1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo luật hình sự việt nam

77 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 2,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bố cục của Luận văn Bên cạnh phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được chia làm hai chương: Chương 1: Một số vấn đề chung về Tội lừa đảo chiếm đoạt t

Trang 1

NGUYỄN THỊ THU THỦY

TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ

ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU

TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2020

Trang 2

TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo luật hình

sự Việt Nam” là công trình nghiên cứu do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học

của TS Lê Tường Vy Kết quả nghiên cứu và những nội dung trong luận văn này là

trung thực và chưa từng được công bố trong những công trình nghiên cứu liên quan Trong quá trình nghiên cứu, luận văn có tham khảo, tiếp thu những quan điểm, ý kiến khoa học của những nhà nghiên cứu đi trước đã thực hiện Những thông tin này đều được trích dẫn nguồn một cách đầy đủ và trung thực trong luận văn

Tp Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2020

Tác giả luận văn

NGUYỄN THỊ THU THỦY

Trang 4

DANH MỤC CÁC TỪ NGỮ VIẾT TẮT

BLDS : Bộ luật Dân sư

BLHS : Bộ luật Hình sự BLTTHS : Bộ luật tố tụng Hình sự

CĐTS : Chiếm đoạt tài sản

TAND : Tòa án nhân dân

TANDTC : Tòa án nhân dân tối cao

TNHS : Trách nhiệm hình sự

TP HCM : Thành phố Hồ Chí Minh

XHCN : Xã hội chủ nghĩa

Trang 5

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN TRONG LUẬT HÌNH SỰ 9

1.1 Khái niệm và các dấu hiệu pháp lý của Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 9

1.1.1 Khái niệm Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 9

1.1.2 Dấu hiệu pháp lý của Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 12

1.1.3 Các dấu hiệu định khung hình phạt 15

1.2 Phân biệt Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong luật hình sự Việt Nam với một số tội phạm khác 17

1.2.1 Phân biệt Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174 BLHS) với Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 175 BLHS) 17

1.2.2 Phân biệt Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174 BLHS) với Tội lạm dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản (Điều 355 BLHS) 18

1.2.3 Phân biệt Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174 BLHS) với Tội lừa dối khách hàng (Điều 198 BLHS) 19

1.3 Lịch sử hình thành và phát triển của Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản từ năm 1945 đến nay 20

1.3.1 Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong luật hình sự Việt Nam từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến trước khi ban hành bộ luật Hình sự năm 1985 20 1.3.2 Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong Bộ luật Hình sự năm 1985 25

1.3.3 Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong Bộ luật Hình sự năm 1999 27

1.3.4 Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong Bộ luật Hình sự năm 2015 29

1.4 Pháp luật hình sự một số nước về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 30

1.4.1 Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong luật Hình sự Liên Bang Nga 30

1.4.2 Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong luật Hình sự Cộng hòa Liên bang Đức

32

Trang 6

1.4.3 Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong luật Hình sự Cộng hòa nhân dân Trung Hoa 34

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 36

CHƯƠNG 2 THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH VỀ TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN

TRONG LUẬT HÌNH SỰ ViỆT NAM 37

2.1 Thực trạng áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự hiện hành về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 37 2.2 Một số bất cập, vướng mắc trong quy định và áp dụng Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong Bộ luật hình sự hiện hành 40

2.2.1 Bất cập trong việc quy định và áp dụng một số dấu hiệu định tội danh đối với Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 40 2.2.2 Bất cập trong việc quyết định hình phạt đối với Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 49

2.3 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 51

2.3.1 Cơ sở và yêu cầu hoàn thiện quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 51 2.3.2 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của luật Hình sự Việt Nam về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 57

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 66 KẾT LUẬN CHUNG 67

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (CĐTS) được quy định tại Điều 139 Bộ luật hình sự (BLHS) 1999, trước đó là Tội lừa đảo CĐTS của công dân quy định tại Điều 157, Tội lừa đảo CĐTS xã hội chủ nghĩa (XHCN) quy định tại Điều 134 và Tội lợi dung chức vụ, quyền hạn lừa đảo CĐTS XHCN quy định tại Điều 134a BLHS 1985 Tới BLHS 2015, Tội lừa đảo CĐTS vẫn giữ nguyên tên gọi như BLHS

1999 và được quy định tại Điều 174

Từ lần đầu tiên được quy định đến nay, điều luật quy định Tội lừa đảo CĐTS

đã góp một phần công sức vào công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm, bảo vệ các quan hệ xã hội có nguy cơ bị xâm phạm

Nhưng như chúng ta đã biết, sự phát triển của kinh tế, xã hội đến một gia đoạn nhất định sẽ làm cho những quy định của pháp luật không còn phù hợp nữa, buộc phải có sự thay đổi Điều 174 BLHS Việt Nam năm 2015 không nằm ngoài quy luật đó

Về mặt lý luận cũng như thực tiễn, để xử lý loại tội phạm này còn nhiều khó khăn, vướng mắc và bất cập giữa cơ sở pháp lý và thực tiễn Vẫn còn tồn tại nhiều quan điểm đánh giá vận dụng khác nhau, do dấu hiệu định tội chưa được cụ thể, hướng dẫn chưa rõ ràng, có nhiều cách hiểu khác nhau dẫn đến việc áp dụng không thống nhất, gây nhiều tranh cãi Do đó không đảm bảo hiệu quả xét xử đúng người, đúng tội, không đảm bảo công bằng khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội

Với tình hình đất nước đang phát triển như hiện nay, việc xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN là một nhiệm vụ quan trọng, mà trong đó việc áp dụng pháp luật đúng đắn, phù hợp, đem lại hiệu quả là một yêu cầu tất yếu Để xây dựng được nhà nước pháp quyền XHCN đòi hỏi sự đồng bộ trong việc quy định các quy phạm pháp luật, theo đó việc hoàn thiện hệ thống pháp luật, hoàn thiện những điều luật còn bất cập là một nhiệm vụ vô cùng cấp bách

Để kịp thời đấu tranh phòng chống tội phạm, bảo vệ các quan hệ xã hội có nguy cơ bị xâm phạm, để việc áp dụng pháp luật được chính xác, mang lại hiệu quả trên thực tế, không bỏ lọt tội phạm, cũng không làm oan sai người vô tội; để

Trang 8

kịp thời hoàn thiện những khiếm khuyết của pháp luật; để tìm ra giải pháp khắc phục những khó khăn, vướng mắc của điều luật trong thực tiễn áp dụng hiện nay, cần thiết phải làm rõ nội dung và những vướng mắc của Tội lừa đảo CĐTS, thông qua đó sẽ tìm ra giải pháp hoàn thiện điều luật Từ những lý do đã nêu trên, tác giả xin được lựa chọn đề tài này để làm luận văn thạc sĩ chuyên ngành Luật Hình sự

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Thông qua quá trình nghiên cứu, tác giả nhận thấy liên quan trực tiếp đến Tội lừa đảo CĐTS đã có một số công trình nghiên cứu sau đây:

2.1 Nhóm các luận án, luận văn

Luận án tiến sĩ luật học của tác giả Nguyễn Ngọc Chí “Trách nhiệm hình sự

đối với các tội xâm phạm sở hữu”, Viện nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật, 2001

Công trình đã nguyên cứu về tội xâm phạm sở hữu một cách toàn diện có hệ thống, trên hai bình diện: tội phạm học và luật hình sự Luận án đã nhận xét, đánh giá về đặc điểm tình hình các tội xâm phạm sở hữu, phân tích một cách có hệ thống chính sách hình sự, nguyên tắc xử lý và các hình thức TNHS đối với các tội này trong đó

có Tội lừa đảo CĐTS

Luận án tiến sĩ “Đấu tranh, phòng chống tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản ở

Việt Nam” của tác giả Lê Đăng Danh, Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2008 Đây

là công trình được nghiên cứu dưới góc độ tội phạm học Trên cơ sở nghiên cứu một cách đầy đủ có hệ thống về tình hình Tội lừa đảo CĐTS từ năm 1996 đến 2006, tác giả đã đánh giá thực trạng, cơ cấu và tính chất cũng như xu hướng, diễn biến của loại Tội lừa đảo CĐTS trong giai đoạn hiện nay Phải thừa nhận rằng tác giả đã đưa

ra một bức tranh khá sống động về tình hình diễn biến của loại tội phạm lừa đảo trên cơ sở đó nhằm đưa ra các giải pháp đấu tranh, phòng chống tội phạm này Tuy nhiên, luận án này được nghiên cứu dưới góc độ tội phạm học nên tác giả chỉ tập trung nghiên cứu nguyên nhân, điều kiện phạm tội cũng như các giải pháp đấu tranh phòng chống tội phạm

Luận văn thạc sĩ “Phòng ngừa tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong

lĩnh vực ngân hàng trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh”, của tác giả Phạm Văn

Tuân, Trường Đại học luật TP Hồ Chí Minh, năm 2014 Đây là công trình nghiên cứu, bình luận về vấn đề phòng ngừa tội phạm lừa đảo CĐTS trong lĩnh vực ngân

Trang 9

hàng trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM) Trong đó có nêu lên các đặc điểm pháp lý của Tội lừa đảo CĐTS, tình hình tội phạm, nguyên nhân, điều kiện của tình hình tội phạm và đề ra các biện pháp phòng ngừa tội phạm lừa đảo CĐTS trong lĩnh vực ngân hàng trên địa bàn TP.HCM Tuy nhiên, nội dung của tác phẩm chỉ dừng lại ở góc độ nghiên cứu Tội lừa đảo CĐTS trong lĩnh vực ngân hàng và giới hạn trong địa bàn TP.HCM chứ không nghiên cứu bao quát, cụ thể Tội lừa đảo CĐTS nói chung Trên tinh thần tiếp thu các kết quả nghiên cứu trong tác phẩm này, tác giả sẽ tiếp tục phát triển, mở rộng để phân tích, đánh giá một cách đầy đủ, chi tiết hơn quy định của luật Hình sự về Tội lừa đảo CĐTS

Luận văn thạc sĩ “Đấu tranh phòng chống tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong lĩnh vực hoàn thuế giá trị gia tăng trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn”, của tác giả Nguyễn Thị Kim Dung, Trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh, năm 2007 Đây là công trình nghiên cứu đi sâu vào vấn đề lý luận và pháp lý về tội phạm lừa đảo CĐTS trong lĩnh vực hoàn thế giá trị gia tăng giới hạn phạm vi trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn, đồng thời cũng trình bày thực trạng và đưa ra những kiến nghị và giải pháp nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm này Tuy nhiên nội dung của tác phẩm chỉ giới hạn trong phạm vi địa bàn tỉnh Lạng Sơn và đi sâu nghiên cứu Tội lừa đảo CĐTS trong lĩnh vực hoàn thuế, không nghiên cứu tổng quát Tội lừa đảo CĐTS nói chung Trên tinh thần tiếp thu các kết quả nghiên cứu trong tác phẩm này, tác giả sẽ tiếp tục phát triển, mở rộng để phân tích, đánh giá một cách đầy đủ, toàn diện hơn quy định của luật Hình sự về Tội lừa đảo CĐTS, từ đó tìm ra những bất cập và đề xuất phương án khắc phục

Luận văn thạc sĩ “Đấu tranh phòng chống tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài

sản tại thành phố Hồ Chí Minh”, của tác giả Dương Thị Ngọc Thủy, Trường Đại

học Luật Tp Hồ Chí Minh, năm 2008 Đây là công trình nghiên cứu tập trung vào phân tích làm rõ những vấn đề lý luận liên qua đến Tội lừa đảo CĐTS, đánh giá được kết quả cũng như quá trình áp dụng các biện pháp phòng, chống Tội lừa đảo CĐTS của các cơ quan bảo vệ pháp luật từ đó rút ra được những kinh nghiệm, hạn chế, thiếu sót của hoạt động đấu tranh phòng chống tội phạm lừa đảo CĐTS trên địa bàn TP.HCM Trên cơ sở đó đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm Có thể thấy luận văn này tác giả chỉ đi sâu nghiên cứu vấn

