Vì vậy, trong giai đoạn hiện nay việc nghiên cứu tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông để tìm ra những bất cập, khó khăn, vướng mắc từ thực tiễn áp dụng
Trang 1NGUYỄN THANH TRÍ
TỘI ĐƯA HOẶC SỬ DỤNG TRÁI PHÉP THÔNG TIN
MẠNG MÁY TÍNH, MẠNG VIỄN THÔNG
TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ
ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU
TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2019
Trang 2TỘI ĐƯA HOẶC SỬ DỤNG TRÁI PHÉP THÔNG TIN
MẠNG MÁY TÍNH, MẠNG VIỄN THÔNG
TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên là Nguyễn Thanh Trí, học viên lớp Cao học Luật khóa 23, chuyên ngành Luật Hình sự và Tố tụng Hình sự, trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn của Ts Phan Anh Tuấn Những thông tin, số liệu tôi đưa ra trong luận văn là trung thực, có trích dẫn nguồn tham khảo đầy đủ Những phân tích, kiến nghị được đề xuất dựa trên quá trình tìm hiểu, nghiên cứu của cá nhân, có sự tham khảo ý kiến của người hướng dẫn khoa học và các công trình đã trích dẫn nguồn ở danh mục tài liệu tham khảo
Học viên thực hiện
Nguyễn Thanh Trí
Trang 4Nghị định Chính phủ Nhà xuất bản
Quốc hội Tòa án nhân dân Tòa án nhân dân tối cao Trách nhiệm hình sự
Tố tụng hình sự Thông tư liên tịch Viện kiểm sát nhân dân Viện kiểm sát nhân dân tối cao
Xử phạt hành chính
Xử phạt vi phạm hành chính
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ TỘI ĐƯA HOẶC SỬ DỤNG TRÁI PHÉP THÔNG TIN MẠNG MÁY TÍNH, MẠNG VIỄN THÔNG 8 1.1 Khái niệm và các dấu hiệu pháp lý của tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông 8
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông 8 1.1.2 Các dấu hiệu pháp lý 11 1.1.3 Hình phạt của tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông 13
1.2 Phân biệt tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông (Điều 288 BLHS) với một số tội phạm khác 15
1.2.1 Phân biệt tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông (Điều 288 BLHS) với tội phát tán chương trình tin học gây hại cho hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử (Điều 286 BLHS) 15 1.2.2 Phân biệt Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông (Điều 188 BLHS) với tội cản trở hoặc gây rối loạn cho hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử (Điều 287 BLHS) 16 1.2.3 Phân biệt Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông (Điều 288 BLHS) với tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản (Điều 290 BLHS) 16 1.2.4 Phân biệt Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông (Điều 288 BLHS) với Tội vu khống (Điều 156 BLHS) 17
Trang 61.3 Lịch sử quy định tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn trong luật hình sự Việt Nam 18
1.3.1 Giai đoạn trước năm1999 18 1.3.2 Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông theo quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 19 1.3.3 Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông theo quy định của Bộ luật hình sự năm 2015 23
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 25 CHƯƠNG 2 THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VỀ TỘI ĐƯA HOẶC SỬ DỤNG TRÁI PHÉP THÔNG TIN MẠNG MÁY TÍNH, MẠNG VIỄN THÔNG THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 26 2.1 Khái quát tình hình xử lý hình sự tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông trong những năm gần đây 26 2.2 Thực tiễn định tội danh tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông 28 2.3 Thực tiễn định khung hình phạt tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông 36 2.4 Thực tiễn quyết định hình phạt và áp dụng các biện pháp xử lý hình
sự khác đối với tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông 37 2.5 Đánh giá chung về quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự về tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông
38
2.5.1 Những bất cập trong quy định của BLHS về Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông 39 2.5.2 Những vướng mắc trong thực tiễn áp dụng tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông 43 2.5.3 Những bất cập trong công tác quản lý Nhà nước về thông tin trên mạng
46
Trang 7KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 48 CHƯƠNG 3 CÁC YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM ÁP DỤNG ĐÚNG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VỀ TỘI ĐƯA HOẶC SỬ DỤNG TRÁI PHÉP THÔNG TIN MẠNG MÁY TÍNH, MẠNG VIỄN THÔNG 49 3.1 Các yêu cầu áp dụng đúng pháp luật hình sự về tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông 49 3.2 Các giải pháp bảo đảm áp dụng đúng pháp luật hình sự về tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông 53
3.2.1 Hoàn thiện pháp luật hình sự về Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông 53 3.2.2 Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng quy định của pháp luật hình sự về tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông 57 3.2.3 Giải pháp cho những bất cập trong công tác chủ động phòng ngừa, phát hiện và xử lý tội phạm 59 3.2.4 Giải pháp cho những bất cập trong công tác quản lý nhà nước về thông tin trên mạng 59
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 61 KẾT LUẬN 62 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cùng với quá trình hội nhập nền kinh tế thế giới, để đạt mục tiêu chung phấn đấu trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại Do vậy, việc ứng dụng công nghệ thông tin ở Việt Nam được đẩy mạnh trên mọi lĩnh vực đã góp phần thúc đẩy nền kinh tế- xã hội Việt Nam phát triển hơn, đời sống nhân dân được nâng cao rõ rệt và đưa nước ta nhanh chóng phát triển Với những thành tựu đạt được trong những năm qua đã kéo theo sự bùng nổ của công nghệ thông tin, viễn thông ở Việt Nam với hệ quả là số người sử dụng internet và các thiết bị viễn thông ngày một gia tăng nhanh chóng Theo khảo sát, số người trả lời cho biết họ đang sử dụng Internet tăng mạnh Cụ thể, năm 2018, có tới 53%
số người được hỏi cho biết họ có Internet tại nhà, tăng hơn 15% so với tỷ lệ năm 2017 Bên cạnh đó, 38% số người được hỏi cho biết kênh thông tin thời sự chính của họ là qua Internet, tăng từ 28% năm 20171 Bên cạnh những mặt tích cực, công nghệ thông tin, viễn thông trở thành một lĩnh vực mà các đối tượng tập trung khai thác, sử dụng để thực hiện tội phạm Loại toại phạm trong lĩnh vực công nghệ cao này gia tăng nhanh chóng, diễn biến phức tạp và gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng Trong đó, đáng kể nhất là tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông Tội phạm này đưa lên mạng những thông tin kích động bạo lực, hình ảnh dàn dựng, công khai những thông tin riêng hợp pháp…những hành vi này không những xâm phạm lợi ích của cơ quan, tổ chức, cá nhân, mà còn ảnh hưởng đến trật tự và an toàn xã hội gây hậu quả nghiêm trọng, tạo sự bất ổn trong xã hội cản trở sự phát triển của đất nước.Chính vì vậy nhà nước ta luôn coi trọng vấn đề an toàn công cộng, trật tự công cộng, không ngừng đổi mới và hoàn thiện những quy định của pháp luật trong lĩnh vực này
Trong Bộ luật hình sự Việt Nam năm 2015, tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông được quy định tại Điều 288 BLHS là loại tội phạm xâm phạm đến lợi ích của cơ quan, tổ chức, cá nhân, xâm phạm
