Từ những nhận định, phân tích nêu trên, có thể hiểu các khái niệm về tố cáo nặc danh, mạo danh và khuyết danh như sau: Tố cáo nặc danh là việc công dân sử dụng thông tin cá nhân không có
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan khóa luận tốt nghiệp này là kết quả tìm hiểu, nghiên cứu
của riêng tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến Sỹ Cao
Vũ Minh Khóa luận đảm bảo tính trung thực và tuân thủ các quy định về
trích dẫn, chú thích tài liệu tham khảo
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này
TỐ CÁO NẶC DANH, MẠO DANH
VÀ KHUYẾT DANH: MỘT SỐ VẤN ĐỀ
LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
NIÊN KHÓA: 2013 - 2017 Giảng viên hướng dẫn: TS CAO VŨ MINH
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2017
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan khóa luận tốt nghiệp này là kết quả tìm hiểu, nghiên cứu
của riêng tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến Sỹ Cao
Vũ Minh Khóa luận đảm bảo tính trung thực và tuân thủ các quy định về
trích dẫn, chú thích tài liệu tham khảo
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này
Hồ Ngọc Liêm
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận này, tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy, cô trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh đã tận tình giảng dạy, truyền đạt kiến thức trong suốt thời gian tác giả học tập tại trường Đặc biệt, tác giả gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến Tiến sỹ Cao Vũ Minh, mặc dù bận rất nhiều công việc nhưng vẫn dành thời gian, công sức để tận tình hướng dẫn, chỉnh sửa những khiếm khuyết trong bài làm để tác giả có thể hoàn thành khóa luận một cách tốt nhất
Đồng thời tác giả cũng gửi lời cảm ơn đến gia đình, các bạn trong lớp HC38A2 cũng như các anh, chị, em, bạn bè trong đội Mùa hè xanh đã luôn bên cạnh động viên để ủng hộ tinh thần nhằm giúp tác giả có thêm động lực hoàn thành tốt nhất khóa luận
Nếu không có những sự giúp đỡ, ủng hộ này thì có lẽ sẽ không có khóa luận như ngày hôm nay Do đó, tác giả một lần nữa gửi lời cảm ơn chân thành cũng như những lời chúc tốt đẹp nhất đến các thầy cô, bạn bè
Sinh viên thực hiện
Hồ Ngọc Liêm
Trang 4MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐNNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ TỐ CÁO NẶC DANH, MẠO DANH VÀ KHUYẾT DANH 5
1.1 Khái niệm và đặc điểm của tố cáo, tố cáo nặc danh, mạo danh và khuyết danh 5
1.1.1 Khái niệm tố cáo, tố cáo nặc danh, mạo danh và khuyết danh 5
1.1.2 Đặc điểm chung của tố cáo nặc danh, mạo danh và khuyết danh 10
1.1.2.1 Chủ thể tố cáo nặc danh, mạo danh và khuyết danh 10
1.1.2.2 Đối tượng của tố cáo nặc danh mạo danh và khuyết danh 11
1.1.2.3 Mục đích tố cáo nặc danh, mạo danh và khuyết danh 12
1.1.2.4 Mối quan hệ giữa chủ thể tố cáo và đối tượng tố cáo trong tố cáo nặc danh, mạo danh và khuyết danh 13
1.1.2.5 Trách nhiệm của chủ thể tố cáo trong tố cáo nặc danh, mạo danh và khuyết danh 14
1.1.2.6 Hình thức tố cáo nặc danh, mạo danh và khuyết danh 15
1.1.3 Sự khác biệt cơ bản giữa tố cáo nặc danh, mạo danh và khuyết danh 16
1.2 Nguyên nhân và hệ quả của tố cáo nặc danh, mạo danh và khuyết danh 18
1.2.1 Nguyên nhân dẫn đến tình trạng tố cáo nặc danh, mạo danh và khuyết danh 18
1.2.1.1 Nguyên nhân trực tiếp 19
1.2.1.2 Nguyên nhân gián tiếp 20
1.2.3 Hệ quả của tố cáo nặc danh, mạo danh và khuyết danh 22
1.3 Quy định của pháp luật về tố cáo nặc danh, mạo danh và khuyết danh 23
1.2.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 2012 24
1.2.1.1 Giai đoạn 1945 đến 1980 24
1.2.1.2 Giai đoạn 1981 đến 2012 26
1.2.2 Giai đoạn từ năm 2012 đến nay 31
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHN HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT LIÊN QUAN ĐẾN TỐ CÁO NẶC DANH, MẠO DANH VÀ KHUYẾT DANH 35
Trang 52.1 Tình hình thực tế đối với tình trạng tố cáo nặc danh, mạo danh và khuyết
danh 35
2.2 Thực trạng áp dụng pháp luật liên quan đến tố cáo nặc danh, mạo danh và khuyết danh 36
2.3 Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về tố cáo nặc danh, mạo danh và khuyết danh 53
2.2.1 Kiến nghị về mặt pháp lý 54
2.2.2 Kiến nghị về mặt thực tiễn 67
KẾT LUẬN 71
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 73
Trang 6DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
1 CQNN: Cơ quan nhà nước
2 TC và GQTC: Tố cáo và giải quyết tố cáo
3 UBND: Ủy ban nhân dân
4 VBQPPL: Văn bản quy phạm pháp luật
Trang 71
LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Tố cáo là một quyền hiến định của công dân và giải quyết tố cáo là một hoạt động quan trọng của các CQNN Tố cáo là một kênh thông tin hữu ích, góp phần giúp các CQNN phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật, từ đó có thể bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức Nhận thức được vị trí, vai trò quan trọng của tố cáo trong hoạt động quản lý nhà nước, quyền tố cáo cũng như các quy định pháp luật về tố cáo đã sớm được ghi nhận trong Hiến pháp và các văn bản quy pháp pháp luật khác nhau
Hiện nay, hoạt động tố cáo của công dân tiếp tục nhận được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước cũng như sự quan tâm của nhân dân Hàng loạt những hành vi vi phạm pháp luật của cá nhân, tổ chức, CQNN đã được phát hiện, xử lý từ những đơn thư tố cáo Qua thực tiễn tiếp nhận, xử lý và giải quyết tố cáo của các cơ quan hành chính cho thấy, ngoài việc phải tiếp nhận đối với các đơn thư tố cáo chính danh thì
số lượng đơn thư tố cáo nặc danh, mạo danh và khuyết danh vẫn còn chiếm số lượng lớn Tuy nhiên, trên thực tế, các quy định của pháp luật liên quan đến tố cáo nặc danh, mạo danh và khuyết danh cũng như các nghiên cứu của nhiều tác giả về vấn đề này còn khá hạn chế
Ngày 26/5/2014, Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị số 35/CT-BCT đưa ra các yêu cầu nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả của công tác tiếp dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới Chỉ thị số
35/CT-BCT đặt ra yêu cầu: “tiếp tục hoàn thiện pháp luật về tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo theo hướng nâng cao thẩm quyền, trách nhiệm của cơ quan
thanh tra; của Quốc hội, đại biểu Quốc hội, của hội đồng nhân dân, đại biểu hội đồng nhân dân trong việc thực hiện chức năng giám sát; của người đứng đầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo Quy định rõ trách nhiệm, chế tài
xử lý vi phạm trong lĩnh vực tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo Có quy chế đối thoại với công dân, công khai kết quả giải quyết khiếu nại, tố cáo” Đồng thời,
vừa qua Chính phủ đã có tờ trình về Dự án luật Tố cáo sửa đổi Tại kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa 14 đã có rất nhiều ý kiến về Dự thảo luật sửa đổi Luật tố cáo Một
Trang 8tố cáo nặc danh, mạo danh và khuyết danh Với những lý do đó, tác giả quyết định
chọn đề tài “Tố cáo nặc danh, mạo danh và khuyết danh: Một số vấn đề lý luận
và thực tiễn” để tiến hành nghiên cứu trong khóa luận tốt nghiệp Khóa luận đưa ra
những khái niệm về tố cáo nặc danh, mạo danh và khuyết danh, tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến tố cáo nặc danh, mạo danh và khuyết danh cũng như đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật liên quan đến tố cáo nặc danh, mạo danh và khuyết danh
2 Tình hình nghiên cứu
Hiện nay, hầu như chưa có tác giả nào nghiên cứu chuyên sâu về tố cáo nặc danh, mạo danh và khuyết danh Một số công trình, bài viết chỉ dừng lại ở việc đánh giá chung về các quy định của pháp luật về tố cáo Giáo trình Thanh tra và giải quyết khiếu nại, tố cáo của Trường Đại Học Luật Hà Nội (Nxb Công an nhân dân xuất bản các năm 2001, 2005, 2007) và Tập bài giảng pháp luật về Thanh tra, khiếu nại tố cáo của Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh, xuất bản năm 2010 đã có một số nghiên cứu về nguyên nhân dẫn đến tố cáo nặc danh cũng như định nghĩa các thuật ngữ nặc danh, mạo danh và khuyết danh Đây là hai tài liệu cơ bản phục