đề đấu tranh phòng chống tội phạm giới hạn trong địa bàn TP.HCM, chưa nghiên cứu bao quát về Tội lừa đảo CĐTS trên địa bàn cả nước Trên cơ sở tiếp thu thành

Trang 10

tựu nghiên cứu của luận văn này tác giả sẽ đi sâu vào nghiên cứu tổng quát về Tội lừa đảo CĐTS trên phạm vi cả nước

Luận văn thạc sĩ “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong luật hình sự Việt Nam

trên cơ sở số liệu xét xử địa bàn thành phố Đà Nẵng”, của tác giả Ngô Thị Hạnh,

Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2016 Luận văn đi vào nghiên cứu vấn đề lý luận liên quan đến Tội lừa đảo CĐTS, đồng thời đưa ra những giải pháp hoàn thiện pháp luật trên cơ sở thực trạng, thực tiễn xét xử Tội lừa đảo CĐTS trên địa bàn thành phố

Đà Nẵng Có thể thấy luận văn đã đi vào nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến Tội lừa đảo CĐTS nhưng chỉ dựa trên số liệu trên địa bàn Thành phố Đà Nẵng Vì sự khác nhau về nguyên nhân và điều kiện phạm tội ở mỗi tỉnh trên cả nước nên việc giới hạn nghiên cứu trên một địa bàn nhất định khiến cho kết quả nghiên cứu chưa được bao quát, toàn diện

Luận văn thạc sĩ “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong pháp luật hình sự

Việt Nam” của tác giả Đặng Thị Thanh Huyền, Trường Đại học Luật Hà Nội, năm

2016 Luận văn này đã nghiên cứu và đưa ra những đánh giá toàn diện có hệ thống

về lý luận cũng như thực tiễn Tội lừa đảo CĐTS trên cơ sở BLHS 1999, đồng thời cũng đưa ra một số biện pháp đảm bảo thi hành quy định của BLHS về Tội lừa đảo CĐTS

Luận văn thạc sĩ “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản những vấn đề lý luận và

thực tiễn” của tác giả Trần Thị Phương Hiền, khoa Luật Đại học Quốc Gia, năm

2007 Luận văn đi sâu vào nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về Tội lừa đảo CĐTS theo BLHS 1999 trong giai đoạn 1998 đến 2006, từ đó chỉ ra những bất cập, thiếu sót trong quy định của BLHS 1999 và đưa ra những biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả phòng chống Tội lừa đảo CĐTS trong giai đoạn tiếp theo Do tình hình kinh tế xã hội trong giai đoạn hiện nay có nhiều thay đổi, BLHS 2015 đã được ban hành thay thế cho BLHS 1999 nên công trình nghiên cứu này không còn phù hợp nữa Trên tinh thần tiếp thu thành tựu nghiên cứu của luận văn này, tác giả sẽ tiếp tục nghiên cứu làm rõ các dấu hiệu pháp lý cũng như nguyên nhân làm phát sinh tội phạm lừa đảo CĐTS trong giai đoạn hiện nay

2.2 Nhóm các sách chuyên khảo, giáo trình

Những công trình nghiên cứu này mang tính chất phổ biến, cung cấp những

tri thức, lý luận cơ bản nhất liên quan đến đề tài nghiên cứu như:

Trang 11

Sách chuyên khảo: “Tội phạm học, luật hình sự và luật tố tụng hình sự Việt

Nam” do GS.TSKH Đào Trí Úc chủ biên, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1994;

“Tìm hiểu luật hình sự Việt Nam” của PGS.TS Kiều Đình Thụ, Nxb Thành phố Hồ

Chí Minh, 1996; “Cấu thành tội phạm, Chương VII” và “Chủ thể của tội phạm,

Chương X” Giáo trình luật hình sự Việt Nam, Phần Chung do GS.TSKH Lê Cảm

chủ biên, Khoa luật Đại học Quốc gia Hà Nội, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2001;

“Cấu thành tội phạm – lý luận và thực tiễn” của GS.TS Nguyễn Ngọc Hòa, Nxb Tư

pháp, Hà Nội, 2004; “Những vấn đề lý luận cơ bản về trách nhiệm hình sự” Các

nghiên cứu chuyên khảo về Phần chung luật hình sự, Tập III, của GS TSKH Lê

Cảm, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2000; Giáo trình luật hình sự Việt Nam (phần

các tội phạm) của Trường Đại học Huế xuất bản năm 2003 do GS.TS Võ Khánh

Vinh chủ biên; Giáo trình luật hình sự Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội, tái bản năm 2009, NXB Công an nhân dân của tập thể tác giả; Giáo trình luật hình sự

Việt Nam của Học viện Cảnh sát nhân dân, năm 2009 Gần đây nhất, nhà xuất bản

Khoa học xã hội đã xuất bản cuốn Giáo trình luật hình sự Việt Nam (phần chung và

phần các tội phạm) do GS.TS Võ Khánh Vinh chủ biên; Giáo trình luật hình sự Việt

Nam, tập II, của Trường Đại học Luật Hà Nội, nhà xuất bản Công an nhân dân -

2012; Giáo trình luật hình sự Việt Nam (phần các tội phạm – quyển 1) của Đại học Luật TP Hồ Chí Minh, nhà xuất bản Hồng Đức - 2013

2.3 Nhóm các bài viết trên các tạp chí chuyên ngành

- Bài viết “Một số nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội lừa đảo chiếm

đoạt tài sản trên địa bàn miền Đông Nam Bộ” của tác giả Bùi Thị Lan Hương,

Khoa học Kiểm sát, Trường đại dọc Kiểm sát Hà Nội, 2017, số 04 (17) , tr.42 -51

- Bài viết “G phạm tội gì, lừa đảo hay lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài

sản?” của tác giả Trần Quang Dương, tạp chí TAND điện tử ngày 16/11/2019

- Bài viết “Vờ mất xe để chiếm đoạt xe của người gửi, tội gì?” của tác giả

Phan Thành Nhân đăng trên Tạp chí TAND điện tử ngày 25/3/2020

- Bài viết “Bùi Văn A phạm tội gì?” của tác giả Phạm Quốc Kiệt đăng trên

Tạp chí TAND điện tử ngày 28/3/2020

- Bài viết “Phân biệt tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với một số tội phạm xâm

phạm sở hữu khác” của tác giả Triệu Thị Tuyết đăng trên Tạp chí TAND điện tử

ngày 3/10/2019

Trang 12

- Bài viết “Bàn về yếu tố chiếm đoạt tài sản trong các tội lạm dụng tín nhiệm

chiếm đoạt tài sản và lừa đảo chiếm đoạt tài sản” của tác giả Nguyễn Thị Phương

Thảo, Kiểm sát Số 9/2012, tr.52-54

- Bài viết “Tội lừa dối khách hàng (Điều 162) trong mối quan hệ với tội lừa

đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 139 BLHS)” của tác giả Lê Đăng Doanh, Tạp chí

TAND, 2004, Số 22, tr 11-14

- Bài viết “Hoàn thiện pháp luật trong phòng ngừa đấu tranh đối với tội lừa

đảo chiếm đoạt tài sản do người nước ngoài thực hiện ở Việt Nam” của tác giả Lê

Quang Thành, Nhà nước và Pháp luật, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam,

2015, số 7, tr.53-58

- Quyết định giám đốc thẩm số 02/2020/HS-GĐT ngày 13/2.2012 của hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao (TAND TC) về vụ án Võ Minh Chiến phạm

tội “ Lừa đảo, chiếm đoạt tài sản”, TAND TC, 2012, số 17, tr46-48

Các bài viết trên có ý nghĩa quan trọng trong việc làm rõ các yếu tố cấu thành tội phạm, phân biệt Tội lừa đảo CĐTS với các tội khác, nêu lên một phần nguyên nhân và điều kiện của tội phạm

Trên tinh thần tiếp thu các kết quả nghiên cứu trên đây, tác giả sẽ đi sâu vào phân tích làm sáng tỏ lý do tại sao nhà làm luật lại quy định dấu hiệu pháp lý và hình phạt cho Tội lừa đảo CĐTS và từ đó rút ra kết luận về sự phù hợp của quy định pháp luật với tình hình thực tiễn

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

- Phân tích, làm rõ những vấn đề mang tính chất lý luận về Tội lừa đảo CĐTS

- Đánh giá thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật về Tội lừa đảo CĐTS và chỉ ra những vấn đề còn tồn tại trong việc thực thi trên thực tế

- Đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về Tội lừa đảo CĐTS

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là pháp luật Việt Nam về Tội lừa đảo CĐTS

cụ thể là các vấn đề:

- Những vấn đề lý luận cơ bản về Tội lừa đảo CĐTS;

Trang 13

- Thực trạng quy định cũng như thực tiễn áp dụng pháp luật về Tội lừa đảo CĐTS

4.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài

Đề tài nghiên cứu những quy định của BLHS Việt Nam năm 2015 về Tội lừa đảo CĐTS Ngoài ra, tác giả còn nghiên cứu thực tiễn áp dụng các quy định về tội này

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài, tác giả sử dụng các phương pháp sau: phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp lịch sử, phương pháp thống kê

Thứ nhất, phương pháp phân tích và phương pháp tổng hợp là hai phương

pháp chủ đạo, được sử dụng để phân tích các vấn đề lý luận cũng như quy định của pháp luật liên quan đến Tội lừa đảo CĐTS; tổng hợp, phân tích các vấn đề pháp lý

có liên quan Ngoài ra, tác giả sử dụng phương pháp tổng hợp để tóm tắt nội dung của mỗi chương và đưa ra kết luận chung cho toàn luận văn

Thứ hai, phương pháp so sánh: được sử dụng để đánh giá các quy định pháp

luật về Tội lừa đảo CĐTS qua các thời kỳ cũng như đối chiếu với pháp luật của một

số quốc gia liên quan đến tội này để rút ra kinh nghiệm cho Việt Nam

Thứ ba, phương pháp lịch sử: Phương pháp này được sử dụng để làm rõ sự

hình thành và phát triển của Tội lừa đảo CĐTS trong luật hình sự Việt Nam từ sau Cách mạng Tháng Tám đến nay

Thứ tư, phương pháp thống kê: Phương pháp này được sử dụng để làm rõ

tình hình xử lý hình sự đối với Tội lừa đảo CĐTS

6 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài

Các kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là một tài liệu có giá trị cho những ai muốn nghiên cứu, tìm hiểu sâu hơn về Tội lừa đảo CĐTS Quá trình nghiên cứu, tác giả sẽ phân tích và làm rõ trong đề tài những vấn đề pháp lý về Tội lừa đảo CĐTS Bên cạnh đó, tác giả sẽ chỉ ra những bất cập, nguyên nhân cũng như đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật về tội này Do đó, nội dung của đề tài còn là một cơ sở dữ liệu có giá trị tham khảo, góp phần phổ biến kiến thức pháp lý cho sinh viên, học viên, nhà nghiên cứu cũng như những người làm công tác thực tiễn khi áp dụng tội này trong thực tế

Trang 14

7 Bố cục của Luận văn

Bên cạnh phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được chia làm hai chương:

Chương 1: Một số vấn đề chung về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong

Luật hình sự

Chương 2: Thực tiễn áp dụng pháp luật và kiến nghị nhằm hoàn thiện quy

định của pháp luật về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong Luật hình sự Việt Nam