http://ictvietnam.vn/lan-dau-tien-cong-bo-chi-so-noi-dung-%E2%80%9Cquan-tri-dien-tu%E2%80%9D.htm (truy cập ngày: 9/6/2019)
Trang 9trật tự, an toàn xã hội gây hậu quả nghiêm trọng Tuy nhiên, thực tiễn xử lý hình
sự tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông cho thấy hàng năm chỉ có một vài vụ hoặc không có vụ án nào; tội phạm được thực hiện với thủ đoạn ngày càng tinh vi, kín đáo và có sự thay đổi phương thức liên tục nhằm lẩn tránh sự phát hiện của các cơ quan bảo vệ pháp luật Ngoài ra, các quy định của BLHS về dấu hiệu định tội và định khung hình phạt của tội phạm này vẫn còn một số vấn đề bất cập Vì vậy, trong giai đoạn hiện nay việc nghiên cứu tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông để tìm ra những bất cập, khó khăn, vướng mắc từ thực tiễn áp dụng Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông ở Việt Nam trong thời gian qua từ đó đưa ra giải pháp hoàn thiện quy định của luật hình sự về tội phạm này có ý nghĩa thực tiễn quan trọng
Từ các lý do nêu trên, tác giả lựa chọn đề tài “Tội đưa hoặc sử dụng trái
phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông trong luật hình sự Việt Nam”
để làm đề tài luận văn thạc sĩ luật học
2 Tình hình nghiên cứu
Liên quan đến đề tài của Luận văn có các công trình khoa học đã nghiên cứu như:
- Nhóm thứ nhất, các giáo trình Luật hình sự của các cơ sở đào tạo như:
(1) Võ Khánh Vinh (Chủ biên) (2012), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam- Phần
Các tội phạm, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội; (2) Võ Khánh Vinh (2013), Lý luận chung về định tội danh, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội; (3) Trường Đại học
Luật Hà Nội (2018), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam - Phần Các tội phạm,
Nxb Công an nhân dân, Hà Nội; (4) Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh
(2013), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam - Phần Các tội phạm, Nxb Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam, TP.HCM; (5) Lê Cảm (Chủ biên) (2007), Giáo trình
Luật hình sự Việt Nam - Phần Các tội phạm, Khoa Luật, Trường Đại học Quốc
gia Hà Nội, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội; …
Những giáo trình nêu trên có nội dung chủ yếu chỉ dừng lại ở việc phân tích các dấu hiệu pháp lý của tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông trong luật hình sự Việt Nam Đây là tài liệu quan trọng
Trang 10cho luận văn tham khảo khi nghiên cứu các dấu hiệu pháp lý, lý luận về định tội danh đối với tội này theo luật hình sự Việt Nam
Sách chuyên khảo “Tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin” phát
hành năm 2007, Nhà xuất bản Tư pháp, do Tiến sĩ Phạm Văn Lợi chủ biên
- Nhóm thứ hai, các khóa luận tốt nghiệp cử nhân Luật, luận văn cao học Luật liên quan đến đề tài luận văn có thể kể đến như:
Các khóa luận tốt nghiệp cử nhân tại trường Đại học Luật Tp.HCM có thể
kể đến như: “Tội phạm công nghệ thông tin trong luật Hình sự Việt Nam –
Những vấn đề lý luận và thực tiễn” của Hồng Ngọc Mai Phương, khóa luận tốt
nghiệp năm 2012; “Phòng ngừa tội phạm sử dụng công nghệ thông tin” của tác
giả Phạm Minh Hà, khóa luận tốt nghiệp năm 2012
Luận văn thạc sĩ Luật học có thể kể đến: Trần Thanh Thảo (2013), Tội
phạm công nghệ thông tin trong Bộ luật hình sự Việt Nam hiện hành, Luận văn
thạc sĩ luật học, Tp.HCM; Lê Thị Huyền Trang (2011), “Tội sử dụng mạng
máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet hoặc thiết bị số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản theo pháp luật hình sự hiện hành”, Luận văn thạc sĩ luật
học, Tp HCM
- Nhóm thứ ba, các bài viết trên các tạp chí có thể kể đến: (1) Bài viết
“Cảnh báo một số hành vi lừa đảo qua mạng máy tính, mạng internet hoặc sử dụng các phương tiện điện tử để lừa đảo chiếm đoạt tài sản” của tác giả Nguyễn
Đình Trung đăng trên Tạp chí Kiểm sát, Số 10 (tháng 05/2016), tr.35-41; (2) Bài
viết “Cần sớm sửa đổi, bổ sung Bộ luật hình sự đối với các tội phạm liên quan
đến lĩnh vực công nghệ thông tin” của tác giả Lương Thanh Hải, đăng trên Tạp
chí Kiếm sát, Số 04 (tháng 02/2013), tr.45-51; (3) Bài viết “Một số vướng mắc
và xử lý tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin và viễn thông ở Việt Nam”
của tác giả Phạm Minh Tuyên, đăng trên Tạp chí Kiếm sát, Số 23 (tháng 12/2013), tr.26-34
Các công trình nêu trên đề cập đến tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông trong luật hình sự Việt Nam dưới các khía cạnh khác nhau Đặc biệt, các công trình nghiên cứu các quy định của BLHS năm 2015 về Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng
Trang 11viễn thông rất hạn chế Chính vì vậy, trong phạm vi của luận văn này, tác giả sẽ phân tích, đánh giá những điểm bất cập trong BLHS năm 2015 về Tội đưa hoặc
sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông, đây là nội dung
mà các công trình khoa học kể trên chưa nghiên cứu Đồng thời, đánh giá những khó khăn vướng mắc trong quá trình áp dụng quy định của BLHS về tội này, để từ đó kiến nghị hoàn thiện các quy định của BLHS năm 2015 về Tội
đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là xác định những điểm bất cập chưa hợp
lý trong quy định của pháp luật hình sự về Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông theo luật hình sự Việt Nam và những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng quy định của BLHS năm 2015 về tội này để từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng quy định về Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng
máy tính, mạng viễn thông theo luật hình sự Việt Nam
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài là:
- Nghiên cứu làm sáng tỏ các vấn đề lý luận về Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông theo luật hình sự Việt Nam như: khái niệm, đặc điểm, các dấu hiệu pháp lý
- Phân tích, đánh giá, cũng như tìm ra những bất cấp trong các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông
- Phân tích, đánh giá những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng các quy định về Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông của BLHS
- Đề xuất hoàn thiện pháp luật hình về quy định Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông
Trang 124 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là nghiên cứu lý luận về Tội đưa hoặc
sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông, các quy định của BLHS và thực tiễn xử lý hình sự Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về thời gian: Luận văn nghiên cứu các vụ án có liên quan Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông từ ngày 01.01.2018 đến nay (áp dụng các quy định của BLHS năm 2015) Tuy nhiên, BLHS năm 2015 mới có hiệu lực áp dụng, thực tiễn áp dụng chưa nhiều nên luận văn nghiên cứu thêm các vụ án từ năm 2012 đến năm 2017
Phạm vi về không gian: Luận văn nghiên cứu Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông trên phạm vi cả nước
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở phương pháp luận của việc nghiên cứu đề tài là phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng nhà nước pháp quyền, về đấu tranh phòng, chống tội phạm
Để phục vụ cho việc nghiên cứu, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phương pháp phân tích, tổng hợp, phương pháp so sánh, lịch sử
