LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan, Luận văn Thạc sĩ về “Trình tự xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm theo Luật tố tụng hình sự Việt Nam” là công trình nghiên cứu của bản thân, được xuất phát từ
Trang 1NGUYỄN QUỐC HÙNG
TRÌNH TỰ XÉT HỎI TẠI PHIÊN TÒA SƠ THẨM THEO LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ
ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU
TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2020
Trang 2TRÌNH TỰ XÉT HỎI TẠI PHIÊN TÒA SƠ THẨM THEO LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, Luận văn Thạc sĩ về “Trình tự xét hỏi tại phiên tòa sơ
thẩm theo Luật tố tụng hình sự Việt Nam” là công trình nghiên cứu của bản thân,
được xuất phát từ yêu cầu phát sinh trong công việc để hình thành định hướng nghiên cứu Các số liệu có nguồn gốc rõ ràng, tuân thủ đúng các nguyên tắc và kết quả trình bày trong luận văn được thu thập trong quá trình nghiên cứu là trung thực Luận văn này là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn khoa học
của TS Võ Thị Kim Oanh Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào tôi xin hoàn
toàn chịu trách nhiệm
Tác giả luận văn
Nguyễn Quốc Hùng
Trang 4Viện kiểm sát nhân dân : VKSND
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TRÌNH TỰ XÉT HỎI TẠI PHIÊN TOÀ HÌNH SỰ SƠ THẨM 10
1.1 Khái niệm trình tự xét hỏi tại phiên tòa hình sự sơ thẩm 10
1.2 Đặc điểm của trình tự xét hỏi trong phiên tòa sơ thẩm 12
1.3 Ý nghĩa của trình tự xét hỏi trong phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự 14
1.4 Cơ sở việc quy định trình tự xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm 15
1.4.1 Cơ sở lý luận 15
1.4.2 Cơ sở thực tiễn 16
1.5 Một số nguyên tắc liên quan đến trình tự xét hỏi trong phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự 17
1.5.1 Nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước pháp luật 17
1.5.2 Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm 18
1.5.3 Nguyên tắc Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật 19
1.5.4 Nguyên tắc kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự 20
1.6 Quy định pháp luật một số nước về trình tự xét hỏi 21
1.6.1 Pháp luật tố tụng hình sự Hợp chủng quốc Hoa Kỳ 21
1.6.2 Pháp luật tố tụng hình sự Cộng hoà Pháp 24
1.6.3 Pháp luật tố tụng hình sự của Cộng hòa Liên bang Nga 26
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 29
CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG VỀ TRÌNH TỰ XÉT HỎI TẠI PHIÊN TÒA HÌNH SỰ SƠ THẨM 31
2.1 Quy định của pháp luật về trình tự xét hỏi trong phiên tòa hình sự sơ thẩm 31
2.1.1 Quy định của pháp luật về trình tự xét hỏi trước Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 31
2.1.2 Quy định của pháp luật về trình tự xét hỏi của Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 32
2.1.3 Quy định của pháp luật về trình tự xét hỏi Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 34
Trang 62.1.4 Quy định của pháp luật về trình tự xét hỏi Bộ luật tố tụng hình sự
năm 2015 37
2.2 Thực tiễn áp dụng pháp luật tố tụng hình sự về trình tự xét hỏi trong phiên tòa hình sự sơ thẩm 45
2.2.1 Thực tiễn áp dụng pháp luật tố tụng hình sự về trình tự xét hỏi của Hội đồng xét xử 45
2.2.2 Thực trạng áp dụng pháp luật tố tụng hình sự về trình tự xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân 49
2.2.3 Thực trạng áp dụng pháp luật tố tụng hình sự về trình tự xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của những người tham gia tố tụng 53
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 57
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN TRÌNH TỰ XÉT HỎI TẠI PHIÊN TÒA HÌNH SỰ SƠ THẨM 59
3.1 Nhu cầu của việc nâng cao hiệu quả thực hiện trình tự xét hỏi 59
3.1.1 Yêu cầu của cải cách tư pháp 59
3.1.2 Hạn chế của pháp luật hiện hành 60
3.1.3 Vướng mắc từ thực tiễn 61
3.2 Các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện trình tự xét hỏi 62
3.2.1 Giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện trình tự xét hỏi 62
3.2.2 Các giải pháp khác nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện trình tự xét hỏi 65
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 71
KẾT LUẬN 72 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trước yêu cầu khách quan của nhu cầu đổi mới kinh tế xã hội- giai đoạn đầu Nhà nước tập trung hoàn thiện pháp luật về kinh tế (đổi mới pháp luật nội dung), về sau chú trọng đến đổi mới thủ tục tố tụng (pháp luật hình thức) để nhằm bảo vệ quyền con người, quyền công dân và phù hợp với các chuẩn mực chung của quốc
tế Trong bối cảnh hiện nay, theo tinh thần cải cách tư pháp, Nhà nước mong muốn đạt được mục tiêu là hoạt động xét xử được diễn ra theo hướng tranh tụng, công bằng, bảo vệ tốt hơn quyền con người, quyền công dân trong tố tụng hình sự Vì lẽ
đó, nhu cầu hoàn thiện pháp luật tố tụng và đổi mới phiên tòa hình sự, hoàn thiện thủ tục xét hỏi tại phiên tòa hình sự sơ thẩm trở nên cấp thiết Việc lựa chọn lĩnh
vực nghiên cứu với đề tài Luận văn thạc sỹ luật học: “Trình tự xét hỏi tại phiên tòa
sơ thẩm theo luật tố tụng hình sự Việt Nam” dựa trên:
Một là, sự cần thiết phải làm rõ lý luận khoa học luật tố tụng hình sự về trình
tự xét hỏi tại phiên tòa hình sự sơ thẩm: Trong giai đoạn cải cách tư pháp đang diễn
ra mạnh mẽ ở nước ta, đặt ra cho các nhà khoa học pháp lý trách nhiệm giải quyết thấu đáo về mặt lý luận việc đổi mới phiên tòa hình sự gắn liền với đổi mới thủ tục xét hỏi Vì thủ tục xét hỏi là cơ sở của quá trình tranh tụng tại phiên tòa hình sự sơ thẩm; ở đó còn là cơ sở để làm rõ sự thật khách quan của vụ án, bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của công dân và xã hội
Hai là, sự cần thiết phải hoàn thiện thủ tục xét hỏi và nâng cao chất lượng xét hỏi tại phiên tòa hình sự sơ thẩm: Pháp luật tố tụng hình sự nước ta qua 03 lần pháp điển hoá (Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988; năm 2003 và năm 2015), ở đó nhà lập pháp đã thiết lập thành công một hệ thống thủ tục tố tụng hình sự, là công
cụ sắc bén để phòng, chống tội phạm và tăng cường pháp chế Tuy nhiên, mô hình
tố tụng hình sự nước ta chưa tiếp thu được nhiều các hạt nhân hợp lý của mô hình tranh tụng, nhiều quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 còn bất cập, trong đó quy định về trình tự xét hỏi chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn tranh tụng Trên thực tế, trong những năm gần đây có sự chuyển biến tích cực về mọi mặt trong hoạt động tư pháp hình sự, tuy nhiên chất lượng, hiệu quả xét xử vẫn chưa cao; việc tổ chức phiên tòa hình sự và hoạt động tranh tụng tại phiên tòa còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng được nhu cầu đổi mới trong xã hội Về tổ chức phiên toà theo tinh thần cải cách tư pháp và vấn đề văn hoá pháp lý cũng có tính
Trang 8thời sự được dư luận quan tâm; thực trạng án bị huỷ, sửa do vi phạm thủ tục tố tụng đáng kể hoặc có trường hợp gây oan, sai xâm phạm đến quyền lợi ích hợp pháp của công dân.v.v
Ba là, yêu cầu cụ thể hóa quy định của Hiến pháp năm 2013 và một số văn bản được ban hành: Trước yêu cầu đó, pháp luật tố tụng hình sự phải cụ thể hóa nguyên tắc tranh tụng, nguyên tắc suy đoán vô tội và các nguyên tắc khác được Hiến pháp năm 2013 quy định Bên cạnh đó, tinh thần Hiến pháp năm 2013 coi trọng bảo vệ quyền con người, quyền công dân là một trong những nhiệm vụ chính trị trọng tâm, trong đó nhiệm vụ bảo vệ quyền con người trong lĩnh vực tố tụng hình sự phải được xác định rõ và thực thi có hiệu quả
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Cho đến thời điểm này, ở Việt Nam có một số công trình chuyên khảo nghiên cứu nào đề cập về lý luận và thực tiễn thuộc lĩnh vực của đề tài Tuy nhiên, các công trình này thiên về thực tiễn, chưa có tính lý luận cao
- Về sách: Ở Việt Nam, tài liệu về sách có liên quan đến đề tài nghiên cứu
không nhiều Trong cuốn “Tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm” của tác giả Dương
Thanh Biểu, do Nhà xuất bản Tư pháp ấn hành năm 2007 đề cập một cách hạn chế
về thủ tục tranh luận Bên cạnh sự thành công trong việc phân tích khá sâu sắc về các kiểu tố tụng hình sự được áp dụng ở một số nước trên thế giới, cuốn sách chủ yếu bàn luận về nghiệp vụ kiểm sát như các kỹ năng về nghiên cứu hồ sơ, đọc cáo trạng, thực hành quyền công tố tại phiên tòa hình sự sơ thẩm và cho ví dụ minh họa
từ rất nhiều vụ án, tình huống có thật Đáng lưu ý là quan điểm của tác giả cho rằng, Hội đồng xét xử vẫn phải giữ trách nhiệm xét hỏi để kiểm tra, xác định tính khách quan, chân thực của các tài liệu, chứng cứ, để làm rõ các tình tiết của vụ án; còn Kiểm sát viên hỏi để làm rõ thêm các tình tiết buộc tội, gỡ tội Vấn đề này khác với chiều hướng, quan điểm khác là không giao trách nhiệm xét hỏi chính thuộc về Hội
đồng xét xử Ngoài ra còn có các cuốn: “Xét xử sơ thẩm trong tố tụng hình sự Việt
Nam” của tác giả Võ Thị Kim Oanh, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia TP Hồ Chí
Minh năm 2011; cuốn “Trình tự, thủ tục giải quyết vụ án hình sự” của tác giả Mai Thanh Hiếu- Nguyễn Chí, Dương Thanh Biểu (2007); “Tranh luận tại phiên tòa sơ
thẩm”, NXB Tư pháp, Hà Nội, trang 23-27, Nhà xuất bản Lao động- Xã hội năm
2008 Ở đó phần lớn đề cập đến các vấn đề liên quan đến công tác xét xử, như nêu
lý luận chung về các phiên tòa hình sự, các vấn đề về mô hình tố tụng và chức năng
cơ bản của tố tụng hình sự, về thẩm quyền xét xử, các giai đoạn xét xử, các bước
Trang 9tiến hành tố tụng điều tra, truy tố, xét xử v.v, trong đó đề cập mang tính chất giới thiệu, sơ lược về thủ tục xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa hình sự sơ thẩm
- Về đề tài nghiên cứu khoa học các cấp: Các đề tài khoa học thực hiện ở các khía cạnh khác nhau liên quan đến khoa học luật tố tụng hình sự, tiêu biểu gồm có:
+ Đề tài khoa học cấp bộ: “Các giai đoạn của tố tụng hình sự Việt Nam -
Những vấn đề lý luận và thực tiễn”, của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao hoàn thành
vào năm 2010 Đề tài đã khá thành công khi giải thích về khái niệm, bản chất pháp
lý và vị trí vai trò của các giai đoạn tố tụng, gồm giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố Qua đó khẳng định những vấn đề cần tăng cường nhận thức, hoàn thiện và áp dụng pháp luật tố tụng hình sự theo hướng cải cách tư pháp Về các thủ tục tố tụng hình sự được các tác giả của công trình đánh giá mang tính khái quát, không đi sâu làm rõ thủ tục xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa hình sự sơ thẩm
+ Ngoài ra còn có các đề tài: Đề tài độc lập cấp Nhà nước: “Những vấn đề lý
luận và thực tiễn của việc đổi mới thủ tục tố tụng hình sự đáp ứng yêu cầu cải cách
tư pháp”, của tác giả Lê Hữu Thể hoàn thành vào năm 2010; Đề tài khoa học cấp
Nhà nước: “Cải cách các cơ quan tư pháp, hoàn thiện các thủ tục tư pháp, nâng