vụ cho việc giảng dạy, nghiên cứu về pháp luật tố cáo Tuy nhiên, hai tài liệu này vẫn chưa có những phân tích, nghiên cứu chuyên sâu về tố cáo nặc danh, mạo danh
và khuyết danh
Bên cạnh đó, có một số bài viết, công trình nghiên cứu của nhiều nhà nghiên cứu trong các sách chuyên khảo, báo, tạp chí liên quan đến tố cáo và giải quyết tố cáo Tuy nhiên hầu hết đều chỉ là những nghiên cứu chung về tố cáo hoặc cụ thể hơn thì có đề cập đến tố cáo nặc danh mà hoàn toàn không đề cập đến tố cáo mạo danh và khuyết danh Hầu như trong các tài liệu này không đề cập đến thuật ngữ tố cáo mạo danh và tố cáo khuyết danh Cò tài liệu hầu gọi chung cả ba thuật ngữ tố cáo nặc danh, mạo danh và khuyết danh là tố cáo nặc danh mặc dù giữa chúng có
những điểm khác biệt tương đối Cụ thể, sách chuyên khảo “Hỏi và đáp Luật khiếu
Trang 93
nại, tố cáo” của tác giả Đinh Văn Minh, Nxb Chính trị quốc gia năm 1999, trong số
48 câu hỏi thì chỉ có 01 câu hỏi liên quan đến tố cáo nặc danh Bài viết “Một số bất
cập trong các quy định của luật tố cáo năm 2011 và hướng hoàn thiên” của tác giả
Cao Vũ Minh đăng trên tạp chí Nhà nước và pháp luật số 04 năm 2016 thì có đề
xuất chấp nhận tố cáo nặc danh Bài viết “Một số vấn đề về xử lý tố cáo nặc danh
giai đoạn hiện nay” của tác giả Phạm Thị Huệ đăng trên cổng thông tin điện tử của
Học viện Hành chính Quốc gia có đưa ra sự phân tích về hai luống ý kiến giữa một bên là nên thừa nhận tố cáo nặc danh và một bên là không thừa nhận tố cáo nặc Đồng thời tác giả này cũng đưa ra các luận điểm để bảo vệ cho quan điểm là nên
chấp nhận tố cáo nặc danh
Dựa trên tình hình nghiên cứu hiện tại đối với tố cáo nặc danh, mạo danh và khuyết danh, việc cần có một nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề này là hết sức cần thiết Do đó, đề tài này sẽ nghiên cứu dựa trên các vấn đề lý luận và các quy định của pháp luật cũng như thực tiễn áp dụng pháp luật để đưa ra kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật đối với tố cáo nặc danh, mạo danh và khuyết danh
3 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của khóa luận là tập trung nghiên cứu một số vấn đề lý luận liên quan đến tố cáo nặc danh, mạo danh và khuyết danh như: khái niệm, đặc điểm, nguyên nhân, kết quả… Trên cơ sở đó, khóa luận tiến hành phân tích các quy định của pháp luật về tố cáo nặc danh, mạo danh và khuyết danh theo quy định của pháp luật về tố cáo để đưa ra một số hạn chế, bất cập trong các quy định pháp luật liên quan đến tố cáo nặc danh, mạo danh và khuyết danh Từ đó, khóa luận mạnh dạn đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực này
4 Phạm vi nghiên cứu
Khóa luận tập trung nghiên cứu một số vấn đề lý luận về tố cáo nặc danh, mạo danh và khuyết danh đồng thời phân tích, đánh giá các quy định về tố cáo trong hệ thống pháp luật Việt Nam có liên quan Từ đó, đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật cũng như kiến nghị về mặt thực tiễn để nâng cao hiệu quả giải quyết
tố cáo đối với tố cáo nặc danh, mạo danh và khuyết danh
Trang 104
5 Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử Mác - Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước, pháp luật về TC
dung, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo
Trong đó, phần nội dung là phần chính của khóa luận, gồm 2 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận và quy định của pháp luật về tố cáo nặc danh, mạo danh và khuyết danh
Chương 2: Thực trạng và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật liên quan đến
tố cáo nặc danh, mạo danh và khuyết danh
Trang 111.1.1 Khái niệm tố cáo, tố cáo nặc danh, mạo danh và khuyết danh
Quyền tố cáo được quy định lần đầu tiên trong Hiến pháp năm 1959 và liên tục được ghi nhận trong các bản Hiến pháp sau đó Do đó, có thể kết luận quyền tố cáo là một quyền cơ bản của công dân được pháp luật thừa nhận và bảo đảm thực hiện Hiện nay, quyền tố cáo được ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013 Cụ thể Hiến pháp năm 2013 quy định:
“1 Mọi người có quyền tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền
về những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân
2 Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải tiếp nhận, giải quyết tố cáo Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự theo quy định của pháp luật
3 Nghiêm cấm việc trả thù người tố cáo hoặc lợi dụng quyền tố cáo để vu khống, vu cáo làm hại người khác”1
Trên cơ sở thực hiện quyền tố cáo, công dân trực tiếp tham gia vào công việc quản lý nhà nước Đồng thời thông qua việc thực hiện quyền tố cáo, công dân cũng góp phần đảm bảo cho hoạt động quản lý nhà nước diễn ra theo đúng các quy định của pháp luật, đấu tranh phòng chống các hành vi vi phạm pháp luật từ đó đảm bảo lợi ích của Nhà nước, của xã hội, lợi ích hợp pháp của chính công dân đó và những
1 Điều 30 Hiến pháp năm 2013
Trang 126
được đưa ra đối với tố cáo nặc danh, mạo danh và khuyết danh Vì vậy, để có được khái niệm tố cáo nặc danh, mạo danh và khuyết danh, trước tiên cần phải hiểu được khái niệm tố cáo Dựa trên nên tảng là khái niệm tố cáo, tiến hành phân tích, tìm ra
sự tương đồng và khác biệt cơ bản để có thể kết luận được các khái niệm cụ thể về
tố cáo nặc danh, mạo danh và khuyết danh
Theo Từ điển Tiếng Việt “tố cáo là báo cho mọi người hoặc cơ quan có
thẩm quyền về người hoặc hành động phạm pháp nào đó… vạch trần hành động xấu xa hoặc tội ác cho mọi người biết nhằm lên án, ngăn chặn”2 Theo khái niệm trên thì tố cáo được thực hiện không chỉ đối với hành vi vi phạm pháp luật khác nhau trên các lĩnh vực của đời sống xã hội mà còn được thực hiện đối với những hành vi xấu xa, vi phạm đạo đức xã hội3 Như vậy, theo khái niệm này, đối tượng tố cáo khá rộng, bởi vì không phải mọi hành vi xấu xa, vi phạm đạo đức xã hội đều được pháp luật điều chỉnh Do đó, không thể tiếp cận tố cáo theo hướng rộng như vậy mà cần phải tiếp cận theo hướng tố cáo dưới góc độ đó là một lĩnh vực pháp luật với đối tượng là các hành vi trái pháp luật
Theo Luật Tố cáo năm 2011 thì: “tố cáo là việc công dân theo thủ tục do
Luật này quy định báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi
vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan tổ chức” 4
Theo quan điểm của PGS.TS Nguyễn Cửu Việt thì tố cáo là quyền của công
dân phát hiện với CQNN có thẩm quyền các quyết định, hành vi trái pháp luật của
cơ quan, tổ chức và cá nhân đã gây ra thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, của tập thể, quyền và lợi ích của công dân nói chung, mà không gây thiệt hại trực tiếp cho công dân thực hiện việc tố cáo5
Theo quan điểm của TS Cao Vũ Minh thì tố cáo là việc công dân theo thủ
tục do Luật này quy định báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về
2 Viện ngôn ngữ (2002), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, tr 1008
3 Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh (2010), Tập bài giảng pháp luật thanh tra, khiếu nại, tố cáo, Nxb
Hồng Đức, tr 135
4 Khoản 1 Điều 2, Luật Tố cáo năm 2011
5 Nguyễn Cửu Việt (2013), Giáo trình Luật hành chính Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr 670
Trang 137
hành vi trái pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc
đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức”6
Theo PGS.TS Nguyễn Cửu Việt và TS Cao Vũ Minh, đối tượng tố cáo trong hai khái niệm mà hai tác giả đưa ra có sự khác biệt so với đối tượng tố cáo được quy định trong Luật Tố cáo năm 2011 Theo đó, đối tượng tố cáo được quy
định trong Luật Tố cáo năm 2011 là “hành vi vi phạm pháp luật”, còn theo
PGS.TS Nguyễn Cửu Việt và TS Cao Vũ Minh thì đối tượng tố cáo chính là
“hành vi trái pháp luật”
Tác giả đồng ý với quan điểm của PGS.TS Nguyễn Cửu Việt và TS Cao Vũ Minh bởi đối tượng tố cáo là hành vi trái pháp luật chứ không phải là hành vi vi phạm pháp luật Cụ thể:
Một là, căn cứ vào Điều 30 Hiến pháp năm 2013 thì: “mọi người có quyền tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân” Theo đó, Hiến pháp năm 2013 quy định đối tượng
tố cáo chỉ cần là “việc làm trái pháp luật” Do đó, để phù hợp với quy định của Hiến pháp năm 2013 thì đối tượng của tố cáo chỉ cần là “hành vi trái pháp luật” mà
không phải là hành vi vi phạm pháp luật
Hai là, việc xác định một hành vi trái pháp luật có phải là hành vi vi phạm
pháp luật hay không còn phải căn cứ vào nhiều điều kiện khác mà khi thỏa mãn tất
cả các điều kiện đó thì một hành vi trái pháp luật mới được xem là hành vi vi phạm pháp luật Đứng dưới góc độ là người dân, việc xác định một hành vi trái pháp luật
có phải là hành vi vi phạm pháp luật hay không là rất khó Vì vậy, để xác định một hành vi trái pháp luật nào đó có phải là hành vi vi phạm pháp luật hay không phải
do chính các CQNN có thẩm quyền xác định Như vậy, người dân chỉ cần xác định được một hành vi trái pháp luật là đã có thể tiến hành thực hiện việc tố cáo
Theo quan điểm của PGS.TS Nguyễn Cửu Việt, đối tượng của tố cáo là hành vi trái pháp luật đã gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, của tập thể, quyền và lợi ích của công dân nói chung, mà không gây thiệt hại
6 Cao Vũ Minh (2016), “Một số bất cập trong các quy định của Luật Tố cáo năm 2011 và hướng hoàn thiện”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, (số 4)
Trang 148
trực tiếp cho công dân thực hiện quyền tố cáo Tuy nhiên, quan điểm của tác giả cho rằng, hành vi trái pháp luật dù xâm phạm đến quyền lợi ích của chủ thể khác hoặc chính công dân tố cáo đều có thể bị tố cáo mà không loại trừ trường hợp hành vi trái pháp luật đó gây thiệt hại trực tiếp đến công dân thực hiện quyền tố cáo
Dựa trên những phân tích đó, có thể kết luận: “Tố cáo là việc công dân báo
cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi trái pháp luật của bất
cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức”
Theo quy định của pháp luật, khi tiến hành tố cáo, người tố cáo phải cung cấp họ tên, địa chỉ của chính người tố cáo Nói cách khác, các thông tin cá nhân của người tố cáo phải được cung cấp cho các chủ thể giải quyết tố cáo Tuy nhiên, trong một số trường hợp, người tố cáo vì muốn che giấu thông tin cá nhân nên thông tin
cá nhân của người tố cáo sẽ không được cung cấp thông qua việc tố cáo Các chủ thể thực hiện việc tố cáo có thể thực hiện việc che giấu thông tin cá nhân thông qua các hình thức tố cáo nặc danh, mạo danh hoặc khuyết danh
Có thể thấy rằng, tố cáo nặc danh, mạo danh và khuyết danh cũng chính là tố cáo Tuy nhiên, để có thể đưa ra được khái niệm chính xác đối với tố cáo nặc danh, mạo danh và khuyết danh trước hết cần phải làm rõ các thuật ngữ nặc danh, mạo danh và khuyết danh đồng thời so sánh, đối chiếu để tìm ra sự tương đồng và khác biệt cơ bản từ đó mới có thể đưa ra khái niệm tố cáo nặc danh, mạo danh và khuyết danh một cách chính xác, cụ thể nhất
Theo từ điển tiếng Việt “nặc danh” là giấu tên7, “mạo danh” là mạo tên8,
“khuyết danh” là không nêu tên9 Theo tập bài giảng Pháp luật về thanh tra, khiếu nại, tố cáo của Trường đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh thì khuyết danh là giấu tên, mạo danh là nhân danh cơ quan tổ chức cá nhân nào đó thường thì thể hiện dưới dạng đại diện cho tập thể nào đó, nặc danh là viết tắt họ tên, ghi tên họ không
có thực, địa chỉ không đúng hoặc không có thực10 Theo cách định nghĩa như trong
7 Nguyễn Lân (2000), Từ điển từ và ngữ Việt Nam, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, tr 1219
8 Viện Ngôn ngữ học (2006), Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, tr 612
9 Nguyễn Lân (2000), Từ điển từ và ngữ Việt Nam, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, tr 973
10 Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh (2010), Tập bài giảng pháp luật thanh tra, khiếu nại, tố cáo, Nxb
Hồng Đức, tr 139
Trang 159
Từ điển tiếng Việt thì nặc danh là giấu tên nên dẫn đến việc nhiều người không phân biệt cụ thể giữa nặc danh và khuyết danh bởi vì đa số đều cho rằng nặc danh cũng là không có tên Tuy nhiên, phải nhìn nhận một cách khách quan giữa nặc danh và khuyết danh rằng cả hai hình thức này, tên của người tố cáo đều sẽ không được đưa ra Do đó, cần phải nhìn nhận một cách chính xác đối với hai khái niệm này Theo đó, đối với tố cáo nặc danh mặc dù tên của chính người tố cáo không được đưa ra nhưng sẽ có tên của một chủ thể khác là một chủ thể không có thực trên thực tế còn đối với tố cáo khuyết danh thì hoàn toàn không có một tên chủ thể nào được đưa ra
Tóm lại, tố cáo nặc danh tức là người thực hiện việc tố cáo giấu đi tên, tuổi cũng như các thông tin cá nhân khác của mình bằng việc đưa ra những thông tin không có thực Tố cáo mạo danh là việc người thực hiện tố cáo không dùng tên, tuổi, thông tin của mình khi điền vào trong đơn tố cáo mà dùng danh nghĩa của một chủ thể khác Còn tố cáo khuyết danh là việc người tố cáo không ghi bất kỳ một thông tin gì về người tố cáo mà ở phần đó, người tố cáo đã chừa trống
Từ những nhận định, phân tích nêu trên, có thể hiểu các khái niệm về tố cáo nặc danh, mạo danh và khuyết danh như sau:
Tố cáo nặc danh là việc công dân sử dụng thông tin cá nhân không có thực
để báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi trái pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức
Tố cáo mạo danh là việc một công dân nhân danh của một cá nhân khác để báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi trái pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức
Tố cáo khuyết danh là việc công dân báo cho, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi trái pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức nhưng các thông tin cá nhân của người tố cáo bị giấu đi
Trang 1610
Việc xác định các khái niệm tố cáo nặc danh, mạo danh và khuyết danh đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết các vấn đề lý luận và thực tiễn về tố cáo nặc danh, mạo danh và khuyết danh
1.1.2 Đặc điểm chung của tố cáo nặc danh, mạo danh và khuyết danh
Tố cáo nặc danh, mạo danh và khuyết danh đều được xem là những hình thức tố cáo Mặc dù có một số điểm khác biệt nhưng giữa tố cáo nặc danh, mạo danh và khuyết danh đều có những đặc điểm chung nhất định Làm rõ các đặc điểm chung của các hình thức tố cáo trên sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về bản chất cũng như tìm ra được điểm giống nhau giữa các hình thức tố cáo đó Các đặc điểm của tố cáo nặc danh, mạo danh, và khuyết danh được thể hiện qua chủ thể tố cáo, đối tượng tố cáo, mục đích tố cáo, mối quan hệ giữa chủ thể tố cáo và chủ thể bị tố cáo, trách nhiệm pháp lý của người tố cáo và hình thức tố cáo
1.1.2.1 Chủ thể tố cáo nặc danh, mạo danh và khuyết danh
Trước hết, có thể hiểu chủ thể tố cáo là những cá nhân thực hiện việc tố cáo, tức là những chủ thể thực hiện việc chuyển tải thông tin về hành vi trái pháp luật đến chủ thể có thẩm quyền giải quyết tố cáo
Theo quy định tại khoản 1, Điều 2 Luật Tố cáo năm 2011, chủ thể có quyền
tố cáo chỉ bao gồm công dân Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 1, Đều 3 Luật Tố cáo năm 2011, chủ thể tố cáo còn có thêm người nước ngoài đang cư trú tại Việt Nam Kết hợp cả hai quy định trên thì theo quy định của Luật Tố cáo chủ thể có quyền tố cáo bao gồm cả công dân Việt Nam và người nước ngoài đang cư trú tại Việt Nam Pháp luật hiện hành quy định điều kiện để trở thành chủ thể tố cáo chỉ cần là công dân Việt Nam hoặc người nước ngoài đang cư trú tại Việt Nam mà không đưa ra các tiêu chí khác như về độ tuổi, giới tính, trình độ học vấn, năng lực chủ thể Như vậy, bất kỳ công dân Việt Nam hay người nước ngoài đang cư trú tại Việt Nam không phân biệt tuổi tác, giới tính, trình độ học vấn, năng lực chủ thể đều
có thể trở thành chủ thể của tố cáo Bởi lẽ, theo quy định của Luật Quốc tịch năm