- Phương pháp phân tích và tổng hợp được sử dụng để tiến hành phân tích và tổng hợp một cách khái quát các nội dung cần nghiên cứu trong Luận văn Qua đó, phân tích thành từng vấn đề để tìm hiểu cụ thể quy định về Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông Đồng thời, Luận văn tiến hành tổng hợp từng vấn đề lý luận đã phân tích, nhằm làm
rõ, đầy đủ và cụ thể về Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông
Trang 13- Phương pháp so sánh được sử dụng để làm rõ những điểm giống nhau
và khác nhau trong quy định của Bộ luật Hình sự hiện hành về Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông với các giai đoạn trước đó cũng như trong quy định giữa Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông với một số trường hợp khác có liên quan, với pháp luật của một số nước khác, để từ đó rút ra được những ưu điểm và hạn chế trong quy định về Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông
- Phương pháp lịch sử được sử dụng để tìm hiểu tiến trình hình thành và phát triển qua từng thời kỳ của quy định pháp luật hình sự về Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông
6 Những đóng góp mới về mặt khoa học của luận văn
Luận văn nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống và đồng bộ những vấn đề lý luận và thực tiễn về Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông Trong luận văn này, tác giả giải quyết các vấn đề về mặt lý luận sau:
- Phân tích một cách có hệ thống và toàn diện những vấn đề lý luận về Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông, bao gồm: khái niệm, bản chất; phân biệt với các tội phạm khác; Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông trong pháp luật hình sự Việt Nam và pháp luật hình sự một số quốc gia trên thế giới
Phân tích và luận giải một cách khoa học, đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông, đồng thời đưa ra các kiến nghị hoàn thiện quy định về tội phạm này trong BLHS
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận văn
Những nội dung của Luận văn đưa ra đã góp phần làm phong phú thêm lý luận về Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông, đồng thời nâng cao nhận thức về Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông trong luật hình sự Việt Nam
Trang 14Từ một số giải pháp hoàn thiện Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông sẽ góp phần sửa đổi, bổ sung quy định về Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông trong thời gian tới
Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong công tác nghiên cứu khoa học chuyên ngành và tài liệu tham khảo đối với cán bộ làm công tác nghiên cứu, giảng dạy và cán bộ làm công tác điều tra, truy tố, xét xử
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 03 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật hình sự việt nam về tội đưa
hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông
Chương 2: Thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự về tội đưa hoặc sử dụng
trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông theo luật hình sự Việt Nam
Chương 3: Các yêu cầu và giải pháp bảo đảo áp dụng đúng pháp luật hình
sự về tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông
Trang 15CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
VỀ TỘI ĐƯA HOẶC SỬ DỤNG TRÁI PHÉP THÔNG TIN
MẠNG MÁY TÍNH, MẠNG VIỄN THÔNG 1.1 Khái niệm và các dấu hiệu pháp lý của tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông
Trong BLHS năm 2015, tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông được quy định tại Điều 288 BLHS Theo quy định tại Điều 288 BLHS thì Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông có thể được hiểu là hành vi của người cố ý đưa lên mạng máy tính, mạng viễn thông những thông tin trái với quy định của pháp luật (không thuộc trường hợp quy định tại Điều 117, 155, 156 và Điều 326 của BLHS) hoặc mua bán, trao đổi, tặng cho, sửa chữa, thay đổi hay công khai hóa những thông tin riêng hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác trên mạng máy tính, mạng viễn thông mà không được phép của chủ sở hữu thông tin đó hoặc có hành vi khác sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông thu lợi bất chính từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng hoặc gây dư luận xấu làm giảm
uy tín của cơ quan, tổ chức.2
Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông được hiểu là hành vi của người đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông xâm phạm lợi ích của cơ quan, tổ chức, cá nhân, xâm
Với tư cách là một tội phạm, Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thôngcó các dấu hiệu chung của tội phạm:
- Thứ nhất, Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thônglà hành vi có tính nguy hiểm đáng kể cho xã hội
Đức-Hội luật gia VN, Tp.HCM, tr137
Trang 16Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông
có tính nguy hiểm cho xã hội được thể hiện ở chỗ nó xâm phạm đến sự an toàn trong lĩnh vực công nghệ thông tin thông qua việc tác động đến các thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông, gây thiệt hại cho các quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và công dân Tính nguy hiểm cho xã hội được xác định thông qua các tính tiết như: thiệt hại mà tội phạm đã gây ra, thủ đoạn phạm tội, mức độ lỗi cố ý, động cơ, mục đích của tội phạm, nhân thân người phạm tội …
Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông phải có tính nguy hiểm đáng kể cho xã hội, bởi vì những hành vi phạm tội tuy có dấu hiệu của tội phạm nhưng tính nguy hiểm không đáng kể thì không bị coi là tội phạm (khoản 2 Điều 8 BLHS năm 2015)
Đặc điểm này có ý nghĩa quan trong về mặt lý luận là khi hoàn thiện các dấu hiệu định tội của Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông phải đảm bảo yêu cầu là cấu thành cơ bản Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông phải có tính nguy hiểm đáng kể cho xã hội
- Thứ hai, Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông là hành vi có tính có lỗi
Lỗi là thái độ chủ quan của con người đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội của mình và đối với hậu quả của hành vi đó thể hiện dưới dạng cố ý hoặc vô
ý Người phạm tội phải có lỗi khi thực hiện hành vi bị coi là tội phạm thì việc áp dụng hình phạt đối với người đó mới có thể đạt được mục đích chủ yếu của hình phạt là cải tạo, giáo dục người phạm tội Lỗi của Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông là lỗi cố ý trực tiếp, là thái độ tâm lý của người phạm tội đối với hành vi đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông và hậu quả do hành vi đó gây ra
Đặc điểm này đòi hỏi khi hoàn thiện các dấu hiệu định tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông phải đảm bảo yêu cầu
là phải thể hiện cho được lỗi của tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông trong cấu thành cơ bản chỉ là lỗi cố ý trực tiếp; trường hợp hỗn hợp lỗi (nếu có) chỉ có trong cấu thành tội phạm tăng nặng
Trang 17- Thứ ba, tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông là hành vi có tính trái pháp luật
Theo quy định tại khoản 1 Điều 8 của BLHS năm 2015 thì hành vi nguy hiểm cho xã hội chỉ có thể bị coi là tội phạm nếu hành vi đó “được quy định trong Bộ luật hình sự ” và Điều 2 BLHS năm 2015 quy định: “Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự” Do đó, tính trái pháp luật thể hiện ở chỗ tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông phải được quy định trong luật hình
