núi, sa mạc, sông hồ…, những phần lãnh thổ tranh chấp này được các quốc gia sử dụng với mục đích phân định lãnh thổ Do vậy, biên giới quốc gia (BGQG) thời
kỳ đầu tồn tại dưới dạng “biên giới vùng” Cùng với sự lớn mạnh của mình, các quốc gia không ngừng củng cố và mở rộng lãnh thổ, các chướng ngại tự nhiên dần dần bị thu hẹp, lãnh thổ quốc gia ngày càng xích lại gần nhau dẫn đến sự hình thành “đường biên giới” “Biên giới” theo nghĩa một đường phân cách bắt đầu được sử dụng từ thế
kỷ XVII dưới thời vua Louis XIV, khái niệm này được dùng trong Hiệp ước Pyréné
ký năm 1659 giữa Pháp và Tây Ban Nha Trong thời kỳ cách mạng Pháp, các nhà cách mạng đã tiếp thu khái niệm này Khái niệm này tiếp tục được khẳng định trong Hội nghị Viên năm 1875 về việc chấm dứt chiến tranh của Napoléon và được khẳng định qua thực tiễn pháp lý thế kỷ XIX1
BGQG là đường và mặt thẳng đứng theo đường đó để phân định lãnh thổ của quốc gia này với lãnh thổ của quốc gia khác, với các vùng mà quốc gia có quyền chủ quyền trên biển hoặc với vùng lãnh thổ quốc tế BGQG được tạo thành bởi bốn bộ phận là biên giới trên đất liền, biên giới trên biển, biên giới trên không và biên giới trong lòng đất
1 Ngô Hữu Phước, Luật quốc tế, Nxb Chính trị quốc gia, 2010, tr 323-324
Trang 115
Về vấn đề hoạch định biên giới, luật quốc tế có đề ra một số các nguyên tắc
Nguyên tắc đầu tiên là nguyên tắc “bình đẳng thỏa thuận” Đây là nguyên tắc quan
trọng nhất trong khi hoạch định biên giới vì luật quốc tế không đặt ra các tiêu chuẩn
để hoạch định BGQG do vậy để xây dựng một đường biên giới ổn định, hòa bình thì các quốc gia liên quan phải thống nhất, thỏa thuận với nhau Nguyên tắc thứ hai là
nguyên tắc “Uti possidetis”2 (hãy tiếp tục sở hữu cái mà anh đang sở hữu) Nguyên tắc này ra đời từ phong trào phi thực dân hóa ở châu Mỹ La-tinh Vào đầu thế kỷ XIX,
để tránh tình trạng tái thực dân hóa các lãnh thổ thuộc địa cũ của Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha, các vùng lãnh thổ thuộc địa đã chọn áp dụng nguyên tắc này khi hoạch định đường biên giới cho quốc gia mới Đến năm 1964, nguyên tắc này được áp dụng ở châu Phi Sau này, các quốc gia châu Á như Việt Nam, Campuchia… cũng áp dụng nguyên tắc này vào hoạch định biên giới Trong phán quyết năm 1986 liên quan đến
vụ tranh chấp giữa Buốc-ki-na-pha-sô và Ma-li, Tòa án quốc tế đã công nhận nguyên tắc này là nguyên tắc có tính tập quán quốc tế để giải quyết tranh chấp biên giới lãnh thổ giữa các quốc gia, nhất là các quốc gia đã từng là thuộc địa của thực dân, đế quốc trước đây3
Nội dung của nguyên tắc này là “các quốc gia chỉ chuyển giao cho nhau
những gì mà mình có” Nguyên tắc này tạo nên sự ổn định của đường biên giới bởi
dựa trên cơ sở đường biên giới lịch sử từ trước đó mà đường biên giới pháp lý được ra đời
Trong thực tiễn, khi hoạch định BGQG, các quốc gia liên quan có thể hoạch định dựa theo những cách khác nhau Tùy theo hoàn cảnh cụ thể, các ưu nhược điểm của từng kiểu biên giới, các nguyên tắc hoạch định biên giới mà các quốc gia liên quan tiến hành lựa chọn Có ba kiểu biên giới được sử dụng phổ biến
Thứ nhất là biên giới tự nhiên (biên giới địa hình), đây là kiểu biên giới được
xác định dựa vào các dấu hiệu tự nhiên sẵn có trên thực tế như sông, hồ, dãy núi…
2 Nguyên tắc Uti possidetis được chia thành 2 trường hợp khác là Uti possidetis de jure và Uti possidetis de facto Uti possidetis de jure là việc các quốc gia kế thừa đường biên giới pháp lý đã từng tồn tại trước đó nhưng sẽ hoạch định lại một số điểm mới theo thỏa thuận Ngược lại, Uti possidetis de facto có nghĩa
là từ trước khi hoạch định biên giới, các quốc gia đã tồn tại một đường biên giới thực tế Để thuận tiện cho việc hoạch định, các quốc gia hữu quan có thể thỏa thuận sử dụng đường biên giới thực tế để tiếp tục phân định và biến đường biên giới thực tế thành đường biên giới pháp lý thông qua việc các bên ký kết điều ước quốc tế về
biên giới (theo Ngô Hữu Phước, Luật quốc tế, Nxb Chính trị quốc gia, 2010, tr 329-330)
3 Lưu Văn Lợi, Những điều cần biết về đất-biển-trời Việt Nam, Nxb Thanh niên, 2007, tr 65-66
Trang 126
Kiểu biên giới này có các ưu điểm là dễ dàng hoạch định, đảm bảo sự ổn định cuộc sống dân cư khu vực biên giới nhưng cũng có nhược điểm là không đảm bảo tính chính xác cao khi tiến hành phân giới cắm mốc, gặp khó khăn khi thực hiện hoạt động bảo vệ biên giới và đường biên giới dễ bị biến đổi bởi các tác động thiên nhiên
Thứ hai là biên giới hình học, đây là kiểu biên giới được xác định bằng các
đường thẳng nối các điểm trên địa hình đã được xác định từ trước hoặc các đường vòng cung có tâm và bán kính đã được các bên thỏa thuận từ trước
Thứ ba là biên giới thiên văn, kiểu biên giới này được xác định dựa trên các
đường kinh tuyến và vĩ tuyến trên Trái Đất Hai kiểu biên giới trên có ưu điểm là tạo nên sự dễ dàng, chính xác cao trong công tác hoạch định biên giới nhưng lại có nhược điểm là có thể gây ra nhiều bất ổn, biến động về nơi sinh sống của cư dân biên giới
1.1.2 Biên giới trên đất liền
Trong các bộ phận cấu thành của BGQG thì BGTĐL có vai trò quan trọng nhất
vì lãnh thổ trên bộ là nơi chủ yếu mà quốc gia thực hiện chủ quyền của mình, là vùng lãnh thổ mà chủ quyền quốc gia được đánh giá là mạnh nhất
Trên phương diện lý luận, biên giới trên bộ (BGTĐL) là đường biên giới được xác định trên đất liền, trên đảo, trên sông, hồ, kênh, biển nội địa…; được hoạch định chủ yếu bằng các điều ước quốc tế song phương về biên giới, ngoài ra còn hình thành bởi các điều ước quốc tế đa phương hay thỏa thuận của các quốc gia đạt được qua trung gian của bên thứ ba, đặc biệt là Tòa án quốc tế hay Trọng tài quốc tế Dù hình thành bởi cách thức nào thì các thỏa thuận này cũng đều phải dựa trên sự bình đẳng,
tự nguyện và tôn trọng chủ quyền quốc gia
Quá trình xác định BGTĐL gồm có ba giai đoạn, đó là hoạch định biên giới, phân giới thực địa và cắm mốc
“Hoạch định biên giới là giai đoạn thực hiện các hoạt động pháp lý nhằm thống nhất các nguyên tắc xác định biên giới và lựa chọn các yếu tố tạo nên một đường biên giới hoàn chỉnh”4 Các quốc gia liên quan thường chọn một trong hai cách, đó là
4 Trường đại học luật Hà Nội, Giáo trình Luật quốc tế, Nxb Công an nhân dân, 2009, tr 175
Trang 137
hoạch định biên giới mới hoặc tiến hành sửa đổi, bổ sung trên cơ sở đường ranh giới sẵn có để xác định biên giới Yêu cầu đặt ra khi tiến hành hoạch định biên giới là phải xác định được các nguyên tắc làm cơ sở cho việc xác định BGTĐL, xác định được hướng đi chung của đường biên giới, kiểu biên giới, vị trí tọa độ các điểm mà biên giới đi qua sao cho rõ ràng, tránh gây mơ hồ, tránh gây hiểu theo nhiều cách khác nhau Điều đó có nghĩa việc hoạch định biên giới càng chi tiết, cụ thể, dễ hiểu thì công tác phân giới, cắm mốc càng thuận lợi Kết quả của giai đoạn này chính là điều ước quốc tế về xác định biên giới giữa các quốc gia liên quan
Phân giới thực địa là giai đoạn thực địa hóa đường biên giới trong điều ước quốc
tế Ủy ban liên hiệp về phân giới cắm mốc được các quốc gia hữu quan thành lập sẽ
tiến hành đo đạc, đánh dấu thực địa, điều chỉnh đường biên giới sao cho phù hợp với quy định của điều ước quốc tế về biên giới và yêu cầu đặc biệt của địa hình Tuy nhiên, sự điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung nào cũng phải được sự đồng thuận của tất cả các quốc gia liên quan và không làm thay đổi hướng đi của đường biên giới Tất cả các hoạt động liên quan đến việc phân giới thực địa đều phải được ghi chép đầy đủ trong hồ sơ, biên bản, sơ đồ kèm theo điều ước quốc tế về biên giới5
Cắm mốc là giai đoạn cuối cùng nhưng cũng không kém phần quan trọng trong quá trình xác định BGTĐL Các cột mốc là cơ sở xác định vị trí, hướng đi của đường biên giới trên thực địa nên cần sự chính xác cao khi tiến hành cắm mốc Yêu cầu đặt
ra khi cắm mốc là cột mốc phải được cắm tại điểm đã được đánh dấu thực địa trong giai đoạn phân giới, cột mốc nên đặt tại các cửa khẩu, nơi chuyển hướng quan trọng của đường biên giới, ở đỉnh núi, chân núi, các điểm trên đường quốc lộ, đường sắt, sông, suối mà biên giới đi qua Các cột mốc phải được thiết kế sao cho phù hợp với địa hình, thời tiết và các yếu tố tác động xấu khác Đối với mỗi cột mốc được xây dựng, đều phải lập hồ sơ cột mốc Kết thúc quá trình cắm mốc trên thực địa, Ủy ban liên hợp về phân giới cắm mốc phải lập bản đồ về biên giới kèm theo điều ước quốc