2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014), điều kiện để được xem là công dân Việt Nam chỉ cần là người có quốc tịch Việt Nam (khoản 1, Điều 5) Ngoài ra, Luật Quốc tịch năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014), đưa ra điều kiện để một người được xem là người nước ngoài đang cư trú tại Việt Nam là công dân nước ngoài và người không
Trang 1711
có quốc tịch thường trú hoặc tạm trú tại Việt Nam11 Với cách quy định như vậy, có thể thấy được những chủ thể trở thành chủ thể của tố cáo là tương đối rộng Quy định này có ưu điểm là có thể mở rộng được chủ thể tố cáo nhưng bên cạnh đó lại
có khuyết điểm là không loại trừ được những hành vi tố cáo của các chủ thể chưa đủ nhận thức hoặc bị mất năng lực hành vi Tuy nhiên, việc tố cáo của những chủ thể chưa đủ nhận thức hoặc mất năng lực hành vi không phải là vấn đề đáng lo ngại, bởi một hành vi tố cáo có được xem xét, xử lý hay không, không chỉ phụ thuộc vào yếu
tố chủ thể mà còn liên quan đến nhiều yếu tố khác Do đó, cách quy định như trên
sẽ bảo đảm quyền tố cáo của công dân đồng thời khuyến khích được người dân tích tham gia vào hoạt động tố cáo
Xét về mặt bản chất các chủ thể thực hiện việc tố cáo bằng hình thức nặc danh, mạo danh, khuyết danh cũng chính là các chủ thể đã thực hiện việc tố cáo đối hành vi trái pháp luật của một chủ thể khác Tuy nhiên, thay vì lựa chọn việc tố cáo theo hình thức tố cáo chính danh thì các chủ thể này lại lựa chọn việc tố cáo bằng hình thức nặc danh, mạo danh hoặc khuyết danh Do đó, chủ thể tố cáo nặc danh, mạo danh và khuyết danh cũng bao gồm công dân Việt Nam và người nước ngoài đang cư trú tại Việt Nam
1.1.2.2 Đối tượng của tố cáo nặc danh mạo danh và khuyết danh
Như đã phân tích, đối tượng tố cáo chính là hành vi trái pháp luật của cá nhân cơ quan, tổ chức gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến quyền và lợi ích của Nhà nước, cá nhân, tổ chức Hành vi trái pháp luật có thể được thể hiện dưới dạng hành động hoặc không hành động và hoàn toàn có thể trở thành hành vi vi phạm pháp luật khi đáp ứng các điều kiện luật định Khi thực hiện hành vi tố cáo, các chủ thể tố cáo luôn phải xác định xem hành vi đó có phải là hành vi trái pháp luật hay không trước khi thực hiện việc tố cáo đến các chủ thể có thẩm quyền giải quyết tố cáo Việc xác định đúng đối tượng tố cáo rất quan trọng, bởi vì đối tượng
đó chính là cơ sở quan trọng để các chủ thể có thẩm quyền xem xét, giải quyết Nếu không có đối tượng tố cáo chắc chắn việc tố cáo sẽ không được thực hiện bởi việc
11 Khoản 5 Điều 3, Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014)
Trang 181.1.2.3 Mục đích tố cáo nặc danh, mạo danh và khuyết danh
Mục đích của tố cáo hướng đến việc truy cứu trách nhiệm của các chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật để bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích của các
cá nhân, cơ quan, tổ chức bất kỳ bị hành vi trái pháp luật gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại Như vậy, mục đích của tố cáo không chỉ xuất phát từ việc quyền và lợi ích của cá nhân bị xâm phạm mà đó còn có thể xuất phát từ việc quyền và lợi ích của một cá nhân, tổ chức khác hay đó có thể là các lợi ích chung của xã hội Ngoài
ra, tố cáo còn hướng đến mục đích ngăn chặn, chấm dứt hành vi vi phạm pháp luật, buộc những chủ thể thực hiện hành vi vi phạm pháp luật phải chịu những chế tài theo quy định của pháp luật tương ứng với tính chất, mức độ do hành vi vi phạm pháp luật gây ra Đây là mục đích mà pháp luật hướng đến cũng chính là một trong những tiền đề cho sự xuất hiện của pháp luật tố cáo Tuy nhiên, trên thực tế, không phải mọi hành vi tố cáo của các chủ thể cũng hướng đến việc truy cứu trách nhiệm đối với hành vi vi phạm pháp luật mà một số chủ thể dùng việc tố cáo với mục đích xấu nhằm đưa ra thông tin thiếu chính xác, sai sự thật nhằm xuyên tạc, vu khống, gây rối an ninh, trật tự công cộng, làm ảnh hướng đến uy tín, danh dự, nhân phẩm của người khác Tương tự như những vấn đề khác trong xã hội, mục đích của tố cáo cũng tồn tại dưới dạng bản chất hai mặt của một vấn đề, một mặt đó là những mục đích tốt đẹp mà pháp luật và xã hội luôn hướng đến, còn một mặt là những mục đích xấu mà pháp luật và toàn xã hội luôn tìm cách để ngăn cản, kìm hãm sự phát triển của nó
Tố cáo nặc danh, mạo danh và khuyết danh cũng bao hàm cả hai mục đích trên và xét cho cùng tố cáo nặc danh, mạo danh, khuyết danh cũng chỉ là một trong những cách thức tố cáo mà chủ thể tố cáo muốn thực hiện Do đặc trưng tố cáo nặc danh, mạo danh và khuyết danh là chủ thể tố cáo không cung cấp những thông tin
cá nhân nên nhiều chủ thể đã lợi dụng các hình thức tố cáo này để tố cáo với mục
Trang 1913
đích xấu Nhưng cho dù thế nào đi nữa cũng không thể phủ nhận được trong số những đơn thư tố cáo nặc danh, mạo danh, khuyết danh vẫn có những đơn thư với mục đích nhằm tố cáo hành vi vi phạm pháp luật
1.1.2.4 Mối quan hệ giữa chủ thể tố cáo và đối tượng tố cáo trong tố cáo nặc danh, mạo danh và khuyết danh
Giữa chủ thể tố cáo và chủ thể bị tố cáo có thể tồn tại rất nhiều mối quan hệ khác nhau như quan hệ nhân thân, quan hệ công tác hoặc các quan hệ xã hội khác Tuy nhiên, mối quan hệ trong pháp luật tố cáo không phải là các quan hệ về nhân thân hay công tác mà quan hệ theo pháp luật tố cáo là quan hệ giữa sự xung đột và ảnh hưởng lợi ích lẫn nhau giữa chủ thể tố cáo và chủ thể bị tố cáo về hành vi do chủ thể bị tố cáo thực hiện Tức là mối quan hệ trong việc chủ thể này khi thực hiện hành vi này có gây ảnh hưởng đến lợi ích của chủ thể kia hay không Thông thường một chủ thể thực hiện một hành vi nào đó đều hướng đến lợi ích của bản thân mình, tức là nhằm muốn bảo vệ lợi ích của cá nhân mình Tuy nhiên, đối với quan hệ pháp luật tố cáo, đối tượng tố cáo có thể ảnh hưởng trực tiếp đến chủ thể tố cáo, hoặc cũng có thể đối tượng tố cáo không ảnh hưởng, không có mối liên hệ đối với người
tố cáo, nhưng vì muốn bảo vệ các lợi ích chung của Nhà nước, xã hội hoặc quyền và lợi ích của một cá nhân khác, người tố cáo đã thực hiện việc tố cáo đối với hành vi trái pháp luật đó Đặc điểm này cho thấy sự khác biệt giữa quan hệ pháp luật trong pháp luật khiếu nại và quan hệ pháp luật tố cáo Theo đó, trong quan hệ pháp luật khiếu nại, khi một chủ thể tiến hành khiếu nại một quyết định hành chính, hành vi hành chính nào đó tức có nghĩa là chủ thể đó cho rằng quyết định hành chính, hành
vi hành chính đó đã xâm phạm đến quyền và lợi ích của chủ thể thực hiện việc khiếu nại Trong khi đó, đối với quan hệ pháp luật tố cáo, mối quan hệ giữa chủ thể
tố cáo và chủ thể bị tố cáo không bắt buộc phải có sự tác động, ảnh hưởng trực tiếp với nhau Các chủ thể thực hiện việc tố cáo khi cho rằng có một hành vi trái pháp luật xảy ra trên thực tế, mà không cần quan tâm đến hành vi trái pháp luật đó xâm phạm đến quyền lợi lợi ích của ai, tức là hành vi đó có thể xâm phạm hoặc không xâm phạm trực tiếp đến lợi ích của chủ thể thực hiện việc tố cáo Cách quy định của Luật tố cáo thể hiện được tinh thần của pháp luật tố cáo trong việc mọi hành vi vi phạm pháp luật cần được nhanh chóng bị lên án, phát hiện và xử lý một cách kịp
Trang 201.1.2.5 Trách nhiệm của chủ thể tố cáo trong tố cáo nặc danh, mạo danh và khuyết danh
Pháp luật cho phép việc mở rộng phạm vi tố cáo cũng như có nhiều cách thức khác nhau để khuyến khích việc tố cáo nhằm phát huy quyền làm chủ của nhân dân một cách cao độ Để tăng cường cũng như khuyến khích người dân tích cực tham gia việc tố cáo những hành vi vi phạm pháp luật, pháp luật cũng quy định về những hình thức khen thưởng đối với những cá nhân có thành tích trong việc tố cáo Tuy nhiên không vì thế mà pháp luật cho phép các chủ thể lợi dụng quyền tố cáo để