Trang 15

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN TRONG LUẬT HÌNH SỰ 1.1 Khái niệm và các dấu hiệu pháp lý của Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1.1.1 Khái niệm Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Để có thể đưa ra một khái niệm đầy đủ, chính xác về Tội lừa đảo CĐTS, chúng

ta cần làm rõ định nghĩa về tội này trong các tài liệu khoa học Theo từ điển bách

khoa toàn thư Việt Nam: “Lừa đảo là dùng thủ đoạn gian dối đánh lừa người khác

để mưu lợi Thủ đoạn gian dối rất đa dạng, nhằm giấu giếm nội dung sai thật (ít, nhiều hoặc hoàn toàn) làm cho người khác tin, nhầm, tưởng giả là thật để chiếm đoạt tài sản, tiền bạc, thu lợi vật chất hoặc che giấu một việc làm xấu Sự lừa đảo được thực hiện trước hoặc liền ngay với hành động chiếm đoạt, nó thể dưới nhiều hình thức khác nhau: nói dối, dùng giấy tờ giả mạo, giả danh người có chức có quyền.” 1

Giáo trình Luật hình sự Việt Nam của trường Đại học Luật TP.Hồ Chí Minh

“Lừa đảo CĐTS hành vi CĐTS của người khác bằng thủ đoạn gian dối… ” 2

Giáo trình Luật hình sự Việt Nam của trường Đại học Luật Hà Nội định nghĩa:

“Lừa đảo CĐTS là hành vi CĐTS của người khác bằng thủ đoạn gian dối…” 3

Tội lừa đảo CĐTS được quy định tại Điều 139, tại Chương các tội phạm xâm phạm sở hữu (Chương XIV) BLHS 1999 và được quy định tại Điều 174 BLHS

2015 Tội phạm này là tội phạm có tính chất chiếm đoạt, nghĩa là người có hành vi lừa đảo đã cố ý chuyển dịch bất hợp pháp tài sản (là đối tượng tác động của tội phạm) từ người khác thành tài sản của mình Thủ đoạn của việc chiếm đoạt đó là

Trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh (2013), Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam (Phần các tội phạm),

Quyển 1, NXB Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, tr 195

3

Trường Đại học Lật Hà Nội (2018), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần các tội phạm), Quyển 1, NXB

Công an nhân dân, Hà Nội, tr 214

Trang 16

Để đưa ra được khái niệm đầy đủ về Tội lừa đảo CĐTS, trước hết phải đảm bảo khái niệm Tôi lừa đảo CĐTS phải thỏa mãn được các dấu hiệu của khái niệm

tội phạm được quy định tại Điều 8 BLHS Trong khoa học pháp lý hình sự, “tội

phạm được hiểu là hành vi nguy hiểm cho xã hội, có lỗi, trái pháp luật hình sự và phải chịu hình phạt” 4

Trên cơ sở đó, chúng ta có thể đưa ra khái niệm về Tội lừa đảo CĐTS như sau:

Tội lừa đảo CĐTS là hành vi dùng thủ đoạn gian dối CĐTS thuộc quyền sở hữu của người khác, do người có năng lực chịu TNHS và đủ tuổi chịu TNHS thực hiện dưới hình thức lỗi cố ý

Với tư cách là mội tội phạm, Tội lừa đảo CĐTS có đầy đủ các dấu hiệu đặc trưng của tội phạm:

- Thứ nhất, Tội lừa đảo CĐTS có tính nguy hiểm đáng kể cho xã hội

Hành vi đó sở dĩ bị quy định trong luật hình sự là tội phạm và phải chịu TNHS vì nó có tính nguy hiểm cho xã hội Có thể thấy tính nguy hiểm cho xã hội

là dấu hiệu đầu tiên và quan trọng nhất, chi phối những dấu hiệu khác của tội phạm Xét về mặt khách quan, hành vi có tính nguy hiểm cho xã hội là hành vi đã gây ra thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hoại cho các quan hệ xã hội được luật hình

sự bảo vệ Tính nguy hiểm của Tội lừa đảo CĐTS được thể hiện ở chỗ nó gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho quyền sở hữu tài sản của chủ sở hữu tài sản Tính nguy hiểm cho xã hội được xác định qua các yếu tố như: Động cơ, mục đích, thủ đoạn phạm tội, thiệt hại về tài sản do hành vi phạm tội gây ra, nhân thân của người

phạm tội…

Để bị coi là tội phạm thì một hành vi có tính nguy hiểm cho xã hội thôi là chưa đủ mà phải xem xét đến mức độ nguy hiểm của hành vi đó Khoản 2 Điều 8 BLHS 2015 quy định: “Những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể thì không phải là tội phạm và được xử

lý bằng các biện pháp khác” Chính vì vậy hành vi lừa đảo CĐTS phải thỏa mãn tính nguy hiểm đáng kể mà BLHS quy định thì mới bị coi là tội phạm Nếu không thì chỉ bị xử lý theo quy định của pháp luật Hành chính, Dân sự hoặc được coi là

vô tội

4

Trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh (2012), Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam - Phần chung, NXB

Hồng Đức, Hội Luật gia Việt Nam, tr 60

Trang 17

Đặc điểm này có ý nghĩa rất quan trọng về mặt lý luận là khi hoàn thiện các dấu hiệu định tội của Tội lừa đảo CĐTS phải đảm bảo yêu cầu là cấu thành cơ bản

Tội lừa đảo CĐTS phải có tính nguy hiểm đáng kể cho xã hội

- Thứ hai, Tội lừa đảo CĐTS phải có lỗi

Lỗi là thái độ tâm lý của một người đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội của mình đối với hậu quả do hành vi đó gây ra được biểu hiện dưới hình thức cố ý hoặc

vô ý.5 Một hành vi được coi là có lỗi khi thảo mãn 2 điều kiện Thứ nhất, hành vi trái pháp luật hình sự xâm phạm tới khách thể mà luật hình sự bảo vệ Thứ 2 hành vi đó

là kết quả của sự tự lựa chọn và quyết định của người thực hiện hành vi, trong một trường hợp cụ thể người thực hiện hành vi có điều kiện lựa chọn và quyết định xử sự khác không trái pháp luật nhưng lại không lựa chọn đúng mà quyết định thực hiện hành vi trái pháp luật hình sự Để xác định một người có đang thực hiện hành vi phạm tội hay không ta phải xác định tính có lỗi của tội phạm Lỗi là một yếu tố quan trọng để phân biệt tội phạm, là yếu tố bên trong, nguyên nhân chủ quan của tội phạm

Đặc điểm này đòi hỏi khi hoàn thiện các dấu hiệu định tội của Tội lừa đảo CĐTS phải đảm bảo yêu cầu là phải thể hiện cho được lỗi của Tội lừa đảo CĐTS trong cấu thành cơ bản chỉ là lỗi cố ý trực tiếp; trường hợp hỗ hợp lỗi (nếu có) chỉ

có trong cấu thành tội phạm tăng nặng

- Thứ ba, Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có tính trái pháp luật

Theo quy định tại khoản 1 Điều 8 của BLHS năm 2015 thì hành vi nguy hiểm cho xã hội chỉ có thể bị coi là tội phạm nếu hành vi đó “được quy định trong BLHS…” và Điều 2 BLHS 2015 quy định: “Chỉ người nào phạm một tội đã được BLHS quy định mới phải chịu TNHS” Để tuân thủ nguyên tắc pháp chế thì tính trái pháp luật của Tội lừa đảo CĐTS phải quy định trong luật hình sự Tội lừa đảo CĐTS là một tội phạm được quy định trong BLHS, Điều 174 BLHS năm 2015, nên khi một người thực hiện hành vi lừa đảo CĐTS gây nguy hiểm đáng kể cho xã hội thì hành vi đó là trái pháp luật hình sự và người thực hiện hành vi phải chịu TNHS

- Thứ tư, Tội lừa đảo CĐTS có tính phải chịu hình phạt

Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nhà nước nghiêm khắc nhất được luật hình

sự quy định và do Tòa án áp dụng có nội dung tước bỏ một số quyền hoặc tài sản

5

Trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh (2012), tlđd (4), tr 153

Trang 18

của người phạm tội nhằm trừng trị, giáo dục, răn đe người phạm tội không tái phạm

và giáo dục những người khác tôn trọng pháp luật Chỉ có những hành vi vi phạm những quy định của BLHS mới phải chịu hình phạt Tính chịu hình phạt của Tội lừa đảo CĐTS thể hiện ở chỗ nó luôn bị đe dọa phải chịu hình phạt khi hành vi vi phạm pháp luật hình sự được thực hiện Tội lừa đảo CĐTS là một tội phạm được quy định tại Điều 174 BLHS năm 2015 nên khi một người phạm Tội lừa đảo CĐTS thì phải chịu hình phạt theo quy định của BLHS đã ghi nhận Hình phạt đối với hành vi lừa đảo CĐTS chính là hình thức thể hiện bản chất nguy hiểm của Tội lừa đảo CĐTS, thể hiện tính cưỡng chế nhà nước nghiêm khắc nhất nhằm răn đe và phòng ngừa đối với loại hành vi nguy hiểm đáng kể này

Như vậy, Tội lừa đảo CĐTS có đầy đủ các dấu hiệu chung của tội phạm, đây

là tiền đề quan trọng để Luận văn phân tích các dấu hiệu pháp lý của tội này

1.1.2 Dấu hiệu pháp lý của Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1.1.2.1 Khách thể của Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Khách thể của tội phạm nói chung “là hệ thống các quan hệ xã hội được luật

hình sự bảo vệ và bị các tội phạm xâm hại”6 Khách thể của tội phạm là yếu tố bắt buộc, không thể thiếu trong cấu thành tội phạm Khách thể trực tiếp của Tội lừa đảo CĐTS là quyền sở hữu tài sản, cụ thể là các quyền: chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản của chủ sở hữu tài sản đối với tài sản bị chiếm đoạt

Khi nghiên cứu khách thể của Tội lừa đảo CĐTS không thể không đề cập đến đối tượng tác động của tội phạm Đối tượng tác động của Tội lừa đảo CĐTS là tài sản Tài sản theo quy đinh của Bộ luật dân sự gồm: Tiền, vật, giấy tờ có giá và quyền về tài sản

Tiền là một công cụ dùng để đo lường và biểu hiện giá trị của tất cả các loại hàng hóa khác Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015 quy định tiền là một loại tài sản nhưng lại không có quy định để làm rõ bản chất pháp lý của tiền Chỉ có loại tiền có giá trị đang được lưu hành trên thực tế, tức là được pháp luật thừa nhận, mới được coi là tài sản

Vật là bộ phận của thế giới vật chất, nó tồn tại khách quan không phụ thuộc vào ý chí của con người, con người có thể cảm nhận bằng giác quan của mình Tuy

6

Đại học Luật TP Hồ Chí Minh (2016), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam – Phần chung, NXB Hồng Đức –

Hội luật gia Việt Nam, TP Hồ Chí Minh

Trang 19

nhiên không phải bất cứ bộ phận nào của thế giới vật chất đều được coi là vật trong dân sự Đối tượng của Tội lừa đảo CĐTS là vật có giá trị, nhưng toàn bộ hay một phần giá trị đó đã được đầu tư sức lao động của con người, là thước đo giá trị lao động con người kết tinh, đồng thời phải thỏa mãn được nhu cầu về vật chất và tinh thần của con người Vật muốn trở thành tài sản trong luật dân sự phải thỏa mãn những điều kiện sau: (1) là bộ phận của thế giới vật chất; (2) con người chiếm hữu được; (3) mang lại lợi ích cho chủ thể; (4) có thể đang tồn tại hoặc sẽ hình thành trong tương lai

Giấy tờ có giá: Giấy tờ có giá được hiểu là giấy tờ trị giá được bằng tiền và chuyển giao được trong giao lưu dân sự Giấy tờ có giá hiện nay tồn tại dưới nhiều dạng khác nhau như séc, cổ phiếu, tín phiếu, hồi phiếu, kỳ phiếu, công trái… Xét về mặt hình thức giấy tờ có giá là một chứng chỉ được lập theo hình thức, trình tự luật định Giấy tờ có giá chỉ là đối tượng của tôi xâm phạm sở hữu khi nó vô danh

Quyền tài sản: Quyền tài sản theo định nghĩa tại Điều 115 BLDS năm 2015 thì quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác Quyền tài sản hiểu theo nghĩa rộng là quyền của tổ chức, cá nhân được pháp luật công nhận, cho phép thực hiện hành vi xử sự đối với tài sản của mình Xét theo ý nghĩa này, quyền tài sản cũng là một loại tài sản