sự Đây là yêu cầu của nguyên tắc pháp chế và là sự cụ thể cơ sở của trách nhiệm hình sự (Điều 2 BLHS năm 2015) Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông là một tội phạm được quy định tại Điều 288 BLHS năm 2015 nên khi xác định hành vi đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông gây nguy hiểm đáng kể cho xã hội là tội phạm thì phải xác định nó có đầy đủ các dấu hiệu của tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông được quy định tại khoản 1 Điều 288 BLHS (cấu thành tội phạm cơ bản)
- Thứ tư, tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông là hành vi có tính phải chịu hình phạt
Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước được quy định trong BLHS Chỉ có hành vi phạm tội mới phải chịu hình phạt, không
có tội phạm thì không có hình phạt Tính chịu hình phạt của tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông được thể hiện ở chỗ nó luôn phải đe dọa phải chịu hình phạt do việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông là một tội phạm được quy định tại Điều 288 BLHS nên khi một người phạm tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông thì người đó
có thể phải chịu hình phạt theo mức hình phạt được quy định trong BLHS.Tuy nhiên, tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông
“có thể” phải chịu hình phạt bởi vì trong một số trường hợp đặc biệt như: miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt … thì người phạm tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông không phải chịu hình phạt
Trang 18Hình phạt đối với hành vi đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông chính là hình thức phản ánh tính nguy hiểm cho xã hội của tội này, thể hiện tính cưỡng chế nhà nước nghiêm khắc nhất nhằm răn
đe và phòng ngừa đối với loại hành vi nguy hiểm đáng kể cho xã hội này
Như vậy, tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông có đầy đủ các dấu hiệu chung của tội phạm, đây là tiền đề quan trọng
để Luận văn phân tích các dấu hiệu pháp lý của tội này
1.1.2 Các dấu hiệu pháp lý
Theo quy định của BLHS năm 2015, để cấu thành tội phạm này thì hành
vi đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông phải đáp ứng bốn dấu hiệu pháp lý sau đây:
- Khách thể của tội phạm
Tội phạm này xâm phạm đến sự an toàn trong lĩnh vực công nghệ thông tin thông qua việc tác động đến các thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông, gây thiệt hại cho các quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và công dân
Đối tượng tác động của tội phạm này bao gồm hai loại:
+ Những thông tin trái với các quy định của pháp luật không thuộc trường hợp được quy định tại Điều 117, 155, 156 và Điều 326 của BLHS Như vậy, những thông tin này có thể là bất kỳ thông tin gì chứa đựng nội dung trái với quy định của pháp luật, bị cấm lưu hành nhưng không phải là những thông tin chứa đựng nội dung xuyên tạc, phỉ báng chính quyền nhân dân, chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo Điều 117 BLHS hay những thông tin chứa đựng nội dung nhằm làm nhục hoặc vu khống người khác theo quy định tại Điều
155, 156 BLHS, hoặc nội dung có tính chất đồi trụy theo Điều 326 BLHS;
+ Những thông tin riêng hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân Đây là những thông tin không chứa đựng những nội dung trái với quy định của pháp luật nhưng những thông tin này thuộc quyền sở hữu của các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác được pháp luật bảo vệ chứ không thuộc sở hữu của người phạm tội4
Việc sử dụng các thông tin này phải được sự cho phép của chủ sở hữu
4
Điều 2 Thông tư liên tịch số 10/2012/TTLT-BCA-BQP-BTP-BTT&TT-VKSNDTC-TANDTC
Trang 19- Mặt khách quan của tội phạm
Mặt khách quan của tội phạm này được thể hiện ở các dấu hiệu sau đây: Dấu hiệu đầu tiên là dấu hiệu về hành vi khách quan của tội phạm Người phạm tội có hành vi đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông
+ Hành vi đưa trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông là hành
vi đưa lên mạng máy tính, mạng viễn thông những thông tin trái với quy định của pháp luật mà không thuộc các trường hợp được quy định tại Điều 117, 155,
156 và Điều 326 của BLHS Hiện nay, có những thông tin mà pháp luật cấm không được lưu hành nhưng người phạm tội đã cố ý lưu hành rộng rãi những thông tin này thông qua việc đưa thông tin lên mạng máy tính, mạng viễn thông khiến những người sử dụng các mạng này đều có thể tiếp nhận những thông tin nói trên Hành vi này chỉ cấu thành tội phạm tại Điều 288 BLHS nếu những thông tin đó không thuộc các trường hợp được quy định tại Điều 117, 155, 156
Trang 20+ Hành vi khác sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông Hành vi đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn
thông chỉbị truy cứu trách nhiệm trách nhiệm hình sự nếu “thu lợi bất chính từ
50.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại từ 100.000.000 đồng hoặc gây dư luận xấu
Để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội theo Điều 288 BLHS thì cần chứng minh hành vi đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông là nguyên nhân dẫn đến hệ quả là hậu quả về vật chất cũng như hậu quả phi vật chất như trên, tức là giữa hành vi vi phạm và hậu quả nghiêm trọng xảy ra có mối quan hệ nhân quả với nhau
- Mặt chủ quan của tội phạm
Tội phạm này được thực hiện do lỗi cố ý Người phạm tội nhận thức rõ hành vi đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông là hành vi nguy hiểm cho xã hội, có khả năng gây hậu quả nghiêm trọng nhưng vẫn thực hiện hành vi Động cơ phạm tội và mục đích phạm tội rất đa dạng nhưng không phải là dấu hiệu bắt buộc để cấu thành tội này
- Chủ thể của tội phạm
Chủ thể của tội này là bất kỳ người nào từ đủ 16 tuổi trở lên và không rơi vào tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi không chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm này
1.1.3 Hình phạt của tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông
Khung hình phạt cơ bản
Phạm tội ở khoản 1 Điều 288 Bộ luật hình sự 2015 là cấu thành cơ bản của tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông quy định mức phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm
5
Khoản 1 Điều 288 BLHS
Trang 21b Phạm tội do lợi dụng quyền quản trị mạng máy tính, mạng viễn thông
Lợi dụng quyền quản trị mạng máy tính, mạng viễn thông được hiểu là người phạm tội đã sử dụng quyền quản lý, vận hành, khai thác và duy trì hoạt động ổn định hệ thống mạng máy tính, mạng viễn thông của mình để thực hiện hành vi phạm tội
c) Thu lợi bất chính 200.000.000 đồng trở lên;
d Gây thiệt hại 500.000.000 đồng trở lên;
đ Xâm phạm bí mật cá nhân dẫn đến người bị xâm phạm tự sát;
e Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội hoặc quan hệ đối ngoại của Việt Nam;
g Dẫn đến biểu tình
Theo quy định tại khoản 3 Điều 288 BLHS, thì ngoài hình phạt chính thì người phạm Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông, còn còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm
Trang 22Hình phạt bổ sung quy định dưới dạng tùy nghi nên tòa án có thể áp dụng