tế về biên giới để các quốc gia liên quan tiến hành phê chuẩn6 Từ đây đường biên giới giữa các quốc gia liên quan mới chính thức được thừa nhận trên thực tế Xác định
5 Ngô Hữu Phước, Luật quốc tế, Nxb Chính trị quốc gia, 2010, tr 331 – 332
6 Trường đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật quốc tế, Nxb Công an nhân dân, 2009, tr 175-176
Trang 148
BGTĐL là cả một quá trình lâu dài và phức tạp, vì vậy luôn cần sự thỏa thuận, hợp tác của các quốc gia liên quan
1.1.3 Khu vực biên giới trên đất liền
Theo như Khoản 1, Điều 6 Luật BGQG 2003 thì “Khu vực biên giới (KVBG) trên đất liền gồm xã, phường, thị trấn có một phần địa giới hành chính trùng hợp với BGQG trên đất liền” Như vậy, KVBG trên đất liền là một vùng lãnh thổ có vị trí đặc biệt bởi sự tiếp giáp với đường BGTĐL hay nói cách khác là tiếp giáp với quốc gia láng giềng Chính bởi vị trí đặc biệt quan trọng này mà các quốc gia phải ban hành văn bản pháp luật riêng hoặc cùng kí kết các điều ước quốc tế với quốc gia có chung đường biên giới để điều chỉnh mọi hoạt động trong KVBG trên đất liền, thường được gọi là quy chế pháp lý KVBG Quy chế này nhằm bảo vệ, giữ gìn BGQG hòa bình, hữu nghị, ổn định và phát triển bền vững Quy chế pháp lý KVBG thường bao gồm: chế độ qua lại, cư trú hoạt động ở KVBG của các phương tiện giao thông, hàng hóa, con người; chế độ quản lý, khai thác, bảo vệ, sử dụng nguồn nước, sông suối, các loại tài nguyên thiên nhiên ở KVBG (chế độ quản lý, khai thác chung); chế độ kiểm soát
về hải quan, vệ sinh dịch tễ, kiểm dịch thực vật; chế độ an ninh, quốc phòng ở KVBG; quy chế giải quyết các tranh chấp phát sinh ở KVBG Ngoài ra nếu có tình hình an ninh phức tạp ở KVBG thì các quốc gia thường ban hành những quy định kiểm soát nghiêm ngặt chế độ đi lại và hoạt động của mọi tổ chức, cá nhân trên khu vực này
1.1.4 Quản lý nhà nước về biên giới trên đất liền
Có thể thấy rằng quản lý nhà nước (QLNN) về BGTĐL là một bộ phận của QLNN, vì vậy cần phải làm rõ khái niệm “quản lý” và “QLNN” trước khi tìm hiểu QLNN về BGTĐL
Về mặt ngôn ngữ, “quản lý” là sự tác động có mục đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý “QLNN là hoạt động của Nhà nước trên các lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp nhằm thực hiện các chức năng đối nội và đối ngoại của Nhà nước”7 Bất kỳ một sự tác động có mục đích được thực hiện bởi chủ thể là các cơ
7 Trường đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật hành chính Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, 2003, tr
10
Trang 15là một hoạt động quản lý đặc thù nên sẽ mang một số đặc trưng riêng biệt
Thứ nhất, QLNN về BGTĐL là loại hình quản lý gắn liền với bảo vệ chủ quyền
lãnh thổ quốc gia Trong QLNN về BGTĐL khác với các loại hình QLNN khác ở chỗ luôn tồn tại những sự kiện khác nhau có ảnh hưởng rất quan trọng đối với độc lập, chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ quốc gia do vậy khi tiến hành QLNN về BGTĐL phải phân loại sự kiện biên giới lãnh thổ để tác động đúng thẩm quyền theo quy định của pháp luật, vừa đảm bảo độc lập chủ quyền quốc gia vừa phát triển hợp tác quốc tế với các quốc gia khác
Thứ hai, QLNN về BGTĐL là nhiệm vụ của Nhà nước và là nghĩa vụ của toàn
dân Điều này đã được quy định trong Luật BGQG 2003: “Xây dựng, quản lý, bảo vệ BGQG, khu vực biên giới là sự nghiệp của toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý Nhà nước và nhân dân thực hiện kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường quốc phòng, an ninh và đối ngoại”
Thứ ba, QLNN về BGTĐL không thể nằm ngoài những chương trình, mục tiêu
phát triển chung của cả đất nước Điều đó đòi hỏi việc QLNN về BGTĐL phải vừa nằm trong tổng thể đường lối phát triển chung của cả nước; vừa phải đảm bảo những yêu cầu riêng biệt khi xây dựng chiến lược phát triển kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng KVBG
Từ các phân tích trên có thể rút ra khái niệm QLNN về BGTĐL là sự tác động
có tổ chức và điều chỉnh bằng pháp luật của Nhà nước tới các quan hệ kinh tế, văn hóa, xã hội, hoạt động của con người nhằm bảo vệ, thực thi chủ quyền quốc gia và thúc đẩy sự phát triển trong mọi lĩnh vực ở KVBG trên đất liền
Trang 1610
1.2 Lƣợc sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam và Trung Quốc
Đất nước Việt Nam đã trải qua bốn nghìn năm dựng và giữ nước, có lúc thăng lúc trầm, nhiều lúc bị giặc ngoại xâm tấn công và đô hộ, có khi bị mất đất, mất chủ quyền vào tay giặc xâm lăng Từ nước Văn Lang tới nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một quá trình đấu tranh của lớp lớp thế hệ con người Việt Nam để bảo vệ lãnh thổ được toàn vẹn, để mở mang bờ cõi được như hiện trạng ngày nay Chính từ thực tế đó mà BGQG từ chỗ chưa được định hình đến nay đã được hình thành Như vậy, BGQG là một hiện tượng gắn liền với lịch sử ra đời và phát triển của cả dân tộc
1.2.1 Biên giới trên đất liền giữa Việt Nam và Trung Quốc từ thời Văn Lang –
Âu Lạc đến trước năm 1887
Nhà nước Văn Lang ra đời vào khoảng thế kỷ thứ VII – VI trước Công nguyên Lãnh thổ của các vua Hùng từ trung tâm sông Hồng, sông Mã vươn tới Hoành Sơn ở phía Nam và biên giới Việt Nam - Trung Quốc ở phía Bắc Cương vực nước Văn Lang – Âu Lạc đông giáp Nam Hải, tây giáp Ba Thục, bắc giáp hồ Động Đình, nam giáp nước Hồ Tôn8
Năm 179 trước Công nguyên, Triệu Đà thôn tính Âu Lạc Từ đây, đất nước ta rơi vào thời kỳ Bắc thuộc kéo dài hơn một nghìn năm Trong thời kỳ Bắc thuộc, các triều đại phong kiến Trung Hoa chia lãnh thổ nước ta thành các quận, mỗi triều đại lại
có sự thay đổi khác nhau nhưng tựu chung thì biên giới phía Bắc không có khác biệt lớn
Năm 938, Ngô Quyền lãnh đạo nhân dân đánh bại quân Nam Hán xâm lược, chấm dứt hơn 1000 năm đô hộ của các triều đại phong kiến phương Bắc, đưa đất nước vào kỷ nguyên độc lập, tự chủ, cương vực nước ta cơ bản được khôi phục như trước đây
8 Nam Hải tức biển Đông; nước Ba Thục là một vương quốc cổ có lãnh thổ nay là vùng Tứ Xuyên (Trung Quốc); hồ Động Đình là một thắng cảnh nổi tiếng ở tỉnh Hồ Nam (Trung Quốc); Hồ Tôn là một trong những tên gọi quốc gia của người Chăm (tương tự các tên gọi Hoàn Vương, Lâm Ấp, Chăm Pa, Chiêm Thành)
có lãnh thổ tương ứng với vùng từ Quảng Bình đến Bình Thuận của Việt Nam ngày nay (theo Trương Như
Vương – Hoàng Ngọc Sơn – Trịnh Xuân Hạnh, Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng, Nxb Công an nhân dân, 2007)
Trang 1711
Dưới thời nhà Đinh (968-979) và nhà Tiền Lê (980-1009), cương vực lãnh thổ
về cơ bản không có gì thay đổi Cương vực nước Đại Cồ Việt thời bấy giờ là miền Bắc Việt Nam ngày nay, tức từ Quảng Bình trở ra Bắc Tuy nhiên, ở thời Tiền Lê, biên giới phía Tây vẫn chưa được hình thành rõ rệt Cương vực phía Nam giáp Chiêm Thành ở khu vực Hoành Sơn (Đèo Ngang) Cương vực phía Bắc và Đông Bắc giáp với đất Tống Cương vực phía Tây Bắc gần với nước Đại Lý (tức Nam Chiếu ở vùng Vân Nam – Trung Quốc) đều chưa ổn định9
Dưới thời Lý (1009-1225) thì bờ cõi nước nhà được mở rộng tới Quảng Trị ngày nay Cương vực lãnh thổ Đại Việt thời Lý đã bao trùm lên toàn bộ miền Bắc Việt Nam ngày nay, từ các tỉnh biên giới Việt Nam - Trung Quốc đến Quảng Trị Ngoài ra trên biển, tất cả các hải đảo ven bờ bao gồm hàng nghìn hòn đảo trên vịnh Hạ Long đã đặt dưới sự kiểm soát của nhà Lý Một điểm nổi bật khác trong chính sách gìn giữ biên cương của nhà Lý đó là nhà Lý giữ đất không chỉ bằng chính sách quân sự mà bằng cả chính sách ngoại giao, nhà Lý cử sứ giả yêu cầu vua Tống trả lại châu Quảng Nguyên và châu Tô Mậu cho Đại Việt, hai lần họp hội nghị biên giới với nhà Tống tại trại Vĩnh Bình (Quảng Đông ngày nay) Thêm vào đó, nhà Lý luôn phải tiến hành đấu tranh để chống lại sự xâm lược của các nước láng giềng Năm 1164, nhà Tống đã buộc phải thừa nhận Đại Việt là một quốc gia riêng, kể từ đây người Trung Quốc gọi nước ta là An Nam quốc10