1.1.1.2 Mặt khách quan của tội phạm

Hành vi khách quan của Tội lừa đảo CĐTS là hành vi dùng thủ đoạn gian dối

để CĐTS mà ngay lúc đó người bị chiếm đoạt không nhận ra hành vi gian dối Dùng thủ đoạn gian dối là việc đưa ra một thông tin giả nhưng người khác lại tin đó

là thật Việc đưa ra thông tin giả có thể bằng nhiều cách khác nhau như thể hiện bằng lời nói, chữ viết, văn bản giấy tờ, hình ảnh, hành động hoặc kết hợp nhiều cách với nhau

Do đặc điểm riêng của Tội lừa đảo CĐTS, nên người phạm tội chỉ có một hành vi khách quan duy nhất là “chiếm đoạt”, nhưng việc chiếm đoạt phải bằng thủ đoạn gian dối chứ không phải bằng thủ đoạn lén lút hay nhanh chóng tẩu thoát Thủ đoạn gian dối phải biểu hiện ra hành vi thực tế chứ không dừng lại trong suy nghĩ

Đặc điểm nổi bật của Tội lừa đảo CĐTS chính là thủ đoạn gian dối của

người phạm tội phải có trước hành vi chiếm đoạt và là nguyên nhân trực tiếp khiến

Trang 20

người bị hại tin tưởng mà giao tài sản cho người phạm tội Thủ đoạn gian dối luôn luôn phải có trước việc CĐTS, nếu thủ đoạn gian dối được sử dụng sau khi CĐTS thì tùy từng trường hợp sẽ cấu thành các tội phạm khác không phải Tội lừa đảo CĐTS Thực tế, để xác định hành vi gian dối, thường căn cứ vào các chứng từ, tài liệu, giấy tờ giả (như Hợp đồng mua bán, Giấy chứng nhận sở hữu nhà, đất, giấy vay tiền…) mà đối tượng dùng để tạo niềm tin cho chủ tài sản, làm cho chủ tài sản tin và giao tài sản Ví dụ: Trong các vụ án lừa đảo tín dụng Ngân hàng, đối tượng phạm tội thường làm giả giấy tờ như: chứng minh nhân dân, hộ khẩu, giấy phép kinh doanh, bằng lái xe, hợp đồng lao động, giấy tờ chứng minh thu nhập khác, để được vay vốn sau đó CĐTS

Đây cũng là đặc điểm để phân biệt Tội lừa đảo CĐTS và Tội lạm dụng tín nhiệm CĐTS Người phạm tội sử dụng thủ đoạn gian dối, chiếm được lòng tin để chủ tài sản hoặc người quản lý tài sản tin tưởng tự nguyện giao tài sản cho người phạm tội Còn đối với Tội lạm dụng tín nhiệm CĐTS người phạm tội có được tài sản một cách ngay thẳng do người sở hữu hoặc quản lý tài sản giao cho nhưng sau

đó dùng thủ đoạn gian dối để không trả lại tài sản

Hậu quả của tội phạm là tài sản bị chiếm đoạt có giá trị từ hai triệu đồng trở lên hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội CĐTS chưa được xóa án tích mà còn vi phạm Giữa hành vi lừa đảo CĐTS và hậu quả về vật chất bắt buộc phải tồn tại mối quan hệ nhân quả

1.1.1.3 Mặt chủ quan của tội phạm

Người phạm Tội lừa đảo CĐTS có lỗi cố ý trực tiếp, khi thực hiện hành vi họ

ý thức được hậu quả của hành vi của mình và mong muốn hậu quả đó xảy ra mặc dù trong điều kiện có thể lựa chọn cách thức xử sự khác không vi phạm pháp luật nhưng lại cố tình lựa chọn thực hiện hành vi phạm tội Mục đích và động cơ phạm tội không được coi là dấu hiệu định tội của Tội lừa đảo CĐTS

1.1.1.4 Chủ thể của tội phạm

Chủ thể của Tội lừa đảo CĐTS phải thảo mãn cả hai điều kiện đó là đủ tuổi chịu TNHS và có năng lực TNHS Theo quy định tại điều 12 BLHS 2015 về tuổi chịu TNHS thì đối với Tội lừa đảo CĐTS, chủ thể của tội phạm không phải là người

từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi Tức là nếu từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thì không

Trang 21

phải chịu TNHS về Tội lừa đảo CĐTS mà chỉ có người trên 16 tuổi mới phải chịu TNHS về tội này

1.1.3 Các dấu hiệu định khung hình phạt

Điều 174 BLHS quy định bốn khung hình phạt cụ thể:

Khoản 1 Điều 174 BLHS quy định hình phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm, áp dụng cho người phạm phạm tội ở khung cơ bản, không có tình tiết định khung tăng nặng TNHS

Tại điểm d Khoản 1 Điều 174 BLHS quy định “tài sản là phương tiện kiếm

sống chính của người bị hại và gia đình họ” đây là một quy định mới được đưa vào

BLHS 2015 Theo như Từ điển Tiếng Việt định nghĩa, phương tiện là: “cái dùng để

làm một việc gì, để đạt một mục đích nào đó” 7 Một phương tiện được xem là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ khi thu nhập chủ yếu của người bị hại và gia đình có được là do sử dụng phương tiện này tạo ra Ví dụ: phương tiện kiếm sống chính của người chạy xe taxi là chiếc ô tô của họ; của người chạy xe ôm là chiếc xe máy; phương tiện của người bán bánh mỳ dạo là chiếc xe đẩy bán bánh mỳ; phương tiện của người thợ may là chiếc máy may, khi một tài sản được xem là phương tiện kiếm sống chính thì tài sản đó phải có một vai trò rất quan trọng đối với người bị hại và gia đình họ bởi vì nguồn thu nhập chính cho cuộc sống của họ và gia đình đều từ phương tiện này mà ra Các nhà làm luật cho rằng hành vi lừa đảo CĐTS này không chỉ tác động đến mối quan hệ sở hữu mà còn tác động đến nguồn thu nhập chính, làm ảnh hưởng rất lớn đến đời sống của người bị hại khiến cho họ lâm vào tình trạng đặc biệt khó khăn khi mất đi phương tiện tạo ra nguồn thu nhập chính Do đó pháp luật đã quy định trường hợp này thành trường hợp đặc biệt không bị lệ thuộc vào định lượng tối thiểu

Khoản 2 Điều 174 BLHS quy định phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai đến bảy năm: Có tổ chức; có tính chất chuyên nghiệp; chiếm đoạt tài sản có trị giá từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng; tái phạm nguy hiểm; lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức; dùng thủ đoạn xảo quyệt

Điểm đ khoản 2 Điều 174 BLHS quy định tình tiết định khung tăng nặng “lợi

dụng chức vụ, quyền hạn, lợi dụng danh nghĩa cơ quan tổ chức” Hành vi dùng thủ

7

Viện Khoa học xã hội Việt Nam (1992), Từ điển Tiếng Việt, Trung tâm Từ điển ngôn ngữ học, TP Hồ Chí Minh

Trang 22

đoạn gian dối CĐTS được thực hiện dựa trên chức vụ, quyền hạn của người phạm tội làm người khác tin tưởng rồi đưa ra thông tin gian dối, làm người khác tin là thật nhằm CĐTS của người khác Việc lợi dụng chức vụ quyền hạn trong trường hợp này không đòi hỏi người phạm tội sử dụng đến chức vụ, quyền hạn của mình trong khi thi hành công vụ để lừa dối người khác nhằm CĐTS, mà chỉ cần người phạm tội dựa trên uy tín của chức vụ quyền hạn làm người khác tin tưởng giao tài sản cho người phạm tội thì đã đủ cấu thành Tội lừa đảo CĐTS với tình tiết định khung tăng nặng lợi dụng chức vụ, quyền hạn,lợi dụng danh nghĩa cơ quan tổ chức

Điểm e khoản 2 Điều 174 BLHS quy định tình tiết định khung tăng nặng

“dùng thủ đoạn xảo quyệt” Thủ đoạn xảo quyệt ở đây có thể hiểu là “cách thức thực hiện hành vi phạm tội gian dối, thâm hiểm khiến người khác khó lường trước

để đề phòng” 8

Người phạm tội chỉ bị áp dụng tình tiết định khung tăng nặng dùng thủ đoạn xảo quyệt khi thủ đoạn xảo quyệt được sử dụng trong khi thực hiện tội phạm Còn nếu sau khi thực hiện hành vi phạm tội người phạm tội mới dùng thủ đoạn xảo quyệt thì áp dụng tình tiết tăng nặng tại điểm t khoản 1 Điều 52 BLHS

2015: “Có hành động xảo quyệt hoặc hung hãn nhằm che dấu tội phạm” Vì không

thể lấy thủ đoạn xảo quyệt được thực hiện sau khi tội phạm hoàn thành để định khung cho hành vi không được thực hiện bằng thủ đoạn đó

Khoản 3 Điều 174 BLHS quy định: Chiếm đoạt tài sản trị giá từ hai trăm triệu đến dưới năm trăm triệu đồng hoặc lợi dụng thiên tai dịch bệnh thì bị phạt tù

từ bảy đến mười lăm năm

Điểm c khoản 3 Điều 174 BLHS quy định tình tiết định khung tăng nặng:

“Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh” Theo từ điển tiếng việt dịch bệnh được hiểu là:

“Sự xuất hiện và lây lan bệnh truyền nhiễm với số người mắc bệnh vượt quá với số người mắc bệnh dự tính bình thường trong một khoảng thời gian xác định ở một khu vực nhất định” 9 Tình tiết định khung này là một quy định mới so với BLHS

1999 bởi thiên tai, dịch bệnh là hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, việc lợi dụng hoàn cảnh này để phạm tội là một hành vi đáng lên án về mặt đạo đức và phải nghiêm trị

về mặt pháp luật Để có thể xác định được hành vi có thuộc tình tiết định khung tăng nặng này hay không cần xem xét hoàn cảnh thực hiện hành vi lừa đảo khi lừa

Trang 23

đảo CĐTS có trong thời điểm thiên tai dịch bệnh hay không và người phạm tội có ý thức lợi dụng những khó khăn của hoàn cảnh thiên tai dịch bệnh để thực hiện hành

vi phạm tội hay không Nếu người phạm tội ở trong hoàn cảnh thiên tai dịch bệnh nhưng không lợi dụng tình huống này để lừa đảo CĐTS thì không phải tình tiết định khung tăng nặng tại điểm c khoàn 3 Điều 174 BLHS 2015 Mức độ tăng nặng trách nhiệm hình sự phụ thuộc vào mức độ lợi dụng hoàn cảnh thiên tai dịch bệnh để phạm tội và giá trị tài sản chiếm đoạt được

Khoản 4 Điều 174 BLHS quy định: Chiếm đoạt tài sản trị giá từ năm trăm triệu đồng trở lên hoặc lợi dụng chiến tranh, tình trạng khẩn cấp thì bị phạt tù từ mười hai đến hai mươi năm tù hoặc tù chung thân

Ngoài ra, người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền

từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản

1.2 Phân biệt Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong luật hình sự Việt Nam với một số tội phạm khác

1.2.1 Phân biệt Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174 BLHS) với Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 175 BLHS)

Lạm dụng tín nhiệm CĐTS là hành vi chiếm đoạt toàn bộ hoặc một phần tài sản sau khi đã vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để CĐTS đó, hoặc sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản bị chiếm đoạt10 Tội lừa đảo CĐTS với Tội lạm dụng tín nhiệm CĐTS có yếu tố khách thể, mặt chủ quan và chủ thể giống nhau, chỉ khác nhau ở mặt khách quan Do vậy chỉ có thể phân biệt hai tội này thông qua mặt khách quan, cụ thể là hành vi khách quan