cao hiệu quả và hiệu lực xét xử của Tòa án trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân” của tác giả Uông Chu Lưu hoàn thành năm 2005;
Đề tài “Cải cách hệ thống tư pháp hình sự nhằm bảo vệ các quyền con người”; Đề
tài nghiên cứu nhóm B của Đại học Quốc gia Hà Nội trong Dự án của Đan Mạch,
do tác giả Lê Văn Cảm (chủ nhiệm) hoàn thành năm 2011; và Đề tài thuộc Dự án
nêu trên: “Luật tố tụng hình sự Việt Nam với việc bảo vệ quyền con người” do tác
giả Nguyễn Ngọc Chí làm chủ nhiệm Các công trình nêu trên chủ yếu làm rõ các
cơ sở: lý luận, thực tiễn, khoa học, pháp lý của việc đổi mới hoạt động cơ quan tư pháp, định hướng chung về hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng dân chủ, bình đẳng và gần dân hơn, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp và xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam
- Về tạp chí khoa học chuyên ngành luật: Hoạt động xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa hình sự sơ thẩm có tính thời sự được nhiều nhà khoa học và cán bộ làm công tác chuyên môn quan tâm nghiên cứu, trao đổi trên diễn đàn tạp chí chuyên ngành luật
+ Về các bài viết như: “Một số vấn đề về thủ tục xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm
hình sự theo Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003” của tác giả Đinh Văn Quế trên tạp
chí Tòa án nhân dân tháng 4/2004 (số 8); “Một số vấn đề hoàn thiện quy định của
Trang 10Bộ luật tố tụng hình sự về thủ tục xét xử sơ thẩm” của tác giả Trần Văn Độ, đăng
trên Tạp chí Kiểm sát số 08 năm 2012 Một số ý tưởng nghiên cứu được gợi mở: Cụ
thể tại trang 22 tác giả bài báo đã nêu quan điểm: “Thậm chí cần phải đi xa hơn
trong vấn đề này, cần cho phép người tham gia tố tụng có quyền trực tiếp xét hỏi về các tình tiết liên quan đến quyền, lợi ích của mình” Quả thật cần phải hướng tới
đánh giá sâu sắc hoạt động, vai trò của các chủ thể tham gia xét hỏi và tranh luận làm cơ sở cho đề xuất mở rộng quyền trực tiếp xét hỏi của người tham gia tố tụng tại phiên tòa hình sự sơ thẩm Tác giả Trần Văn Độ còn đưa ra quan điểm là nên gộp phần thủ tục xét hỏi và phần thủ tục tranh luận làm một Đây là một vấn đề mới được đã được Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 gộp thủ tục xét hỏi và tranh luận làm một tại Mục V: Thủ tục tranh tụng tại phiên tòa của chương XX: Những quy
định chung về thủ tục tố tụng tại phiên tòa; “Về thủ tục xét hỏi tại phiên tòa hình sự
sơ thẩm” của tác giả Lê Thị Thúy Nga, đăng trên Tạp chí Luật học số 07 năm 2008
Ở bài này tác giả chỉ tiếp cận một số vấn đề cụ thể liên quan đến phương pháp xét hỏi tại phiên tòa hình sự sơ thẩm có giá trị tham khảo cho Luận văn, như vấn đề về thứ tự xét hỏi và cách ly bị cáo tại phiên tòa (nhất là định hướng mở rộng quyền xét
hỏi của người giám định), nhưng chỉ nêu định hướng chung; bài “Các nguyên tắc
cơ bản của cải cách tư pháp trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam” của tác giả Lê Cảm- Tạp chí Tòa án nhân dân số 1/2006; bài “Những chức năng cơ bản trong tố tụng hình sự” của tác giả Nguyễn Thái Phúc - Tạp chí Nhà
nước và pháp luật số 12/2005; bài “Tố tụng hình sự Việt Nam cần được đổi mới và
hoàn thiện theo hướng nào?” của tác giả Đào Trí Úc- Tạp chí Nghiên cứu lập pháp
số 15/2011 Các bài báo nghiên cứu các khía cạnh khác nhau về các yếu tố chi phối thủ tục xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa hình sự sơ thẩm và vấn đề bảo đảm chất lượng tranh tụng tại phiên tòa hình sự Đây không phải là các nghiên cứu có hệ
thống, chuyên sâu về thủ tục xét hỏi tại phiên tòa hình sự sơ thẩm; “Hoàn thiện quy
định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về thủ tục xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm”
của tác giả Nguyễn Ngọc Kiện trên tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 22 (302)
T11/2015; “Bảo đảm quyền của bị cáo tại phiên tòa xét xử sơ thẩm các vụ án hình
sự của Tòa án nhân dân ở thủ tục xét hỏi” của tác giả Võ Quốc Tuấn trên tạp chí
Nghiên cứu lập pháp số 22 (326) T11/2016; “Hoàn thiện các quy định về phiên tòa
hình sự sơ thẩm trong Bộ luật tố tụng hình sự” của tác giả Lê Thanh Phong-Tòa án
nhân dân quận 7, thành phố Hồ Chí Minh đăng trên trang điện tử Tạp chí Dân chủ
và Pháp luật năm 2017; “Một số ý kiến đối với quy định của Bộ luật tố tụng hình sự
Trang 11về thủ tục xét hỏi tại phiên tòa hình sự sơ thẩm” của tác giả Hồ Nguyễn Quân-Tòa
án quân sự Khu vực 1 Quân khu 4 trên trang thông tin điện tử của trường Đại học kiểm sát Hà Nội1 ; “Thực trạng và một số kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng
tranh tụng tại phiên tòa hình sự theo tinh thần cải cách tư pháp” của tác giả Trần
Duy Bình đăng trên trang điện tử trường Đại học kiểm sát Hà Nội.2
- Về Luận án Tiến sĩ:
+ Luận án của tác giả Lê Tiến Châu, “Chức năng xét xử trong tố tụng hình sự
Việt Nam” hoàn thành năm 2008 tại Viện Khoa học xã hội Việt Nam Luận án này
tập trung nghiên cứu và giải quyết những vấn đề lý luận và thực tiễn về chức năng xét
xử Điểm nổi bật là công trình làm rõ được mối quan hệ giữa các chức năng cơ bản trong tố tụng; về các yếu tố lý luận và thực tiễn bảo đảm cho Tòa án thực hiện đúng chức năng xét xử, bảo đảm hoạt động tranh tụng; đồng thời phát hiện nhiều bất cập của các thủ tục tố tụng hình sự liên quan đến việc vận dụng chức năng xét xử
+ Luận án của tác giả Võ Thị Kim Oanh, “Xét xử sơ thẩm trong tố tụng hình
sự Việt Nam” hoàn thành năm 2008 tại Viện Nhà nước và Pháp luật- Viện Hàn
Lâm khoa học xã hội Việt Nam Ở đó trình bày kết quả nghiên cứu về các vấn đề liên quan đến công tác xét xử, nêu các khái niệm về xét xử sơ thẩm, về phiên tòa hình sự, về thẩm quyền xét xử, các giai đoạn xét xử, các bước tiến hành truy tố, xét xử v.v Nghiên cứu về hoạt động xét xử sơ thẩm, trong đó làm rõ ở diện rộng các thủ tục tố tụng và khái quát đến thủ tục xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa hình
sự sơ thẩm
+ Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Ngọc Kiện năm 2016, “Thủ tục xét hỏi
và tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm trong tố tụng hình sự Việt Nam” Công trình đã
bổ sung và phát triển những vấn đề lý luận về thủ tục xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa hình sự sơ thẩm trong tố tụng hình sự Việt Nam Về thực tiễn thực hiện quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về thủ tục xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa hình sự sơ thẩm cũng được tác giả phân tích, đánh giá và chỉ ra được những nguyên nhân hạn chế, bất cập Tuy nhiên, tác giả đi sâu phân tích về thủ tục xét hỏi
và tranh luận tại phiên tòa hình sự sơ thẩm, nhưng chỉ đề cập sơ qua về trình tự xét hỏi tại phiên tòa, mang nặng tính lý luận, các vấn đề thực trạng chỉ nêu chung chung, chưa tập trung đi sâu về trình tự xét hỏi
theo tinh thần cải cách tư pháp”, http://tks.edu.vn/thong-tin-khoa-hoc/chi-tiet/79/742, truy cập ngày 01/8/2017;
theo tinh thần cải cách tư pháp”, http://tks.edu.vn/thong-tin-khoa-hoc/chi-tiet/79/189, truy cập ngày 01/8/2017
Trang 12- Về luận văn thạc sĩ:
+ Luận văn thạc sĩ của tác giả Võ Hồng Phúc năm 2015, “Hoàn thiện thủ tục xét
hỏi tại phiên tòa hình sự theo tinh thần cải cách tư pháp” Công trình đã nêu lên một
số vấn đề lý luận về thủ tục xét hỏi tại phiên tòa hình sự Tác giả đã nghiên cứu các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về thủ tục xét hỏi tại phiên tòa hình
sự, đối chiếu thực tiễn áp dụng, qua đó phát hiện những bất cập về kỹ thuật lập pháp cũng những sai phạm của các chủ thể khi áp dụng quy định pháp lý về thủ tục xét hỏi
và các yếu tố khác làm hạn chế hiệu quả hoạt động xét hỏi Luận văn đã xác định các yêu cầu cải cách tư pháp theo Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002, Nghị quyết số 49 – NQ/TW ngày 02/06/2005 và đánh giá tác động của tinh thần cải cách tư pháp đến nhu cầu hoàn thiện thủ tục xét hỏi tại phiên tòa hình sự Từ đó, đưa ra một
số giải pháp nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật hiện hành về thủ tục xét hỏi và những cơ chế đảm bảo nâng cao chất lượng xét hỏi tại phiên tòa hình sự
+ Luận văn của tác giả Đỗ Văn Thinh, “Thủ tục xét hỏi tại phiên tòa hình sự
sơ thẩm” hoàn thành năm 2006 tại Trường đại học luật TP Hồ Chí Minh Đây là
công trình đầu tiên ở bậc cao học nghiên cứu về thủ tục xét hỏi tại phiên tòa hình sự
sơ thẩm Luận văn đã nhìn nhận khách quan về vấn đề Hội đồng xét xử tích cực trong việc xét hỏi là không hợp lý; làm rõ được tính chất, nội dung về thủ tục xét hỏi Hạn chế chủ yếu là, ở Chương 1 của Luận văn về phần lý luận dàn trải, thiếu tính tập trung, chỉ làm rõ các vấn đề về giai đoạn xét xử và phiên tòa hình sự, các khái niệm và ý nghĩa xung quanh phiên tòa hình sự sơ thẩm, nêu các điều kiện chung của phiên tòa như thẩm quyền xét xử v.v; dành thời lượng phân tích tất cả các thủ tục của phiên tòa hình sự sơ thẩm Ở Chương 2 phần đánh giá luật thực định
sa vào bình luận và trích dẫn ý kiến xung quanh vấn đề chứng minh tội phạm tại Điều 10 Bộ luật tố tụng hình sự và vai trò của Hội đồng xét xử và bị hại trong thủ tục xét hỏi…Về phần giải pháp đáng chú ý là đề xuất sau năm 2020 bỏ đi quyền xét hỏi của Hội đồng xét xử nhưng chưa lý giải và đưa ra cơ sở khoa học
+ Luận văn thạc sĩ của tác giả Trần Đặng Anh Việt năm 2017, “Trình tự xét
hỏi tại phiên tòa sơ thẩm theo luật tố tụng hình sự Việt Nam” Công trình đã nêu
được những vấn đề còn hạn chế, bất cập của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành cũng như những tồn tại mà Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 vẫn chưa khắc phục được về trình tự xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm Đồng thời, kết quả nghiên cứu của Luận văn đã thấy được những khó khăn, vướng mắc khi áp dụng pháp luật về trình
tự xét hỏi trong thực tiễn Từ đó đưa ra những kiến nghị, đề xuất để hoàn thiện pháp
Trang 13luật Tuy nhiên, công trình trên theo định hướng ứng dụng nên Luận văn chỉ tập trung vào giải quyết các vấn đề thực tiễn áp dụng pháp luật của một số địa phương
để từ đó phát hiện những khó khăn, bất cập trong trình tự xét hỏi tại phiên tòa hình
sự sơ thẩm Trong khi đó Luận văn chưa giải quyết được bản chất vấn đề mang tính khái quát, sâu rộng, chưa so sánh, đánh giá trình tự xét hỏi giữa Việt Nam và một số nước trên thế giới để từ đó đưa ra những đề xuất, giải pháp mang tính hiệu quả hơn Qua nghiên cứu, tác giả nhận thấy các bài viết trên đã phân tích các quy định của pháp luật về thủ tục xét hỏi, về thủ tục tranh tụng tại phiên tòa hình sự sơ thẩm,
từ đó chỉ ra những hạn chế, bất cập của pháp luật khi áp dụng các quy định của pháp luật tố tụng hình sự trong thực tiễn Tuy nhiên, các bài viết trên phần lớn đề cập đến
kỹ năng chuyên biệt của Thẩm phán, Kiểm sát viên, Luật sư cũng như các giải pháp
để nâng cao chất lượng xét hỏi và tranh tụng tại phiên tòa hình sự
Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả đã kế thừa những kiến thức, kinh nghiệm của một số Luận án, Luận văn và các bài viết nêu trên Ngoài ra, tác giả cũng đưa ra và giải quyết những vấn đề còn chưa phù hợp trong quy định của pháp luật mà các công trình nghiên cứu trên chưa đề cập đến Đồng thời, tác giả cũng phân tích, đánh giá sâu những vấn đề còn bất cập trong thực tiễn áp dụng pháp luật,
từ đó đưa ra kiến nghị, đề xuất để đóng góp phần vào công tác hoàn thiện pháp luật nói chung và quy định về trình tự xét hỏi tại phiên tòa hình sự sơ thẩm nói riêng
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở nghiên cứu, xây dựng hệ thống lý luận, nghiên cứu và làm rõ thực trạng trình tự xét hỏi trong tố tụng hình sự Việt Nam, từ
đó Luận văn đưa ra những kiến nghị, đề xuất giải pháp hoàn thiện trình tự xét hỏi tại phiên tòa hình sự sơ thẩm
- Nhiệm vụ nghiên cứu: Để đạt được mục đích trên, Luận văn có nhiệm vụ giải quyết các vấn đề sau:
+ Làm rõ lý luận về trình tự xét hỏi tại phiên tòa hình sự sơ thẩm;
+ Nghiên cứu, phân tích, làm rõ những quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về trình tự xét hỏi, chỉ ra những bất cập của những quy định này, đồng thời phân tích, đánh giá quy định của pháp luật ở một số nước trên thế giới về trình
tự xét hỏi tại phiên tòa hình sự sơ thẩm
+ Làm rõ thực tiễn thực hiện những quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về trình tự xét hỏi, chỉ ra những hạn chế, vướng mắc và nguyên nhân của nó
Trang 144 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là các vấn đề lý
luận và thực tiễn về trình tự xét hỏi tại phiên tòa hình sự sơ thẩm trong tố tụng hình
sự Việt Nam
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Về thời gian: Luận văn chủ yếu phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về trình tự xét hỏi, mà trọng tâm là theo quy định của
Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, cũng như nghiên cứu các quy định của pháp luật
tố tụng hình sự một số nước trên thế giới về vấn đề này
Luận văn nghiên cứu thực tiễn thực hiện quy định của pháp luật tố tụng hình sự
về trình tự xét hỏi tại phiên tòa hình sự sơ thẩm ở Việt Nam từ năm 2003 đến 2015 + Về không gian: Để bảo đảm tính khái quát cao, Luận văn chỉ biện luận các
cơ sở và lý luận cho việc xây dựng khái niệm khoa học về trình tự xét hỏi tại phiên tòa hình sự sơ thẩm và phân tích đặc điểm, ý nghĩa của trình tự xét hỏi Tuy nhiên,
để bảo đảm tính hệ thống và hiệu quả của mục tiêu nghiên cứu, thì Luận văn cũng phân tích, lý giải một số quy định chứa đựng các yếu tố xét hỏi Bên cạnh đó là sự lựa chọn nghiên cứu đối với pháp luật của các nước về quy định trình tự xét hỏi tại phiên tòa hình sự sơ thẩm
Luận văn chỉ nghiên cứu, đánh giá thực tiễn về trình tự xét hỏi ở cấp xét xử sơ thẩm, cùng với một số vụ án hình sự đã được xét xử
5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin và các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về Nhà nước về pháp luật, về chủ trương cải cách tư pháp, tôn trọng và bảo vệ quyền con người
Đồng thời, để thu thập, phân tích, xử lý các thông tin, những phương pháp nghiên cứu được sử dụng bao gồm: phân tích, tổng hợp, so sánh Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn cũng được sử dụng như: phương pháp thống kê, phương pháp nghiên cứu vụ án điển hình, phương pháp tổng hợp án, phương pháp phỏng vấn chuyên gia nhằm góp phần làm rõ những vấn đề nghiên cứu
6 Dự kiến các điểm mới, các đóng góp mới về mặt lý luận của đề tài
Những đóng góp mới của Luận văn cho đến nay ở Việt Nam, mặc dù đã có một luận văn thạc sĩ nghiên cứu về trình tự xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm trong tố tụng hình sự Việt Nam, nhưng Luận văn này chỉ đi sâu về thực tiễn, chưa có tính
Trang 15lý luận cao Kết quả nghiên cứu cụ thể của Luận văn với những đóng góp mới như sau:
Thứ nhất, Luận văn làm rõ, bổ sung và phát triển những vấn đề lý luận về trình
tự xét hỏi tại phiên tòa hình sự sơ thẩm trong tố tụng hình sự Việt Nam Những vấn
đề lý luận này được nghiên cứu làm cơ sở cho việc đánh giá thực trạng quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về trình tự xét hỏi tại phiên tòa hình sự sơ thẩm Thứ hai, làm rõ thực trạng luật thực định Việt Nam về trình tự xét hỏi tại phiên tòa hình sự sơ thẩm; trong đó có so sánh, đánh giá những điểm mới cùng vấn đề theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 Bên cạnh đó, nghiên cứu so sánh quy định về trình tự xét hỏi ở một số nước trên thế giới và kinh nghiệm đối với Việt Nam
Thứ ba, phân tích thực tiễn thực hiện quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về trình tự xét hỏi tại phiên tòa hình sự sơ thẩm; đánh giá những kết quả đạt được, những hạn chế, vướng mắc và nguyên nhân của nó
Thứ tư, đề xuất giải pháp bảo đảm thực hiện trình tự xét hỏi tại phiên tòa hình
sự sơ thẩm đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp
Chương 2 Quy định của pháp luật và thực tiễn áp dụng về trình tự xét hỏi tại
phiên tòa hình sự sơ thẩm
Chương 3 Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện trình tự xét hỏi tại phiên tòa
hình sự sơ thẩm
Trang 16CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TRÌNH TỰ XÉT HỎI
TẠI PHIÊN TOÀ HÌNH SỰ SƠ THẨM 1.1 Khái niệm trình tự xét hỏi tại phiên tòa hình sự sơ thẩm
Kết quả của một vụ án hình sự (VAHS) phụ thuộc rất nhiều yếu tố trong suốt quá trình giải quyết vụ án nhưng hoạt động tại phiên tòa giữ vai trò trung tâm Thủ tục xét hỏi tại phiên tòa là thủ tục quan trọng khi mọi vấn đề của vụ án được đưa ra xem xét công khai Hoạt động xét hỏi làm sáng tỏ nội dung vụ án, để chứng minh
có hay không có tội phạm xảy ra trên thực tế
Dưới góc độ ngôn ngữ học, theo Từ điển Tiếng Việt phổ thông thì “xét” là tìm
hiểu, cân nhắc để nhận biết, đánh giá, kết luận về cái gì đó; còn “hỏi” là nói ra
những điều mình muốn người ta cho mình biết với yêu cầu trả lời3
Theo Từ điển Tiếng Việt thì “xét hỏi” là một động từ chỉ “nhà chức trách hỏi
kĩ để phát hiện hành vi phạm pháp hoặc tìm hiểu sự thật về một vụ án”4 Ở đây xét hỏi được hiểu dưới góc độ chung, có tính khái quát Với nghĩa của Từ điển cho thấy bao giờ hoạt động xét hỏi cũng phải do chủ thể có quyền hạn thực hiện Theo cách
giải thích này thì “xét hỏi” gắn với “hỏi kĩ”, nghĩa là “xét hỏi” phải kĩ lưỡng, tường tận để phát hiện vấn đề, phát hiện sự thật Như vậy, có thể hiểu “xét hỏi” là việc tìm
hiểu, kiểm tra một vấn đề thông qua việc hỏi và trả lời trực tiếp giữa người hỏi và người được hỏi
“Trình tự” là sự sắp xếp lần lượt, thứ tự trước sau theo một trật tự nhất định5
Từ đó có thể hiểu, trình tự xét hỏi là sự sắp xếp việc hỏi trước, hỏi sau theo một thứ tự luật định để tìm hiểu, kiểm tra, đánh giá một vấn đề nào đó thông qua việc hỏi và trả lời giữa người hỏi và người được hỏi
Xét dưới góc độ pháp lý, Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2003 và BLTTHS năm 2015 không đưa ra định nghĩa thế nào là xét hỏi hay trình tự xét hỏi
mà chỉ quy định về trình tự, thủ tục hỏi, nội dung xét hỏi và những hoạt động của
các chủ thể hỏi và được hỏi Có nhiều quan điểm về xét hỏi như “xét hỏi” là thủ tục
chính của phiên tòa sơ thẩm, trong đó tòa án cùng các bên tranh tụng xem xét, kiểm tra, đánh giá chứng cứ của bên buộc tội đã thu thập trong hồ sơ vụ án cũng như các chứng cứ do bên gỡ tội cung cấp, nhằm làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án
5
Trung tâm Từ điển học (2009), tlđd (4), tr 1006
Trang 17Theo tác giả Đinh Văn Quế thì: “Xét hỏi tại phiên tòa mà nhiều người quen gọi là
thẩm vấn Xét hỏi tại phiên tòa là một phần (một giai đoạn) của quá trình xét xử một vụ án hình sự, trong đó Hội đồng xét xử (HĐXX), Kiểm sát viên (KSV), người bào chữa (NBC), người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có thể kiểm tra các chứng cứ, kết luận điều tra, bản cáo trạng một cách công khai về những tình tiết của vụ án 6 Quan điểm này đã nêu rõ được vị trí, bản chất của hoạt động xét hỏi nhưng vẫn chưa làm rõ được vai trò của hoạt động này cũng như chưa nêu lên cách thức tiến hành hoạt động xét hỏi
Theo giáo trình luật tố tụng hình sự (TTHS) của trường Đại học Luật Hà Nội thì thủ tục xét hỏi tại phiên tòa nhằm xem xét công khai những chứng cứ đã thu thập trong giai đoạn điều tra và chứng cứ mới để chứng minh vụ án7 Giống với quan điểm trên, Giáo trình trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh đưa ra định
nghĩa đầy đủ hơn: “Xét hỏi là cuộc điều tra công khai được thực hiện qua việc xét
hỏi bị cáo và những người tham gia tố tụng, xem xét vật chứng, các tài liệu nhằm kiểm tra các chứng cứ và làm sáng tỏ mọi tình tiết của vụ án” 8 Các quan điểm này
đã đề cập đến mục đích, ý nghĩa của xét hỏi là kiểm tra các chứng cứ về mọi tình tiết của vụ án, tuy nhiên lại chưa nêu lên được chủ thể của việc xét hỏi
Quan điểm khác, theo giáo trình luật TTHS Việt Nam do tác giả Võ Khánh
Vinh chủ biên lại cho rằng: “Xét hỏi tại phiên tòa là cuộc điều tra công khai chính
thức của HĐXX về vụ án” 9 Quan điểm này khẳng định, phiên tòa là sự tiếp tục quá trình điều tra, HĐXX đóng vai trò chính trong hoạt động này, đây là đặc trưng của
mô hình tố tụng thẩm vấn Tuy nhiên, mô hình tố tụng nước ta hiện nay là tố tụng pha trộn đã có sự tiếp thu những hạt nhân hợp lý của tố tụng tranh tụng thì rõ ràng khái niệm này không còn phù hợp
Các quan điểm này dù tiếp cận ở những khía cạnh khác nhau nhưng đều đã nêu lên những đặc trưng của hoạt động xét hỏi tại phiên tòa Từ những quan điểm trên, theo tác giả có thể rút ra một khái niệm chung về xét hỏi như sau:
“Trình tự xét hỏi là thủ tục được tiến hành công khai dưới sự điều khiển của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa Thông qua việc đặt câu hỏi lần lượt của HĐXX, KSV, NBC và việc trả lời trực tiếp của những người tham gia tố tụng và những người có
Tổng hợp TP Hồ Chí Minh, tr.151;
Hồng Đức – Hội luật gia Việt Nam;
9
Võ Khánh Vinh, Giáo trình luật tố tụng hình sự Việt Nam, NXB Công an nhân dân, tr.363
Trang 18liên quan được triệu tập đến phiên tòa về những vấn đề liên quan đến vụ án, nhằm xem xét, đánh giá công khai, toàn diện về các chứng cứ, tài liệu đã được thu thập trong giai đoạn điều tra và chứng cứ mới tại phiên tòa”
1.2 Đặc điểm của trình tự xét hỏi trong phiên tòa sơ thẩm
Thứ nhất, trình tự xét hỏi trong phiên tòa sơ thẩm VAHS do Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa tiến hành điều khiển BLTTHS quy định tại phần xét hỏi, Thẩm phán
chủ tọa phiên tòa sẽ điều hành việc hỏi, quyết định người hỏi trước, hỏi sau theo thứ
tự hợp lý… Vai trò điều hành việc xét hỏi của chủ tọa phiên tòa còn được thể hiện khi xét hỏi từng người, chủ tọa phiên tòa hỏi trước sau đó quyết định để Thẩm phán, Hội thẩm, KSV, NBC, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thực hiện việc hỏi Việc Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa điều hành việc hỏi sẽ giúp phiên tòa được tiến hành đúng trình tự, thủ tục luật định và bảo đảm tính nghiêm túc, khách
quan của việc xét xử vụ án hình sự