Như vậy, đến cuối thời Lý, biên giới Đại Việt giáp đất Tống ở phía Bắc và Đông Bắc mới tương đối ổn định
Đến thời Trần – Hồ (1225-1407), “biên giới giữa Đại Việt và Trung Quốc cơ bản đã định hình rõ ràng, trừ đoạn cực Tây Bắc tới giữa thế kỷ XIV mới có Mường Lễ (Lai Châu) thuộc trấn Gia Hưng”11 Trong thời thuộc Minh (1407 – 1427) thì cương giới lãnh thổ không có thay đổi lớn
Trang 1812
Tới thời Lê sơ (1428 – 1788) thì BGTĐL “giáp Trung Quốc với núi Phân Mao ở Quảng Đông, ải Quan (tức ải Nam Quan, nay là Hữu Nghị Quan) ở Quảng Tây, Bạch Thành (tức Bạch Mã thành, nay là huyện Mã Quan) ở Vân Nam”12
Năm 1802, Gia Long lên ngôi vua, bắt đầu triều đại của các vua nhà Nguyễn Thời kỳ này, lãnh thổ nước ta đã thống nhất liền một dải từ Lạng Sơn đến Cà Mau, bao gồm cả các hải đảo trên biển Đông BGTĐL giữa Việt Nam và Trung Quốc đã khá cụ thể, rõ ràng Điều đó được ghi chép trong bộ Hoàng Việt nhất thống dư địa chí dưới thời Gia Long
Như vậy, vào giai đoạn này có thể rút ra một số các đặc điểm về BGTĐL giữa Việt Nam và Trung Quốc Trước hết, đường biên giới giữa hai nước về cơ bản là ổn định và không có thay đổi lớn nhưng đây chỉ là đường biên giới lịch sử chứ chưa phải
là đường biên giới pháp lý được công nhận bởi một thỏa thuận chính thức giữa hai quốc gia Hơn nữa, đường biên giới này được bảo vệ, giữ gìn qua bao thế kỷ bởi sự kết hợp nhuần nhuyễn, hài hòa giữa hai chính sách quân sự và chính sách ngoại giao
1.2.2 Biên giới trên đất liền giữa Việt Nam và Trung Quốc từ năm 1887 đến
độ cai trị khác nhau Ngày 6/6/1884, Hiệp ước Patenotre ký tại Huế đã quy định nước
12 Trương Như Vương - Hoàng Ngọc Sơn - Trịnh Xuân Hạnh, Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng, Nxb Công an nhân dân, 2007
Trang 191885 gọi là đường biên giới hiện tại) với đường biên giới mới trên cơ sở cắt nhượng một phần lãnh thổ Việt Nam cho Trung Quốc và thu hồi một phần lãnh thổ Việt Nam
bị Trung Quốc chiếm giữ trước đó14”
Pháp và nhà Thanh đã sử dụng một số nguyên tắc của luật pháp quốc tế về xác định đường BGQG, việc xác định biên giới cũng được tiến hành qua các bước hoạch định, phân giới, cắm mốc cùng các hồ sơ, bản đồ kèm theo Tuy nhiên, do điều kiện khách quan cũng như chủ quan, đường biên giới theo hai Công ước 1887 và Công ước
1895 vẫn có nhiều hạn chế Thứ nhất, do chủ nghĩa bành trướng Trung Quốc và sự
nhượng bộ của Pháp để đổi lấy lợi ích kinh tế trong việc mở mang thương mại ở miền Nam Trung Quốc mà Pháp đã nhượng cho nhà Thanh một phần lãnh thổ như tổng Tụ
Long (Hà Giang), Giao Bình – Pak Lung… Thứ hai, việc xác định biên giới là vấn đề
thuộc chủ quyền quốc gia nhưng trong cuộc đàm phán này không hề có tiếng nói của
Việt Nam mà đều do thực dân nắm giữ Thứ ba, các chuyên gia người Pháp khi tiến
hành hoạch định biên giới lại không thông thạo địa hình biên giới Việt Nam, không
am hiểu về quan hệ lịch sử của dân cư vùng biên giới, họ luôn bị đe dọa về an ninh
trong khi khảo sát thực địa dẫn đến việc hoạch định biên giới có nhiều sai sót Cuối
cùng là hệ thống mốc quốc giới bộc lộ nhiều thiếu sót như mẫu cột mốc không đồng
nhất; một số cột mốc không ghi tọa độ, hướng đi của đường biên giới, chỉ ghi tiếng
13 GS Vũ Dương Ninh (Ch.b), Biên giới trên đất liền Việt Nam – Trung Quốc, Nxb Công an nhân dân,
2010, tr 168, 173-174, 176
14 GS Vũ Dương Ninh (Ch.b), Biên giới trên đất liền Việt Nam – Trung Quốc, Nxb Công an nhân dân,
2010, tr 221
Trang 2014
Pháp và tiếng Hán trong khi được cắm mốc trên đất Việt; vật liệu xây cột mốc ở một
số địa hình hiểm trở là gạch, xi măng nên trước tác động của thiên nhiên, con người thì dễ bị vỡ, hỏng hóc; phần chân cột mốc được chôn dưới đất ở một số đoạn không sâu (50cm) nên dễ bị nhổ lên và di chuyển đến nơi khác; mốc giới quá thưa, trung bình 4.5 km cắm một cột mốc15 Do những lý do trên mà đường biên giới theo hai Công ước 1887 và 1895 gây khó khăn cho công tác quản lý, bảo vệ BGQG
Dù có nhiều hạn chế nhưng Công ước hoạch định biên giới giữa Trung Quốc và Bắc Kỳ 1887 và Công ước bổ sung năm 1895 (cùng với các biên bản và bản đồ phân giới cắm mốc) là hai văn bản pháp lý đầu tiên xác định BGTĐL giữa Việt Nam và Trung Quốc Đây cũng là cơ sở để sau này Việt Nam và Trung Quốc tiến hành đàm phán về việc hoạch định BGTĐL
Tình hình biên giới trên đất liền giữa Việt Nam và Trung Quốc từ ngày 2/9/1945 đến trước năm 1999
Sau khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa và Cộng hòa nhân dân Trung Hoa được lần lượt ra đời vào các ngày 2/9/1945 và 1/10/1949, hai nước vẫn tiếp tục quản
lý đường biên giới do hai Công ước Pháp – Thanh 1887 và 1895 hoạch định Ngày 2/11/1957, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đã đề nghị với Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc hai bên nên tôn trọng đường biên giới do hai Công ước 1887 và 1895 để lại, vấn đề quốc giới cần được giải quyết bởi Chính phủ hai bên theo các nguyên tắc pháp lý đang có hoặc được xác định lại, mọi tranh chấp biên giới có thể xảy ra cần phải giải quyết bằng thương lượng Đến tháng 4/1958, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc trả lời đồng ý với đề nghị của Việt Nam, tôn trọng hiện trạng đường biên giới được các Công ước 1887 và
1895 xác lập16 Do nhận thức khác nhau về một số điểm trên đường biên giới mà giai đoạn sau đó đã xảy ra những động thái tranh chấp, căng thẳng về biên giới mà hai nước cần giải quyết Như đã trình bày ở trên, BGTĐL giữa Việt Nam và Trung Quốc theo Công ước năm 1887 và 1895 ngay từ lúc ra đời đã tồn tại rất nhiều nhược điểm;
15 Vũ Dương Ninh (Ch.b), Biên giới trên đất liền Việt Nam – Trung Quốc, Nxb Công an nhân dân,
2010, tr 208-220, 227-228
16 Vấn đề biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc, Nxb Sự thật, 1979, tr 7
Trang 2115
sau hơn nửa thế kỷ tồn tại dưới tác động của thiên nhiên, con người và chiến tranh thì
hệ thống cột mốc đã bị phá hủy, sai lệch đi ít nhiều; hơn nữa trình độ kỹ thuật đo đạc bản đồ của thế kỷ XIX còn thô sơ Do tất cả những lý do trên nên ngay sau khi Hiệp định Paris được ký kết (ngày 27/1/1973), Chính phủ đã đặt kế hoạch xác định lại đường biên giới
Cuộc đàm phán lần thứ nhất về biên giới, lãnh thổ đầu tiên giữa Việt Nam và Trung Quốc diễn ra tại Bắc Kinh từ ngày 15/8/1974 đến cuối tháng 11/1974 ở cấp Thứ trưởng Ngoại giao Cuộc đàm phán thứ hai diễn ra tại Bắc Kinh theo đề nghị của phía Trung Quốc, từ tháng 10/1977 đến tháng 6/1978 ở cấp Thứ trưởng Ngoại giao, cuộc đàm phán này không đi tới kết quả do nhận thức khác nhau của hai bên Sau chiến tranh biên giới 1979 thì cuộc đàm phán về biên giới, lãnh thổ của hai nước mới được nối lại Cuộc đàm phán lần thứ ba diễn ra vào hai năm 1979 – 1980, phía Việt Nam đã nêu ra đề nghị 3 điểm, có nêu rõ: “3 Việc giải quyết các vấn đề biên giới lãnh thổ giữa hai nước tuân theo nguyên tắc tôn trọng nguyên trạng đường biên giới
do lịch sử để lại và đã được hoạch định bởi các Công ước 1887 và 1895 do Chính phủ Pháp cùng nhà Thanh ký và đã được phía Việt Nam và phía Trung Quốc đồng ý chấp nhận” Năm 1991, Việt Nam và Trung Quốc bình thường hóa quan hệ, hai bên tiến hành cuộc đàm phán lần thứ tư từ tháng 10/1992 Đây là cuộc đàm phán kéo dài lâu nhất (7 năm)17 Có thể thấy nỗ lực của Chính phủ hai nước qua việc tổ chức các cuộc đàm phán để đi đến sự nhất trí về đường BGTĐL giữa hai nước sau này
Từ năm 1993 đến năm 1999, riêng trong lĩnh vực đàm phán BGTĐL hai bên đã tiến hành 6 vòng đàm phán cấp Chính phủ, 1 vòng đàm phán đặc biệt riêng về biên giới đất liền và 16 vòng đàm phán cấp Nhóm Công tác liên hợp về biên giới trên đất liền Việt Nam – Trung Quốc, 3 vòng Nhóm soạn thảo Hiệp ước biên giới trên đất liền Việt Nam – Trung Quốc18
Qua các cuộc đàm phán này, hai Chính phủ, hai quốc gia đã tạo ra các điều kiện thuận lợi cho việc ký kết Hiệp định biên giới giữa hai nước sau này Việt Nam và
17 GS Vũ Dương Ninh (Ch.b), Biên giới trên đất liền Việt Nam – Trung Quốc, Nxb Công an nhân dân,
2010, tr 234-241
18 GS Vũ Dương Ninh (Ch.b), Biên giới trên đất liền Việt Nam – Trung Quốc, Nxb Công an nhân dân,
2010, tr 243
Trang 2216