Hành vi của 2 tội đều là hành vi dùng thủ đoạn "gian dối" và "CĐTS" (dựa trên sự tín nhiệm) của nạn nhân Tuy nhiên, thời điểm xuất hiện thủ đoạn gian dối là khác nhau: Đối với Tội lừa đảo CĐTS (Điều 174): Thủ đoạn gian dối diễn ra ngay

từ đầu, người phạm tội đưa ra những thông tin không đúng để làm cho người sở hữu

10

Trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh (2013), tlđd (2), tr 198

Trang 24

hoặc quản lý tài sản tin tưởng mà giao tài sản cho người phạm tội Hành vi dùng thủ đoạn gian dối xuất hiện trước hành vi chiếm đoạt Đối với Tội lạm dụng tín nhiệm (Điều 175): Việc giao nhận tài sản giữa người phạm tội và người sở hữu hoặc quản

lý tài sản dựa trên hợp đồng (vay, mượn, thuê…) và sự tín nhiệm (người quen biết…) Sau khi có được tài sản mới dùng thủ đoạn gian dối như đánh tráo, gian dối

là bị mất hoặc bỏ trốn để không phải trả lại tài sản do không có khả năng trả lại tài sản hoặc có khả năng trả nhưng cố tình không muốn trả

1.2.2 Phân biệt Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174 BLHS) với Tội lạm dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản (Điều 355 BLHS)

Tội lạm dụng chức vụ quyền hạn CĐTS là hành vi của người có chức vụ quyền hạn đã vượt ra ngoài phạm vi quyền hạn của mình CĐTS của người khác.11Tội lạm dụng chức vụ quyền hạn CĐTS được quy định tại Điều 355 BLHS 2015 Hành vi khách quan của tội này là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn thực hiện hành vi vượt ra khỏi khả năng, phạm vi quyền hạn của mình trong quá trình thi hành công vụ nhằm CĐTS của người khác thể hiện bằng các thủ đoạn như: Lạm dụng chức vụ quyền hạn uy hiếp, đe dọa người khác để CĐTS, lạm dụng chức vụ quyền hạn làm cho người khác tin tưởng giao tài sản nhưng sau đó cố tình không trả lại tài sản.Tội lạm dụng chức vụ quyền hạn CĐTS và Tội lừa đảo CĐTS giống nhau

về những điểm đều thực hiện dưới lỗi cố ý, chủ thể của hai tội trên đều là người có năng lực chịu TNHS và đủ tuổi chịu TNHS Tuy nhiên hai tội này lại có những điểm khác nhau như

Thứ nhất, khác nhau về khách thể, trong khi khách thể của Tội lừa đảo CĐTS

xâm phạm quyền sở hữu tài sản của chủ sở hữu tài sản đối với tài sản của họ thì Tội lạm dụng chức vụ quyền hạn CĐTS lại xâm phạm hoạt động đúng đắn của các cơ quan, tổ chức, gây thiệt hại về tài sản cho người khác

Thứ hai, khác nhau về hành vi khách quan, thực chất việc phân biệt Tội lừa

đảo CĐTS với Tội lạm dụng chức vụ quyền hạn CĐTS là việc phân biệt trường hợp

“lợi dụng chức vụ quyền hạn” lừa đảo CĐTS quy định tại điểm đ, khoản 2 Điều 174 BLHS 2015 với Tội lạm dụng chức vụ quyền hạn CĐTS quy định tại Điều 355 BLHS 2015 Cả 2 trường hợp người phạm tội đều CĐTS bằng hành vi gian dối, tuy

11

Trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh, Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam - Phần các tội phạm – Quyển 2

NXB Hồng Đức, Hội Luật gia Việt Nam, tr 234

Trang 25

nhiên hành vi gian dối ở hai trường hợp này lại khác nhau ở cách thức thực hiện hành vi phạm tội Cụ thể đối với trường hợp “lợi dụng chức vụ quyền hạn” lừa đảo CĐTS sản tại điểm đ, khoản 2 Điều 174 BLHS 2015 Hành vi dùng thủ đoạn gian dối CĐTS được thực hiện dựa trên chức vụ, quyền hạn mà người phạm tội làm người khác tin tưởng rồi đưa ra thông tin gian dối, làm người khác tin là thật nhằm CĐTS của người khác Việc lợi dụng chức vụ quyền hạn trong trường hợp này không đòi hỏi người phạm tội sử dụng đến quyền hạn của mình trong khi thi hành công vụ để lừa dối người khác nhằm CĐTS mà chỉ cần người phạm tội có chức vụ quyền hạn dựa trên uy tín của chức vụ quyền hạn đó làm người khác tin tưởng làm

cơ sở để thực hiện được hành vi phạm tội

Ví dụ: A là công an huyện B, biết được vụ án H cố ý gây thương tích do công

an huyện C thụ lý giải quyết A đã liên hệ với người thân của H nói là mình được phân công giải quyết vụ án đó nên có thể lo lót giảm nhẹ tội cho H với điều kiện phải giao cho A 20 triệu đồng Người nhà H đã tin tưởng do biết A là công an nên giao cho A số tiền 20 triệu đồng

Trong trường hợp trên A phạm Tội lừa đảo CĐTS với tình tiết định khung là

“lợi dụng chức vụ quyền hạn để phạm tội”

Ở trường hợp lạm dụng chức vụ quyền hạn CĐTS, người phạm tội có được tài sản bằng cách lạm dụng chức vụ quyền hạn của người phạm tội có trong khi thi hành công vụ để lừa dối CĐTS của người khác Đây là một trong số những tội phạm về chức vụ nên hành vi phạm tội phải được thực hiện khi đang thi hành công vụ

Ví dụ: H và N là lãnh đạo tại công ty A, có quyền hạn trong việc gửi tiền của công ty tại ngân hàng, H và N đã sử dụng quyền hạn của mình ký nhiều hợp đồng gửi tiền của công ty A với ngân hàng C và nhận nhiều lần tiền chi ngoài hợp đồng (còn gọi là tiền chăm sóc khách hàng) của Tổng giám đốc ngân hàng C gửi để sử dụng vào mục đích cá nhân không báo cáo với công ty Trong trường hợp này H và

Trang 26

bán với khách hàng Tội lừa đảo CĐTS và Tội lừa dối khách hàng có nhiều điểm giống nhau trong cấu thành tội phạm như đều sử dụng thủ đoạn gian dối và hành vi CĐTS Tuy nhiên giữa hai tội danh cũng tồn tại điểm khác nhau giúp phân biệt hai tội trên

Điểm giống nhau giữa Tội lừa đảo CĐTS với Tội lừa dối khách hàng là cả hai tội đều có mặt khách quan của tội phạm là cả hai đều có hành vi phạm tội bằng thủ đoạn gian dối để CĐTS Giống nhau về mặt chủ quan của tội phạm, cả hai đều thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, người phạm tội thấy trước hành vi gian dối của mình trái pháp luật, tuy nhiên vẫn mong muốn thực hiện được hành vi nhằm CĐTS của người khác

Điểm khác nhau giữa Tội lừa đảo CĐTS với Tội lừa dối khách hàng

Khách thể: khách thể của Tội lừa dối khách hàng là trật tự quản lý kinh tế, kinh doanh thương mại và lợi ích của người tiêu dùng Thì khách thể của Tội lừa đảo CĐTS là quyền sở hữu tài sản của người khác

Hành vi khách quan của tội phạm: hành vi khách quan của Tội lừa dối khách hàng là hành vi sử dụng thủ đoạn gian dối trong lĩnh vực mua bán bằng thủ đoạn cân đo, đong đếm, tính gian, đánh tráo hàng hóa để lấy tiền của khách hàng Hành

vi khách quan của Tội lừa đảo CĐTS là dùng thủ đoạn gian dối làm cho người có tài sản tin tưởng và trao tài sản cho người phạm tội

Chủ thể của tội phạm: chủ thể của Tội lừa dối khách hàng là người mua bán hàng hóa, chủ thể của Tội lừa đảo CĐTS là bất kỳ người nào

Như vậy đặc điểm cơ bản nhất để phân biêt hai tội phạm trên chính là hành vi khách quan Cả hai tội này đều được thực hiện bằng thủ đoạn gian dối, tuy nhiên đối với Tội lừa đảo CĐTS, hành vi gian dối được thể hiện dưới mọi hình thức còn đối với Tội lừa dối khách hàng hành vi gian dối chỉ diễn ra trong quan hệ mua bán hàng hóa bằng những hành vi cụ thể như cân đo, đong đếm trong việc mua bán hàng hóa đối với khách hàng

1.3 Lịch sử hình thành và phát triển của Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Trang 27

XHCN Trong đó có thể XHCN phân biệt thành hai nhóm tội phạm xâm phạm tài sản XHCN có tính chất đặc biệt và nhóm tội xâm phạm tài sản XHCN có tính chất chung

Liên quan đến tài sản XHCN có tính chất chung có thể kể đến những văn bản như:

- Đạo Dụ ngày 13 tháng 6 năm 1945 truy tố việc phá hủy công sản;

- Sắc lệnh 26-SL ngày 25-21946 về các tội phá hủy công sản;

- Sắc lệnh số 267-SL ngày 15-6-1956 về các âm mưu và hành động phá hoại tài sản của Nhà nước, của hợp tác xã và của nhân dân làm cản trở việc thực hiện chính sách, kế hoạch nhà nước;

Liên quan đến tài sản XHCN có tính chất đặc biệt có thể kể đến các văn bản sau:

- Sắc lệnh số 68 ngày 18-6-1949 về bảo vệ các công trình thủy nông

Đồng thời Nhà nước ta cũng quan tâm đến việc bảo vệ các tài sản riêng của công dân như Thông tư số 442-TTg ngày 19-1-1955 của Thủ tướng Chính phủ về một số tội phạm Văn bản này đã đề cập đến Tội lừa đảo CĐTS nhưng chỉ nêu tên tội danh mà không mô tả cụ thể hành vi phạm tội

TANDTC cũng đã ban hành nhiều văn bản hướng dẫn việc vận dụng các quy định của pháp luật đó vào thực tiễn công tác xét xử Do yêu cầu khách quan của thời đại nhằm đấu tranh bảo vệ có hiệu quả tài sản XHCN và tài sản của công dân đồng thời tăng cường pháp chế XHCN, ngày 21-10-1970, Nhà nước ta đã thông qua hai pháp lệnh mới:

- Pháp lệnh trừng trị các tội phạm xâm phạm tài sản XHCN do Lệnh số LCL ngày 23/10/1970 của Chủ tịch nước công bố

149 Pháp lệnh trừng trị các tội phạm xâm phạm tài sản XHCN do Lệnh số 150149 LCT ngày 23-10-1970 của Chủ tịch nước công bố

150-Hai pháp lệnh trên đã thay thế các luật lệ cũ về các tội phạm xâm phạm sở hữu Trong hai pháp lệnh này hành vi lừa đảo CĐTS cũng đã được quy định với hai tội danh cụ thể tương ứng với hai hình thức sở hữu lúc bấy giờ là sở hữu XHCN và

sở hữu của công dân

Điều 10 Pháp lệnh trừng trị các tội phạm xâm phạm tài sản XHCN do Lệnh

số 149-LCL LCL ngày 23/10/1970 của Chủ tịch nước công bố quy định “Tội lừa đảo CĐTS XHCN” như sau:

Trang 28

1 Kẻ nào dùng giấy tờ giả mạo, gian lận trong việc cân, đo, đếm, hoặc dùng thủ đoạn gian dối khác chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa thì bị phạt tù từ 6 tháng đến 5 năm

2 Phạm tội trong những trường hợp sau đây:

a Có tính chất chuyên nghiệp hoặc tái phạm nguy hiểm

b Có tổ chức tổ chức

c Có móc ngoặc

d Giả danh hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, xí nghiệp Nhà nước đơn

vị bộ đội, đoàn thể nhân dân, hợp tác xã hoặc dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm khác