Thứ hai, trình tự xét hỏi trong phiên tòa sơ thẩm VAHS Việt Nam là trình tự xét hỏi theo mô hình tố tụng pha trộn Trình tự xét hỏi trong TTHS Việt
Nam mang đặc điểm của mô hình tố tụng pha trộn với sự kế thừa những hạt nhân hợp lý của cả mô hình tố tụng thẩm vấn và tố tụng tranh tụng trên thế giới hiện nay
Trong mô hình tố tụng tranh tụng, phiên tòa trong thủ tục này thực sự là cuộc tranh đấu giữa bên buộc tội và bên gỡ tội Do đó, kết quả của vụ án phụ thuộc nhiều
vào trình độ, kỹ năng, sự tích cực tranh luận của hai bên đối trọng, ngang quyền Tòa án đóng vai trò trọng tài xét xử, không phải nghiên cứu trước hồ sơ vụ án, không tham gia vào việc hỏi bị cáo và các nhân chứng Chứng cứ được thu thập, đưa ra và đánh giá tự do mà không bị giới hạn, vấn đề ở chỗ bên nào thuyết phục được Thẩm phán và Bồi thẩm đoàn về giá trị chứng minh của chứng cứ Mọi chứng
cứ, tranh luận sẽ không còn cần thiết nếu bị cáo tự nhận tội
Mô hình tố tụng xét hỏi quan niệm rằng, sự thật có thể và phải được tìm ra trong quá trình thẩm tra Do đó, thủ tục xét hỏi là thủ tục chính tại phiên tòa mà không tồn tại thủ tục tranh luận công bằng như những mô hình tố tụng khác Hoạt động xét hỏi giữ vai trò mấu chốt trong việc giúp HĐXX tìm ra sự thật khách quan của vụ án Do đó, HĐXX với chức năng xét xử được giao trọn quyền xét hỏi HĐXX trở thành trung tâm của quá trình xét hỏi và quyền lực tập trung vào Thẩm phán Vì việc chứng minh tội phạm không chỉ thuộc về cơ quan công tố mà còn thuộc về HĐXX nên cơ quan công tố có thể thụ động, ỷ lại vào HĐXX còn quyền bào chữa của bị cáo bị xem nhẹ
Trang 19Trong thủ tục xét hỏi trong TTHS Việt Nam, cả bên buộc tội, bên bào chữa và
cả Tòa án đều tham gia vào quá trình xét hỏi Thẩm phán không chỉ có chức năng trọng tài xét xử như mô hình tố tụng tranh tụng mà còn tham gia vào quá trình xét hỏi, thẩm vấn và hỏi chính Vai trò của thẩm phán năng động hơn so với mô hình tố tụng tranh tụng: thực hiện việc nghiên cứu hồ sơ trước khi xét xử10, tham gia vào quá trình xét hỏi nhằm làm sáng tỏ tình tiết vụ án11, đưa ra các phán quyết đúng đắn, hợp lý12 Ngoài ra, thẩm phán còn có quyền triệu tập nhân chứng mà mình xét thấy cần thiết cho việc làm rõ vụ án, không phụ thuộc vào yêu cầu của các bên13 Bị cáo
có quyền không trả lời vì nghĩa vụ chứng minh thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng14 Chính vì vậy, trong mô hình tố tụng xét hỏi, HĐXX
sẽ đóng vai trò là người hỏi chính và có chức năng như buộc tội, xác định sự thật khách quan của vụ án
Thứ ba, trình tự xét hỏi được quy định chặt chẽ trong luật TTHS Thủ tục xét
hỏi là một hình thức thực hiện quyền lực nhà nước trong hoạt động đấu tranh phòng chống tội phạm Chính vì vậy, để thủ tục xét hỏi được thực hiện chặt chẽ, đúng luật thì việc quy định cụ thể về trình tự xét hỏi là việc hết sức quan trọng Trình tự xét hỏi trong phiên tòa sơ thẩm VAHS được quy định tại Điều 307 BLTTHS năm 2015 Trình tự xét hỏi trong TTHS, chủ tọa phiên tòa điều hành việc hỏi, quyết định người hỏi trước, hỏi sau theo thứ tự hợp lý Khi xét hỏi từng người, chủ tọa phiên tòa hỏi trước sau đó quyết định để Thẩm phán, Hội thẩm, KSV, NBC, người bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của đương sự thực hiện việc hỏi Còn đối với trình tự xét hỏi trong tố tụng hành chính và tố tụng dân sự, hỏi sau khi nghe đương sự hoặc người đại diện cho đương sự trình bày xong thì chủ tọa phiên tòa điều hành việc hỏi15
Sự khác nhau này xuất phát từ đối tượng điều chỉnh và phương pháp điều chỉnh riêng của từng ngành luật, dẫn đến vai trò của các cơ quan tiến hành tố tụng, trình tự, thủ tục xét hỏi trong mỗi ngành luật lại có sự khác nhau
Như vậy, trình tự xét hỏi của phiên tòa sơ thẩm VAHS được điều hành bởi Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, trình tự xét hỏi của phiên tòa sơ thẩm trong BLTTHS Việt Nam là đặc trưng của mô hình tố tụng tranh tụng và trình tự xét hỏi của phiên
11
Điểm b, khoản 1 điều 45 BLTTHS năm 2015;
15
Điều 177 Luật Tố tụng hành chính 2015 và Điều 249 BLTTHS năm 2015
Trang 20tòa sơ thẩm được quy định chặt chẽ trong BLTTHS là những đặc trưng riêng của trình tự xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm VAHS Đây là cơ sở phân biệt trình tự xét hỏi trong TTHS và các ngành tố tụng khác như tố tụng hành chính, tố tụng dân sự
1.3 Ý nghĩa của trình tự xét hỏi trong phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự
Thứ nhất, trình tự xét hỏi chính là khung pháp lý, là công cụ điều hành cần
thiết của thủ tục xét hỏi Hoạt động xét hỏi có đạt được hiệu quả là làm sáng tỏ các tình tiết, sự kiện của vụ án, có tìm ra được sự thật khách quan của vụ án hay không phụ thuộc vào việc quy định trình tự xét hỏi có hợp lý, khoa học, các chủ thể xét hỏi
có phát huy được hết vai trò, quyền hạn của mình khi tiến hành xét hỏi
Thứ hai, thực hiện đúng trình tự xét hỏi là góp phần phát huy vai trò của từng
chủ thể tham gia xét hỏi, hướng đến mục tiêu làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ
án Mỗi chủ thể xét hỏi khi tham gia vào thủ tục xét hỏi có một vai trò nhất định Thẩm phán với vai trò điều khiển phiên tòa là trọng tài phân xử giữa hai bên buộc tội và bên gỡ tội KSV tham gia thủ tục xét hỏi với vai trò là người buộc tội – đưa ra các chứng cứ, lập luận để chứng minh tội phạm Còn NBC tham gia phiên tòa với tư cách là người gỡ tội – đưa ra các chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan đến việc bào chữa Chính vì để bảo đảm mỗi chủ thể tham gia xét hỏi đều có thể làm tốt vai trò của mình thì trình tự, thủ tục xét hỏi trong phiên tòa sơ thẩm VAHS cần được quy định khoa học, rõ ràng, việc thực hiện trình tự này phải đúng quy định pháp luật thì mới đạt được mục đích và hiệu quả cao nhất khi tiến hành xét xử VAHS
Thứ ba, trình tự xét hỏi có liên quan trực tiếp đến việc bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp cho tất cả các chủ thể tham gia TTHS, đặc biệt là các đương sự khi tham gia tố tụng trong VAHS Vì TTHS là thủ tục xét xử VAHS, quyết định bị cáo có tội hay không có tội; thủ tục xét hỏi là thủ tục nhằm làm rõ các tình tiết vụ án, kiểm tra tính đúng đắn của các chứng cứ buộc tội, gỡ tội Còn trình tự xét hỏi là thứ tự từng chủ thể tham gia xét hỏi thực hiện vai trò của mình đối với đối tượng bị xét hỏi Vì vậy, trình tự xét hỏi có khoa học, hợp lý thì họ mới tự bảo vệ được quyền và lợi ích của mình, quyền tự bào chữa, đồng thời đặt ra câu hỏi nhằm khai thác tình tiết có lợi cho mình Ví như: Trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra (CQĐT) có bức cung, nhục hình, hay trong quá trình khai tại CQĐT, bị cáo còn bỏ sót hoặc chưa khai báo hết các tình tiết của vụ án thì quá trình xét hỏi tại phiên tòa chính là cơ hội để bị cáo
có thể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Bởi bị cáo là người biết rõ nhất
về tình tiết vụ án nên bị cáo còn có quyền chỉ ra mâu thuẫn trong lời khai, tài liệu của chủ thể khác Để thực hiện tốt thủ tục xét hỏi thì trình tự xét hỏi khoa học, hợp
Trang 21lý mới phát huy được hiệu quả của thủ tục xét hỏi, bảo đảm quyền và lợi ích của các chủ thể tham gia tố tụng
Thứ tư, trình tự xét hỏi được quy định khoa học và rõ ràng góp phần áp dụng
thống nhất pháp luật Sự thống nhất về quy định của pháp luật không chỉ là thước
đo của kỹ thuật lập pháp, sự tiến bộ của hệ thống pháp luật mà còn là bảo đảm sự khách quan và công bằng đối với mọi chủ thể tham gia tố tụng Mặt khác, đây còn
là cơ sở của việc kiểm sát hoạt động xét xử và tuân theo pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng
1.4 Cơ sở việc quy định trình tự xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm
1.4.1 Cơ sở lý luận
Thứ nhất, xuất phát từ mối quan hệ giữa thủ tục xét hỏi và trình tự xét hỏi thì
thủ tục xét hỏi đóng vai trò quan trọng trong việc xét xử VAHS Vì vậy, để thủ tục xét hỏi được diễn ra khoa học và thống nhất, bảo đảm sự công bằng cho những người tham gia tố tụng thì cần quy định chặt chẽ trình tự xét hỏi Quy định cụ thể trình tự xét hỏi chính là việc sắp xếp thứ tự xét hỏi: Ai là người điều khiển phiên tòa, chủ thể nào tham gia việc xét hỏi, chủ thể nào hỏi trước, chủ thể nào hỏi sau thì khoa học, hợp lý Việc xác định sai vai trò của chủ thể xét hỏi sẽ dẫn đến sắp xếp sai thứ tự xét hỏi từ đó hiệu quả của chính thủ tục xét hỏi đối với phiên tòa xét xử VAHS sẽ không cao
Thứ hai, quy định cụ thể về trình tự xét hỏi trong TTHS là việc thực hiện nghĩa
vụ của quốc gia thành viên các công ước quốc tế về Nhân quyền của Việt Nam Năm 1977, Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Liên Hợp quốc Vì vậy, Việt Nam có nghĩa vụ tôn trọng và nội luật hóa các quy định của Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền của Liên Hiệp Quốc ngày 10 tháng 12 năm 1948; Công ước quốc tế về quyền dân sự và chính trị ra đời năm 1966 và có hiệu lực từ năm 1976 về việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân Xuất phát từ lý do đó, luật TTHS chính là ngành luật quy định về thủ tục xét xử và đưa ra phán quyết, bản án của Tòa tuyên một người có tội hay không có tội Một bản án, quyết định sai sẽ xâm phạm nghiêm trọng quyền con người, quyền công dân thậm chí là cả mạng sống của con người mà không có một biện pháp bồi thường nào có thể bù đắp được Chính vì tầm quan trọng đó, Luật quốc tế rất quan tâm đến quyền con người, quyền công dân và với tư cách là nước thành viên thì Việt Nam có nghĩa vụ nội luật hoá các quy định mang tính chuẩn mực này và bảo đảm quyền này được thực thi bằng các quy định của pháp luật tố tụng
Trang 22Thứ ba, để thể chế hóa quy định của Hiến pháp năm 2013 về quyền con người,
quyền công dân, pháp luật TTHS quy định về trình tự xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm VAHS Quy định này của pháp luật tố tụng là nền tảng pháp lý vững chắc cho hoạt động áp dụng pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng Vì khi tiến hành các hoạt
động TTHS, các cơ quan tố tụng phải đảm bảo các quyền cơ bản của công dân, nếu
có vi phạm, kết quả toàn bộ các hoạt động tố tụng sẽ không còn giá trị Nếu như nói Luật hình sự thể hiện xử sự của Nhà nước đối với người phạm tội thì Luật TTHS thể hiện cách xử sự của Nhà nước đối với công dân tự do Do đó, mọi sửa đổi về pháp luật TTHS phải xuất phát từ mục tiêu bảo vệ quyền công dân, quyền con người; những quyền cơ bản của công dân phải được tôn trọng và bảo vệ, phải có cơ chế đảm bảo thi hành thực sự trong TTHS
Thứ tư, việc quy định trình tự xét hỏi trong phiên tòa sơ thẩm VAHS đã bảo
đảm tính đồng bộ và tính hệ thống của khung pháp lý hình sự hiện hành như BLHS, BLTTHS, Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự… Đây chính là hành lang pháp lý vững chắc tạo điều kiện cho việc áp dụng pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng đồng thời cũng là cơ sở để bị cáo có thể tự bảo vệ quyền và lợi ích cơ bản của mình
Việc quy định trách nhiệm chứng minh tội phạm, xác định sự thật vụ án, làm