Trung Quốc trải qua các cuộc đàm phán cũng đã nhất trí được các nguyên tắc giải quyết vấn đề BGTĐL; thực hiện đối chiếu, xác định lại đường biên giới; đề ra nguyên tắc hoạch định biên giới trên sông suối; phân loại các khu vực A, B, C19 để giải quyết vấn đề biên giới trên đất liền giữa hai nước
Như vậy, thời kỳ từ khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời đến trước năm
1999 cũng chứng kiến nhiều biến động về tình hình biên giới phía Bắc với những tranh chấp, va chạm nhưng cũng thấy được tinh thần hợp tác, hàn gắn quan hệ, đi tìm giải pháp chung cho phân định BGTĐL giữa Việt Nam và Trung Quốc
1.2.3 Biên giới trên đất liền giữa Việt Nam và Trung Quốc từ năm 1999 đến nay
Sau những nỗ lực, hợp tác cả từ phía Việt Nam và Trung Quốc đến ngày 30/12/1999, tại Hà Nội, Chính phủ hai nước đã ký Hiệp ước biên giới trên đất liền giữa Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Hiệp ước gồm phần mở đầu và 8 điều trong đó 7 điều quy định chung và 1 điều mô tả cụ thể hướng đi của đường BGTĐL Điều 1 quy định các cơ sở xác định đường biên giới, các nguyên tắc luật pháp quốc tế được thừa nhận và thỏa thuận đạt được trong khi đàm phán Điều 2 mô tả hướng đi của đường BGTĐL giữa Việt Nam và Trung Quốc Điều 3 ghi nhận thỏa thuận của hai nước sẽ hợp tác với Lào xác định vị trí điểm gặp nhau của biên giới ba nước Điều 4 quy định nguyên tắc phân định vùng trời và lòng đất giữa hai nước Điều 5 quy định nguyên tắc xác định biên giới theo các sông suối Điều 6 quy định việc thành lập và nhiệm vụ của Ủy ban liên hợp phân giới cắm mốc Điều 7 quy định sau khi Nghị định thư phân giới, cắm mốc có hiệu lực thì các bên sẽ
ký Hiệp định về quy chế quản lý biên giới để thay cho Hiệp định tạm thời trước đây Điều 8 quy định việc phê chuẩn và thời điểm có hiệu lực của Hiệp định
km2 Sau này, hai bên đã giải quyết được toàn bộ 289 khu vực có nhận thức khác nhau Trong tổng số 227 km2
mà hai bên tranh chấp ở khu vực C thì 113 km2 được quy thuộc cho Việt Nam và khoảng 114 km2 được quy
thuộc cho Trung Quốc (theo GS Vũ Dương Ninh (Ch.b), Biên giới trên đất liền Việt Nam – Trung Quốc, Nxb
Công an nhân dân, 2010, tr 244-245, 260)
Trang 2317
Hiệp ước biên giới trên đất liền giữa Việt Nam và Trung Quốc có một ý nghĩa
vô cùng to lớn Trước hết, Hiệp ước là cơ sở pháp lý vững chắc giúp xác định trên thực địa đường BGTĐL giữa Việt Nam và Trung Quốc, bằng lời lẽ mô tả chính xác,
rõ ràng, hợp lý Hiệp ước đã khắc phục những hạn chế của hai Công ước Pháp – Thanh 1887 và 1895, xây dựng đường biên giới Việt - Trung trở thành đường biên giới hòa bình, ổn định, bền vững, góp phần xây dựng và phát triển quan hệ láng giềng, anh em giữa hai quốc gia Việc ký kết Hiệp ước này đã giải quyết một trong ba vấn đề biên giới lãnh thổ giữa hai nước, đó là biên giới trên đất liền, phân định Vịnh Bắc Bộ
và giải quyết vấn đề biển Đông, đưa quan hệ Việt – Trung lên một tầm cao mới20 Hiệp ước còn cho thấy thiện chí của Việt Nam đối với việc giải quyết các vấn đề biên giới lãnh thổ với các quốc gia kề cận trên tinh thần hợp tác, tuân thủ luật pháp quốc tế; tôn trọng chủ quyền quốc gia và sự bình đẳng, công bằng giữa các dân tộc Hiệp ước này đã tạo tiền đề cho việc quản lý hiệu quả, duy trì đường biên giới hòa bình ổn định, hữu nghị và hợp tác Từ đó sẽ tạo điều kiện tích cực thúc đẩy quan hệ biên mậu giữa hai quốc gia và giao lưu buôn bán với các quốc gia khác trong khu vực và trên thế giới
Sau khi tiến hành trao đổi Văn kiện phê chuẩn Hiệp ước vào ngày 6/7/2000 tại Bắc Kinh, Hiệp ước biên giới trên đất liền Việt Nam – Trung Quốc chính thức có hiệu lực Từ đây, Việt Nam và Trung Quốc bước vào giai đoạn phân giới và cắm mốc trên thực địa Công tác phân giới, cắm mốc được tiến hành từ ngày 29/11/2000 tới ngày 31/12/200821 Đường biên giới hiện nay giữa Việt Nam và Trung Quốc có chiều dài 1449,566 km trong đó đường biên giới trên bộ là 1065,652 km, đường biên giới đi theo sông suối là 383,941 km22 Đường biên giới trên đi qua 07 tỉnh của Việt Nam, từ Tây sang Đông lần lượt là Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn và Quảng Ninh23 Hệ thống cột mốc gồm 1971 mốc (trong đó có 01 mốc ngã ba
20 Nguyễn Duy Chiến, Hiệp ước biên giới trên đất liền giữa Việt Nam và Trung Quốc, Tạp chí nhà
Trang 2418
biên giới Việt Nam – Trung Quốc – Lào, 1548 cột mốc chính, 422 cột mốc phụ) Hệ thống mốc quốc giới này đã được đánh dấu, ghi nhận phù hợp với mô tả trong Hiệp ước và phù hợp với địa hình khách quan “Nếu so sánh với đường biên giới của các nước trên thế giới, đường biên giới trên đất liền Việt Nam – Trung Quốc được đánh giá là có mức độ cột mốc dày đặc và rõ ràng, được xác định theo phương pháp hiện đại, đảm bảo tính trung thực và bền vững lâu dài24” Về cơ bản, đường BGTĐL giữa Việt Nam và Trung Quốc là đúng với mô tả trong Hiệp ước biên giới trên đất liền giữa Việt Nam và Trung Quốc nhưng để phù hợp với công tác quản lý và tránh gây xáo trộn cuộc sống của dân cư vùng biên, đường biên giới ở một số điểm đã được điều chỉnh theo nguyên tắc cân bằng lợi ích và diện tích giữa hai nước
Ngay từ đầu năm 2009, Việt Nam và Trung Quốc đã xúc tiến đàm phán một số văn bản sau khi phân giới cắm mốc Với tinh thần hợp tác cùng phát triển, đến ngày 18/11/2009, tại Bắc Kinh hai nước đã chính thức ký kết ba văn kiện Nghị định thư phân giới cắm mốc, Hiệp định về quy chế quản lý biên giới, Hiệp định về cửa khẩu và quy chế cửa khẩu Ba văn kiện này chính là khung pháp lý để hai quốc gia tiến hành quản lý, bảo vệ vùng biên giới và phát triển quan hệ biên mậu giữa đôi bên
Có thể thấy một sự thay đổi tích cực về tình hình BGTĐL giữa Việt Nam và Trung Quốc kể từ khi ký kết Hiệp ước biên giới trên đất liền Việt Nam và Trung Quốc năm 1999 Đường biên giới hiện nay ổn định, hòa bình, hữu nghị thay thế cho một đường biên giới của tranh chấp, bất ổn trong quá khứ Đường biên giới mới có căn cứ, cơ sở pháp lý rõ ràng, dựa trên sự thỏa thuận, công bằng, bình đẳng giữa hai quốc gia thay cho một đường biên giới trước đó còn rất nhiều những nhận thức khác nhau giữa hai nước Sự thay đổi này cũng là minh chứng cho việc thực hiện phương
biên dài 265,095 km Lào Cai tiếp giáp Vân Nam tại 04 huyện và 01 thành phố là Bát Xát, Bảo Thắng, Mường Khương, Si Ma Cai, thành phố Lào Cai với đường biên dài 182,086 km Hà Giang tiếp giáp Vân Nam tại 07 huyện là Xín Thầu, Hoàng Xu Phì, Vị Xuyên, Quản Bạ, Yên Minh, Đồng Văn, Mèo Vạc với đường biên dài 277,934 km Cao Bằng tiếp giáp Quảng Tây (Trung Quốc) tại 09 huyện là Bảo Lâm, Bảo Lạc, Thông Nông, Hà Quảng, Trà Lĩnh, Trùng Khánh, Hạ Lang, Phục Hòa, Thạch An với đường biên dài 332,447 km Lạng Sơn tiếp giáp Quảng Tây tại 05 huyện là Tràng Định, Văn Lãng, Cao Lộc, Lộc Bình, Đình Lập với đường biên dài 232,487 km Quảng Ninh tiếp giáp Quảng Tây tại 02 huyện, 01 thành phố là Bình Liêu, Hải Hà và thành phố
Móng Cái với đường biên dài 118,556 km (GS Vũ Dương Ninh (Ch.b), Biên giới trên đất liền Việt Nam – Trung Quốc, Nxb Công an nhân dân, 2010, tr 10-12)
24 Ủy ban biên giới quốc gia, Biên giới trên đất liền Việt Nam – Trung Quốc, tài liệu dự án hợp tác
“Giáo dục nhận thức pháp luật tại các vùng biên giới nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam giai đoạn 3 (LASRAI III)”, 2010, tr 21
Trang 2519
châm hợp tác giữa Việt Nam và Trung Quốc: “Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai”
1.3 Vai trò và đặc điểm của biên giới trên đất liền giữa Việt Nam và Trung Quốc
1.3.1 Vai trò của biên giới trên đất liền giữa Việt Nam và Trung Quốc
Trước hết, BGTĐL giữa Việt Nam và Trung Quốc đóng vai trò là đường phân định lãnh thổ trên bộ của hai nước Lãnh thổ trên bộ là một bộ phận cấu thành nên quốc gia, đó là nơi chủ yếu quốc gia thực hiện chủ quyền của mình, là nơi chủ quyền quốc gia là mạnh nhất Do vậy, đường BGTĐL chính là đường giới hạn chủ quyền của một quốc gia, trong phạm vi đường giới hạn đó, quốc gia có chủ quyền hoàn toàn