đ Chiếm đoạt tài sản với số lượng lớn hoặc tài sản có giá trị đặc biệt

e Dùng tài sản chiếm đoạt vào việc kinh doanh, bóc lột, đầu cơ, đút lót hoặc vào những việc phạm tội khác thì bị phạm tù từ 3 năm đến 12 năm

3 Phạm tội trong trường hợp số tài sản bị xâm phạm rất lớn hoặc có nhiều tình tiết nghiêm trọng hoặc gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ 10 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc bị xử tử hình

Điều 9 Pháp lệnh trừng trị các tội phạm xâm phạm tài sản XHCN do Lệnh số 150-LCT ngày 23-10-1970 của Chủ tịch nước công bố quy định “ Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản riêng của công dân” như sau:

1 Kẻ nào dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản riêng của công dân thì

bị phạt tù từ 3 tháng đến 3 năm

2 Phạm tội trong những trường hợp sau đây:

a) Có tính chất chuyên nghiệp hoặc tái phạm nguy hiểm;

b) Có tổ chức;

c) Giả danh hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, xí nghiệp Nhà nước, đơn

vị bộ đội, đoàn thể nhân dân, hợp tác xã hoặc dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm khác;

d) Gây hậu quả nghiêm trọng đến đời sống của người bị thiệt hại hoặc gây hậu quả nghiêm trọng khác;

Trang 29

Thì bị phạt tù từ 2 năm đến 10 năm;

Có thể nhận thấy về cơ bản cả hai tội trên đều có hành vi phạm tội giống nhau

đó là hành vi dùng thủ đoạn gian dối CĐTS đang trong sự quản lý của người khác Thủ đoạn gian dối có thể thể hiện bằng lời nói, hành động, hình ảnh, văn bản giấy tờ hoặc hợp đồng… làm cho người quản lý tài sản tin tưởng mà giao tài sản cho người phạm tội Hành vi phạm tội giống nhau nhưng lại có đối tượng tác động khác nhau đó

là tài sản XHCN và tài sản của công dân nên được quy định trong hai pháp lệnh riêng biệt Trong khi Tội lừa đảo CĐTS XHCN coi lừa đảo là một số hành vi gian dối cụ thể như cân, đong, đo, đếm tính sai hoặc làm cách nào khác để chiềm đoạt tài sản của

cơ quan nhà nước hay hợp tác xã trong khi giao dịch, mua bán với cơ quan nhà nước hay hợp tác xã Thì Tội lừa đảo để CĐTS riêng của công dân chỉ quy định tội phạm

một cách chung chung: “kẻ nào dùng thủ đoạn gian dối để CĐTS riêng của dân…”

Những hành vi gian lận bằng cách “cân, đong, đo, đếm, tính gian, không chấp hành chính sách giá cả đã quy định, đánh tráo loại hàng…” được tách ra khỏi Tội lừa đảo CĐTS để quy định thành một tội riêng tại Điều 10 pháp lệnh trừng trị các tội phạm xâm phạm tài sản XHCN, Tội gian lận để CĐTS riêng của khách hàng được quy định tại một điều riêng Như vậy, từ việc quy định trên có thể hiểu mọi hành vi dùng thủ đoạn gian dối để CĐTS XHCN đều phạm tội “Lừa đảo để CĐTS XHCN” mà không

có sự phân biệt hành vi phạm tội ở lĩnh vực mua bán hàng hóa hoặc lĩnh vực khác Còn đối với hành vi gian dối để CĐTS riêng của công dân thì lại có sự phân biệt đó là nếu hành vi đó xảy ra ở lĩnh vực mua bán hàng hóa mà người phạm tội là người bán hàng thì phải xét xử về tội “Gian lận để CĐTS riêng của khách hàng” chứ không phải tội “Lừa đảo để CĐTS riêng của công dân”

Thời điểm lúc bấy giờ bản chất của nền kinh tế là tập trung, bao cấp nên chính sách xử lý của nhà nước đối với Tội lừa đảo CĐTS XHCN nghiêm khắc hơn

so với Tội lừa đảo CĐTS riêng của công dân Tử hình là mức hình phạt cao nhất và nghiêm khắc nhất được áp dụng đối với Tội lừa đảo CĐTS XHCN, trong khi đó mức hình phạt cao nhất được áp dụng đối với Tội lừa đảo CĐTS của công dân chỉ dừng lại ở mức 10 năm tù

Sau ngày thống nhất đất nước, nhà nước ta đã ban hành một số văn bản pháp luật hình sự mới để đáp ứng yêu cầu của thời đại Ở miền Nam, Hội đồng Chính phủ cách mạng lâm thời ban hành Sắc luật số 03-SL/76 ngày 15/3/1976 quy định về tội phạm và hình phạt

Trang 30

Điều 4: Sắc luật số 03-SL/76, quy định “Tội xâm phạm đến tài sản công cộng” trong đó có quy định về Tội lừa đảo CĐTS như sau:

“Tài sản công cộng bao gồm tài sản của Nhà nước và của Hợp tác xã, của các tổ chức xã hội và của tập thể nhân dân Tài sản công cộng là thiêng liêng, tuyết đối không ai được xâm phạm”

a

b Phạm các tội chiếm đoạt khác như trộm cắp, tham ô, lừa đảo, bội tín, cướp giật, cưỡng đoạt, chiếm giữ trái phép thì bị phạt tù từ 6 tháng đến 7 năm Trường hợp nghiêm trọng thì bị phạt tù đến 15 năm Phạm tội trộm cắp, tham ô, lừa đảo mà số tài sản chiếm đoạt rất lớn hoặc có nhiều tình tiết nghiêm trọng, hoặc gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù đến 20 năm, tù chung thân hoặc bị xử tử hình

Thông tư số 03-BTP/TT tháng 4/ 1976 của Bộ Tư pháp giải thích Sắc luật số 03-SL/76 có hướng dẫ về hành vi phạm tội lừa đảo để CĐTS công cộng như sau:

:”Lừa đảo là hành vi chiếm đoạt tài sản công cộng đang do người khác quản lý, bằng cách dùng mọi mánh khóe, thủ đoạn gian dối, bịp bợm, làm cho người quản lý tài sản tin nhầm mà giao cho tài sản đó”

Điều 8: Sắc luật 03-SL/76 quy định về: Tội xâm phạm đến tài sản riêng của công dân” trong đó quy định:

a Phạm tội cướp tài sản riêng của công dân thì bị phạt tù từ 2 năm đến 12 năm Trường hợp nghiêm trọng thì bị phạt tù đến 20 năm, tù chung thân hoặc bị xử phạt tử hình

b Phạm các tội chiếm đoạt khác như trộm cắp, lừa đảo, bội tín, cướp giật, chiếm giữ trái phép thì bị phạt tù từ 3 tháng đến 3 năm Trường hợp nghiêm trọng thì bị phạt tù đến 10 năm

Theo đó hành vi lừa đảo được giải thích như hành vi lừa đảo để CĐTS công cộng

Như vậy, tại thời điểm lúc bấy giờ ở hai miền Nam – Bắc tồn tại hai loại văn bản pháp luật khác nhau cùng xử lý Tội lừa đảo CĐTS, nội dung của hai loại văn bản này có sự thống nhất về tội danh và đường lối xử lý Tuy nhiên có thể thấy được sắc luật chỉ nêu tội danh, không miêu tả dấu hiệu của tội phạm để đảm bảo tính ngắn gọn

Trang 31

Theo Sơ thảo Chỉ thị số 54/ TATC ngày 6/7/1977 của TANDTC hướng dẫn việc thi hành pháp luật thống nhất thì việc áp dụng pháp luật đối với hành vi phạm Tội lừa đảo CĐTS được thống nhất như sau:

- Ở miến Bắc vẫn áp dụng hai pháp lệnh ngày 21/10/1970

- Ở miền Nam thì áp dụng Sắc luật số 03 là chính, có tham khảo điều khoản tương ứng của Pháp lệnh ngày 21/10/1970 để nắm được rõ dấu hiệu của các tội phạm và các mức hình phạt hợp lý hơn Như vậy, trong giai đoạn từ năm 1945 đến trước BLHS năm 1985 được ban hành và có hiệu lực pháp luật hình sự đã có quy định về Tội lừa đảo CĐTS, cụ thể là hai tội: Lừa đảo CĐTS XHCN và lừa đảo CĐTS riêng của công dân Tuy nhiên do có hai miền nam bắc cách biệt lại có nhiều văn bản khác nhau được ban hành áp dụng ở hai miền nên không tránh khỏi những bất cập nhất định, để đảm bảo nguyên tắc pháp chế việc ban hành một văn bản thống nhất là yêu cầu tất yếu

1.3.2 Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong Bộ luật Hình sự năm 1985

Cho đến trước khi Bộ luât hình sự đầu tiên của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam được ban hành năm 1985 hai pháp lệnh năm 1970 đã phát huy được vay trò trong một thời gian dài Tuy nhiên để đảm bảo tính thống nhất và đảm bảo tính pháp chế thì sự ra đời của BLHS 1985 là một sự tất yếu BLHS 1985 được ban hành dựa trên sự kế thừa các quy định của hai pháp lệnh trên và việc tổng kết những kinh nghiệm đấu tranh phòng, chống tội phạm của nước ta trong giai đoạn từ khi đất nước thống nhất đến trước khi BLHS 1985 ban hành BLHS 1985 ra đời trong bối cảnh nền kinh tế quốc doanh và hợp tác xã, được điều hành, quản lý theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung, thống nhất từ trung ương đến cơ sở, thấu suốt quyền làm chủ của nhân dân do giai cấp công nhân lãnh đạo, thể hiện tinh thần phòng ngừa và kiên quyết đấu tranh chống tội phạm, thể hiện chính sách và lòng tin của Đảng và Nhà nước là xử phạt người phạm tội không chỉ nhằm mục đích trừng phạt mà còn nhằm mục tiêu cải tải và giáo dục họ thành người có ích BLHS 1985 là sự kế thừa và phát triển của các văn bản pháp luật trước đó nên các quy định về các tội xâm phạm

sở hữu được quy định ở hai chương: “Chương IV: Các tội phạm xâm phạm sở hữu XHCN” và “Chương IV: Các tội xâm phạm sở hữu công dân” Về cơ bản hai tội

“Lừa đảo CĐTS XHCN” (Điều 134 BLHS 1985) và tội “Lừa đảo CĐTS riêng của công dân” (ĐIỀU 157 BLHS 1985) vẫn tiếp tục được quy định với nội dung hai

Trang 32

pháp lệnh năm 1970 cùng với một vài thay đổi phù hợp với tình hình diễn biến mới của tội phạm trong giai đoạn hiện tại Cụ thể là:

Điều 134: Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa:

1 Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa thì

bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm

2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ ba năm đến mười hai năm

a Có tổ chức;

b Dùng thủ đoạn xảo quyệt nguy hiểm;

c Chiếm đoạt tài sản có giá trị lớn;

d Tái phạm nguy hiểm

2 Phạm tội trong trường hợp được biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân

Điều 157: Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản của công dân:

1 Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác, thì

bị phạt tù từ ba tháng đến ba năm

2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ hai năm đến mười năm:

a Có tổ chức;

b Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm;

c Chiếm đoạt tài sản có giá trị lớn;

d Tái phạm nguy hiểm

3 Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm

Như vậy, có thể thấy quy định của BLHS 1985 so với các văn bản pháp luật trước đó có sự kế thừa nhưng cũng có một vài thay đổi trong việc quy định một số tình tiết định khung tăng nặng và quy định mức cao nhất nhất của khung hình phạt

Cụ thể Điều 134 đã bỏ hình phạt tử hình, mức cao nhất dừng lại ở chung thân, Điều

157 đã tăng mức hình phạt cao nhất từ 10 năm lên 15 năm tù

Trong giai đoạn từ năm 1985 đến trước khi ban hành BLHS 1999 đất nước ta

đã có chuyển biến lớn về kinh tế Từ tập chung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường kéo theo sự thay đổi, nảy sinh của nhiều lại tội phạm kinh tế và tội phạm xâm phạm sở hữu BLHS 1985 không còn đáp ứng đuộc yêu cầu của thời đại, bộc