tố cáo những nội dung sai sự thật, gây ảnh hưởng đến người khác Nếu việc tố cáo đúng sẽ đem lại nhiều hiệu quả tích cực trong việc thực hiện quản lý nhà nước nhưng nếu việc tố cáo nhằm mục đích xấu thì những hệ quả từ việc tố cáo gây ra cũng gây ảnh hưởng nghiêm trọng không những đến chủ thể bị tố cáo mà còn ảnh hưởng đến hoạt động của các cơ quan, chủ thể có thẩm quyền giải quyết tố cáo cũng như tiền bạc của Nhà nước Do đó, pháp luật buộc người tố cáo phải chịu trách nhiệm đối với hành vi tố cáo của mình Nếu người tố cáo cố tình lợi dụng việc tố cáo để tố cáo sai sự thật nhằm xuyên tạc, vu khống, gây rối an ninh, trật tự công cộng, xúc phạm danh dự nhân phẩm, uy tín của người khác thì người tố cáo phải chịu trách nhiệm tương ứng với mức độ do hành vi tố cáo sai sự thật gây ra Trách nhiệm pháp lý mà người tố cáo có thể phải chịu bao gồm trách nhiệm kỷ luật, trách nhiệm hành chính hoặc nặng nhất đó là trách nhiệm hình sự, ngoài ra nếu hành vi tố cáo gây thiệt hại thì người tố cáo còn phải chịu trách nhiệm bồi thường theo quy định của pháp luật dân sự
Khi tố cáo bằng một trong các hình thức tố cáo nặc danh, mạo danh hoặc khuyết danh mà người tố cáo tố cáo sai sự thật xâm phạm đến lợi ích nhà nước,
Trang 2115
xuyên tạc, vu khống, gây rối an ninh, trật tự công cộng, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác thì vẫn phải chịu những trách nhiệm pháp lý tương ứng do hành vi của mình gây ra Trên thực tế, mặc dù việc xác định được danh tính của những chủ thể tiến hành tố cáo nặc danh, mạo danh và khuyết danh khá khó khăn nhưng điều đó không đồng nghĩa với việc các chủ thể tố cáo nặc danh, mạo danh và khuyết danh mà cố ý tố cáo sai sự thật sẽ không bị xử lý
1.1.2.6 Hình thức tố cáo nặc danh, mạo danh và khuyết danh
Hình thức tố cáo là cách thức mà chủ thể tố cáo dùng để truyền tải nội dung tố cáo đến các chủ thể giải quyết tố cáo Mỗi hình thức tố cáo là mỗi cách mà người tố cáo có thể dùng để gửi tới những chủ thể có thẩm quyền giải quyết tố cáo về đối tượng tố cáo cũng như chủ thể bị tố cáo Nếu có nhiều hình thức tố cáo khác nhau
sẽ tạo điều kiện cho các chủ thể tố cáo có thể dễ dàng thực hiện việc tố cáo Đó cũng là cách thức khuyến khích người dân tích cực tham gia hoạt động tố cáo Tuy nhiên, mỗi hình thức tố cáo đều sẽ chứa đựng những ưu điểm và hạn chế nhất định
Do đó, không phải mọi hình thức tố cáo đều được pháp luật cho phép áp dụng để thực hiện việc tố cáo mà việc quy định những hình thức tố cáo nào còn phụ thuộc vào điều kiện phát triển kinh tế, xã hội, ý chí của nhà làm luật cũng như sự hiệu quả trong hoạt động công vụ của các CQNN
Theo quy định của Luật Tố cáo năm 2011, việc tố cáo có thể thực hiện bằng việc gửi đơn tố cáo hoặc tố cáo trực tiếp Như vậy, theo quy định của Luật Tố cáo năm 2011, người tố cáo có thể lựa chọn việc thực hiến tố cáo bằng một trong hai hình thức này Đối với việc tố cáo bằng gửi đơn, người tố cáo cần ghi rõ nội dung tố cáo kèm theo họ tên, địa chỉ của người tố cáo kèm theo việc ký tên hoặc điểm chỉ của người tố cáo Đối với tố cáo trực tiếp, người tố cáo phải đến trực tiếp CQNN để trình bày nội dung tố cáo hoặc để được hướng dẫn viết đơn tố cáo Mặc dù Luật Luật Tố cáo năm 2011 chỉ quy định hai hình thức tố cáo là gửi thư và tố cáo trực tiếp nhưng theo quy định của Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2007, 2012), ngoài hai hình thức tố cáo trên, người tố cáo còn có thể thực hiện việc tố cáo bằng các hình thức tố cáo khác như tố cáo qua điện thoại, tố cáo qua mạng thông tin điện tử như email, fax, hòm thư điện tử… Như vậy, Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2007, 2012) quy định
Trang 2216
theo hướng cho phép nhiều hình thức tố cáo hơn so với Luật Tố cáo năm 201112 Điều này thể hiện được sự quan tâm đặc biệt của Nhà nước đối với công cuộc phòng chống tham nhũng
Tố cáo nặc danh, mạo danh, khuyết danh cũng có thể thực hiện thông qua các hình thức trên từ việc tố cáo bằng hình thức gửi thư, tố cáo trực tiếp hoặc tố cáo qua điện thoại, tố cáo qua mạng thông tin điện tử như email, fax, hòm thư điện tử Thực
tế cho thấy, việc tố cáo nặc danh, mạo danh và khuyết danh hầu như khó có thể được thực hiện bằng hình thức tố cáo trực tiếp bởi lẽ khi thực hiện việc tố cáo theo các hình thức này, chủ thể tố cáo khó có thể giấu đi thông tin cá nhân của mình Trong khi đó, theo quy định của pháp luật người tố cáo phải cung cấp họ tên, địa chỉ đối với người tiếp nhận tố cáo trong trường hợp tố cáo trực tiếp Như vậy, nếu tiến hành tố cáo trực tiếp, việc che giấu thông tin cá nhân sẽ rất khó thực hiện Tuy nhiên về mặt lý thuyết người tố cáo nặc và mạo danh vẫn có thể được thực hiện bằng hình thức tố cáo trực tiếp, cụ thể người tố cáo sẽ cung cấp những thông tin không chính xác đối với người tiếp nhận tố cáo bằng cách đưa ra những thông tin không chính xác hoặc sử dụng thông tin cá nhân của một người khác Do đó, việc tố cáo nặc danh, mạo danh, hay khuyết danh nhìn chung vẫn có thể được thực hiện bằng tất cả các hình thức khác nhau từ gửi đơn tố cáo, tố cáo trực tiếp hoặc tố cáo thông qua điện thoại hoặc bằng hình thức mạng thông tin điện tử
1.1.3 Sự khác biệt cơ bản giữa tố cáo nặc danh, mạo danh và khuyết danh
Tố cáo nặc danh, mạo danh và khuyết danh ngoài các đặc điểm chung như đã phân tích ở trên thì giữa chúng còn có điểm chung là thông tin cá nhân của chủ thể
tố cáo đều bị giấu trước các chủ thể có thẩm quyền giải quyết tố cáo Mặc dù có nhiều điểm chung nhưng giữa chúng cũng có một số điểm khác biệt cơ bản Việc tìm ra được sự khác biệt giữa chúng để có thể xác định, phân biệt được đâu là tố cáo nặc danh, đâu là tố cáo mạo danh và đâu là tố cáo khuyết danh Việc xác định đúng loại tố cáo sẽ giúp chúng ta có cách tiếp cận chính xác hơn Ngoài ra, đối với mỗi loại tố cáo thì các quy định của pháp luật cũng sẽ có những quy định khác nhau Do
đó, việc tìm ra được sự khác biệt giữa chúng là một việc làm hết sức cần thiết và
12 Cao Vũ Minh (2016), “Tố cáo hành vi tham nhũng - Nhìn từ mối tương quan giữa Luật Tố cáo với Luật
Phòng, chống tham nhũng”, Tạp chí Nội Chính, (số 31)
Trang 2317
quan trọng Điểm khác biệt cơ bản giữa tố cáo nặc danh, tố cáo mạo danh và tố cáo khuyết danh là ở cách người tố cáo che giấu thông tin cá nhân của mình Sự khác biết đó cũng được thể hiện qua chính tên gọi nặc danh, mạo danh và khuyết danh
Có thể thấy được ngay rằng giữa tố cáo nặc danh và mạo danh có điểm giống với tố cáo khuyết danh là các thông tin chính xác của chủ thể thực hiện việc tố cáo đều không được cho biết Do đó, chủ thể tiến hành giải quyết tố cáo sẽ không xác định được chính xác chủ thể nào là chủ thể đã thực hiện việc tố cáo Tuy nhiên, không vì thế mà có sự nhầm lẫn giữa chúng
Trước hết đó là sự khác biệt giữa tố cáo khuyết danh so với tố cáo nặc danh và
mạo danh: trong đơn tố cáo khuyết danh người tố cáo hoàn toàn không ghi bất cứ một thông tin nào của người tố cáo từ tên tuổi, địa chỉ nơi công tác, sinh sống và các thông tin khác Do đó, khi tiếp nhận đơn thư tố cáo khuyết danh, các chủ thể tiến hành tố cáo sẽ không có một thông tin gì về người tố cáo dù đó là thông tin không chính xác Trong đơn thư tố cáo chỉ có nội dung tố cáo mà người tố cáo muốn tố cáo Như vậy, đối với những đơn thư tố cáo khuyết danh, các chủ thể có thẩm quyền giải quyết tố cáo không cần phải thực hiện việc liên lạc đối với người tố cáo do không xác định được thông tin gì từ phía người tố cáo Đối với tố cáo nặc danh và mạo danh thì ngoài nội dung tố cáo, trong phần thông tin cá nhân của người tố cáo vẫn có thông tin Các thông tin đó có thể là họ tên, địa chỉ, nghề nghiệp, nơi công tác Mặc dù các thông tin cá nhân được đưa ra không phải của chính người tố cáo nhưng để biết được đó là những thông tin không chính xác thì các chủ thể giải quyết
tố cáo phải thực hiện việc xác minh theo những thông tin được ghi trong đơn tố cáo Điểm khác biệt trên sẽ giúp chúng ta xác định được đâu là đơn thư tố cáo khuyết danh và đặc biệt là không có sự nhầm lần giữa tố cáo nặc danh và tố cáo khuyết danh, bởi từ trước đến nay, có rất nhiều trường hợp nhầm lẫn giữa hai loại tố cáo này