và tuyệt đối với lãnh thổ trên bộ của mình, quốc gia có quyền thực hiện mọi hoạt động không bị cấm bởi pháp luật quốc tế Từ vị trí quan trọng của mình, BGTĐL Việt – Trung trở thành cửa ngõ phía Bắc của đất nước Suốt theo chiều dài lịch sử của dân tộc, đường biên giới này là nơi đầu tiên quân xâm lược phương Bắc tấn công nhằm thực hiện âm mưu thôn tính nước ta Vì vậy, muốn giữ được lãnh thổ thì việc đầu tiên phải là bảo vệ được vùng biên cương, đây là nhiệm vụ an ninh quốc phòng quan trọng hàng đầu của tất cả các quốc gia Với sự phát triển của xu hướng toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế, phát triển đất nước thì biên giới lại mang thêm một trọng trách nữa là cửa ngõ thông thương, hội nhập, hợp tác đầu tư giữa Việt Nam với quốc gia láng giềng và các quốc gia khác Biên giới hòa bình, ổn định tạo điều kiện cho các địa phương ở KVBG của hai nước có điều kiện hợp tác trên nhiều ngành và trong nhiều lĩnh vực
Việt Nam và Trung Quốc là hai quốc gia thuộc châu Á – châu lục được đánh giá
là có nền kinh tế năng động nhất toàn cầu Việt Nam nằm ở khu vực Đông Nam Á, Trung Quốc nằm ở khu vực Đông Á, đây là hai khu vực kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội nổi bật Hơn nữa, quốc gia láng giềng Trung Quốc lại là nước có nền kinh tế lớn thứ hai trên thế giới Đây thực sự vừa là lợi thế lớn của Việt Nam khi có được vị trí địa lý như hiện nay, nếu chúng ta biết tận dụng các chính sách đối ngoại, thu hút đầu
tư, phát triển KVBG Ngược lại, nếu xử lý nóng vội, thiếu cẩn trọng, buông lỏng quản
lý bất cứ vấn đề nào liên quan đến BGTĐL Việt – Trung nói riêng và BGQG nói chung thì sẽ ảnh hưởng đến lợi ích cộng đồng, lợi ích dân tộc Nếu đường biên giới
Trang 2620
Việt – Trung có các tranh chấp căng thẳng như trước đây thì sẽ không chỉ ảnh hưởng đến an ninh quốc gia của hai dân tộc mà còn là vấn đề nóng ảnh hưởng đến an ninh khu vực và thế giới Có thể thấy rằng đường biên giới ổn định, hòa bình của một quốc gia cũng là điều kiện đảm bảo cho hòa bình chung của quốc tế
1.3.2 Đặc điểm của biên giới trên đất liền giữa Việt Nam và Trung Quốc
1.3.2.1 Đặc điểm điều kiện địa lý tự nhiên
Đường BGTĐL giữa Việt Nam và Trung Quốc chạy qua một khu vực địa hình rất phức tạp và có độ cắt xẻ địa hình lớn, thấp dần từ Tây sang Đông Bảy tỉnh biên giới phía Bắc thường được chia làm hai khu vực là Đông Bắc gồm Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn và Quảng Ninh; Tây Bắc gồm Lào Cai, Lai Châu và Điện Biên Địa hình khu vực Đông Bắc chủ yếu là núi cao trung bình, núi thấp và đồi, đặc biệt từ sông Chảy về phía Đông Địa hình khu vực Tây Bắc là miền núi hiểm trở bậc nhất trên toàn lãnh thổ Việt Nam, trải rộng từ thượng nguồn sông Mã đến thung lũng sông Hồng, lan sang một phần cho đến thung lũng sông Chảy Ở Điện Biên và Lai Châu, vùng biên giới có độ cao từ 2500 – 3076 m, núi cao trên 1000 m chiếm tới 50% diện tích tự nhiên Xen kẽ giữa các núi cao là thung lũng sâu và hẹp do vậy quá trình bào mòn, xâm thực diễn ra mạnh mẽ Ở Lào Cai thì biên giới ở độ cao là 1200 – 1600 m, địa hình có độ dốc lớn, phân bậc và chia cắt mạnh Ở Hà Giang từ 1500 – 2250 m, phần lớn diện tích tự nhiên là núi cao Địa hình của Cao Bằng có địa hình phức tạp, hiểm trở với núi có độ cao trung bình 700 – 1000 m đã chiếm khoảng 50% diện tích
tự nhiên của tỉnh Địa hình tỉnh Lạng Sơn giống như ngọn núi khổng lồ án ngữ cửa ngõ khu vực Đông Bắc với độ cao trung bình 252 m so với mực nước biển Cuối cùng
là Quảng Ninh với đồi núi xen kẽ thung lũng và đồng bằng Chạy dọc đường biên giới thuộc tỉnh là dãy núi Đông Triều – Bình Liêu với độ cao trung bình 500 m so với mực nước biển25
Địa hình nơi đây có nơi thuận lợi, có nơi khó khăn cho việc phát triển kinh tế; qua lại, lưu thông giữa hai bên biên giới nhưng lại là điều kiện thuận lợi cho các hoạt động vi phạm chủ quyền lãnh thổ, biên giới nước ta Điều kiện địa hình hiểm
25 GS Vũ Dương Ninh (Ch.b), Biên giới trên đất liền Việt Nam – Trung Quốc, Nxb Công an nhân dân,
2010, tr 12-20
Trang 2721
trở đồng thời cũng là thách thức lớn cho các cơ quan chức năng, đặc biệt là BĐBP khi
thực hiện công tác quản lý, bảo vệ biên giới
Sông, suối tại KVBG phía Bắc này chiếm một vị trí quan trọng đối với đường BGTĐL giữa Việt Nam và Trung Quốc Đường BGTĐL Việt – Trung dài 1449,566
km thì đường biên giới trên sông suối là 383,914 km, chiếm xấp xỉ 26,5% chiều dài đường biên giới Đoạn biên giới trên chạy qua 33 sông, suối26 Hệ thống sông ngòi ở đây có độ dốc lớn, chảy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam; đa phần là sông, suối nhỏ, khe lạch, nhiều ghềnh thác ít có giá trị về giao thông đường thủy; có một đoạn sông Hồng, một đoạn sông Ka long và một đoạn sông Bắc Luân là có thể sử dụng vào mục đích giao thông đường thuỷ cho tàu, thuyền có trọng tải nhỏ nhưng cũng phải cải tạo cho thông thoáng mới sử dụng được27 Chế độ lưu lượng nước lớn tuy nhiên lượng nước dao động theo mùa rõ rệt, mùa mưa lũ do mưa lớn, địa hình dốc khiến tốc độ dòng chảy tăng nhanh, mực nước sông dâng cao, chảy xiết, lòng sông mở rộng, gây ra
lũ lụt, lũ quét có sức tàn phá lớn Về mùa khô ít nước, lòng sông thu hẹp lại, nhiều sông có thể lội qua được Sông, suối biên giới Việt Nam - Trung Quốc trong điều kiện
tự nhiên khi nước dâng cao và chảy mạnh có thể gây xói lở bờ, đổi dòng, biến đổi địa hình lòng sông, dẫn đến thay đổi hướng đi của đường biên giới Nhìn chung, sông, suối biên giới tại KVBG phía Bắc có giá trị sử dụng vào mục đích giao thông đường thủy thấp; các hiện tượng xói lở, đổi dòng gây nhiều khó khăn trong công tác quản lý biên giới
Tài nguyên thiên nhiên ở khu vực này cũng có nhiều đặc điểm riêng biệt Về khoáng sản ở vùng biên giới phía Bắc có số lượng lớn các loại khoáng sản nhưng phân bố rất phân tán, trữ lượng ít Hiện nay có một số mỏ Apatit ở Lào Cai, mỏ thiếc, kẽm ở Cao Bằng và mỏ than có trữ lượng lớn ở Quảng Ninh đang được đưa vào khai
26 Hệ thống sông, suối biên giới gồm có Nậm Náp, sông Đà, Nậm Là, Nậm Lé, Nậm La, Nậm Cúm, Phin Ho, Lũng Pô, sông Hồng, Nậm Thi, Bát Kết, sông Xanh, sông Chảy, Hà Pổ, Suối Đỏ, Nậm Cư, Nà La, Nho Quế, suối cửa Sóc Giang, Quậy Sơn, suối Bản Kiềng, sông Bắc Vọng, suối Mo, suối Thâm Coỏng, suối Bản Có, suối Khuổi Lạn, sông Kỳ Cùng, Tài Vằn, Nà Sa, Đồng Mô, Bỉ Lao, Ka Long, Bắc Luân Trong đó đoạn biên giới ngắn nhất là đoạn chảy qua sông Nậm Na với chiều dài 0.138km, đoạn dài nhất chảy qua sông
Ka Long với chiều dài 48.73 km (theo Trương Như Vương - Hoàng Ngọc Sơn - Trịnh Xuân Hạnh, Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng, Nxb Công an nhân dân, 2007)
28 Trương Như Vương - Hoàng Ngọc Sơn - Trịnh Xuân Hạnh, Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng, Nxb Công an nhân dân, 2007
Trang 281.3.2.2 Đặc điểm điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội
Thứ nhất, về dân cư khu vực biên giới
Dân cư ở khu vực biên giới Việt Nam - Trung Quốc đại bộ phận là dân tộc thiểu
số, gồm hơn 20 dân tộc như: Tày, Nùng, Mông, Dao, Hoa, Lô Lô, Dáy, Hà Nhì, Tu
Dí, Phù Lá, Mường, U Nì, Sán Chỉ, Mãn, Cỏ Xung, Xạ Phong Căn cứ vào đặc điểm
về sinh hoạt kinh tế, văn hóa có thể chia dân cư biên giới làm hai khu vực rõ rệt Vùng dân tộc định canh định cư tập trung ở Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Hà Giang và vùng người Thái ở Lai Châu, đời sống của cư dân này khá ổn định Vùng dân tộc du canh du cư phải dựa vào núi rừng làm rẫy như người H’Mông, Dao và các dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Tạng – Miến Các dân tộc ở biên giới phía Bắc từ đời này qua đời khác lấy nghề trồng trọt lúa nước và lúa nương làm nghề sống chính của mình, sau đó là nghề chăn nuôi gia súc, gia cầm, săn bắn, đánh cá, thu nhặt lâm sản, nghề thủ công cổ truyền Tuy nhiên, đời sống nhân dân vẫn còn rất khó khăn (trừ Quảng Ninh) do phương thức canh tác còn thô sơ, kinh tế kém phát triển29
Song hành cùng đói nghèo là trình độ dân trí còn thấp, đặc biệt là người dân cư trú ở khu vực địa hình núi non hiểm trở Tuy nhiên, trong những năm gần đây, với chính sách phát triển biên mậu của hai nước, kinh tế vùng đã có những bước khởi sắc nhất định, Lào Cai với vị trí địa lý của mình đã nổi lên giữ vai trò quan trọng trong hợp tác kinh tế giữa hai nước Do đã có quá trình phát triển từ lâu đời, trong KVBG (trừ Điện Biên, Lai Châu) đều là những vùng dân cư cư trú sinh sống khá đông đúc ở sát đường biên giới, có