và cũng có thể không áp dụng nếu thấy việc áp dụng hình phạt tiền, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định đối với người phạm tội là không cần thiết
1.2 Phân biệt tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông (Điều 288 BLHS) với một số tội phạm khác
Với tính chất là một tội phạm mới trong luật hình sự và có thể dễ dàng nhầm lẫn với những hành vi của tội phạm truyền thống được thực hiện với công
cụ, phương tiện là những thành tựu khoa học kỹ thuật hiện đại, do vậy cần phân biệt tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông với một số tội phạm khác để dễ dàng nhận dạng và định tội danh phù hợp
1.2.1 Phân biệt tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông (Điều 288 BLHS) với tội phát tán chương trình tin học gây hại cho hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử (Điều
286 BLHS)
Nhìn chung hai tội này có những điểm giống nhau cơ bản sau:
+ Về chủ thể: chủ thể của hai tội này là chủ thể thường, là người có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định
+ Về khách thể: đều xâm hại đến sự an toàn trong hoạt động của lĩnh vực công nghệ thông tin và viễn thông
+ Về mặt chủ quan: đều thực hiện với lỗi cố ý Người phạm tội nhận thức rõhành vi của mình là trái pháp luật và mong muốn thực hiện hành vi đó
Những điểm khác nhau cơ bản:
+ Đối tượng của Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông (Điều 288 BLHS) là những thông tin được truyền, đưa hoặc sử dụng trái phép trên mạng máy tính, mạng viễn thông không có “tính năng gây hại” cho hoạt động mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng internet, thiết bị số
+ Đối với tội phát tán vi rút, chương trình tin học có tính năng gây hại cho hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng internet, thiết bị số (Điều
Trang 23286 BLHS) có đối tượng tác động được phát tán là vi rút, chương trình tin học có tính năng gây hại cho hoạt động mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng internet, thiết bị số
1.2.2 Phân biệt Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông (Điều 188 BLHS) với tội cản trở hoặc gây rối loạn cho hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử (Điều
287 BLHS)
Nhìn chung hai tội này có những điểm giống nhau cơ bản sau:
+ Về chủ thể: chủ thể của hai tội này là chủ thể thường, là người có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định
+ Về khách thể: Đều xâm hại đến sự an toàn trong hoạt động của lĩnh vực công nghệ thông tin và viễn thông
+ Về mặt chủ quan: Đều thực hiện với lỗi cố ý Người phạm tội nhận thức
rõ hànhvi của mình là trái pháp luật và mong muốn thực hiện hành vi đó
Những điểm khác nhau cơ bản:
+ Đối với Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông: hành vi khách quan của tội này là hành vi đưa hoặc sử dụng trái phép trên mạng máy tính, mạng viễn thông
+ Đối với tội cản trở hoặc gây rối loạn cho hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử: hành vi khách quan của tội này làm cản trở hoặc gây rối loạn cho hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng internet, thiết bị số Đối tượng bị xâm hạị của tội này gồm bốn đối tượng là mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng internet, thiết bị số
1.2.3 Phân biệt Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông (Điều 288 BLHS) với tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản (Điều 290 BLHS)
Nhìn chung hai tội này có những điểm giống nhau cơ bản sau:
+ Về chủ thể: chủ thể của hai tội này là chủ thể thường - là người có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định
Trang 24+ Về khách thể: Đều xâm hại đến sự an toàn trong hoạt động của lĩnhvực công nghệ thông tin và viễn thông
+ Về mặt chủ quan: đều thực hiện với lỗi cố ý Người phạm tội nhận thức
rõ hành vi của mình là trái pháp luật và mong muốn thực hiện hành vi đó
Những điểm khác nhau cơ bản:
+ Đối với Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông: người phạm tội thực hiện các hành vi khách quan nhằm mục đích xâm phạm lợi ích của cơ quan, tổ chức, cá nhân, xâm phạm trật tự, an toàn xã hội
+ Đối với tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản: người phạm tội chỉ cần thực hiện một trong số các hành vi khách quan của tội này thì tội phạm coi như hoàn thành mà không cần dấu hiệu hậu quả Tội phạm được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp và mục đích chiếm đoạt tài sản là dấu hiệu chủ quan bắt buộc đối với tội phạm này
1.2.4 Phân biệt Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông (Điều 288 BLHS) với Tội vu khống (Điều 156 BLHS)
Hai tội danh này đều có hành vi lan truyền, công khai các thông tin có thể gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến danh dự nhân phẩm cá nhân
Khách thể của tội vu khống là danh dự, nhân phẩm của người khác Khách thể của Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông là sự ổn định của hoạt động công nghệ thông tin - viễn thông, các quyền
và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức được luật hình sự bảo vệ
Hành vi khách quan của tội vu khống có ba loại hành vi: bịa đặt thông tin xấu cho người khác, loan truyền thông tin biết là bịa đặt hay bịa đặt người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan nhà nước Hành vi của Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông là đưa lên mạng thông tin trái với quy định của pháp luật hoặc sử dụng trái phép (mua bán, trao đổi, tặng cho, sửa chữa, thay đổi hoặc công khai hoá, hành vi khác…) những thông tin riêng hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác trên mạng Như vậy, ở tội vu khống, thông tin là sản phẩm hư cấu nhằm mục đích xấu, chủ yếu
Trang 25do người phạm tội tạo ra Ở tội danh tại Điều 288, thông tin đó có thể là thông tin hợp pháp, bất hợp pháp, chính xác hoặc không có thật và có từ nhiều nguồn khác nhau
Ngoài ra, dấu hiệu hậu quả là dấu hiệu định tội trong một số trường hợp của CTTP cơ bản Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông (khoản 1 Điều 288 BLHS), trong khi tội vu khống là tội phạm có CTTP hình thức
Qua nghiên cứu, phân tích những dấu hiệu pháp lý của Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông (Điều 288 BLHS) không chỉ làm rõ nội dung, quy định của điều luật mà còn trở thành cơ sở để phân biệt tội phạm này với các tội phạm khác trong BLHS Có thể khẳng định rằng dấu hiệu pháp lý của Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông là hoàn toàn phân biệt với các tội phạm khác Các phân biệt này giúp cho việc định tội danh tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin
mạng máy tính, mạng viễn thông (Điều 288 BLHS) được chính xác
1.3 Lịch sử quy định tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn trong luật hình sự Việt Nam
1.3.1 Giai đoạn trước năm1999
Với chính sách hội nhập quốc tế, ngày 19/11/1997 Việt Nam đã chính thức triển khai và thực hiện kết nối với mạng Internet, việc kết nối này thật sự đã trở thành sự kiện quan trong đối với đất nước, đáp ứng nhu cầu trực tiếp của phần lớn ban ngành chức năng, Ngày 01/12/1997 Việt Nam chính thức đưa Internet vào hoạt động một cách rộng rãi và cho đến hiện nay, Internet không còn là môi trường xa lạ đối với người dân Việt Nam, và hiệu quả của Internet là điều không thể phủ nhận trong thành quả chung của sự đổi mới đất nước Tuy nhiên, trong quá trình đổi mới đất nước, bên cạnh những thành tựu đạt được thì trong đời sống xã hội lại nảy sinh nhiều vấn đề tiêu cực, trong đó tình tôi phạm diễn biến phức tạp Tuy xuất hiện nhiều hành vi phạm tội mới nhưng chưa được ghi