Dựa trên những phân tích ở trên, có thể phân biệt được một bên là tố cáo khuyết danh, một bên là tố cáo nặc danh và mạo danh Mặc dù, giữa tố cáo nặc danh
và tố cáo mạo danh có cũng những điểm giống nhau nhưng giữa chúng cũng có những điểm khác biệt cụ thể Tuy không phải lúc nào cũng có thể nhận ra ngay đâu
Trang 24sự cung cấp các thông tin cũng như tài liệu chứng cứ liên quan đến việc tố cáo Dựa trên những phân tích ở trên, chúng ta hoàn toàn có thể xác định được đâu
là tố cáo nặc danh, đâu là tố cáo mạo danh và đâu là tố cáo khuyết danh Việc xác định được chính xác loại tố cáo không những giúp cho chúng ta hiểu được bản chất của từng loại tố cáo mà nó còn góp phần xác định những quy tắc pháp lý điều chỉnh đối với mỗi loại tố cáo Do đó, để có thể đảm bảo quyền tố cáo cũng như thực hiện tốt hoạt động tố cáo thì việc xác định được chính xác các loại tố cáo là một việc làm không chỉ mang ý nghĩa lý luận mà nó còn mang cả ý nghĩa thực tiễn trong việc vận dụng các quy định của pháp luật trong hoạt động tố cáo của người dân và hoạt động giải quyết tố cáo của các chủ thể có thẩm quyền
1.2 Nguyên nhân và hệ quả của tố cáo nặc danh, mạo danh và khuyết danh
1.2.1 Nguyên nhân dẫn đến tình trạng tố cáo nặc danh, mạo danh và khuyết danh
Tố cáo nặc danh, mạo danh và khuyết danh là những hình thức tố cáo mà theo đó người tố cáo đã che giấu đi thông tin cá nhân của mình trước cá nhân, cơ quan có thẩm quyền giải quyết tố cáo như đã phân tích ở mục 1.1 Tuy nhiên, để hiểu rõ hơn về tố cáo nặc danh, mạo danh và khuyết danh thì ngoài các vấn đề đã
Trang 2519
phân tích ở trên, chúng ta cần phải làm rõ nguyên nhân dẫn đến tình trạng này Biết được nguyên nhân dẫn đến tình trạng tố cáo cũng chính là tìm được cơ sở lý luận để giải quyết tình trạng đó Qua tìm hiểu, nghiên cứu, phân tích, có thể thấy rằng nguyên dẫn đến tình trạng tố cáo nặc danh, mạo danh và khuyết danh được chia thành hai nhóm nguyên nhân là: nguyên nhân trực tiếp xuất phát từ chính ý chí của người tố cáo và nguyên nhân gián tiếp do sự ảnh hưởng từ nhưng yếu tố bên ngoài tác động đến người tố cáo
1.2.1.1 Nguyên nhân trực tiếp
Nguyên nhân trực tiếp dẫn đến tình trạng tố cáo nặc danh, mạo danh và khuyết danh là những nguyên nhân xuất phát từ chính ý chí chủ quan của các chủ thể tố cáo Nhóm nguyên nhân trực tiếp này bao gồm hai nguyên nhân chính
Thứ nhất, người tố cáo sợ bị đe dọa, trù dập, trả thù từ người bị tố cáo
Tuy hành vi mà chủ thể bị tố cáo thực hiện chưa bị các CQNN kết luận là hành vi vi phạm pháp luật nhưng hành vi đó trên thực tế vẫn có thể là hành vi vi phạm pháp luật Do đó, các chủ thể này luôn mong muốn che giấu hành vi mà mình
đã thực hiện đối với người khác mà đặc biệt là các chủ thể có thẩm quyền xử lý hành vi đó Các chủ thể thực hiện hành vi vi phạm pháp luật luôn mong muốn che giấu để không ai phát hiện được hành vi vi phạm pháp luật của mình nhằm tránh phải chịu những trách nhiệm pháp lý do chính hành vi vi phạm pháp luật của mình gây ra Do đó, một khi bị ai đó phát hiện và tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của mình thì những chủ thể đó sẽ cố gắng tìm cách để che giấu hoặc thậm chí là tìm cách để đe dọa, trù dập, trả thù người tố cáo nhằm khiến cho người tố cáo phải rút lại đơn tố cáo hoặc không tiếp tục cung cấp các tài liệu, chứng cứ nhằm chứng minh hành vi vi phạm pháp luật của người bị tố cáo Xuất phát từ thực tiễn như vậy, người tố cáo vì không muốn bị đe dọa, trù dập, trả thù từ người bị tố cáo nên họ phải giấu đi thông tin cá nhân để người bị tố cáo không biết được thông tin của người tố cáo Người tố cáo cho rằng, nếu người bị tố cáo không biết được thông tin của người tố cáo thì dù muốn thực hiện đe dọa, tù dập, trả thù các chủ thể đó cũng không thể thực hiện Nguyên nhân này cho thấy, những người muốn tố cáo là những người bất bình trước những hành vi trái pháp luật của các chủ thể khác nhưng vì muốn bảo vệ vị trí công tác, sức khỏe, tính mạng của mình và người thân nên họ
Trang 2620
không thể sử dụng chính danh tính của mình để thực hiện việc tố cáo mà phải thực hiện việc tố cáo thông qua các hình thức tố cáo nặc danh, mạo danh hoặc khuyết danh
Thứ hai, người tố cáo muốn tránh việc phải chịu các trách nhiệm pháp lý do hành vi cố ý tố cáo sai sự thật
Theo quy định pháp luật, đối với những hành vi tố cáo sai sự thật nhằm làm giảm uy tín, danh dự, vị trí công tác của người khác, lợi dụng việc tố cáo để tuyên truyền chống phá Nhà nước, xuyên tạc, vu khống, gây rối an ninh trật tự sẽ phải chịu những trách nhiệm, chế tài tùy theo mức độ Do đó, khi người tố cáo muốn tiến hành tố cáo sai sự thật nhưng lại không muốn chịu các trách nhiệm pháp lý theo quy định của pháp luật thì họ thường tiến hành tố cáo bằng các hình thức tố cáo nặc danh, mạo danh hoặc khuyết danh Bởi lẽ đối với việc xác định danh tính cũng như thông tin của người tố cáo trong những trường hợp này là tương đối khó khăn Hơn nữa, trên thực tế, có rất nhiều đơn tố cáo nặc danh, mạo danh, khuyết danh tố cáo sai sự thật nhưng rất ít vụ việc được đem ra xử lý nên những người muốn lợi dụng việc tố cáo để làm ảnh hưởng đến người khác xem đây là một cách để thỏa mãn mục đích cá nhân Đối với nguyên nhân này, đây là một nguyên nhân xuất phát từ mục đích xấu của chủ thể thực hiện việc tố cáo Nguyên nhân của hành vi tố cáo này là tiền đề gây ra những hệ quả xấu đối với chủ thể bị tố cáo, các chủ thể có thẩm quyền giải quyết tố cáo cũng như đối với chính bản thân của chủ thể thực hiện hành vi tố cáo sai sự thật
1.2.1.2 Nguyên nhân gián tiếp
Ngoài những nguyên nhân trực tiếp xuất phát từ ý chỉ chủ quan của các chủ thể tố cáo, việc tố cáo nặc danh, mạo danh và khuyết danh còn xuất phát từ những nguyên nhân gián tiếp Đây cũng là những nguyên nhân gây ra tình trạng tố cáo nặc danh, mạo danh và khuyết danh Do đó để có thể hiểu đúng và đầy đủ cũng như tìm
ra cách giải quyết tốt nhất nhằm giảm thiểu tình trạng tố cáo nặc danh, mạo danh và khuyết danh không những phải giải quyết đối với những nguyên nhân trực tiếp mà còn phải giải quyết đối với những nguyên nhân gián tiếp
Trang 2721
Thứ nhất, công tác giải quyết tố cáo còn nhiều hạn chế
Có thể thấy được rằng, người bị tố cáo thông thường là những người có địa
vị xã hội hoặc có chức vụ quyền hạn, mang trong mình quyền lực Do đó, khi tiến hành giải quyết tố cáo, các chủ thể giải quyết tố cáo thường không xử lý triệt để vụ việc hoặc cố tình không giải quyết các vụ việc đó Hoặc do năng lực, trình độ của đội ngũ giải quyết tố cáo còn hạn chế mà vụ việc không được giải quyết một cách đúng đắn Vì vậy, người tố cáo phần nào bị ảnh hưởng tâm lý, không dám dũng cảm
để tố cáo Bởi vì, khi trực tiếp tố cáo, họ phải chịu khá nhiều rủi ro trong khi không
có cơ sở để đảm bảo rằng việc tố cáo của mình sẽ được giải quyết hoặc được giải quyết nhưng giải quyết không triệt để Vì vậy, người tố cáo không dám tố cáo một cách trực tiếp mà phải lựa chọn cách thức tố cáo nặc danh, mạo danh hoặc khuyết danh
Thứ hai, cơ chế bảo vệ người tố cáo chưa phát huy được hiệu quả
Nhìn nhận được nguy cơ người tố cáo có khả năng bị đe dọa, trù dập trả thù nên các quy định của pháp luật nói chung và các quy định pháp luật trong lĩnh vực
tố cáo đã quy định về việc bảo vệ người tố cáo Bảo vệ người tố cáo bao gồm bảo đảm bí mật thông tin người tố cáo, bảo vệ sức khỏe, tính mạng, danh dự, nhân phẩm, vị trí công tác của người tố cáo cũng như người thân thích của người tố cáo
Như đã phân tích ở trên, khi người bị tố cáo muốn thực việc đe dọa, trù dập, trả thù đối với người tố cáo thì người bị tố cáo phải biết được thông tin của người tố cáo, nên việc bảo vệ bí mật của người tố cáo là hết sức quan trọng Tuy nhiên, việc đảm bảo bí mật thông tin của người tố cáo của các chủ thể giải quyết tố cáo chưa được thực hiện triệt để Theo quy định của pháp luật, các chủ thể giải quyết tố cáo