28 Nguyễn Chí Huyên (Ch.b), Nguồn gốc lịch sử tộc người vùng biên giới phía Bắc Việt Nam, Nxb
Văn hóa dân tộc, 2000, tr 22-25
29 Nguyễn Chí Huyên (Ch.b), Nguồn gốc lịch sử tộc người vùng biên giới phía Bắc Việt Nam, Nxb
Văn hóa dân tộc, 2000, tr.27-31, 38-45
Trang 2923
quan hệ mật thiết lâu đời, thường có quan hệ thân tộc, cùng dòng họ, cùng phong tục tập quán, tiếng nói Đây là đặc điểm đặc trưng nhất của đường BGTĐL Việt – Trung Cũng từ những đặc điểm này đã nảy sinh nhiều phức tạp về hôn nhân, ma chay, cư trú, đi lại qua biên giới Đây cũng là địa bàn bọn xấu thường xuyên lợi dụng để tuyên truyền đạo trái phép; tuyên truyền, vu khống, nói xấu chế độ, Đảng, chính quyền sở tại nhằm gây mất ổn định chính trị, gây mất lòng tin của nhân dân với Đảng và Nhà nước, đặc biệt trong giải quyết về biên giới, lãnh thổ với Trung Quốc Đây là một vấn
đề nan giải, tuy vậy, nếu BĐBP thực hiện tốt chính sách dân tộc, tôn giáo, gây dựng được niềm tin với đồng bào các dân tộc biên giới phía Bắc thì đây sẽ trở thành yếu tố quan trọng để phát huy tinh thần đoàn kết, ý thức bảo vệ quốc gia, lòng tự tôn dân tộc
Thứ hai, về cơ sở hạ tầng
Địa hình cắt xẻ mạnh, núi non hiểm trở là khó khăn lớn cho việc phát triển giao thông vận tải, cơ sở hạ tầng ở khu vực này Cơ sở hạ tầng ở khu vực biên giới kém phát triển, đường ô tô đến các cửa khẩu, các đường vành đai ở quá xa biên giới, chưa thông tuyến và xuống cấp nghiêm trọng Hệ thống đường liên xã còn nghèo nàn, nhiều vị trí trên đường biên, vị trí mốc giới phải đi bộ nhiều ngày đường mới tới nơi Hiện nay, hai nước hợp tác mở các cặp cửa khẩu, các đường qua lại tạm thời để phục
vụ cho phát triển biên mậu Trong số 9 cặp cửa khẩu ở biên giới hai nước có 5 cặp cửa khẩu quốc tế là cửa khẩu Lào Cai – Hà khẩu (đường bộ), Lào Cai – Hà Khẩu (đường sắt), Hữu Nghị - Hữu Nghị Quan, Đồng Đăng – Bằng Tường (đường sắt), Móng Cái – Đông Hưng30 Các cặp cửa khẩu của hai nước có vai trò quan trọng trong phát triển việc qua lại và thúc đẩy hoạt động biên mậu nói riêng và giao lưu thương mại của khu vực nói chung
Ngoài ra, không thể không nói tới tiềm năng du lịch của các tỉnh biên giới phía Bắc với các danh thắng thác Bản Giốc, núi Phanxiphăng, thị trấn Sa Pa…
Tại sao phải tìm hiểu lịch sử, vai trò và đặc điểm của đường BGTĐL Việt – Trung? Câu trả lời là từ chính những yếu tố này, chúng ta có thể tạo dựng cách thức quản lý biên giới sao cho phù hợp nhất Mỗi một đối tượng quản lý có những đặc
30 Phụ lục Hiệp định về cửa khẩu và quy chế quản lý cửa khẩu biên giới trên đất liền Việt Nam – Trung Quốc
Trang 3024
điểm khác biệt của riêng mình, do đó không thể áp đặt nguyên xi một mô hình nào dù
đã thành công khi áp dụng với đối tượng này để tiến hành với đối tượng quản lý kia Xuất phát từ các yêu cầu đó, muốn thực hiện tốt chức năng quản lý biên giới phía Bắc của mình, chủ thể quản lý phải am hiểu tường tận lịch sử, vai trò và đặc điểm của BGTĐL Việt – Trung Vấn đề quản lý biên giới sẽ được trình bày cụ thể ở phần sau của khóa luận
Trang 3125
CHƯƠNG 2: CÁC VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VÀ THỰC TIỄN TRONG VIỆC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BIÊN GIỚI TRÊN
ĐẤT LIỀN GIỮA VIỆT NAM VÀ TRUNG QUỐC
2.1 Nguyên tắc tiến hành quản lý nhà nước về biên giới trên đất liền
Nguyên tắc QLNN trong bất kì lĩnh vực nào cũng phải xây dựng trên vị trí, tính chất của lĩnh vực đó, do đó, các nguyên tắc khi tiến hành QLNN về BGTĐL Việt – Trung cũng phải dựa trên yêu cầu đặc thù của quản lý biên giới, các đặc điểm riêng biệt của tuyến BGTĐL Việt – Trung và phải đặt trong bối cảnh, tình hình hiện nay Muốn quản lý tốt tuyến biên giới này cần phải nắm vững các nguyên tắc sau:
2.1.1 Nguyên tắc đảm bảo đúng đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng; sự chỉ đạo của Nhà nước trong công tác đối ngoại ở khu vực và với Trung Quốc
Trong giai đoạn tới, về công tác đối ngoại, Đảng và Nhà nước ta đã đề ra chủ trương trong văn kiện Đại hội X: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế” với các quốc gia trên tinh thần: “Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế” Quan hệ với các nước láng giềng, các quốc gia trong khu vực tiếp tục được đẩy mạnh, phát triển toàn diện trong nhiều lĩnh vực với mục tiêu hòa bình, hợp tác, cùng nhau phát triển Đặc biệt quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc được nâng lên tầm “đối tác hợp tác chiến lược toàn diện” qua chuyến viếng thăm của một loạt các nhà lãnh đạo Đảng, Nhà nước của hai quốc gia, hai bên đang tích cực triển khai nhiều biện pháp tăng cường quan hệ hợp tác kinh
tế, thương mại, đầu tư; lập đường dây nóng giữa lãnh đạo hai nước; xây dựng quy hoạch tổng thể thúc đẩy toàn diện hợp tác trên các lĩnh vực
2.1.2 Nguyên tắc nắm vững những quy định pháp luật quốc tế và pháp luật của Nhà nước ta đối với vấn đề biên giới, lãnh thổ nói chung và quản lý nhà nước về biên
giới nói riêng
Muốn quản lý tốt vấn đề biên giới thì cần phải nắm vững các quy định pháp luật hiện hành về BGQG, các quy định này là cơ sở pháp lý vững chắc cho mọi hoạt động
Trang 3226
của các cơ quan có chức năng QLNN về biên giới cũng như cá nhân, tổ chức khác tham gia vào quan hệ pháp luật này Đây là bộ khung pháp lý đã được xây dựng dựa trên đàm phán, thống nhất của các quốc gia liên quan và sự nội luật hóa pháp luật của nước ta Những quy định pháp luật cần nắm vững trong công tác quản lý nhà nước về BGTĐL giữa Việt Nam và Trung Quốc là các điều ước quốc tế song phương và đa phương về BGTĐL đã được hai nước ký kết và các văn bản pháp luật trong nước về biên giới và quản lý biên giới ở khu vực này Hệ thống các điều ước quốc tế và văn bản pháp luật trong nước liên quan đến hoạt động QLNN về BGTĐL giữa Việt Nam
và Trung Quốc sẽ được trình bày ở phần sau của khóa luận Do tính chất quản lý BGTĐL luôn có quan hệ và động chạm đến lợi ích của nước ta và các nước láng giềng, cơ quan có thẩm quyền quản lý hàng ngày phải tiếp xúc, giải quyết rất nhiều các yêu cầu, nguyện vọng của các cá nhân, cơ quan, tổ chức qua lại biên giới với địa
vị pháp lý, thành phần đa dạng, phong phú Do vậy, phải lấy pháp luật làm căn cứ để thực hiện nhiệm vụ quản lý của mình Có như vậy mới đảm bảo hài hòa lợi ích quốc gia và lợi ích của cá nhân, cơ quan, tổ chức ở KVBG Các cá nhân có thẩm quyền khi tìm hiểu những quy định pháp luật về quản lý biên giới không chỉ dừng lại ở nắm về
số lượng văn bản, điều luật mà còn cần phải hiểu rõ các quy định pháp luật đó, tại sao lại quy định như vậy, nội dung cụ thể, cơ chế áp dụng, thẩm quyền của mình tới đâu,
có liên hệ mật thiết tới các văn bản pháp luật nào… Để có thể biết và hiểu pháp luật cần đòi hỏi trình độ nhất định của cán bộ, cá nhân được trao quyền quản lý
2.1.3 Nguyên tắc nắm vững đặc điểm tự nhiên, xã hội, thực trạng BGQG
Nếu nắm vững quy định pháp luật quốc tế và quy định pháp luật quốc gia về biên giới là điều kiện cần thì nắm vững đặc điểm, thực trạng của biên giới là điều kiện
đủ Giống như khi thực hiện một công việc, cần phải tìm hiểu cả khía cạnh lý thuyết
và thực tế thì mới thực hiện và thực hiện tốt được công việc đó Như vậy có nghĩa các
cơ quan có thẩm quyền trước hết phải biết sẽ quản lý đối tượng nào, đặc điểm ra sao thì mới có thể làm tốt công việc của mình Đối với BGTĐL Việt Nam – Trung Quốc, như đã trình bày ở mục 1.2 và 1.3 chương 1 của khóa luận này, đây là đường biên giới
có nhiều yếu tố đặc thù Khi tìm hiểu có thể thấy để quản lý, bảo vệ tốt biên giới Việt – Trung thì gặp rất nhiều khó khăn, trở ngại như địa hình chia cắt, hiểm trở khiến công tác tuần tra, kiểm tra khó khăn; thành phần dân tộc đa dạng, đa tôn giáo nhưng
Trang 3327
trình độ dân trí còn thấp rất dễ bị bọn phản động lôi kéo tham gia chống phá Nhà nước, dễ bị tội phạm buôn lậu dụ dỗ tham gia vận chuyển hàng hóa cho chúng theo các đường tiểu ngạch… Muốn giải quyết được khó khăn đó thì cơ quan có thẩm quyền cần phải am hiểu tình hình, địa bàn quản lý của mình Chính từ việc bám sát địa bàn quản lý, áp dụng trên thực tế các quy định pháp luật mà cơ quan có thẩm quyền quản lý biên giới có khả năng kiến nghị với cấp trên nhằm chỉnh lý, hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này