nhận trong Bộ luật hìnhsự 1985 trong đó có “tội đưa hoặc sử dụng trái phép
thông tin trên mạng máy tính,mạng viễn thông” Mặc dù Bộ luật hình sự 1985
đã được sửa đổi, bổ sung bốn lần, nhưng do là vấn đề khoa học kỹ thuật mới
Trang 26nảy sinh, chưa phổ biến tại Việt Nam vào thời gian đó nên BLHS năm 1985 chưa bổ sung tội này vào trong BLHS
1.3.2 Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông theo quy định của Bộ luật hình sự năm 1999
Với sự phát triển của nền kinh tế, xã hội của đất nước, Bộ luật hình sự 1985 đã bộc lộ nhiều vấn đề hạn chế, nhiều quy định không còn đáp ứng được nhu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trong giai đoạn mới
Đáp ứng yêu cầu hiện tại của nước ta ngày 21/12/1999 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa X tại kỳ họp thứ 6, đã thông qua Bộ luật hình sự (gọi tắt là Bộ luật hình sự 1999) thay cho Bộ luật hình sự 1985 có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2000 Bộ luật hình sự năm 1999 đã góp phần quan trọng vào việc giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ quyền,lợi ích hợp pháp của công dân, đấu tranh phòng, chống tội phạm, góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa góp phần đẩy nhanh công cuộc đổi mới đất nước, nhất là trong thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.Trước những tác hại to lớn cho xã hội mà tội phạm mạng
đã gây ra, Nhà nước ta đã tội phạm hóa một số hành vi nguy hiểm cho xã hội liên quan đến môi trường mạng máy tính trong Bộ luật hình sự Việt Nam năm
1999 Cụ thể, Bộ luật hình sự năm 1999 quy định cụ thể ba tội danh liên quan đến tội phạm mạng máy tính từ Điều 224 đến Điều226 thuộc Chương XIX - Các tội xâm phạm trật tự công công, an toàn công cộng, trong đó tội sử dụng trái phép thông tin trên mạng và trong máy tính được quy định tại Điều 226
Điều 226 Tội sử dụng trái phép thông tin trên mạng và trong máy tính
1 Người nào sử dụng trái phép thông tin trên mạng và trong máy tính, cũng như đưa vào mạng máy tính những thông tin trái với quy định của pháp luật gây hậu quả nghiêm trọng, đã bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính mà còn vi phạm, thì bị phạt tiềntừ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm
Trang 272 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến năm năm:
a) Có tổ chức;
b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng
3 Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ ba triệu đồng đến ba mươi triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm
Bộ luật hình sự 1999 có hiệu lực thi hành từ ngày 1-7- 2000, trong đó
Trong đó Tội sử dụng trái phép thông tin trên mạng và trong máy tính (Điều 226
BLHS năm 1999) có các điểm chú ý sau:
- Thứ nhất, đối với tội sử dụng trái phép thông tin trên mạng và trong máy tính (Điều 226 – BLHS): tội này quy định điều kiện để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi này phải là “gây hậu quả nghiêm trọng, đã bị xử
lý kỷ luật, xử phạt hành chính mà còn vi phạm”
Với việc quy định như trên có thể hiểu là người vi phạm điều luật này chỉ
có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi đồng thời phải gây hậu quả nghiêm trọng và bị xử lý kỷ luật hoặc bị xử phạt hành chính, còn nếu chỉ gây hậu quả nghiêm trọng thì không cấu thành tội phạm Ngược lại, có ý kiến cho rằng, chỉ cần gây hậu quả nghiêm trọng là cấu thành tội phạm, nếu không gây hậu quả nghiêm trọng thì phải bị xử lý kỷ luật hoặc bị xử phạt hành chính Và cũng theo tinh thần của điều luật này thì không rõ gây hậu quả đến mức độ nào là “gây hậu quả nghiêm trọng” Hình phạt này còn nhẹ, chưa tương xứng với thiệt hại
do hành vi phạm tội gây ra nên chưa đạt mục đích trừng trị người phạm tội, giáo dục họ trở thành những người có ích cho xã hội và giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm
- Thứ hai, đối với hành vi sử dụng trái phép thông tin trên mạng và trong
máy tính (Điều 226 – BLHS) Trong thực tế, đa số các chủ thể vi phạm đều sử dụng vi rút tin học để đánh cắp mật khẩu đột nhập vào mạng phá hủy hàng rào bảo vệ phần mềm để sao chép, chuyển đổi bất hợp pháp các thông tin trên mạng máy tính… Về hành vi này có ý kiến cho rằng chủ thể vi phạm phải chịu trách
Trang 28nhiệm hình sự về cả hai tội danh: Tội tạo ra và lan truyền, phát tán các chương trình vi rút tin học (Điều 224)và Tội sử dụng trái phép thông tin trên mạng và trong máy tính (Điều 226)
Qua nghiên cứu cho thấy quy định của Bộ luật hình sự 1999 tại Điều 226 chưa đủ sức răn đe loại tội phạm này và còn có nhiều vướng mắc, bất cập đòi hỏi phải tiếp tục hoàn thiện đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống loại tội phạm này trên thực tế
Việc sửa đổi, bổ sung các quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 là một đòi hỏi khách quan và cấp thiết nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển về kinh tế và xã hội, yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm của nước ta tại thời điểm này Do vậy, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII tại kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 19/06/2009 đã sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ hoặc thay thế một số điều, khoản, cụm từ của Bộ luật hình sự 1999 Trong đó, tội sử dụng trái phép thông tin trên mạng và trong máy tính (Bộ luật hình sự 1999) vẫn được quy định tại điều 226
Bộ luật hình sự năm 1999 nhưng đã có những sự thay đổi, bổ sung cần thiết cả
về tên tội danh lẫn nội dung của điều luật Cụ thể:
Điều 226 Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin trên mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet
1 Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây xâm phạm lợi ích của cơ quan, tổ chức, cá nhân, xâm phạm trật tự, an toàn xã hội gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:
a) Đưa lên mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet những thông tin trái với quy định của pháp luật, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 88 và Điều 253 của Bộ luậtnày;
b) Mua bán, trao đổi, tặng cho, sửa chữa, thay đổi hoặc công khai hoá những thông tin riêng hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác trên mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet mà không được phép của chủ sở hữu thông tin đó;
Trang 29c) Hành vi khác sử dụng trái phép thông tin trên mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet
2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:
a) Có tổ chức;
b) Lợi dụng quyền quản trị mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet;
c) Thu lợi bất chính từ một trăm triệu đồng trở lên;
d) Gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng
3 Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ hai mươi triệu đồng đến hai trăm triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm
Qua nghiên cứu về tội phạm này trong Luật sửa đổi, bổ sung năm 2009,
ta thấy:
Về tên tội danh, trong Bộ luật hình sự 1999 thì sử dụng tên “Tội sử dụng trái phép thông tin trên mạng và trong máy tính” nhưng đến năm 2009 nhằm thiết kế điều luật theo hướng cụ thể hơn, rõ ràng hơn, đưa thêm một số hành vi