rõ các chứng cứ xác định có tội và vô tội, tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự buộc HĐXX phải hỏi tất cả các vấn đề xoay quanh vụ án và là chủ thể hỏi chính Mặt khác, trình tự xét hỏi đặt HĐXX là chủ thể hỏi đầu tiên một mặt giúp HĐXX thực hiện tốt nhiệm vụ và chức năng của mình nhưng cũng vô tình đặt nhẹ vai trò của các chủ thể khác Vì KSV thực hiện vai trò buộc tội và NBC thực hiện vai trò gỡ tội sau khi HĐXX đã hỏi tất cả những vấn đề xung quanh vụ án (bao gồm cả gỡ tội và buộc tội) nên tính tranh tụng giữa hai chủ thể KSV và NBC bị yếu
đi Chính vì vậy, quy định trình tự xét hỏi trong phiên tòa sơ thẩm VAHS chưa thực
Trang 23sự hợp lý, chưa phát huy hết vai trò của các chủ thể Do đó, KSV thường có tâm lý
“ỷ lại” và để cho Hội đồng xét hỏi tất cả các vấn đề của vụ án hoặc HĐXX đã hỏi
tất cả các vấn đề liên quan đến vụ án, đến lượt KSV hỏi thì đã sáng tỏ mọi vấn đề nên KSV hỏi qua loa hoặc hỏi cho có nên việc thực hiện chức năng buộc tội còn chưa thực sự hiệu quả Cũng gặp thực trạng như KSV, NBC hỏi sau khi HĐXX đã hỏi toàn bộ vụ án, kể cả các tình tiết gỡ tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình
sự cho bị cáo nên NBC tham dự phiên tòa với tâm lý kết quả đã có sẵn và mang tính
hình thức, “ỷ lại” hoàn toàn cho HĐXX nên hiệu quả của hoạt động gỡ tội của
NBC cũng chưa thực sự cao
Chính vì những bất cập trên đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến hiệu quả của thủ tục xét hỏi trong phiên tòa sơ thẩm VAHS Bởi lẽ đó, nghiên cứu về cơ sở lý luận, pháp lý và thực tiễn thực hiện trình tự xét hỏi trên thực tế để từ đó đưa ra các giải pháp nhằm khắc phục thực trạng này trên thực tế
1.5 Một số nguyên tắc liên quan đến trình tự xét hỏi trong phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự
1.5.1 Nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước pháp luật
Đây là một nguyên tắc hiến định, quy định mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa và
xã hội16 - được phát triển và cụ thể trong BLTHS năm 2015 với nguyên tắc đảm bảo bình đẳng về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong TTHS Các tiêu chí thể hiện yêu cầu phải tuân thủ nguyên tắc này trong quá trình tiến hành trình tự xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm VAHS như sau:
Thứ nhất, bình đẳng là mọi người đều như nhau, không có sự ưu tiên, ưu đãi
hay phân biệt đối xử nào giữa các chủ thể tham gia thủ tục hỏi, bất kể các yếu tố dân tộc, giới tính, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần xã hội, trình độ văn hóa, nghề nghiệp, địa vị xã hội
Thứ hai, mỗi chủ thể, nhất là các đương sự có thể được quy định khác nhau về
quyền và nghĩa vụ khi tham gia TTHS nhưng việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ
tố tụng của họ là như nhau Các bên đương sự tham gia xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm hình sự để đảm bảo được quyền của mình trong vụ án, không ai được cản trở việc hỏi, trả lời và thực hiện các hoạt động khác của các chủ thể, đây cũng là một trong những yêu cầu để đảm bảo cho các bên thực hiện quyền tranh tụng của mình
16
Điều 16 Hiến pháp năm 2013
Trang 24Thứ ba, để các bên thật sự có được sự bình đẳng thì trách nhiệm của Tòa án là
rất đáng kể, HĐXX giữa vai trò điều hành để thủ tục diễn ra đúng pháp luật, tạo điều kiện cho mỗi bên đều thực hiện được quyền tham gia thủ tục hỏi, công tâm, khách quan, không thiên vị cho bất cứ bên nào
Chính vì vậy, quy định chặt chẽ, khoa học về trình tự xét hỏi trong phiên tòa
sơ thẩm VAHS sẽ phát huy được vai trò của các cơ quan tiến hành tố tụng, từ đó bảo đảm được quyền bình đẳng của các chủ thể tham gia phiên tòa sơ thẩm
1.5.2 Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm
Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm được Hiến pháp năm 2013 quy định: “Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm”; được cụ thể hóa tại Điều 26 BLTTHS năm 201517
Đây là một sự chuyển biến mạnh mẽ cả về nhận thức và thực tiễn xét xử Nội dung của nguyên tắc tranh tụng gồm:
Nguyên tắc tranh tụng có sự phân định rành mạch giữa các loại chủ thể theo chức năng cơ bản của tranh tụng (chức năng buộc tội, chức năng gỡ tội, chức năng xét xử…) Chủ thể buộc tội trong pháp luật tố tụng của hầu hết các nước đều là Cơ quan công tố là cơ quan đại diện cho nhà nước để thực hiện chức năng buộc tội, tìm
ra những hành vi phạm tội nhằm bảo vệ lợi ích của Nhà nước và lợi ích của xã hội Ngoài ra, trong một số giai đoạn bên buộc tội còn có thể là CQĐT; người bị hại trọng vụ án, đặc biệt là trường hợp khởi tố vụ án theo yêu cầu của người bị hại Bên
gỡ tội (bào chữa) có thể là chính bị can, bị cáo tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa Trong khi đó Tòa án là cơ quan đóng vai trò trọng tài phân xử, giải quyết mâu thuẫn giữa bên buộc tội và bên gỡ tội trên cơ sở các quy định của pháp luật Vì vậy, yêu cầu đầu tiên là Tòa án khi xét xử độc lập, không bị lệ thuộc vào bất cứ cá nhân, tổ chức nào Tòa án phải xét xử trên nguyên tắc độc lập chỉ tuân theo pháp luật (Khoản 2 Điều 103 Hiến Pháp 2013), dựa vào kết quả tranh luận, chứng cứ của
các bên và lấy đó làm căn cứ cho việc đưa ra phán quyết “Tòa án có nhiệm vụ bảo
vệ pháp luật nhưng Tòa án thực hiện nhiệm vụ đó thông qua chức năng xét xử, Tòa
án không phải là người truy tố bị cáo nên Tòa án không có nghĩa vụ chứng minh tội phạm”18 Chính vì vậy, thực hiện nguyên tắc tranh tụng thì cần phải có sự bình đẳng trong việc thực hiện các hoạt động giữa bên buộc tội và bên gỡ trong quá trình tố tụng, đây là một yêu cầu tiên quyết và bắt buộc Bởi lẽ nếu không có bình đẳng thì
pháp năm 2013, được cụ thể hóa tại Điều 13 Luật tổ chức TAND năm 2014
chức năng xét xử của Tòa án trong bối cảnh cải cách tư pháp”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 10, tr 78;
Trang 25không bao giờ tồn tại “tranh tụng”, chính sự bình đẳng sẽ làm cho hai bên có đủ
khả năng, điều kiện và sự tự tin khi tranh luận, đấu tranh để bảo vệ quan điểm của mình cũng như phản biện để bác bỏ quan điểm của bên đối lập Sự bình đẳng ở đây
là sự bình đẳng trong việc thừa nhận quyền của các bên trong việc đưa ra chứng cứ, tài liệu, các yêu cầu tranh luận và đối đáp Áp dụng nguyên tắc tranh tụng trong thủ tục xét hỏi giúp cho Tòa án có cơ sở để đưa ra phán quyết đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, hạn chế tình trạng oan sai, bảo đảm cho nền tư pháp của nước nhà
là biểu hiện điển hình của công bằng và công lý
Đối với trình tự xét hỏi, nguyên tắc tranh tụng sẽ quyết định đặt chủ thể xét hỏi nào vào đúng vị trí, vai trò và quyền hạn của chủ thể đó để thủ tục xét hỏi thực
sự là quá trình đấu tranh, phủ định lẫn nhau giữa bên buộc tội và bên bào chữa trong khuôn khổ của pháp luật, dưới sự phân xử của trọng tài là Tòa án sẽ là phương pháp tối ưu nhất để tìm ra sự thật khách quan của vụ án Những người có thẩm quyền tham gia tố tụng tại phiên tòa, có điều kiện trình bày, chứng minh, phản biện một cách dân chủ, công khai, minh bạch; chủ tọa phiên tòa sẽ có điều kiện đánh giá một cách khách quan hơn so với tố tụng chỉ thiên về xét hỏi
1.5.3 Nguyên tắc Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật
Đây là nguyên tắc quan trọng trong hoạt động xét xử, được cụ thể hóa trong
Bộ luật TTHS năm 2015 trên cơ sở nguyên tắc của Hiến pháp năm 201319 và Luật
Tổ chức TAND năm 201420 Để đảm bảo cho bản án được tuyên là khách quan và đúng pháp luật, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân (HTND) phải tuân thủ nguyên tắc này trong suốt quá trình giải quyết VAHS, đối với thủ tục xét hỏi tại phiên tòa hình sự sơ thẩm cũng không ngoại lệ Những biểu hiện cụ thể đối với yêu cầu tuân
thủ nguyên tắc “Thẩm phán, HTND xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” khi
tiến hành thủ tục xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm hình sự như sau:
Một là, độc lập giữa thành viên HĐXX với nhau Trong quá trình tiến hành thủ
tục xét hỏi, Thẩm phán và HTND sẽ tiến hành việc hỏi riêng biệt, mỗi thành viên theo dõi diễn biến, đánh giá kết quả của thủ tục xét hỏi một cách độc lập Những tình tiết, chứng cứ được xem xét, đánh giá qua thủ tục xét hỏi sẽ được HĐXX dùng làm căn cứ đưa ra ý kiến khi nghị án và ra phán quyết Sự độc lập của Thẩm phán
và HTND trong quá trình hỏi đảm bảo việc biểu quyết của mỗi thành viên là khách
20
Điều 9 Luật Tổ chức TAND năm 2014
Trang 26quan theo sự đánh giá chứng cứ của riêng họ, không bị lệ thuộc vào ý kiến của thành viên khác
Hai là, độc lập giữa thành viên HĐXX với thủ trưởng cơ quan của mình Vai
trò của thủ tục hỏi tại phiên tòa sơ thẩm hình sự là rất quan trọng, là cơ sở để làm sáng tỏ sự thật vụ án HĐXX đánh giá các tình tiết, chứng cứ của vụ án theo diễn biến thực tế của phiên tòa mới có thể ban hành một bản án chính xác, đúng pháp luật, tuyệt đối không lệ thuộc vào ý kiến chỉ đạo của cấp trên mà làm sai lệch sự thật vụ án Bản thân người lãnh đạo cũng không được can thiệp sâu vào hoạt động của HĐXX
Ba là, độc lập giữa HĐXX với những người tham gia tố tụng Trong quá trình
tiến hành thủ tục hỏi, HĐXX phải tạo điều kiện để các bên thực hiện quyền tranh tụng, phán quyết của HĐXX phải dựa trên sự đánh giá khách quan, toàn diện kết quả của thủ tục hỏi cũng như tranh tụng, không vì cả nể hay vụ lợi mà gây ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình xét xử Bên cạnh đó, không ai được can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, HTND dưới bất kỳ hình thức nào
1.5.4 Nguyên tắc kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự
Nguyên tắc dựa trên cơ sở hiến định21 và quy định của Luật Tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân (VKSND) năm 201422 về chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp của Viện Kiểm sát (VKS) Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTHS là một nguyên tắc quan trọng, được thực hiện xuyên suốt trong toàn bộ quá trình giải quyết
vụ án kể từ khi thụ lý và cả đến khi phán quyết của Tòa án được đưa ra thi hành, nhằm đảm bảo cho việc giải quyết vụ án kịp thời, đúng pháp luật Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, đại diện VKS sẽ tiến hành nhiều hoạt động khác nhau, đối với thủ tục hỏi tại phiên tòa sơ thẩm hình sự, đảm bảo nguyên tắc kiểm sát việc tuân thủ pháp luật thể hiện qua các hoạt động của KSV tham gia phiên tòa như sau:
Thứ nhất, kiểm sát quá trình thực hiện các quy định về thứ tự xét hỏi, nguyên
tắc xét hỏi, nội dung xét hỏi, phương thức xét hỏi sao cho hiệu quả, việc kiểm tra, công khai chứng cứ… Nhằm đảm bảo các hoạt động trong thủ tục hỏi diễn ra theo đúng trình tự thủ tục, đúng pháp luật
Thứ hai, KSV tham gia phiên tòa thực hiện nhiệm vụ kiểm sát khi tham gia
trực tiếp vào quá trình xét hỏi, khi nhận thấy thiếu sót trong quá trình hỏi, KSV có thể kịp thời bổ sung để đảm bảo cho hiệu quả của thủ tục hỏi Ngoài ra, KSV còn
22