có nghĩa vụ bảo đảm bí mật thông tin của người tố cáo Nhưng trên thực tế, việc giữ
bị mật còn khá kém, thông tin của người tố cáo không được đảm bảo bí mật tuyệt đối Trên thực tế, người bị tố cáo dễ dàng biết được thông tin của người tố cáo bằng những cách khác nhau Từ đó, không loại trừ khả năng người tố cáo bị người tố cáo tiến hành các hành vi đe dọa, trù dập, trả thù Đó cũng là một nguyên nhân dẫn đến người tố cáo phải tiến hành tố cáo nặc danh, mạo danh, hoặc khuyết danh
Theo nguyên tắc cơ bản, khi chủ thể thực hiện việc tố cáo thì chủ thể đó đương nhiên có quyền được bảo vệ về tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân
Trang 281.2.3 Hệ quả của tố cáo nặc danh, mạo danh và khuyết danh
Tố cáo nặc danh, mạo danh và khuyết danh là một vấn đề trong xã hội, do đó trong bản thân nó luôn chưa đựng hai mặt của một vấn đề Bản thân tố cáo nặc danh, mạo danh, hay khuyết danh đều có thể mang lại những hệ quả tốt hoặc gây ra những hệ quả xấu Cụ thể, xuất phát từ những nguyên nhân như đã phân tích ở mục 1.2.1, việc tố cáo nặc danh, mạo danh và khuyết danh có thể dẫn đến những hệ quả như sau:
Thứ nhất, về mặc tích cực, tuy tố cáo nặc danh, mạo danh và khuyết danh
không cung cấp thông tin của người tố cáo, đồng thời gây ra một số khó khăn cho các chủ thể giải quyết tố cáo trong việc tiếp nhận, thụ lý, xác minh cũng như việc cung cấp các tài liệu, chứng cứ khác phục vụ cho quá trình giải quyết tố cáo nhưng trên thực tế, không ít những đơn thư tố cáo nặc danh, mạo danh, khuyết danh cung cấp một số lượng nguồn tin tố cáo quan trọng giúp cho các cơ quan giải quyết tố cáo có thể phát hiện xử lý những hành vi vi phạm pháp luật Như vậy, có thể thấy được, những đơn thư tố cáo nặc danh, mạo danh và khuyết danh mang lại những hệ quả tích cực, góp phần to lớn vào công việc quản lý đất nước, lên án những hành vi
vi phạm pháp luật nhằm bảo vệ lợi ích cho các cá nhân tổ chức cũng như các lợi ích chung của xã hội
Thứ hai, về mặt tiêu cực, cũng xuất phát từ chính việc người tố cáo có thể giấu
đi danh tính, thông tin cá nhân, đồng thời xuất phát từ những mục đích cá nhân mà các chủ thể lợi dụng việc tố cáo nặc danh, mạo danh và khuyết danh nhằm tố cáo sai
sự thật Chính từ việc tố cáo sai sự thật này đã gây ra những hậu quả khác nhau Về phía các chủ thể giải quyết tố cáo, mặc dù đây là những tố cáo sai sự thật nhưng để biết được đây có phải là tố cáo sai sự thật hay không thì các chủ thể tiến hành giải quyết tố cáo phải tiến hành thẩm tra, xác minh để thu thập tài liệu chứng cứ Trên thực tế, sau khi thực hiện các bước thẩm tra, xác minh thì các chủ thể giải quyết tố
Trang 2923
cáo mới biết được đây là tố cáo sai sự thật Việc phải tiến hành giải quyết các đơn thư tố cáo nặc danh, mạo danh, khuyết danh sai sự thật không chỉ gây ra việc tốn kém về thời gian, tiền bạc, công sức mà còn gây ra tâm lý không muốn giải quyết đối với những đơn thư tố cáo nặc danh, mạo danh và khuyết danh mà trong số đó thì
có thể có những đơn thư tố cáo đúng sự thật cần được giải quyết Về phía người bị
tố cáo, trên thực tế họ là những người không thực hiện hành vi vi phạm pháp luật nhưng lại bị những đơn thư tố cáo nặc danh, mạo danh, khuyết danh tố cáo Chính
từ hành vi tố cáo này khiến cho họ bị ảnh hưởng về tâm lý, bị nghi ngờ, bị hạ thấp
về uy tín, danh dự, nhân phẩm Ngoài ra, đối với trường hợp tố cáo mạo danh, thì người bị mạo danh cũng có thể phải chịu những ảnh hưởng nhất định từ việc tố cáo của người mạo danh như có thể phải chịu trách nhiệm pháp lý từ hành vi tố cáo của chủ thể bị mạo danh hoặc có thể bị đe dọa, trả thù, trù dập từ chủ thể bị tố cáo Biết được những hệ quả của tố cáo nặc danh, mạo danh và khuyết danh là cách tốt nhất để có thể phát huy được những mặt tích cực của nó cũng như tìm ra những giải pháp để có thể hạn chế đến mức thấp nhất những hệ quả xấu đo việc tố cáo nặc danh, mạo danh và khuyết danh gây ra
1.3 Quy định của pháp luật về tố cáo nặc danh, mạo danh và khuyết danh
Ngày 11/11/2011, Quốc hội đã thông qua Luật Tố cáo, Luật này chính thức có hiệu lực từ ngày 01/7/2012 Hiện nay các quy định về tố cáo phần lớn được áp dụng theo quy định của Luật Tố cáo năm 2011 Để hiểu rõ về sự thay đổi, phát triển của pháp luật tố cáo liên quan đến tố cáo nặc danh, mạo danh và khuyết danh, việc tìm hiểu các quy định pháp luật liên quan trong các giai đoạn trước đây là cần thiết Qua
đó, có thể đánh giá một cách tổng quan về pháp luật tố cáo Việt Nam liên quan đến
tố cáo nặc danh, mạo danhh và khuyết danh trong từng thời kỳ Căn cứ theo thời điểm có hiệu lực thi hành của Luật Tố cáo năm 2011 mà khóa luận sẽ tiến hành phân chia theo hai giai đoạn chính là từ năm 1945 đến năm 2012 và giai đoạn từ năm 2012 đến nay
Trang 30Cách mạng tháng Tám thành công, ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Ngày 9/1/1946, Quốc hội đã thông qua Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Mặc dù đây là bản Hiến pháp không có điều kiện để thực hiện trên thực
tế, tuy nhiên trong Hiến pháp đã dành 18 Điều để ghi nhận một số quyền và nghĩa
vụ của công dân Tuy không đề cập trực tiếp đến quyền tố cáo của công dân nhưng với sự ghi nhận về những quyền cơ bản của công dân thì Hiến pháp năm 1946 đã xác lập nền tảng để tạo tiền đề cho việc hình thành và phát triển quyền tố cáo của công dân Cụ thể trên thực tế, đã có một số văn bản khác nhau quy định về vấn đề tố cáo của công dân cũng như trách nhiệm giải quyết tố cáo của các cá nhân, cơ quan
có thẩm quyền như Sắc lệnh số 09/SL ngày 29/01/1947 của Chủ tịch hồ Chí minh
về việc ấn định lại thủ tục tố cáo các nhân viên cao cấp trong Chính phủ cùng các
cơ quan hành pháp, tư pháp; Sắc lệnh 138B/SL ngày 18/12/1949 của Chủ tịch Hồ Chí Minh về việc thành lập Ban Thanh tra; Thông tư số 436/TTg ngày 13/09/1958 của Thủ tướng Chính phủ quy định về trách nhiệm, quyền hạn và tổ chức của các cơ quan, chính quyền trong việc tiếp nhận các loại thư khiếu nại, tố giác của nhân dân Mặc dù các VBQPPL được ban hành trong giai đoạn này quy định còn đơn giản, chỉ quy định về những vấn đề cơ bản trong việc tố cáo, tiếp nhận và giải quyết tố cáo nhưng trong Thông tư số 436/TTg ngày 13/09/1958 đã có quy định về tố cáo nặc
danh Cụ thể tại Mục 4 Chương III của Thông tư này quy định: “Nhận thư nặc danh
phải nghiên cứu với thái độ khách quan để phân biệt những cái đúng, những cái sai trong thư” Mặc dù trong thông tư này, Thủ tướng Chính phủ chỉ đề cập đến thái độ
của các chủ thể có thẩm quyền giải quyết tố cáo nhưng qua đó cũng có thể thấy được rằng trong giai đoạn này, đã có sự quan tâm của Nhà nước đối với vấn đề tố
Trang 3125
cáo nặc danh Qua quy định này có thể thấy rằng, các đơn thư tố cáo nặc danh vẫn
có thể được tiếp nhận để giải quyết tùy thuộc vào nội dung, tính chất, mức độ chính xác trong thông tin của đơn thư tố cáo nặc danh Như vậy, dù mới chỉ là những năm đầu tiên sau khi cách mạng thành công nhưng Nhà nước đã có sự quan tâm đối với
tố cáo nói chung và đối với tố cáo nặc danh nói riêng
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, trong điều kiện cách mạng mới, ngày 31/12/1959 Quốc hội đã thông qua bản Hiến pháp mới
để thay thế cho Hiến pháp năm 1946 Hiến pháp năm 1959 ra đời đã trực tiếp ghi
nhận quyền tố cáo của công dân Theo đó “Công dân nước Việt nam Dân chủ Cộng
hòa có quyền khiếu nại và tố cáo với bất kỳ CQNN nào về hành vi vi phạm của CQNN Những khiếu nại tố cáo phải được giải quyết nhanh chóng Người bị thiệt hại vì hành vi vi phạm của CQNN có quyền được bồi thường”13 Việc ghi nhận