2.1.4 Nguyên tắc đảm bảo biên giới hòa bình, ổn định đi đôi với phát triển kinh
tế - văn hóa - xã hội
Xu thế toàn cầu hóa đã thay đổi hoàn toàn nhận thức của chúng ta về sự phát triển của tất cả các lĩnh vực, mạnh mẽ và có tính chi phối cao nhất là về kinh tế Toàn cầu hóa kinh tế là một quá trình phát triển kinh tế của các nước trên thế giới và các quan hệ kinh tế quốc tế vượt khỏi BGQG, hướng tới phạm vi toàn cầu, trong đó hàng hóa, vốn, tiền tệ, lao động… được vận động thông thoáng; các nền kinh tế ngày càng
có quan hệ mật thiết với nhau và tùy thuộc lẫn nhau Như vậy, toàn cầu hóa là sự mở rộng thị trường ra ngoài BGQG, là thị trường càng ngày càng ít bị ràng buộc bởi địa
lý lãnh thổ và sự ngăn cách của yếu tố biên giới Có một số học giả phương Tây còn cho rằng biên giới là vật cản đối với quá trình toàn cầu hóa, nó làm tăng khoảng cách vận chuyển, cắt đứt mạng lưới thị trường và làm hạn chế quy luật cạnh tranh của thị trường Tuy nhiên, đây chỉ là sự biện minh cho ý đồ xâm phạm lợi ích kinh tế của các quốc gia khác Bối cảnh thời đại thay đổi khiến những nhà lập pháp cũng phải có cái nhìn đổi mới để phù hợp với thực tế và tương lai Trước đây, đường biên giới chỉ có chức năng phân định chủ quyền, phân cách lãnh thổ quốc gia Trong quá khứ, sức mạnh quân sự của các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia châu Á luôn được đề cao, lực lượng quân đội hùng mạnh là phương tiện để xâm chiếm lãnh thổ của các quốc gia khác Do vậy, biên giới phải làm tốt nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của mình là bảo
vệ chủ quyền lãnh thổ, giữ vững biên cương Nhưng trong thời đại ngày nay, với sự ra đời của toàn cầu hóa thì biên giới phải trở thành cửa ngõ quốc gia, nơi thực hiện các hoạt động hợp tác kinh tế, giao thương buôn bán với các nước láng giềng, các nước trong khu vực và trên thế giới Nhưng không vì phục vụ cho chính sách mở cửa, phát triển kinh tế mà quên đi nhiệm vụ lâu dài của biên giới là bảo vệ chủ quyền lãnh thổ
Trang 3428
Thực tế cho thấy, chính trong thời đại các ưu tiên dành cho phát triển kinh tế, văn hóa,
xã hội được chú trọng thì một yếu tố thuộc an ninh, quốc phòng như biên giới lại càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết trong việc ngăn chặn những tác động tiêu cực của toàn cầu hóa đối với kinh tế, văn hóa… của một quốc gia Chính quá trình toàn cầu hóa lại đòi hỏi các quốc gia phải tiến hành xây dựng một đường biên giới hòa bình ổn định để bảo vệ người dân khỏi những mối đe dọa từ bên ngoài Đó là tác động tích cực của quản lý, bảo vệ biên giới đối với phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội Ở chiều ngược lại, kinh tế, văn hóa, xã hội cũng có những tác động tích cực đối với công tác quản lý nhà nước về biên giới Kinh tế phát triển đồng nghĩa với đời sống người dân KVBG sẽ ổn định, cơ sở hạ tầng vùng biên cương sẽ thay đổi…, các yếu tố vật chất sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho quản lý biên giới Như vậy, chúng ta cần thay đổi quan niệm về quản lý biên giới hiện nay gồm cả hai chức năng: biên giới – ngăn cách và biên giới – hợp tác Để làm được điều đó, cần phải:
Trước hết, đảm bảo sự kết hợp kinh tế với quốc phòng trong công tác bảo vệ chủ quyền an ninh BGQG Sự kết hợp này phải đảm bảo cho cả phát triển kinh tế và quốc phòng đi đúng quy luật khách quan của nó Như vậy, các cơ quan chức năng phải tránh việc hạ thấp yêu cầu của nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền an ninh BGQG, buộc công tác bảo vệ chủ quyền an ninh BGQG phải tuân theo những mục tiêu phát triển của kinh tế, hoặc vì lợi ích kinh tế mà xem nhẹ lợi ích quốc phòng trong bảo vệ chủ quyền
an ninh BGQG
Để giải quyết hài hòa mối quan hệ về lợi ích giữa phát triển kinh tế và tăng cường sức mạnh bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới quốc gia thì phải lồng ghép các lợi ích kinh tế, quốc phòng ngay trong mỗi lĩnh vực Trong phát triển kinh tế phải tìm ra những phương hướng biện pháp, cách thức, hình thức khả thi, phù hợp với khả năng thực tế của kinh tế, giảm bớt đến mức thấp nhất những căng thẳng, khó khăn không cần thiết cho kinh tế, đồng thời có tác dụng thúc đẩy kinh tế vươn lên mạnh mẽ làm điều kiện,
Trang 352.2 Quy định của pháp luật đối với quản lý nhà nước về biên giới trên đất liền giữa Việt Nam và Trung Quốc
2.2.1 Cơ sở pháp lý của hoạt động quản lý nhà nước về biên giới trên đất liền
giữa Việt Nam và Trung Quốc
Những quy định pháp luật về QLNN về BGTĐL giữa Việt Nam và Trung Quốc
là cơ sở pháp lý để các cơ quan có thẩm quyền quản lý tiến hành hoạt động trên Các văn bản này bao gồm những văn bản quy phạm pháp luật trong nước và điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập có quy định về quản lý BGTĐL Việt – Trung Các điều ước quốc tế là nguồn luật cho hoạt động này gồm:
- Hiệp ước biên giới trên đất liền giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, ký ngày 30/12/1999 Nội dung của Hiệp ước đã được trình bày ở chương 1
- Hiệp ước về xác định giao điểm đường biên giới giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào và nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, ký ngày 10/10/2006
31 Phạm Đình Triệu, Kết hợp kinh tế với quốc phòng trong bảo vệ chủ quyền an ninh BGQG trên tuyến biên giới đất liền của bộ đội biên phòng Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ kinh tế, (2012), tr 33
Trang 3630
- Nghị định thư phân giới cắm mốc biên giới trên đất liền Việt Nam - Trung Quốc giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, ký ngày 18/11/2009 Đây là văn kiện gồm 372 trang với trên 2200 trang phụ lục kèm theo, bao gồm: bộ bản đồ địa hình khu vực biên giới Việt – Trung; tập bảng đăng lý mốc giới; tập bảng tọa độ, độ cao mốc giới và tập bảng quy thuộc các cồn, bãi trên sông suối biên giới Nghị định thư đã mô tả chính xác, tỉ
mỉ hiện trạng đường BGTĐL Việt – Trung
- Hiệp định về quy chế quản lý biên giới trên đất liền Việt Nam – Trung Quốc giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, ký ngày 18/11/2009 Nội dung của Hiệp định này quy định chi tiết các nguyên tắc và biện pháp cụ thể để giải quyết các vấn đề liên quan đến biên giới; quy định nội dung liên quan tới công tác quản lý, bảo vệ, khai thác và sử dụng nguồn nước sông suối biên giới; quy định cụ thể hơn, chi tiết hơn về sự qua lại biên giới của người, phương tiện và hàng hoá; nêu rõ quy chế phối hợp trong việc duy trì, bảo đảm an ninh, trật tự trên vùng biên giới
- Hiệp định về cửa khẩu và quy chế cửa khẩu biên giới trên đất liền Việt Nam – Trung Quốc giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, ký ngày 18/11/2009 Hiệp định này quy định về danh mục cửa khẩu đã mở và sẽ được mở trong thời gian tới, quy chế làm việc, trao đổi nghiệp vụ của cơ quan kiểm tra, kiểm nghiệm của hai bên tại các cửa khẩu, quy định về việc qua lại của người, hàng hóa, phương tiện giao thông vận tải… Ngoài ra còn các điều ước song phương được ký kết giữa hai nước về vấn đề hợp tác thương mại, vấn đề giao thông vận tải…
Các văn bản quy phạm pháp luật trong nước bao gồm:
- Luật Biên giới quốc gia số 06/2003/QH11 ngày 17/6/2003
- Luật An ninh quốc gia số 32/2004/QH11 ngày 3/12/2004
- Bộ luật Hình sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam số 15/1999/QH10 ngày 21/12/1999 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự số 37/2009/QH12 ngày 19/6/2009
- Bộ luật Tố tụng hình sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam số 19/2003/QH11 ngày 26/11/2003
Trang 3731
- Luật Hải quan số 29/2001/QH10 ngày 29/6/2001 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan số 42/2005/QH11 ngày 14/6/2005
- Pháp lệnh Bộ đội biên phòng năm 1997
- Pháp lệnh Nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam
số 24/2000/PL-UBTVQH10 ngày 28/4/2000
- Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự số 23/2004/PL-UBTVQH11 ngày 20/8/2004 và Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự số 09/2009/UBTVQH12 ngày 27/02/2009