Điều 4 Luật Tổ chức VKSND năm 2014
Trang 27thực hiện quyền yêu cầu, kiến nghị HĐXX và các chủ thể khác nếu thấy có vấn đề cần khắc phục ngay, ngăn chặn sai phạm xảy ra làm ảnh hưởng chất lượng xét xử
Thứ ba, KSV phải thực hiện nhiệm vụ công tâm, khách quan trong quá trình tố
tụng, không can thiệp sâu vào nhiệm vụ xét xử của HĐXX Ngoài ra, từ việc tham gia thủ tục xét hỏi, KSV có thể phát hiện căn cứ để báo cáo VKS kháng nghị, đây cũng là một hoạt động trong công tác kiểm sát việc tuân thủ pháp luật
Như vậy, việc tôn trọng và thực hiện tốt các nguyên tắc trên bên cạnh những nguyên tắc khác của pháp luật TTHS là cơ sở đảm bảo cho việc tiến hành phiên tòa hình sự sơ thẩm cũng như thủ tục xét hỏi tại phiên tòa đạt kết quả tốt, đảm bảo thực thi quyền tranh tụng của đương sự, đồng thời, phán quyết của Tòa án khách quan, chính xác và đúng pháp luật
Trình tự xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm hình sự không chỉ có ý nghĩa đối với việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của những người tiến hành tố tụng mà còn là cơ
sở quan trọng để người tham gia tố tụng thực hiện quyền tranh tụng của mình Trong mối quan hệ với các nguyên tắc cơ bản của luật TTHS thì để thực hiện hiệu quả trình tự xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm hình sự, các nguyên tắc cơ bản này cần
được bảo đảm: “Bảo đảm tranh tụng trong xét xử”, “Bảo đảm quyền bình đẳng
trước pháp luật”, “Thẩm phán, HTND xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” là
những nguyên tắc trọng tâm cần tuân thủ để trình tự xét hỏi được tiến hành đúng pháp luật
1.6 Quy định pháp luật một số nước về trình tự xét hỏi
1.6.1 Pháp luật tố tụng hình sự Hợp chủng quốc Hoa Kỳ
Hoa Kỳ là một trong những quốc gia điển hình áp dụng mô hình TTHS tranh tụng Với mô hình TTHS tranh tụng của Hoa Kỳ thì hoạt động xét hỏi, tranh luận chủ yếu dựa trên Quy tắc TTHS Liên bang, Quy tắc Liên bang về Bằng chứng (FRE) Thủ tục TTHS Hoa Kỳ không phân chia ra xét hỏi và tranh luận như ở Việt Nam23 Mọi tài liệu, chứng cứ thu thập được trong quá trình điều tra đều sẽ được xem xét tại phiên toà Mỗi bên sẽ trình bày ra trước toà các tài liệu, chứng cứ của mình và Thẩm phán cùng với Bồi thẩm đoàn sẽ quyết định xem chứng cứ của bên nào có tính thuyết phục hơn24 Do đó mà Thẩm phán tại phiên tòa sơ thẩm VAHS của Hoa Kỳ giữ vai trò trung lập, là người trọng tài trong tranh tụng
thẩm của Mỹ, Pháp, Nga và Việt Nam”, Tạp chí nghiên cứu lập pháp, số 7, tr.59-64;
24
Bộ Tư pháp (1999), “Chuyên đề về: Tư pháp hình sự so sánh”, trang 126;
Trang 28Tại phiên toà, Thẩm phán chỉ làm nhiệm vụ điều khiển phiên toà, không tham gia xét hỏi, điều tra hoặc nếu có thì cũng chỉ tham gia một cách mờ nhạt Mô hình TTHS tranh tụng của Hoa Kỳ với những đặc trưng của nó và cho rằng sự thật khách quan của vụ án sẽ được mở ra qua sự tranh tụng cởi mở, bình đẳng giữa các chủ thể tại phiên toà Bên buộc tội và bên gỡ tội lập luận và đưa ra chứng cứ để bảo vệ cho quan điểm của mình Vì vậy, phiên toà theo mô hình tranh tụng diễn ra một cách dân chủ, bình đẳng và sinh động Trách nhiệm đưa ra chứng cứ buộc tội thuộc về công tố viên và trách nhiệm chứng minh sự vô tội thuộc về bên bào chữa Các chức năng cơ bản trong TTHS của Hoa Kỳ được phân định một cách rạch ròi, Viện công
tố thực hiện chức năng buộc tội, NBC thực hiện chức năng gỡ tội và Toà án có vị trí trung tâm thực hiện chức năng xét xử
Quy trình chất vấn như sau: Công tố viên gọi người làm chứng vào phiên tòa
để thẩm vấn (lấy lời khai) NBC có quyền phản đối ngay câu hỏi hoặc câu trả lời của công tố viên và Thẩm phán sẽ quyết định về sự phản đối đó bằng cách cắt câu hỏi hoặc câu trả lời hoặc cho phép đưa ra câu hỏi hoặc câu trả lời25 Sau khi công tố viên thẩm vấn thì luật sư thẩm vấn chéo (hỏi cung) người làm chứng đó Thông thường, luật sư cũng như công tố viên chỉ được phép đặt câu hỏi theo hướng gợi
mở, dẫn dắt trong khi thẩm vấn
Tại phần chất vấn, hay gọi là phần lấy chứng cứ do công tố viên (bên buộc tội)
và luật sư (bên gỡ tội) đảm nhiệm Thẩm phán sẽ xem xét các vấn đề pháp lý mà công tố viên hoặc NBC đặt ra Tuy nhiên, trong phạm vi quyền của mình Thẩm phán cũng có thể đặt ra một số câu hỏi để làm rõ vấn đề với một nhân chứng nhất định được gọi26
Và các Bồi thẩm viên không tham gia xét hỏi bất cứ câu hỏi nào trong phiên tòa, mà chỉ lắng nghe lời khai của các bên và xem xét chứng cứ Về phía bị can (trong TTHS Việt Nam khi đã có quyết định đưa vụ án ra xét xử thì gọi là bị cáo) không có vai trò gì trong phần lấy chứng cứ, ngoài việc trình bày lời khai như một nhân chứng và được trao đổi riêng với luật sư của mình trong cả phiên tòa Quyền im lặng của bị can được bảo đảm dựa trên cơ sở Hiến pháp Hoa Kỳ27, không ai bị bắt buộc phải buộc tội mình Bị hại được đưa ra lời khai trong phần lấy chứng cứ, nếu họ
sự một số nước trên thế giới- Kinh nghiệm đối với việc hoàn thiện mô hình tố tụng hình sự Việt Nam”, do
Chương trình Đối tác Tư pháp và VKSNDTC tổ chức, Hà Nội ngày 15-16 tháng 11/2011
Policies/quy tắcs/2010%20Quy tắcs/Evidence.pdf, truy cập ngày 28/4/2018;
system_x.htm; truy cập ngày 10/5/2018;
Trang 29được công tố viên hoặc luật sư triệu tập ra phiên tòa như một người làm chứng28 Các tài liệu, chứng cứ trong vụ án đều được công khai trước phiên tòa, hồ sơ vụ án không được lập trước khi xét xử để cho Thẩm phán hay Bồi thẩm đoàn nghiên cứu
Tranh tụng trong phiên tòa sơ thẩm VAHS của Hoa Kỳ có những đặc điểm khác với quy trình tranh tụng của phiên tòa sơ thẩm VAHS ở Việt Nam như sau:
Một là, công tố viên và NBC có trách nhiệm thẩm vấn bị cáo tại phiên tòa để
làm rõ các tình tiết của vụ án; Thẩm phán có vai trò rất mờ nhạt trong hoạt động xét hỏi Đây là điểm khác biệt so với thủ tục xét hỏi của pháp luật TTHS Việt Nam Việc triệu tập người làm chứng trong vụ án không phải do Tòa án mà là do bên buộc tội và bào chữa quyết định Như vậy, sẽ bảo đảm được tính khách quan trong quá trình giải quyết vụ án Đây cũng là một kinh nghiệm cần nghiên cứu đối với pháp luật TTHS Việt Nam Vì nếu Tòa án triệu tập người làm chứng thì có thể thiếu khách quan trong việc giải quyết vụ án Bị cáo và bị hại có vai trò như người làm chứng khi được triệu tập với tư cách là người làm chứng tại phiên tòa Trong phiên tòa thì phương pháp thẩm vấn kết hợp với cách ly người làm chứng rất được coi trọng Tại phiên tòa, các bên tranh tụng liên tục dựa trên các chứng cứ trực tiếp được công khai Hồ sơ vụ án không được thành lập trước Những thủ tục tố tụng này hoàn toàn khác với quy định của pháp luật TTHS Việt Nam
Hai là, tính đối tụng trong phiên tòa được thể hiện rất cao, đây là đặc trưng
của mô hình TTHS tranh tụng của Hoa Kỳ Quá trình tranh tụng tại phiên tòa cho thấy vai trò của Thẩm phán chỉ làm nhiệm vụ dẫn dắt, điều khiển phiên tòa, hướng dẫn luật áp dụng cho Bồi thẩm đoàn Họ không được can thiệp vào quá trình cung cấp chứng cứ và lập luận của bên buộc tội và bên bào chữa Đặc trưng này cũng thể hiện rõ các chức năng cơ bản trong TTHS tranh tụng của Hoa Kỳ Tính chất tranh tụng công bằng được thể hiện rất rõ nét, phiên tòa diễn ra một cách dân chủ, bình đẳng, sinh động, ở đây quyền con người của bị can được bảo đảm Bên buộc tội và bào chữa cung cấp chứng cứ, sau đó chất vấn chéo và tái chất vất chéo người làm chứng của nhau để làm rõ chứng cứ, thủ tục này cho phép Thẩm phán được cắt lời xét hỏi và trả lời từ phía hai bên
Tóm lại, trong TTHS Hoa Kỳ, vị trí và vai trò của Thẩm phán, công tố viên và NBC được bình đẳng với nhau trong thực hiện quyền, nghĩa vụ do pháp luật quy
sự một số nước trên thế giới- Kinh nghiệm đối với việc hoàn thiện mô hình tố tụng hình sự Việt Nam”, do
Chương trình Đối tác Tư pháp và VKSNDTC tổ chức, Hà Nội ngày 15-16 tháng 11/2011
Trang 30định, đặc biệt là trong việc đưa ra chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình Hoạt động xét xử của Thẩm phán có tính độc lập cao, không thể bị can thiệp từ phía
cơ quan Nhà nước khác Tuy nhiên, mô hình TTHS của Mỹ cũng bộc lộ những hạn chế nhất định là phía Nhà nước gặp rất nhiều khó khăn trong việc kiểm soát tội phạm, bỏ lọt tội phạm Và Nhà nước cũng phải tiêu tốn rất nhiều chi phí tố tụng do phải thiết lập một hệ thống cơ chế giám sát hoạt động tố tụng nhằm kiểm soát những sai phạm từ các hoạt động tố tụng và phiên tòa sơ thẩm VAHS ở Mỹ thường trải qua nhiều phiên tranh tụng kéo dài
1.6.2 Pháp luật tố tụng hình sự Cộng hoà Pháp
BLTTHS Pháp có hiệu lực thi hành vào năm 1958 và qua nhiều lần sửa đổi, bổ
sung dành chương VI để quy định về “Thủ tục tranh luận tại phiên tòa” Cộng Hòa
Pháp áp dụng mô hình TTHS thẩm vấn, nhưng vẫn đan xen những hạt nhân hợp lý của mô hình TTHS tranh tụng Với đặc trưng của mô hình TTHS thẩm vấn, Pháp coi trọng kiểm soát và trấn áp tội phạm, nhiệm vụ tìm ra chân lý vụ án được đặt lên hàng đầu Trong quá trình giải quyết VAHS thì phương pháp hỏi cung bị can được
áp dụng một cách triệt để Với mong muốn là sự thật của vụ án sẽ được tìm thấy trong quá trình thẩm vấn
Điều 310, Điều 311 và Điều 312 BLTTHS Pháp năm 1958 quy định chủ tọa phiên tòa có quyền hạn rất lớn Chủ tọa phiên tòa giữ gìn trật tự phiên tòa, điều khiển tranh luận và áp dụng các biện pháp cần thiết để xác định sự thật của vụ án, kiểm tra, đánh giá chứng cứ, xét hỏi người làm chứng - mặc dù nhiệm vụ này thuộc
về chức năng buộc tội của công tố viên Toà án được trao nhiều trọng trách trong việc định hướng điều tra và thiên về tìm kiếm chứng cứ buộc tội nhiều hơn là gỡ tội Chứng cứ được thu thập trong quá trình điều tra phải đầy đủ, nếu không đầy đủ thì HĐXX sẽ hoãn phiên toà trả hồ sơ cho công tố viên để điều tra bổ sung Đại diện Viện công tố, bị cáo, nguyên đơn dân sự, luật sư của các bên được phép tham gia xét hỏi nhưng phải được sự đồng ý của Chủ tọa phiên tòa
Trước khi được xét hỏi, người làm chứng bắt buộc phải tuyên thệ trước khi đưa ra lời khai của mình Người làm chứng không bị ngắt lời khi đưa ra lời khai Tuy nhiên, công tố viên và các bên đương sự có thể phản đối việc lấy lời khai của một người làm chứng nếu người này không được tống đạt hoặc tống đạt không hợp
lệ theo quy định Nếu phản đối có căn cứ thì chủ tọa phiên tòa quyết định rằng lời khai của người làm chứng chỉ có giá trị tham khảo chứ không có giá trị buộc tội Người làm chứng phải ở lại phòng xử án cho đến khi kết thúc phiên tòa (Điều 330,
Trang 31Điều 331, Điều 332 BLTTHS Pháp năm 1958) Trong quá trình xét hỏi, chủ tọa phiên tòa có thể cho bị cáo hoặc những người làm chứng xem xét các vật chứng và nghe lời nhận xét của họ (Điều 341) Ngoài ra, thủ tục xét xử của Pháp còn cho phép đại diện Viện công tố, bị cáo, nguyên đơn dân sự có quyền yêu cầu chủ tọa phiên tòa cho người làm chứng tạm thời rời phòng xử án, để nghe những lời khai khác, sau đó cho họ trở lại phiên tòa và việc đối chất có thể xảy ra (Điều 338) Thủ tục xét hỏi người làm chứng được pháp luật TTHS Pháp coi trọng, vì cho rằng lời khai của họ có giá trị chứng minh cao Về thủ tục cách ly người làm chứng trong quá trình xét hỏi, luật TTHS Pháp quy định tương đối giống với Việt Nam Mặt khác, pháp luật TTHS Pháp thể hiện sự tiến bộ khi cấm các chủ thể tham gia xét hỏi bày tỏ quan điểm, chính kiến của mình trong quá trình xét hỏi