Trang 33

lộ nhiều hạn chế Do đó để đáp ứng được nhu cầu của công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm lúc bấy giờ BLHS 1985 đã được sửa đổi, bổ sung 4 lần vào các năm

1990, 1991, 1993 và 1997

Lần sửa đổi, bổ sung thứ nhất: Năm 1990 bổ sung tình tiết “hoặc có tính chuyên nghiệp” vào điểm a, khoản 2 Điều 134 và Điều 157 Từ đó, điểm a, khoản 2 Điều 134 và Điều 157 được quy định “ có tổ chức hoặc có tính chất chuyên nghiệp”

Lần sửa đổi, bổ sung thứ hai: Năm 1991 hình phạt cao nhất đã được nâng lên thành hình phạt tử hình đối với cả hai tội Điều 134 và Điều 157 Cụ thể tại khoản 3 Điều 134: “3 Phạm tội trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình” Khoản 3 Điều 157 cũng được sửa đổi, bổ sung tăng mức hình phạt tối đa các khung và bổ sung hình phạt tù chung thân và tử hình

Lần sửa đổi, bổ sung thứ ba: Năm 1993, bổ sung khoản 2 Điều 134: “Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức” và “gây hậu quả nghiêm trọng”

Lần sửa đổi, bổ sung thứ tư: Năm 1997, sửa đổi bổ sung Điều 134a, Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức để lừa đảo CĐTS

Trong giai đoạn từ năm 1985 đến năm 1999 nền kinh tế của đất nước đã có

sự chuyển biến lớn hình thành bảy hình thức sở hữu khác nhau: Sở hữu toàn dân;

Sở hữu của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội; Sở hữu tập thể; Sở hữu tư nhân; Sở hữu của các tổ chức xã hội, tổ chức nghề nghiệp; Sở hữu hỗn hợp; Sở hữu chung Trong khi đó BLHS năm 1985 vẫn duy trì hai chương về tội phạm xâm phạm sở hữu XHCN và công dân Do đó để phù hợp với sự biến động của tình hình kinh tế, chính trị, sự phát triển của các tội phạm xâm phạm sở hữu, tội phạm kinh tế thì sự ra đời của BLHS 1999 là rất cần thiết

1.3.3 Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong Bộ luật Hình sự năm 1999

Trong thời kì đất nước đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực việc sửa đổi toàn diện BLHS năm

1985 là một đòi hỏi khách quan của hoạt động lập pháp Đáp ứng yêu cầu đó, ngày

21 tháng 12 năm 1999, Quốc hội nước cộng hòa XHCN Việt Nam khóa X tại Kỳ hợp thứ 6 đã thông qua BLHS 1999, thay thế BLHS năm 1985, BLHS năm 1999 có hiệu lực kể từ ngày 1 tháng 7 năm 2000

Trang 34

BLHS năm 1999 đã gộp hai chương: “Chương IV: Các tội phạm xâm phạm

sở hữu XHCN” và “Chương IV: Các tội xâm phạm sở hữu công dân” ở BLHS 1985 thành một chương: “Chương XIV: Các tội xâm phạm sở hữu”, trong đó tội lừa đảo CĐTS được quy định tại Điều 139 Nghiên cứu Điều 139 so với những quy định tại BLHS năm 1985 có một số điểm khác biệt sau:

Thứ nhất, BLHS năm 1999 đã hợp nhất hai điều luật về Tội lừa dảo CĐTS XHCN Điều 134 và Tội lừa đảo CĐTS của công dân Điều 157 của BLHS 1985 thành một điều luật là Điều 139 Tội lừa đảo CĐTS Như vậy sẽ không còn hai cấu thành tội phạm về Tội lừa đảo CĐTS phân theo loại tài sản nữa Để đáp ứng đường lối xử lý người phạm tội xâm phạm quyền sở hữu tài sản, Điều 48 BLHS năm 1999 qui định tình tiết tăng nặng mới “Xâm phạm tài sản nhà nước”

Thứ hai, BLHS năm 1999 đã tiến hành định lượng giá trị tài sản bị chiếm đoạt Tương ứng với giá trị tài sản nhất định là một khung hình phạt riêng, điều này giúp cơ quan hành pháp dễ dàng hơn trong việc quyết định hình phạt

Thứ ba, BLHS năm 1999 đã ban hành thêm một khung hình phạt, quy định 4 khung hình phạt thay vì ba khung như ở BLHS năm 1985 như trước đây, việc này

đã thu hẹp khoảng cách giữa mức tối đa và tối thiểu của một khung hình phạt, tạo

cơ sở pháp lý cho việc truy cứu TNHS chuẩn xác hơn

Thứ tư, Điều 139 BLHS năm 1999 đã xác định ranh giới giữa hành vi vi phạm hành chính và hành vi phạm tội Theo đó, người nào CĐTS của người khác

có giá trị dưới 500.000 đồng và hành vi này không gây hậu quả nghiêm trọng hoặc người đó chưa bị xử lý hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc chưa bị kết án về tội CĐTS hoặc đã bị kết án mà đã được xóa án tích thì chỉ bị xử phạt hành chính

Thứ năm, Điều 139 BLHS năm 1999 quy định thêm tình tiết mới: “gây hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng” quy định lần lượt tại khoản 2, 3, 4 Để đánh giá tính chất nghiêm trọng do hậu quả của hành vi phạm tội gây ra cần phải xem xét, đánh giá toàn diện, đầy đủ tất cả các khía cạnh khác nhau như thiệt hại đến an ninh, chính trị, trật tự, an toàn xã hội, yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm ở địa phương Hậu quả có thể là thiệt hại đến sức khỏe, tính mạng, tài sản hoặc các thiệt hại phi vật chất

BLHS năm 1999 được áp dụng trong một thời gian dài, không tránh khỏi việc không theo kịp được với sự thay đổi của nền kinh tế, chính trị, xã hội luôn luôn vận

Trang 35

động và phát triển, chính vì thế năm 2009 BLHS năm 1999 đã được sửa đổi bổ sung, định lượng giá trị tài sản bị chiếm đoạt tại khoản 1 Điều 139 đã được nâng lên từ 500.000 đồng thành 2.000.000 đồng Sửa đổi này đã xác định lại ranh giới giữa hành

vi vi phạm hành chính và hành vi phạm tội Cụ thể: Người CĐTS của người khác có giá trị dưới 2.000.000 đồng và hành vi này không gây hậu quả nghiêm trọng hoặc người đó chưa bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc chưa bị kết án về tội CĐTS hoặc đã bị kết án mà đã được xóa án tích thì chỉ bị xử phạt hành chính

1.3.4 Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong Bộ luật Hình sự năm 2015

Tại BLHS năm 2015 Tội lừa đảo CĐTS được quy định tại Điều 174 có cấu thành tội phạm như sau:

1 Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn

vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều

168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật hình sự 2015, chưa được xóa

án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại

So với qui định về Tội lừa đảo CĐTS tại Điều 139 BLHS năm 1999, thì quy định tại Điều 174 BLHS năm 2015 có một số điểm thay đổi Cụ thể là, trong trường hợp lừa đảo chiếm đoạt dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp thì BLHS

năm 2015 đã thay dấu hiệu “gây hậu quả nghiêm trọng” thành dấu hiệu “Gây ảnh

hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội”, bổ sung thêm dấu hiệu “Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; tài sản là kỷ vật, di vật”

Qua nghiên cứu Tội lừa đảo CĐTS trong các thời kỳ từ năm 1945 đến nay có thể thấy những quy định về Tội lừa đảo CĐTS trong các thời kì luôn được thay đổi

Trang 36

ngày càng hoàn thiện, đáp ứng yêu cầu đấu tranh trong phòng, chống tội phạm trong từng giai đoạn Việc nghiên cứu những quy định của pháp luật trước đây và những quy định của pháp luật hiện hành cùng với việc tổng kết các kinh nghiệm rút ra trong quá trình đấu tranh phòng chống Tội lừa đảo CĐTS, là cơ sở quan trọng cho việc nghiên cứu đưa ra những quy định ngày càng hoàn thiện hơn, góp phần đấu tranh phòng, chống có hiệu quả Tội lừa đảo CĐTS trong thời kì mới

1.4 Pháp luật hình sự một số nước về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1.4.1 Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong luật Hình sự Liên Bang Nga

Trong BLHS Liên bang Nga, tội lừa đảo CĐTS được quy định như sau:

Điều 159 Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1 Lừa đảo chiếm đoạt tài sản nghĩa là chiếm đoạt tài sản của người khác hoặc có được các quyền đối với tài sản của người khác bằng cách lừa gạt hoặc lợi dụng lòng tin thì bị phạt tiền đến một trăm hai mươi nghìn rup hoặc bằng lương hay bằng thu nhập khác của người bị kết án đến một năm, hoặc bị phạt lao động bắt buộc đến một trăm tám mươi giờ, hoặc bị phạt lao động cải tạo từ sáu tháng đến một năm, hoặc bị hạn chế tự do đến hai năm, hoặc bị giam từ hai tháng đến bốn tháng, hoặc bị phạt tù đến hai năm

2 Lừa đảo chiếm đoạt tài sản do một nhóm người có bàn bạc từ trước thực hiện, hoặc gây thiệt hại ít nghiêm trọng cho công dân thì bị phạt tiền đến ba trăm nghìn rup, hoặc bằng lương hay bằng thu nhập khác của người bị kết án đến hai năm, hoặc bị phạt lao động bắt buộc từ một trăm tám mươi giờ đến hai trăm bốn mươi giờ, hoặc bị phạt lao động cải tạo từ một năm đến hai năm, hoặc bị phạt tù đến năm năm có hoặc không kèm theo bị hạn chế tự do đến một năm

3 Lừa đảo chiếm đoạt tài sản do người lợi dụng chức vụ của mình thực hiện, hoặc được thực hiện ở mức độ nghiêm trọng thì bị phạt tiền từ một trăm nghìn rup đến năm trăm nghìn rup hoặc bằng lương hay thu nhập khác của người bị kết án từ một năm đến ba năm, hoặc bị phạt tù từ hai năm đến sáu năm có hoặc không kèm theo bị phạt tiền đến ba mươi nghìn rup, hoặc bằng lương hay bằng thu nhập khác của người bị kết án đến một tháng, có hoặc không kèm theo bị hạn chế tự do đến mười tám tháng

4 Hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản do một nhóm có tổ chức thực hiện

hoặc được thực hiện ở mức độ đặc biệt lớn thì bị phạt tù từ năm năm đến mười

Trang 37

năm, có hoặc không bị kèm theo phạt tiền đến một triệu rup hoặc bằng lương hay thu nhập khác của người bị kết án đến ba năm có hoặc không kèm theo bị hạn chế

tự do đến hai năm 12

So sánh Điều 159 BLHS Liên bang Nga với điều 174 BLHS 2015 chúng ta

có thể thấy những điểm giống và khác nhau như sau:

Những điểm giống nhau:

Tội lừa đảo CĐTS trong BLHS Liên bang Nga và BLHS Việt Nam đều giống nhau ở những dấu hiệu định tội cơ bản, cụ thể là: đều xâm phạm quyền sở hữu của người khác, đều có hành vi khách quan là dùng thủ đoạn gian dối CĐTS của người khác và cùng thực hiện với lỗi cố ý Hơn nữa, BLHS Liên bang Nga và BLHS Việt Nam đều mô tả hành vi lừa đảo CĐTS trong quy định của cấu thành cơ bản Chúng tôi đồng tình với cách quy định này, việc mô tả hành vi trong cấu thành tội phạm là một ưu điểm giúp việc hiểu và áp dụng pháp luật hình sự được thống nhất

Những điểm khác nhau:

Thứ nhất, trong cấu thành cơ bản của Tội lừa đảo CĐTS trong BLHS Liên bang Nga không quy định dấu hiệu định lượng (tài sản bị chiếm đoạt có giá trị bao nhiêu) thì bị xử lý hình sự; trong khi đó BLHS Việt Nam lại có quy định dấu hiệu định lượng tài sản bị chiếm đoạt từ 2 triệu đồng trở lên hoặc dưới 2 triệu đồng thì phải kèm theo các dấu hiệu định tội khác (đã bị xử phạt hành chính, bị kết án nhưng chưa được xóa án tích ) Theo tác giả, việc quy định dấu hiệu định lượng tài sản có thể coi là một ưu điểm của BLHS Việt Nam trong việc quy định Tội lừa đảo CĐTS trong luật hình sự vì nó tạo ra ranh giới rõ ràng để phân biệt hành vi vi phạm hành chính và hành vi phạm tội

Thứ hai, BLHS Liên bang Nga không quy định các trường hợp xử lý hình sự đối với các trường hợp xâm phạm sở hữu mà có những điểm xấu về nhân thân như trong BLHS Việt Nam: “đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi CĐTS mà còn vi phạm”, “đã bị kết án chưa được xóa án tích mà có vi phạm” Theo tôi đây là một ưu điểm của BLHS Việt Nam, vì mục đích của hình phạt không chỉ nhằm trừng trị người phạm tội mà còn có ý nghĩa giáo dục, răn đe người phạm tội không tái phạm hoặc không phạm tội khác, việc quy định các trường hợp xâm phạm sở hữu

12

Trường Đại học Luật Hà Nội (2011), Bộ luật hình sự Liên Bang Nga, Nxb Công an nhân dân

Trang 38

mà có những điểm xấu về nhân thân như BLHS Việt Nam đã thể hiện được mục đích giáo dục, răn đe này

Thứ ba, BLHS Liên bang Nga không quy định các dấu hiệu khác không liên quan đến giá trị về tài sản bị chiếm đoạt như BLHS Việt Nam: “gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội”, “tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ” Theo tôi đây là điểm mà chúng ta cần tiếp thu bởi lẽ chúng ta quy định Tội lừa đảo CĐTS và xử lý hình sự vì người phạm tội có hành vi nguy hiểm cho xã hội do xâm phạm sở hữu của người khác với lỗi cố ý, người phạm tội trong trường hợp này biết được hậu quả hành vi của mình và mong muốn hậu quả đó xảy ra Việc tài sản bị chiếm đoạt là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ là một điều mà ý chí chủ quan của người phạm tội không thể nào biết được

Thông qua việc so sánh BLHS Liên bang Nga và BLHS Việt Nam chúng ta

có thể thấy được ưu và nhược điểm của từng bộ luật, từ đó học hỏi, đúc rút kinh nghiệm xây dựng những quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt trong BLHS Việt Nam ngày càng hoàn thiện

1.4.2 Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong luật Hình sự Cộng hòa Liên bang Đức

BLHS năm 2015 của Việt Nam chỉ quy định Tội lừa đảo CĐTS ở một điều luật (Điều 174) còn BLHS Cộng hòa Liên bang Đức dành hẳn một chương riêng (Chương 22) quy định hành vi lừa đảo CĐTS thành nhiều tội danh khác nhau, cụ thể là:

Điều 263 Lừa đảo;

Điều 263ª Lừa đảo máy tính;

Điều 264 Lừa đảo trợ giá;

Điều 264ª Lừa đảo đầu tư vốn;

Điều 265b Lừa đảo tín dụng;13

So sánh BLHS Cộng hòa Liên bang Đức: với điều 174 BLHS năm 2015 chúng ta có thể thấy những điểm giống và khác nhau như sau:

Những điểm giống nhau:

13

Trường Đại học Luật Hà Nội (2011), Bộ luật hình sự Cộng hòa Liên bang Đức, NXB Công an nhân dân

Ngày đăng: 15/01/2022, 22:37

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
11. Lê Cảm (2000), Những vấn đề lý luận cơ bản về trách nhiệm hình sự, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề lý luận cơ bản về trách nhiệm hình sự
Tác giả: Lê Cảm
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2000
12. Nguyễn Ngọc Chí (2001), Trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm sở hữu, Luận án tiến sĩ, Viện nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm sở hữu
Tác giả: Nguyễn Ngọc Chí
Năm: 2001
13. Lê Đăng Doanh (2004), “Tội lừa dối khách hàng (điều 162) trong mối quan hệ với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 139 BLHS), Tòa án nhân dân, Tòa án nhân dân tối cao, Số 22, tr. 11-14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tội lừa dối khách hàng (điều 162) trong mối quan hệ với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 139 BLHS), "Tòa án nhân dân, Tòa án nhân dân tối cao
Tác giả: Lê Đăng Doanh
Năm: 2004
14. Lê Đăng Doanh (2008), Đấu tranh phòng chống tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ, Trường Đại học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đấu tranh phòng chống tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản ở Việt Nam
Tác giả: Lê Đăng Doanh
Năm: 2008
15. Nguyễn Thị Kim Dung (2007), Đấu tranh phòng trống tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong lĩnh vực hoàn thuế giá trị gia tăng trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đấu tranh phòng trống tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong lĩnh vực hoàn thuế giá trị gia tăng trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Dung
Năm: 2007
16. Nguyễn Thị Thùy Dương (2003), Đấu tranh phòng chống tọi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đấu tranh phòng chống tọi lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tác giả: Nguyễn Thị Thùy Dương
Năm: 2003
17. Trần Quang Dương (2019), “G phạm tội gì, lừa đảo hay lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản?”, Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử Sách, tạp chí
Tiêu đề: G phạm tội gì, lừa đảo hay lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản?”
Tác giả: Trần Quang Dương
Năm: 2019
18. Nguyễn Trường Giang (2003), Đấu tranh phòng, chống tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đấu tranh phòng, chống tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tác giả: Nguyễn Trường Giang
Năm: 2003
19. Ngô Thị Hạnh (2016), Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong luật hình sự Việt Nam trên cơ sở số liệu xét xử địa bàn thành phố Đà Nẵng Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong luật hình sự Việt Nam trên cơ sở số liệu xét xử địa bàn thành phố Đà Nẵng
Tác giả: Ngô Thị Hạnh
Năm: 2016
20. Trần Thị Phương Hiền (2007), “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản những vấn đề lý luận và thực tiễn” Luận văn thạc sĩ, khoa Luật Đại học Quốc Gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản những vấn đề lý luận và thực tiễn”
Tác giả: Trần Thị Phương Hiền
Năm: 2007
21. Nguyễn Ngọc Hòa (2004), Cấu thành tội phạm – lý luận và thực tiễn, Nxb Tư Pháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cấu thành tội phạm – lý luận và thực tiễn
Tác giả: Nguyễn Ngọc Hòa
Nhà XB: Nxb Tư Pháp
Năm: 2004
22. Nguyễn Thị Phương Hoa – Phan Anh Tuấn, (đồng chủ biên) (2017), Bình luận khoa học Những điểm mới của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung 2017), Nhà xuất bản Hồng Đức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học Những điểm mới của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung 2017)
Tác giả: Nguyễn Thị Phương Hoa – Phan Anh Tuấn, (đồng chủ biên)
Nhà XB: Nhà xuất bản Hồng Đức
Năm: 2017
23. Bùi Thị Lan Hương (2017), “Một số nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn miền Đông Nam Bộ”, Khoa học Kiểm sát, Trường đại học Kiểm sát Hà Nội, số 04 (17), tr.42 -51 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn miền Đông Nam Bộ”, "Khoa học Kiểm sát
Tác giả: Bùi Thị Lan Hương
Năm: 2017
24. Đặng Thị Thanh Huyền (2016), Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong pháp luật hình sự Việt Nam Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong pháp luật hình sự Việt Nam
Tác giả: Đặng Thị Thanh Huyền
Năm: 2016
25. Phạm Quốc Kiệt (2020), “Bùi Văn A phạm tội gì?” Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bùi Văn A phạm tội gì?”
Tác giả: Phạm Quốc Kiệt
Năm: 2020
26. Phan Thành Nhân (2020), “Vờ mất xe để chiếm đoạt xe của người gửi, tội gì?”, Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vờ mất xe để chiếm đoạt xe của người gửi, tội gì?”
Tác giả: Phan Thành Nhân
Năm: 2020
27. Đinh Văn Quế (2002), Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự - Phần các tội phạm(Bình luận chuyên sâu), Nxb TP. HCM, TP. HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự - Phần các tội phạm(Bình luận chuyên sâu)
Tác giả: Đinh Văn Quế
Nhà XB: Nxb TP. HCM
Năm: 2002
28. Đinh Văn Quế (2006), Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự - Phần các tội phạm, Nxb TP. HCM, TP. HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự - Phần các tội phạm
Tác giả: Đinh Văn Quế
Nhà XB: Nxb TP. HCM
Năm: 2006
29. Quyết định giám đốc thẩm số 02/2020/HS-GĐT ngày 13/2.2012 của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao về vụ án Võ Minh Chiến phạm tội “ Lừa đảo, chiếm đoạt tài sản”, Hội đồng thẩm phán, Tòa án nhân dân , Tòa án nhân dân tối cao,số 17, tr46-48 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lừa đảo, chiếm đoạt tài sản
30. Lê Quang Thành (2015), “Hoàn thiện pháp luật trong phòng ngừa đấu tranh đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản do người nước ngoài thực hiện ở Việt Nam”Nhà nước và Pháp luật, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, số 7, tr.53-58 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện pháp luật trong phòng ngừa đấu tranh đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản do người nước ngoài thực hiện ở Việt Nam” "Nhà nước và Pháp luật, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
Tác giả: Lê Quang Thành
Năm: 2015

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

CHUYÊN NGÀNH LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ ĐỊNH HƢỚNG NGHIÊN CỨU - Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo luật hình sự việt nam
CHUYÊN NGÀNH LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ ĐỊNH HƢỚNG NGHIÊN CỨU (Trang 1)
Chuyên ngành: Luật Hình sự và Tố tụng hình sự Định hƣớng nghiên cứu  - Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo luật hình sự việt nam
huy ên ngành: Luật Hình sự và Tố tụng hình sự Định hƣớng nghiên cứu (Trang 2)
2.1. Thực trạng áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự hiện hành về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản  - Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo luật hình sự việt nam
2.1. Thực trạng áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự hiện hành về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Trang 43)
Thứ hai về cơ cấu hình phạt trên phạm vi cả nước. Nhìn chung hình phạt tù dưới 3 năm vẫn chiếm tỉ lệ cao nhất, chiếm 49,1 %, năm cao nhất trong năm năm là  năm  2015  chiếm  51,2  %,  năm  thấp  nhất  là  năm  2019  chiếm  43.9  % - Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo luật hình sự việt nam
h ứ hai về cơ cấu hình phạt trên phạm vi cả nước. Nhìn chung hình phạt tù dưới 3 năm vẫn chiếm tỉ lệ cao nhất, chiếm 49,1 %, năm cao nhất trong năm năm là năm 2015 chiếm 51,2 %, năm thấp nhất là năm 2019 chiếm 43.9 % (Trang 44)
Bảng 2.3: Cơ cấu hình phạt được áp dụng với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên phạm vi cả nước trong giai đoạn 2015-2019( tỉ lệ %)  - Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo luật hình sự việt nam
Bảng 2.3 Cơ cấu hình phạt được áp dụng với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên phạm vi cả nước trong giai đoạn 2015-2019( tỉ lệ %) (Trang 45)
Biểu đồ 1: Cơ cấu hình phạt dược áp dụng với tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên phạm vi cả nước giai đoạn 2015-2019  - Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo luật hình sự việt nam
i ểu đồ 1: Cơ cấu hình phạt dược áp dụng với tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên phạm vi cả nước giai đoạn 2015-2019 (Trang 46)
Điều 76: Phạm vi chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại  - Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo luật hình sự việt nam
i ều 76: Phạm vi chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại (Trang 70)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w