- Nghị định số 02/1998/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 06/01/1998 quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Bộ đội biên phòng
- Nghị định 34/2000/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 18/8/2000 về quy chế khu vực biên giới đất liền nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
- Nghị định số 21/2001/NĐ-CP của Chính phủ ngày 28/5/2001 quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam
- Nghị định số 107/2002/NĐ-CP của Chính phủ ngày 23/12/2002 quy định phạm vi địa bàn hoạt động hải quan, quan hệ phối hợp trong phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới và các hành vi khác vi phạm pháp luật hải quan
- Nghị định 140/2004/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 25/6/2004 quy định chi tiết một số điều của Luật Biên giới quốc gia 2003
- Nghị định 32/2005/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 14/3/2005 về quy chế cửa khẩu biên giới đất liền
- Nghị định số 154/2005/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 15/12/2005 quy định chi tiết một số điều của Luật Hải quan về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan
- Nghị định 129/2006/NĐ- CP của Chính phủ ban hành ngày 31/10/2006 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia
Trang 3832
- Nghị định số 136/2007/NĐ-CP ngày 17/8/2007 của Chính phủ về xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi nghị định 65/2012/NĐ-CP ban hành ngày 06/9/2012
- Nghị định 103/2010/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 1/10/2010 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật phòng, chống bệnh truyền nhiễm về kiểm dịch y tế biên giới
- Quyết định 133/2002/Q Đ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 09/10/2002 ban hành quy chế phối hợp giữa lực lượng công an, bộ đội biên phòng, cảnh sát biển
và hải quan trong đấu tranh phòng, chống các tội phạm về ma túy tại địa bàn biên giới, cửa khẩu và trên biển
- Quyết định 689/2004/QĐ-NHNN về việc ban hành Quy chế thanh toán trong mua bán, trao đổi hàng hoá và dịch vụ tại khu vực biên giới và khu kinh tế cửa khẩu giữa Việt Nam và Trung Quốc
- Quyết định số 160/2004/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 06/9/2004 về việc xác định khu vực cấm, địa điểm cấm
- Quyết định 254/2006/QĐ-TTg về việc quản lý hoạt động thương mại biên giới với các nước có chung biên giới và quyết định 139/2009/QĐ-TTg sửa đổi, bổ sung một số điều của quyết định số 254/2006/QĐ-TTg ngày 07 tháng 11 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc quản lý hoạt động thương mại biên giới với các nước có chung biên giới
- Thông tư số 2866/1998/TT-BQP của Bộ Quốc Phòng ngày 12/9/1998 hướng dẫn thi hành Nghị định số 02/1998/NĐ-CP ngày 06/01/1998 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Bộ đội biên phòng
- Thông tư số 179/2001/TT-BQP ngày 22/01/2001 của Bộ Quốc phòng hướng dẫn thực hiện Nghị định 34/2000/NĐ-CP ngày 18/8/2000 của Chính phủ về quy chế khu vực biên giới đất liền nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
- Thông tư số 181/2005/TT-BQP ngày 17/11/2005 của Bộ Quốc phòng hướng dẫn thực hiện Nghị định số 32/2005/NĐ-CP ngày 14/3/2005 của Chính phủ về quy chế cửa khẩu biên giới đất liền được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Thông tư 90/2011/BQP của Bộ Quốc phòng ban hành ngày 30/6/2011
Trang 3933
- Thông tư số 43/2011/TT-BCA ngày 29/6/2011 của Bộ Công an hướng dẫn việc cấp giấy thông hành nhập xuất cảnh cho công dân Việt Nam sang các tỉnh, thành phố biên giới của Trung Quốc tiếp giáp Việt Nam
Hệ thống văn bản pháp luật trên đã quy định một cách toàn diện về công tác quản lý biên giới, bao gồm các lĩnh vực như: quy chế qua lại, quản lý hoạt động thương mại biên giới, quy chế kiểm tra vệ sinh dịch tễ, xử phạt vi phạm hành chính trong quản lý, bảo vệ BGQG, các quy định về Hải quan, BĐBP…
2.2.2 Chủ thể quản lý nhà nước về biên giới trên đất liền Việt – Trung
Theo tập bài giảng Lý luận về pháp luật của trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh (năm học 2009 - 2010) thì: “chủ thể quan hệ pháp luật là những cá nhân, tổ chức đáp ứng được những điều kiện mà pháp luật quy định cho mỗi loại quan hệ pháp luật và tham gia vào quan hệ pháp luật đó” Như vậy, khi nói đến chủ thể QLNN về BGTĐL là phải chỉ ra ai là chủ thể mà pháp luật quy định để thực hiện chức năng quản lý QLNN về BGTĐL là một dạng quản lý chuyên ngành, có nhiều đặc thù riêng biệt nên các chủ thể tham gia vào quản lý sẽ ở các mức độ, chức năng khác nhau Vì vậy, muốn biết được quyền hạn, nhiệm vụ của từng cơ quan nhà nước khi tham gia vào công tác quản lý biên giới thì phải dựa vào các quy định pháp luật hiện hành của lĩnh vực này Như vậy, chủ thể QLNN về BGTĐL gồm có: Quốc hội, Ủy ban Thường
vụ Quốc hội; Chính phủ với nhiệm vụ thống nhất QLNN về BGQG; các Bộ (Bộ Quốc phòng, Bộ Ngoại giao, Bộ Công an, Bộ Y tế…); các lực lượng BĐBP, Hải quan, Công an, kiểm dịch; Ủy ban nhân dân các cấp của địa phương có biên giới Việt – Trung đi qua; Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên; Đại diện biên giới; Phân ban Việt Nam trong Uỷ ban liên hợp biên giới trên đất liền Việt Nam – Trung Quốc
Trong quá trình tìm hiểu về chủ thể QLNN về BGTĐL có thể nhận thấy ba vấn
đề chính:
Thứ nhất là sự phối kết hợp của các cơ quan nhà nước có chuyên môn liên quan
đến công tác QLNN về BGTĐL, tùy thuộc vào thẩm quyền và vai trò mà các cơ quan nhà nước này tham gia vào công tác quản lý với những vị trí khác nhau Các cơ quan
có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật thì ban hành các văn bản quy
Trang 4034
phạm pháp luật để xác lập nội dung, phạm vi, đối tượng chấp hành các quy định liên quan đến QLNN về BGTĐL Có thể kể đến như Quốc hội ban hành Luật Biên giới quốc gia 2003, Luật An ninh quốc gia 2004; Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh Bộ đội biên phòng 1997; Chính phủ ban hành các Nghị định 34/2000/NĐ-
CP, Nghị định 140/2004/NĐ-CP Các cơ quan có chức năng tổ chức thực hiện việc quản lý về biên giới thì dựa vào các văn bản quy phạm pháp luật để xác định và tiến hành chức năng của mình BĐBP có nhiệm vụ quản lý, bảo vệ đường biên giới, hệ thống mốc quốc giới; đấu tranh ngăn chặn hành vi xâm phạm lãnh thổ biên giới , vượt biên, nhập cư, cư trú trái phép, kiểm tra, kiểm soát qua lại biên giới; đấu tranh phòng chống tội phạm, chống buôn lậu và thực hiện công tác đối ngoại biên phòng, sẵn sàng chiến đấu chống xung đột vũ trang và chiến tranh xâm lược theo quy định pháp luật (Điều 5, Điều 6 Pháp lệnh Bộ đội biên phòng 1997)… Hải quan Việt Nam có nhiệm
vụ thực hiện kiểm tra, giám sát hàng hóa, phương tiện vận tải; phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới… Ủy ban nhân dân các cấp nơi có BGQG thực hiện quản lý nhà nước về BGQG tại địa phương theo quy định của pháp luật và chỉ đạo, hướng dẫn của các Bộ, ngành có liên quan Từ khâu tổ chức thực hiện pháp luật các cơ quan nhà nước có thẩm quyền quản lý biên giới sẽ tổng kết tình hình thực hiện triển khai áp dụng quy định pháp luật vào thực tiễn tại địa bàn quản lý của mình, rút ra mặt được và chưa được của các quy định pháp luật hiện hành để tham mưu cho cấp trên, đóng góp vào quá trình hoàn thiện quy định của pháp luật về quản
lý biên giới Các cơ quan có thẩm quyền giám sát thì thực hiện chức năng giám sát việc thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về quản lý biên giới (ví dụ: BĐBP có nhiệm vụ tổ chức kiểm tra việc thực hiện pháp luật trong nước về BGQG cũng như các điều ước quốc tế có liên quan đến chủ quyền, an ninh BGQG mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập) Các tổ chức trong phạm vi của mình có trách nhiệm tuyên truyền vận động nhân dân nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật về BGQG Có thể thấy sự phối kết hợp của các Bộ, ngành có liên quan; tuy nhiên sự phối hợp này phải đảm bảo không chồng chéo, lấn sân thẩm quyền
Vấn đề thứ hai đó là trong số các chủ thể thực hiện công tác QLNN về BGTĐL
thì BĐBP là lực lượng nòng cốt, chuyên trách trong lĩnh vực này Điều này đã được khẳng định trong Luật Biên giới quốc gia 2003, Luật An ninh quốc gia 2004 và Pháp