Khi kết thúc thẩm vấn, bị hại và nguyên đơn dân sự (hoặc người bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của họ) được trình bày ý kiến, Viện công tố trình bày kết luận của mình, sau đó bị cáo (hoặc NBC của họ) trình bày lời bào chữa Ở Việt Nam, KSV (công tố viên) là người trình bày lời buộc tội trước, còn ở Pháp là bị hại Ở Pháp, Viện công tố cũng chỉ trình bày lời kết luận, chứ không phải là luận tội như ở Việt Nam Đây cũng là một kinh nghiệm hay đối với Việt Nam Ngoài ra, pháp luật TTHS Pháp quy định thủ tục đối đáp khá đơn giản khi các bên đưa ra các kết luận
buộc tội và gỡ tội Đó là: “Nguyên đơn dân sự và Viện công tố được quyền đáp lại,
nhưng bị cáo hay luật sư của bị cáo luôn được nói lời sau cùng” (Điều 346) Sự đơn
giản trong thủ tục trình bày kết luận và đối đáp là vì pháp luật TTHS Pháp coi trọng phần thẩm vấn do chủ tọa phiên tòa đảm trách BLTTHS Pháp dành một chương quy định về thủ tục tranh luận (Chương VI), nhưng lại chứa đựng phần lớn về thủ tục xét hỏi hoặc vừa xét hỏi vừa tranh luận Ở Pháp coi việc xét hỏi cũng là thể hiện
sự tranh luận, là thủ tục của quá trình tranh luận tại phiên tòa Ngày nay, pháp luật TTHS Pháp dù vẫn giữ các đặc điểm của mô hình tố tụng thẩm vấn truyền thống nhưng vẫn đen xen những hạt nhân hợp lý của mô hình TTHS tranh tụng
Tuy nhiên, đặc trưng của mô hình TTHS thẩm vấn của Pháp cũng bộc lộ những hạn chế nhất định Đó là, phiên tòa hình sự ở Pháp thường ngắn và kém sinh động, thiếu tính tranh tụng và các chức năng cơ bản trong TTHS không rạch ròi, bị cáo thì thường nhanh chóng nhận tội và chấp nhận hình phạt; một số quyền của bị cáo chưa được bảo đảm thực sự như quyền bào chữa, quyền được im lặng…
Về cơ bản, thủ tục xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm VAHS Pháp giống với Việt Nam, ví dụ như chủ tọa phiên tòa vẫn chịu trách nhiệm chính trong việc xét hỏi; có
Trang 32quyền hạn rất lớn trong việc làm rõ chứng cứ; vai trò của viện công tố và NBC và các chủ thể khác khi tham gia xét hỏi rất mờ nhạt
1.6.3 Pháp luật tố tụng hình sự của Cộng hòa Liên bang Nga
Mô hình TTHS của Liên Bang Nga là mô hình tố tụng pha trộn khi vừa có yếu
tố cơ bản của tranh tụng, vừa mang đặc điểm của TTHS thẩm vấn BLTTHS năm
1960 của Liên Bang Nga (Nga) đã sửa đổi, bổ sung BLTTHS năm 2001 Chương
IX của BLTTHS năm 2006 Nga quy định về thủ tục tố tụng tại tòa án cấp sơ thẩm, trong đó có thủ tục xét hỏi
Pháp luật TTHS Nga không gọi là hoạt động xét hỏi (hoặc thẩm vấn) như ở
Việt Nam và ở nhiều nước khác, mà gọi là “điều tra tại tòa án” 29 Vì thế, tại phiên
tòa hình sự sơ thẩm ở nước này, ngoài hoạt động xét hỏi còn có các hoạt động khác mang tính chất điều tra Trước khi tiến hành hoạt động xét hỏi, công tố viên hỏi thì Công tố viên/ Tư tố viên công bố lời buộc tội và chứng minh lời buộc tội30 Chủ tọa phiên tòa có trách nhiệm điều khiển phiên tòa và áp dụng tất cả các biện pháp để bảo đảm cho sự tranh tụng bình đẳng giữa các bên31
Sau đó, chủ tọa hỏi bị cáo xem họ có hiểu nội dung buộc tội hay không, họ có nhận tội không và họ có cần bày tỏ thái độ với lời buộc tội không32 Việc công bố lời buộc tội trong phiên tòa hình sự sơ thẩm Nga giống với việc KSV trong phiên tòa hình sự sơ thẩm Việt Nam đọc bản cáo trạng trước khi bắt đầu xét hỏi Việc công bố lời buộc tội này giúp cho bị cáo biết mình bị buộc tội gì và là cơ sở cho việc tiến hành bào chữa của bên gỡ tội và việc xét xử của HĐXX Trong việc đưa ra chứng cứ tại tòa, pháp luật TTHS Nga quy định rất cụ thể, bên buộc tội có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ trước để xem xét rồi mới đến bên bào chữa Tuy nhiên, nếu vụ án
có nhiều bị cáo thì trình tự đưa ra chứng cứ của các bị cáo do Chủ tọa phiên tòa quyết định trên cơ sở ý kiến các bên Cách thức đưa ra chứng cứ như vậy sẽ đảm bảo quyền bình đẳng, dân chủ trong quá trình tranh tụng Điều 243 BLTTHS Liên bang Nga quy định, trách nhiệm của chủ tọa phiên tòa là điều khiển phiên tòa và áp dụng tất cả các biện pháp để đảm bảo tranh tụng và bình đẳng giữa các bên Quyền
bình đẳng của các bên được ghi nhận tại Điều 244: “Tại phiên tòa, bên buộc tội và
bên bào chữa bình đẳng về quyền đề nghị thay đổi người tham gia tố tụng và đưa ra
Trang 33các yêu cầu, đưa ra chứng cứ và tham gia vào việc xem xét chứng cứ, phát biểu khi tranh luận…” Đồng thời, yếu tố tranh tụng còn được thể hiện rõ ngay trong quy
định bị cáo không buộc phải đưa ra lời khai tại phiên tòa, điều này thể hiện “quyền
im lặng” trong pháp luật TTHS Nga Nếu bị cáo đồng ý đưa ra lời khai thì thủ tục
xét hỏi được tiến hành, bên bào chữa hỏi bị cáo trước, sau đó đến bên buộc tội, chủ tọa phiên tòa là người hỏi sau cùng Tòa án có quyền thay đổi trình tự xét hỏi bị cáo trong trường hợp vụ án có nhiều bị cáo và theo yêu cầu của một trong các bên33 Như vậy, theo pháp luật TTHS liên bang Nga thì bên bị buộc tội là người hỏi trước tiên đối với bị cáo, chủ tọa phiên tòa hỏi sau cùng mà không phải là bên buộc tội hoặc chủ tọa chịu trách nhiệm hỏi chính Theo pháp luật TTHS Nga chúng ta có thể thấy trách nhiệm xét hỏi được chia đều cho hai bên buộc tội và gỡ tội, tòa án là người hỏi sau cùng và có quyền không chấp nhận những câu hỏi có tính gợi ý, không liên quan đến vụ án Quy định này cho thấy tính tranh tụng rất cao trong TTHS Liên Bang Nga
Ngoài ra, Điều 277, Điều 278 BLTTHS Nga còn quy định việc xét hỏi đối với
bị hại và người làm chứng: bên nào yêu cầu triệu tập họ thì bên đó được tiến hành hỏi trước đối với họ, Thẩm phán là người tiến hành xét hỏi sau cùng Khi xét hỏi người làm chứng thì hỏi riêng từng người, không cho phép sự có mặt của những người làm chứng khác Tòa án không được tiết lộ những thông tin thực về nhân thân người làm chứng Việc giữ bí mật về lai lịch, nhân thân người làm chứng nhằm đảm bảo an toàn cũng như khuyến khích người dân tham gia làm chứng, bảo vệ công bằng và lẽ phải
Từ những căn cứ trên cho thấy, pháp luật TTHS Nga quy định xét hỏi theo trình tự: bị cáo, người làm chứng, người giám định…34 Khi hỏi bị cáo, bên bào chữa hỏi trước, sau đó công tố viên và những người tham gia xét xử thuộc bên buộc tội, Toà án hỏi sau cùng Đối với người làm chứng, bên yêu cầu triệu tập người làm chứng hỏi trước, sau đó đến các bên và Thẩm phán Đối với người giám định, sau khi công bố kết luận giám định, bên đã trưng cầu giám định hỏi trước, sau đó các bên có thể hỏi35
Tóm lại, với mô hình tố tụng pha trộn, TTHS Nga không chỉ khắc phục những khuyết điểm của mô hình tố tụng thẩm vấn như kém sinh động, “án tại hồ sơ”, nhập
Đức, Anh, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Nga, Trung Quốc)
Trang 34nhằng giữa các chức năng xét xử, buộc tội và gỡ tội, các quyền của bị cáo có thể không được bảo đảm bằng các quy định linh hoạt trong trình tự thủ tục xét hỏi, thực hiện nguyên tắc bình đẳng giữa các chủ thể tại phiên tòa, thẩm phán chủ tọa phiên tòa vừa là trọng tài vừa là người điều khiển phiên tòa giúp cho việc tranh tụng giữa các bên được bảo đảm Đây cũng là những điểm rất tiến bộ của TTHS Nga mà Việt Nam có thể học hỏi trong tương lai
Trang 35KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Thủ tục xét hỏi là trung tâm của phiên tòa xét xử VAHS, còn trình tự xét hỏi giúp cho thủ tục xét hỏi tại phiên tòa có thực hiện công tâm bảo đảm kết quả tranh luận và nghị án hiệu quả Chính vì vậy, ở Chương 1 tác giả đã làm rõ những vấn
đề sau:
Về khái niệm, trình tự xét hỏi là thủ tục được tiến hành công khai dưới sự điều
khiển của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa Thông qua việc đặt câu hỏi lần lượt của HĐXX, KSV, NBC và việc trả lời trực tiếp của những người tham gia tố tụng và những người có liên quan được triệu tập đến phiên tòa về những vấn đề liên quan đến vụ án, nhằm xem xét, đánh giá công khai, toàn diện về các chứng cứ, tài liệu đã
được thu thập trong giai đoạn điều tra và chứng cứ mới tại phiên tòa
Về đặc điểm, trình tự xét hỏi trong phiên tòa sơ thẩm VAHS có những đặc
điểm riêng – đây là cơ sở để phân biệt trình tự xét hỏi trong luật TTHS với trình tự
xét hỏi trong luật tố tụng dân sự và trình tự hỏi trong luật tố tụng hành chính: (i) trình tự xét hỏi được điều hành bởi Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, (ii) trình tự
xét hỏi trong luật TTHS Việt Nam là mô hình tố tụng pha trộn, (iii) trình tự xét hỏi được quy định chặt chẽ trong luật TTHS
Về ý nghĩa, thực hiện tốt trình tự xét hỏi sẽ góp phần: (i) trình tự xét hỏi chính
là khung pháp lý, là công cụ điều hành cần thiết của thủ tục xét hỏi; (ii) thực hiện đúng trình tự xét hỏi là góp phần phát huy vai trò của từng chủ thể tham gia xét hỏi, hướng đến mục tiêu làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án; (iii) áp dụng chặt chẽ trình tự xét hỏi sẽ bảo đảm quyền và lợi ích của người tham gia tố tụng; (iv) quy
định trình tự xét hỏi trong sơ thẩm VAHS đã bảo đảm tính đồng bộ và tính hệ thống
của khung pháp lý hình sự
Về cơ sở quy định trình tự xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm, thì cả về lý luận và
thực tiễn chúng ta đều cần quy định cụ thể và chặt chẽ về trình tự xét hỏi trong phiên tòa sơ thẩm VAHS Về lý luận (i), thủ tục xét hỏi đóng vai trò quan trọng trong việc xét xử VAHS Vì vậy, để thủ tục xét hỏi được diễn ra khoa học và thống nhất, bảo đảm sự công bằng cho những người tham gia tố tụng thì cần quy định chặt
chẽ trình tự xét hỏi; (ii) quy định cụ thể về trình tự xét hỏi trong TTHS là việc thực
hiện nghĩa vụ của quốc gia thành viên các công ước quốc tế về Nhân quyền của Việt Nam; (iii) quy định cụ thể về trình tự xét hỏi trong phiên tòa sơ thẩm VAHS là
để thể chế hóa quy định của Hiến pháp 2013 về quyền con người, quyền công dân,
Trang 36các nguyên tắc bảo đảm cho việc xét xử; (iv) việc quy định trình tự xét hỏi trong sơ
thẩm VAHS đã bảo đảm tính đồng bộ và tính hệ thống của khung pháp lý hình sự
Về cơ sở thực tiễn, thủ tục xét hỏi trong mô hình tố tụng pha trộn thiên về
thẩm vấn đã cho phép chúng ta kiểm soát được tình hình tội phạm, đảm bảo trật tự,
an toàn xã hội và đáp ứng yêu cầu đảm bảo dân chủ, quyền và lợi ích của con người Tuy nhiên, tranh tụng mới được thừa nhận ở nguyên tắc, chưa có cơ chế thực hiện nên tranh tụng tại phiên tòa còn nhiều hạn chế và không hiệu quả Các quy định của pháp luật vẫn còn mâu thuẫn, chồng chéo như quy định cho HĐXX thẩm quyền khởi tố vụ án, vẫn xét xử khi VKS rút toàn bộ quyết định truy tố…; vẫn còn thiếu các quy định đảm bảo cho sự bình đẳng giữa bên buộc tội và bên bào chữa khi tranh tụng Chính vì vậy, hoàn thiện cơ sở pháp luật chính là biện pháp tốt nhất đảm bảo an toàn và an ninh xã hội, quyền con người, quyền công dân