vào ngay tên gọi của điều luật nên đã sửa tên điều luật thành“Tội đưa hoặc sử
dụng trái phép thông tin trên mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet”
trong Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự1999
Về nội dung, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự 1999
đã phi hình sự hóa một số trường hợp phạm tội bằng việc loại bỏ một số dấu hiệu
để cấu thành tội phạm (cấu thành tội phạm cơ bản): “đã bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính mà còn vi phạm” Tức là không xử lý về hình sự đối với người thực hiện hành vi quy định tại khoản 1 Điều 226 Bộ luật hình sự theo tình tiết “bị xử
lý kỷ luật, xử phạt hành chính mà còn vi phạm” Ngoài ra, Luật sửa đổi, bổ sung
cũng đưa thêm vào cấu thành tăng nặng một số tình tiết định khung như “Lợi
dụng quyền quản trị mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet”.“Thu lợi bất chính từ một trăm triệu đồng trở lên” (Khoản 2 Điều 226) Bên cạnh đó,
điều luật này cũng được sửa đổi theo hướng tăng nặng hình phạt tiền từ “năm
Trang 30triệu đồng đến năm mươi triệu đồng” lên "từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng" (khoản 1 Điều 226) Hình phạt tiền là hình phạt bổ sung của Điều 226 đã
nâng từ “ba triệu đồng đến ba mươi triệu đồng”lên “từ hai mươi triệu đồng đến
hai trăm triệu đồng” Tăng mức hình phạt như vậy mới tương xứng với hành vi
phạm tội và đủ sức răn đe tội phạm
1.3.3 Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông theo quy định của Bộ luật hình sự năm 2015
Trong BLHS năm 2015, tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông được quy định tại Điều 288 BLHS6 So với quy định của BLHS năm 1999 thì tội phạm này có những điểm mới sau:
Thứ nhất, cụ thể hóa dấu hiệu “xâm phạm lợi ích của cơ quan, tổ chức, cá nhân, xâm phạm trật tự, an toàn xã hội gây hậu quả nghiêm trọng” bằng một
trong các dấu hiệu: Thu lợi bất chính từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng; gây thiệt hại từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng hoặc gây dư luận xấu làm giảm uy tín của cơ quan, tổ chức, cá nhân
Thứ hai, bổ sung thêm hai trường hợp áp dụng:
- Hành vi đưa lên mạng máy tính, mạng viễn thông những thông tin trái quy định pháp luật nếu không xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của
6
Điều 288 Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông
1 Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, thu lợi bất chính từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng hoặc gây dư luận xấu làm giảm uy tín của cơ quan, tổ chức, cá nhân, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Đưa lên mạng máy tính, mạng viễn thông những thông tin trái với quy định của pháp luật, nếu không thuộc một trong các trường hợp quy định tại các Điều 117, 155, 156 và 326 của Bộ luật này;
b) Mua bán, trao đổi, tặng cho, sửa chữa, thay đổi hoặc công khai hóa thông tin riêng hợp pháp của cơ quan,
tổ chức, cá nhân trên mạng máy tính, mạng viễn thông mà không được phép của chủ sở hữu thông tin đó; c) Hành vi khác sử dụng trái phép thông tin trên mạng máy tính, mạng viễn thông
2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
a) Có tổ chức;
b) Lợi dụng quyền quản trị mạng máy tính, mạng viễn thông;
c) Thu lợi bất chính 200.000.000 đồng trở lên;
d) Gây thiệt hại 500.000.000 đồng trở lên;
đ) Xâm phạm bí mật cá nhân dẫn đến người bị xâm phạm tự sát;
e) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội hoặc quan hệ đối ngoại của Việt Nam;
g) Dẫn đến biểu tình
3 Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm
Trang 31người khác thì mới cấu thành Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông (Điều 288 BLHS) Nếu hành vi này xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác thì cấu thành Tội làm nhục người khác (Điều 155 BLHS);
Hành vi đưa lên mạng máy tính, mạng viễn thông những thông tin trái quy định pháp luật nếu có tính chất bịa đặt hoặc lan truyền những điều biết rõ là sai
sự thật nhằm xâm phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác hoặc có tính chất bịa đặt người khác phạm tội thì cấu thành Tội vu khống (Điều 156 BLHS) Nếu không thuộc trường hợp trên thì mới cấu thành Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông (Điều 288 BLHS)
Trang 32KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Trong Chương 1 của Luận văn, tác giả đã nghiên cứu một số vấn đề lý luận và pháp luật hình sự Việt Nam về tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông như: các khái niệm, dấu hiệu pháp lý, lịch sử hình thành phát triển quy định về tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn Kết quả nghiên cứu tại Chương 1 của Luận văn được thể hiện qua các nội dung sau:
1 Xây dựng được khái niệm tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông được hiểu là hành vi của người đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông xâm phạm lợi ích của cơ quan, tổ chức, cá nhân, xâm phạm trật tự an toàn xã hội gây hậu quả nghiêm trọng
2 Phân tích được các dấu hiệu chung và dấu hiệu pháp lý của tội đưa hoặc
sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông Từ đó, phân biệt được tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông với một số tội phạm khác có dấu hiệu tương tự trong BLHS
3 Nghiên cứu được lịch sử quy định tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn trong luật hình sự Việt Nam Cụ thể là nghiên cứu quy định của tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn trong luật hình sự Việt Nam theo trình tự về mặt thời gian: (1) Giai đoạn trước năm 1999; (2) trong Bộ luật hình sự năm 1999; (3) trong BLHS năm 2015 qua
đó chỉ rõ sự kế thừa và phát triển ngày càng hoàn thiện hơn quy định về tội phạm này trong luật hình sự Việt Nam
Những kết quả nghiên cứu của Chương 1 là cơ sở để tác giả nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật và kiến nghị hoàn thiện quy định về tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn trong Chương 2 và Chương
3 của Luận văn
Trang 33CHƯƠNG 2 THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VỀ TỘI ĐƯA HOẶC SỬ DỤNG TRÁI PHÉP THÔNG TIN MẠNG MÁY TÍNH, MẠNG VIỄN THÔNG THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
2.1 Khái quát tình hình xử lý hình sự tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông trong những năm gần đây
Tội phạm công nghệ cao chỉ xuất hiện rầm rộ ở nước ta trong những năm gần đây và ngày càng có chiều hướng gia tăng Năm 2016 đã phát hiện, khởi tố điều tra 217 vụ, 493 bị can phạm tội sử dụng công nghệ cao (nhiều hơn 75% số
vụ và 129,3% số bị can so với năm 2015) Năm 2017, đã phát hiện, khởi tố điều tra 197 vụ, 359 bị can (ít hơn 9,22% số vụ và 27,18% số bị can so với năm 2016) Riêng từ đầu năm 2018 đến nay, đã khởi tố điều tra 117 vụ, 196 bị can (giảm 13,97% vụ, tăng 4,26% bị can so với cùng kỳ năm 2017) Trong đó đã phát hiện, triệt phá nhiều vụ án lớn như: vụ án công ty CNC tổ chức đánh bạc, đánh bạc trực tuyến trên mạng Internet bằng hình thức game bài với gần 43 triệu tài khoản tham gia đánh bạc; 25 đại lý cấp 1 và 5.877 đại lý cấp 2 trên phạm vi toàn quốc để giao dịch mua, bán Rik (tiền ảo) với tổng số tiền thu lợi bất chính trên 9.853 tỷ đồng, thu giữ trên 1.760 tỷ đồng; khởi tố điều tra, làm rõ