Về các nguyên tắc liên quan đến thủ tục tố tụng, “Bảo đảm quyền bình đẳng
trước pháp luật”, “nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm”; “Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” là những
nguyên tắc trọng tâm cần tuân thủ để trình tự xét hỏi được tiến hành đúng pháp luật
Về pháp luật tố tụng nước ngoài, TTHS Hoa Kỳ với đặc trưng của mô hình tố
tụng tranh tụng, tố tụng hình sự Pháp – điển hình của mô hình tố tụng thẩm vấn và
tố tụng hình sự Nga là sự pha trộn giữa mô hình tố tụng tranh tụng và tố tụng thẩm vấn chính là những mô hình tố tụng mà chúng ta cần nghiên cứu để xây dựng và hoàn thiện các quy định tố tụng hình sự nói chung và thủ tục xét hỏi nói riêng
Trang 37CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG VỀ
TRÌNH TỰ XÉT HỎI TẠI PHIÊN TÒA HÌNH SỰ SƠ THẨM
2.1 Quy định của pháp luật về trình tự xét hỏi trong phiên tòa hình sự
sơ thẩm
Pháp luật TTHS nước ta hình thành và phát triển gắn liền với lịch sử phát triển đất nước Sự thay đổi của các giai đoạn cách mạng là cơ sở chuyển đổi chính sách pháp luật Tuy nhiên, Luật TTHS phát triển thành một ngành luật độc lập và hoàn thiện được ghi nhận kể từ sau Cách mạng Tháng 8 năm 1945 Do lịch sử phát triển, thủ tục xét hỏi thay đổi theo pháp luật TTHS ở mỗi thời kỳ nên dẫn đến trình tự xét hỏi cũng có sự khác nhau
2.1.1 Quy định của pháp luật về trình tự xét hỏi trước Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988
Trước thời điểm năm 1988 - thời điểm BLTTHS Việt Nam đầu tiên được ban hành, trình tự xét hỏi được quy định rải rác tại các sắc lệnh, nghị định, thông tư, công văn
Sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, bộ máy tư pháp được tổ chức lại trên cơ sở quy định của một số văn bản pháp lý mới Các sắc lệnh lần lượt được ban hành để đáp ứng yêu cầu của hoạt động xét xử tội phạm giải quyết hậu quả chiến tranh và thích ứng trong tình hình mới: Sắc lệnh ngày 13/9/1945 về việc thành lập Tòa án quân sự, sau đó được bổ sung bằng Sắc lệnh số 21 ngày 14/02/1946, Sắc lệnh số 46 ngày 10/10/1945 về tổ chức đoàn thể luật sư, Sắc lệnh
số 13 ngày 24/01/1946, Sắc lệnh số 69/SL ngày 18/6/1949 được cụ thể hóa bằng Nghị định số 01/NĐ-VY ngày 12/01/1950 của Bộ Tư pháp về việc mở rộng quyền bào chữa Các sắc lệnh là cơ sở pháp lý quan trọng cho hoạt động xét xử nhưng qua thời gian áp dụng thì không còn phù hợp với tình hình phát triển dân chủ, đặt
ra yêu cầu cần có những cải cách nhất định về thủ tục tư pháp Sắc lệnh số 85 ngày 22/5/1950 đưa ra mục tiêu dân chủ hơn bộ máy tư pháp, đơn giản và hợp lý
hóa thủ tục tố tụng Theo đó, để thể hiện rõ nét tính dân chủ Sắc lệnh đổi “Tòa án
thường” thành “Tòa án nhân dân” Trình tự xét hỏi còn được thể hiện trong các
văn bản liên quan đến quyền bào chữa của bị can do hội nghị tư pháp thông qua 20/06/1956, Thông tư số 22-HCTP ngày 18/12/1957 của Bộ Tư pháp trả lời một
số điểm về quyền bào chữa
Trang 38Sau kháng chiến chống Pháp thắng lợi, miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội Năm 1958, Quốc hội quyết định thành lập Tòa án nhân dân tối cao và Tòa án địa phương, Viện công tố trung ương và Viện công tố các cấp Năm 1959, Hiến pháp mới được ban hành cùng với một loạt các luật thể chế hóa quy định của Hiến pháp Luật
Tổ chức Tòa án nhân dân (TAND) và Luật Tổ chức VKSND năm 1960 ban hành cũng trên cơ sở Hiến pháp này Ở miền Nam, sau giải phóng, chính phủ cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam ban hành sắc lệnh số 01-SL/67 ngày 15/3/1976 về tổ chức TAND Khi đất nước thống nhất thì hệ thống TAND và VKSND hoạt động theo Luật Tổ chức TAND và Luật Tổ chức VKSND năm 1960
Giai đoạn này, các thủ tục tố tụng được cụ thể tại Bản hướng dẫn trình tự sơ thẩm về
hình sự, kèm theo TT16-TATC ngày 17/9/1974 của TAND tối cao Sau đó, Hiến
pháp năm 1980 ra đời là cơ sở cho Luật Tổ chức TAND và Luật Tổ chức VKSND năm 1981 được ban hành trình tự xét hỏi trong giai đoạn này được tiến hành theo thứ tự: HĐXX hỏi trước, sau đó đến KSV, NBC, nguyên đơn dân sự Thủ tục xét hỏi được bắt đầu bằng việc công bố bản cáo trạng Tuy nhiên, theo Bản hướng dẫn, KSV tham gia phiên tòa không công bố mà Chủ tọa phiên tòa yêu cầu thư ký đọc bản cáo trạng Việc xét hỏi bắt đầu từ hỏi bị cáo, người bị hại, người làm chứng Tuy nhiên, việc xét hỏi do HĐXX hỏi chính, chủ yếu là chủ tọa phiên tòa thực hiện Trong quá
trình xét hỏi, “HĐXX phải lắng nghe những lời khai của bị cáo nhưng chủ tọa phiên
tòa phải kịp thời căn cứ vào những chứng cứ và lý lẽ vững chắc, vạch ra những điều
mà bị cáo khai không đúng, nhưng cần phải tránh việc tranh cãi tay đôi với bị cáo”
KSV chỉ hỏi lúc cần thiết “sau khi HĐXX hỏi xong mọi việc, thì chủ tọa phiên tòa
cần hỏi đại diện VKS và NBC có hỏi thêm gì không” Hoặc trường hợp bị cáo quanh
co chối cãi thì “nên yêu cầu VKS phát biểu thêm về vấn đề bị cáo còn chối cãi”36 Như vậy, TTHS nói chung và trình tự xét hỏi tại phiên tòa chưa được xây dựng thành văn bản thống nhất mà còn quy định rải rác trong nhiều văn bản Nội dung chưa toàn diện, có phần không đảm bảo tính khoa học, chẳng hạn thư ký là người đọc cáo trạng Tuy nhiên, trong điều kiện lịch sử của giai đoạn, quá trình phát triển trên cũng đã cho thấy sự quan tâm, nỗ lực rất lớn của Đảng, Nhà nước và các nhà lập pháp
2.1.2 Quy định của pháp luật về trình tự xét hỏi của Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988
Cùng với sự phát triển của pháp luật nói chung, với sự tiếp nhận những thành tựu,
ưu điểm trong pháp luật TTHS của một số nước tiên tiến trên thế giới, đánh dấu bằng
36
Tòa án nhân dân tối cao (1976), “Tập hệ thống hóa về luật tố tụng hình sự”, Hà Nội
Trang 39việc mở cửa hội nhập năm 1986, pháp luật TTHS Việt Nam có nhiều chuyển biến tích cực BLTTHS năm 1988 được thông qua tại kỳ họp thứ ba, Quốc hội khóa VIII là dấu mốc quan trọng lần đầu tiên thống nhất các quy định TTHS trong một văn bản pháp lý cao – Luật BLTTHS năm 1988 đã đưa ra các quy định về trình tự, thủ tục tiến hành các hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự tạo ra cơ chế pháp
lý nhất quán và hiệu quả để giải quyết VAHS Đồng thời với việc kế thừa các nguyên tắc tố tụng truyền thống trong Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980, các Luật Tổ chức TAND và Luật Tổ chức VKSND năm 1960, năm 1981;
Bộ luật này có nhiều quy định tiến bộ, điển hình là có nhiều nguyên tắc mới được ghi nhận như nguyên tắc không ai có thể bị coi là có tội nếu chưa có bản án kết tội đã có hiệu lực của Tòa án (Điều 10), nguyên tắc xác định sự thật của vụ án (Điều 11), nguyên tắc đảm bảo quyền bào chữa của bị can, bị cáo (Điều 12), nguyên tắc đảm bảo quyền bình đẳng trước Tòa án (Điều 20) và các quy định đảm bảo quyền của các chủ thể BLTTHS năm 1988 đã dành chương XIX, từ Điều 181 để quy định về thủ tục xét hỏi tại phiên tòa Theo đó, tại phiên tòa sơ thẩm, người hỏi bao gồm Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, HTND, KSV, NBC, người giám định Trình tự xét hỏi được tiến hành theo trình tự: HĐXX vẫn là người hỏi chính, sau đó HTND, KSV, NBC hỏi phụ (Khoản 2 Điều 181) Trong trường hợp vụ án có tính chất nghiêm trọng, phức tạp thì HĐXX có thể gồm hai Thẩm phán nhưng theo quy định về chủ thể hỏi thì chỉ đề cập đến chủ tọa phiên tòa, vậy Thẩm phán không phải chủ tọa phiên tòa có được hỏi không? Bên cạnh đó, những người tham gia phiên tòa cũng có quyền đề nghị với chủ toạ phiên toà hỏi thêm về những tình tiết cần làm sáng tỏ Tại Chương III, người tham gia tố tụng được ghi nhận gồm: bị can, bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền và lợi ích hợp pháp liên quan đến vụ án, người làm chứng, người giám định, người phiên dịch… được quyền đề nghị với chủ tọa phiên tòa hỏi thêm những tình tiết cần làm sáng tỏ Tuy nhiên, quyền hỏi của người bảo vệ quyền và lợi ích của đương sự thì chưa được BLTTHS năm 1988 ghi nhận mặc dù tại khoản 2 điều 181 BLTTHS năm 1988 đã quy định người giám định
được hỏi về những vấn đề có liên quan đến việc giám định
Như vậy, BLTTHS năm 1998 đã có nhiều quy định về thủ tục xét hỏi như chủ thể, nội dung, trình tự phục vụ cho hoạt động xét xử Tuy nhiên, xét về tổng thể thì
các quy định chưa đầy đủ và có nhiều điểm chưa hợp lý, chưa được ghi nhận
BLTTHS năm 1988 qua áp dụng thực tiễn bộc lộ nhiều bất cập nên được sửa đổi lần đầu tiên năm 1990 Ngày 22/12/1992, Quốc hội ban hành luật bổ sung, sửa
Trang 40đổi một số điều của BLTTHS dựa trên tinh thần của Hiến pháp năm 1992 Thể chế hóa Hiến pháp năm 1992, một số luật được ban hành gần đó: Luật TAND năm 1992; Luật Tổ chức VKSND năm 1992; Pháp lệnh về Thẩm phán và Hội thẩm năm 1993; Pháp lệnh về KSV năm 1993; Pháp lệnh về Tòa án quân sự năm 1993; Pháp lệnh về VKS quân sự năm 1993 Năm 2000, lần thứ ba BLTTHS năm 1988 được sửa đổi, bổ
sung nhiều quy định nhưng về thủ tục xét hỏi nhìn chung không thay đổi
2.1.3 Quy định của pháp luật về trình tự xét hỏi Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003
BLTTHS năm 1988 được ban hành và qua ba lần sửa đổi, bổ sung là cơ sở pháp lý quan trọng cho hoạt động giải quyết VAHS nhưng qua thực tiễn áp dụng bộc lộ nhiều bất cập đòi hỏi phải thay đổi cho phù hợp với tinh thần cải cách tư pháp của Nghị quyết số 08 - NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ chính trị, và đó là lý
do BLTTHS 2003 ra đời
Chủ thể xét hỏi là người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật TTHS, thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn luật định trong thủ tục xét hỏi tại phiên tòa để tìm ra sự thật khách quan của vụ án Theo quy định tại Khoản 2 Điều 207 BLTTHS năm 2003 thì chủ thể xét hỏi bao gồm hai nhóm: người tiến hành tố tụng là Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, HTND, KSV; người tham gia tố tụng là NBC, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự; người giám định Ngoài ra, những người tham gia phiên tòa khác cũng có quyền đề nghị chủ tọa phiên tòa hỏi những vấn đề,
tình tiết cần làm sáng tỏ
Cũng như BLTTHS năm 1988, BLTTHS năm 2003 cũng quy định trách
nhiệm của HĐXX là “phải xác định đầy đủ các tình tiết về từng sự việc và về từng
tội của vụ án theo thứ tự xét hỏi hợp lý”37 Điều này cho thấy, HĐXX có vai trò rất
quan trọng trong thủ tục xét hỏi tại phiên tòa Quy định này đã đặt lên vai HĐXX nghĩa vụ chứng minh tất cả các tình tiết buộc tội cũng như gỡ tội, phù hợp với nghĩa
vụ chứng minh vụ án của cơ quan tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng tại Điều 10 BLTTHS năm 2003 Theo đó, HĐXX phải làm rõ tất cả các vấn đề liên quan đến vụ án thông qua việc tích cực tham gia xét hỏi, kiểm tra chứng cứ tại phiên tòa Các quy định về trình tự xét hỏi và phạm vi nội dung xét hỏi cũng như thẩm quyền đối với các hoạt động khác trong thủ tục này là cơ sở pháp lý cho việc thực hiện và khẳng định vai trò trung tâm của HĐXX, biểu hiện cụ thể như sau:
37
Khoản 1 điều 181 BLTTHS 1988 và Khoản 1 Điều 207 BLTTHS 2003