105 bị can về các tội danh liên quan7
Tính chất nguy hiểm của tội phạm này chính là mối đe dọa của an ninh chính trị (nhiều quốc gia trên thế giới cũng đã phát hiện nhiều thông tin mật, nhạy cảm đã bị đánh cắp và nhiều hệ thống thông tin trọng yếu đã bị tấn công phá hủy, bởi những tác nhân bên ngoài và bị sử dụng để tấn công phá hoại hệ thống cơ sở hạ tầng có liên quan) Kết quả này cho thấy tội phạm công nghệ cao là vấn đề nghiêm trọng ở việt Nam, công cuộc nổ lực đấu tranh phòng chống chưa đạt hiệu quả cao Trước sự gia tăng của tội phạm này, trong năm
2013 chính phủ đã ban hành nghị định số 72/2013/NĐ-CP ngày 15 tháng 07 năm 2013 về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thông tin trên mạng, đến năm 2014 chính phủ ban hành nghị định số 25/2014/NĐ-CP ngày 07
vneconomy.vn/bo-truong-cong-an-toi-pham-cong-nghe-cao-kho-phong-ngua-va-dau-tranh-hon-truoc-20180 813084443184.htm, truy cập ngày: 20/9/2019
Trang 34tháng 04 năm 2014 quy định về phòng, chống tội phạm và quy phạm pháp luật khác có sử dụng công nghệ cao; Thông tư số 09/2014/TT-BTTTT ngày 19 tháng 08/2014 quy định chi tiết về hoạt động quản lý,cung cấp, sử dụng thông tin trên trang thông tin điện tử và mạng xã hội; và gần đây nhất là Luật an ninh mạng năm 2018 Có thể đây chính là sự cố gắng của cơ quan chức năng trong việc tạo ra hành lang pháp lý ngăn chặn tội phạm tuy chưa mang lại những hiệu quả như mong đợi
Mặc dù Bộ luật hình sự năm 1999 đã quy định ba điều luật về các tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin và viễn thông là Điều 224, 225, 226
và luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự năm 2009 đã tội phạm hóa một số hành vi thành các tội độc lập, quy định tại Điều 226a, 226b Hiện nay, tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông được quy định tại Điều 288 BLHS năm 2015 Song thực tiễn các vụ án trong lĩnh vực công nghệ thông tin được đưa ra xét xử rất ít Thực tế cho thấy mức độ
áp dụng luật hình sự xử lý tội phạm đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông còn thấp so với mức độ tội phạm xảy ra, bởi Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông chủ yếu gây ra hậu quả phi vật chất Do vậy, rất khó khăn trong việc đánh giá, xác định mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội để xử lý hình sự đối với người phạm tội bởi dựa theo ý chí của con người đôi khi không khách quan Tội phạm này hoàn thành khi thiệt hại xảy ra, thiệt hại này được xác định là nghiêm trọng Nếu thiệt hại là ít nghiêm trọng thì hành vi này không bị truy cứu trách nhiệm hình sự
Số liệu thống kê tội phạm tuy không đáng kể không phải là do không có hành vi phạm tội mà do khi hành vi có dấu hiệu tội phạm xảy ra không tìm ra được chứng cứ xác đáng để chứng minh hành vi này có đủ dấu hiệu của Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông nên việc đưa
ra xét xử trước tòa gặp nhiều khó khăn
Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông không xảy ra nhiều Tuy nhiên, mỗi vụ án đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông đều diễn ra với quy mô, tầm ảnh
Trang 35hưởng ngày càng sâu rộng và đa phương thức, trong một số trường hợp còn có thể tác động đến an ninh chính trị, quan hệ giao thương của Việt Nam các quốc gia khác Điển hình như vụ hai đối tượng tung clip đột kích New Century lên mạng với những hình ảnh bôi xấu lực lượng công an trong lúc đang thi hành công vụ8
Hơn nữa, tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông còn có thể là nguyên nhân gây ra nhiều tội phạm khác như tội cố ý gây thương tích, giết người, lừa đảo chiếm đoạt tài sản…
Tình trạng Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông có xu hướng ngày càng gia tăng, tuy nhiên số vụ án được đưa ra xét
xử ít là do các quy định của pháp luật, công tác quản lý của nhà nước còn nhiều
sơ hở và yếu kém Do đó, cần có những biện pháp kịp thời để chủ động ngăn chặn Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông xảy ra ở nước ta Bên cạnh đó, thông qua công tác xét xử, khi tòa án phát hiện có
sự buông lỏng trong công tác quản lý là nguyên nhân phát sinh tội phạm thì ngoài việc quyết định xử phạt đối với bị cáo, tòa án có quyền yêu cầu cơ quan tổ chức có liên quan áp dụng các biện pháp cần thiết khắc phục nguyên nhân phát sinh tội phạm
2.2 Thực tiễn định tội danh tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông
Thứ nhất, thực tiễn định tội danh cho thấy vẫn còn tình trạng chưa phân định rõ ràng sự tranh chấp tội danh giữa tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông với các tội phạm khác
Ví dụ:
Tại Bản án số: 04/2016/HSST ngày: 07/01/2016 của TAND Tp.HCM xác
định: Hành vi của bị cáo Văn Tiến Tú trong việc tổ chức, điều hành cho các đối
tượng mua, bán thông tin thẻ tín dụng do các hacker trộm cắp để thu lợi bất chính như sau:
vn/cau-chuyen-phap-dinh/tam-giu-2-doi-tuong-tung-clip-dot-kich-vu-truong-new-century-89075.html (truy cập ngày 15/9/2019)
Trang 36Từ năm 2009 đến tháng 5/2013, Văn Tiến Tú đã thành lập và điều hành
nhóm có tên gọi “Mattfeuter” gồm các đối tượng: Lê Văn Kiều, Trần Thị
Diệu Hiền, Nguyễn Văn Quí, Trương Hải Duy, Nguyễn Minh Khánh, Mạc Thị Trương Tiên, Lê Thị Tư để mua, bán các thông tin trên thẻ tín dụng bị trộm cắp (gọi tắt là "cc") gồm các loại: Visa Card, Master Card, Amex Card tại các nước Anh, Pháp, Mỹ và một số nước khác trên thế giới để thu lợi bất chính tại địa chỉ số 29, Nguyễn Trọng Lội, phường 4, quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh
Trong đó, Văn Tiến Tú là người tổ chức, điều hành hoạt động của nhóm: phân công cho các thành viên, hướng dẫn cách thức mua bán "cc", cung cấp các nick yahoo, máy tính có kết nối internet để các thành viên sử dụng Tú đã tạo lập và giao cho các bị can sử dụng các nick yahoo để trao đổi, mua bán
"cc" Lê Văn Kiều là người mua “cc”, các đối tượng: Trần Thị Diệu Hiền, Nguyễn Văn Quí, Trương Hải Duy, Nguyễn Minh Khánh, Mạc Thị Trương Tiên, Lê Thị Tư là người bán “cc” Để nhận tiền mua “cc” từ nước ngoài chuyển về, Văn Tiến Tú thỏa thuận với anh Trần Văn Chánh là Giám đốc Công
ty TNHH Trần Chánh, địa chỉ: 447 đường Trần Phú, quận 5, TP Hồ Chí Minh
và anh Nguyễn Hoàng Sơn Hà - Thành viên Công ty TNHH TM DV Hà Yến, địa chỉ số 84 Lê Thị Hồng Gấm, Quận 1, TP Hồ Chí Minh để nhận tiền qua dịch vụ Western Union là các đại lý chuyển tiền của Ngân hàng TMCP Á Châu Văn Tiến Tú nói với anh Chánh và anh Hà số tiền Tú nhận là tiền công thiết kế các trang Web cho các tổ chức, cá nhân ở nước ngoài
Hàng ngày căn cứ số lượng bán “cc”, Lê Văn Kiều sử dụng nick yahoo
"contim_xaodong" để "chat", giao dịch mua "cc" của các đối tượng chuyên lấy cắp thông tin thẻ tín dụng (gọi là "hacker") trên mạng internet Giá mua "cc" là
từ 0,6USD đến 6 USD/1 “cc” Để thanh toán tiền mua "cc" Lê Văn Kiều sử dụng tiền ảo "LR" trên website www.libertyreserve.com với quy ước 1 LR = 1 USD Số tiền ảo này do các bị cáo bán “cc” chuyển lại cho Kiều hoặc Kiều mua bổ sung bằng tiền do Văn Tiến Tú chuyển cho Kiều từ Công ty Trần Chánh Sau khi nhận được tiền qua giao dịch "LR", các hacker sẽ chuyển "cc" cho Lê Văn Kiều qua thư điện tử có địa chỉ contimxaodong7070@gmail.com Kiều tải các tệp tin dữ liệu "cc" nhận được về máy tính rồi sao chép, chuyển