quyền tố cáo trong Hiến pháp đã thể hiện sự tiến bộ và phát triển của pháp luật Việt Nam trong việc ghi nhận các quyền dân chủ cơ bản của công dân cũng như thể hiện được bản chất Nhà nước Việt Nam là nhà nước của dân, do dân, vì dân Mặc dù quyền tố cáo đã được ghi nhận thực tiếp trong Hiến pháp nhưng vẫn chưa có một VBQPPL nào dưới hình thức luật hay pháp lệnh quy định cụ thể đối với lĩnh vực này Việc TC và GQTC được thực hiện thông qua các quy định được quy định tại các văn bản sau: Nghị quyết 164/CP ngày 31/8/1970 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường công tác thanh tra và chấn chỉnh hệ thống cơ quan thanh tra nhà nước, Nghị định số 165/CP ngày 31/8/1970 của Hội đồng Chính Phủ quy định về nhiệm
vụ quyền hạn và tổ chức bộ máy của Ủy ban Thanh tra Chính phủ, Thông tư 60/UBTT ngày 25/5/1971 của Ủy ban Thanh tra Chính phủ hướng dẫn trách nhiệm của các ngành, các cấp về giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của nhân dân, Nghị định số 01/CP ngày 7/1/1977 của Chính phủ quy định tổ chức và hoạt động của Ủy ban Thanh tra Chính phủ14
13 Điều 29 Hiến pháp năm 1959
14 Trần Văn Sơn (2007), Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa trong hoạt động giải quyết khiếu nại tố cáo,
Nxb Tư pháp, tr 86
Trang 3226
1.2.1.2 Giai đoạn 1981 đến 2012
Hiến pháp năm 1980 ra đời, một lần nữa đã củng cố và khẳng định về quyền
tố cáo của công dân Hiến pháp năm 1981 quy định: “Công dân có quyền khiếu nại
tố cáo với bất kỳ cơ quan nào của Nhà nước về những việc làm trái pháp luật của CQNN, tố chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân hoặc bất cứ cá nhân nào thuộc cơ quan, tố chức đó Các đơn khiếu nại, tố cáo phải được xem xét, giải quyết nhanh chóng Mọi hành động xâm phạm quyền lợi chính đáng của công dân phải được kịp thời sửa chữa và xử lý nghiêm minh Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường Nghiêm cấm trả thù người khiếu nại tố cáo”15 Để cụ thể quy định trong Hiến pháp,
lần đầu tiên trong lịch sử lập pháp của Việt Nam, một pháp lệnh quy định về vấn đề
tố cáo đã được ban hành đó là Pháp lệnh quy định việc xét và giải quyết các khiếu nại, tố cáo của công dân năm 1981 Mặc dù không quy định riêng biệt thành pháp lệnh tố cáo nhưng Pháp lệnh quy định việc xét và giải quyết các khiếu nại, tố cáo của công dân đã khẳng định được việc cần có một văn bản chuyên ngành để điều chỉnh về vấn đề tố cáo Pháp lệnh quy định việc xét, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân năm 1981 đã quy định chi tiết hơn những vấn đề liên quan đến tố cáo bao gồm việc tiếp nhận các khiếu nại, tố cáo, thẩm quyền, thời hạn xét và giải quyết khiếu nại, tố cáo, việc xử lý vi phạm Tuy pháp lệnh không đề cập đến các đơn thư
tố cáo nặc danh, mạo danh, khuyết danh hay đối với đơn tố cáo không ghi rõ họ tên, địa chỉ nhưng tại Nghị định số 58/HĐBT ngày 29/3/1982 của Hội đồng Bộ trưởng quy định chi tiết về Pháp lệnh năm 1981 đã có quy định đối với các đơn thư tố cáo không ghi rõ họ tên, địa chỉ, đơn thư giấu tên, mạo danh Cụ thể, Nghị định
58/HĐBT quy định: “Những đơn tố cáo không ký tên, mạo tên hoặc không rõ địa
chỉ nhưng có nội dung nói đến những vi phạm chính sách, pháp luật thì Thủ trưởng
cơ quan, tổ chức nhận được đơn đó phải xem xét, giải quyết; hoặc chuyển đến cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xem xét, giải quyết như các đơn khiếu tố khác”16 Theo quy định này, những đơn thư tố cáo giấu tên, mạo danh, không ghi rõ họ tên nhưng có nội dung liên quan đến việc vi phạm chính sách, pháp luật thì các chủ thể
có thẩm quyền phải xem xét giải quyết
15 Điều 73 Hiến pháp năm 1981
16 Điều 9 Nghị định 58/HĐBT năm 1982
Trang 3327
Sau một thời gian áp dụng trong thực tiễn, Pháp lệnh quy định việc xét, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân năm 1981 đã được thay thế bởi Pháp lệnh khiếu nại, tố cáo của công dân năm 1991 Pháp lệnh năm 1991 đã có một bước tiến trong việc đưa ra khái niệm khiếu nại, tố cáo, đồng thời yêu cầu công dân phải khiếu nại tố cáo đến đúng CQNN có thẩm quyền, quy định cụ thể quyền, và nghĩa
vụ cơ bản của người khiếu nại, tố cáo và người bị khiếu nại, tố cáo
Điều 27 Pháp lệnh năm 1991 quy định về quyền và nghĩa vụ của người tố
cáo, trong đó điểm a, khoản 1 Điều này quy định: “Đơn tố cáo ghi rõ họ tên, địa chỉ
của người tố cáo và nội dung tố cáo” Như vậy, pháp lệnh yêu cầu người tố cáo
phải cung cấp rõ họ tên, địa chỉ trong đơn tố cáo nhưng đối với các đơn tố cáo không ghi họ tên, địa chỉ pháp lệnh vẫn không đưa ra hướng xử lý một cách rõ ràng,
cụ thể Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 2, Điều 23 Nghị định 38/HĐBT năm
1992 hướng dẫn thi hành Pháp lệnh khiếu nại, tố cáo của công dân thì: “Những đơn
tố cáo không rõ họ tên, địa chỉ người tố cáo nhưng nội dung rõ ràng, bằng chứng
cụ thể, có cơ sở để thẩm tra xác minh, thì tùy tính chất, sự việc mà thủ trưởng CQNN có thẩm quyền quyết định xem xét hoặc không xem xét” Như vậy, tương tự
với Nghị định số 58/HĐBT năm 1982, đối với các đơn thư tố cáo không ghi rõ họ tên địa chỉ vẫn sẽ được xem xét, giải quyết nhưng cách quy định giữa hai nghị định
có điểm khác biệt Theo Điều 9 Nghị định số 58/HĐBT năm 1982 thì mọi đơn thư
tố cáo giấu tên, mạo tên hoặc không có họ tên, địa chỉ đều phải được xem xét nhưng đối vơi quy định tại khoản 2, Điều 23 Nghị định số 38/HĐBT năm 1992 thì pháp luật quy định một đơn thư tố cáo không ghi rõ họ tên, địa chỉ phải có nội dung rõ ràng, bằng chứng cụ thể, có cơ sở để thẩm tra xác minh thì mới có thể được xem xét giải quyết Như vậy việc một đơn thư tố cáo không ghi rõ họ tên, địa chỉ muốn được xem xét phải thỏa mãn những điều kiện trên và phải được các chủ thể có thẩm quyền giải quyết xem xét và chấp nhận Việc quy định như vậy sẽ góp phần giảm số lượng đơn thư tố cáo không ghi rõ họ tên, địa chỉ mà các chủ thể có thẩm quyền giải quyết phải tiếp nhận, xử lý trong khi có quá nhiều đơn thư tố cáo không ghi rõ họ tên địa chỉ mà không phải tất cả trong số đó đều là những tố cáo đúng sự thật Tuy nhiên, việc xác định như thế nào là rõ ràng, có cơ sở để thẩm tra thì Nghị định số 38/HĐBT năm 1992 lại không quy định cụ thể Từ đó, việc xác định đơn thư đó có
Trang 3428
được tiếp nhận, xử lý hay không sẽ phụ thuộc vào ý chí chủ quan của các chủ thể tiếp nhận đơn Trên thực tế có thể có những đơn thư tố cáo không ghi rõ họ tên, địa chỉ mặc dù nội dung tố cáo là thật nhưng vì thể hiện không rõ ràng, cụ thể hoặc do ý chỉ chủ quan của chủ thể giải quyết tố cáo cho rằng đơn thứ đó là không cụ thể, rõ ràng mà đơn thư đó không được xem xét, giải quyết
Sau một thời gian được đưa vào áp dụng, Pháp lệnh giải quyết khiếu nại tố cáo năm 1991 được thay thế bằng Luật Khiếu nại tố cáo năm 1998 Như vậy, sau một quá trình hình thành và phát triển, đã có một Luật chuyên ngành quy định về lĩnh vực khiếu nại, tố cáo Luật Khiếu nại tố cáo năm 1998 ra đời khẳng định sự quan tâm của Nhà nước đối với vấn đề khiếu nại, tố cáo nói chung và với vấn đề tố cáo nói riêng đồng thời cũng cho thấy được tầm quan trọng của khiếu nại, tố cáo trong hoạt động quản lý đất nước Liên tục sau đó Luật khiếu nại, tố cáo năm 1998 được sửa đổi, bổ sung vào các năm 2004 và 2005 Tuy nhiên, các nội dung được sửa đổi vẫn tập trung vào các quy định liên quan đến khiếu nại nên các quy định về
tố cáo hầu như được giữ nguyên
Đối với vấn đề xử lý đối với tố cáo không ghi rõ họ tên, địa chỉ thì Nghị định 67/1999/NĐ-CP năm 1999 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Khiếu nại,
tố cáo năm 1998 đã kế thừa hoàn toàn nội dung của Nghị định số 38/HĐBT năm
1992 Theo đó, những đơn thư tố cáo không ghi rõ họ tên, địa chỉ nhưng có nội dung rõ ràng, có bằng chứng cụ thể, có cơ sở để thẩm tra xác minh thì vẫn có thể được xem xét giải quyết Tuy nhiên, khi tiến hành sửa đổi bổ sung Nghị định số 67/1999/NĐ-CP bằng Nghị định số 62/2002/NĐ-CP thì Chính phủ đã không chấp nhận việc giải quyết đối với các đơn thư tố cáo không ghi rõ họ tên, địa chỉ Cụ thể điểm c, khoản 1, Điều 43 Nghị định số 62/2002/NĐ-CP được sửa đổi như sau:
“Không xem xét, giải quyết những tố cáo giấu tên, mạo tên, không rõ địa chỉ, không
có chữ ký trực tiếp mà sao chụp chữ ký hoặc những tố cáo đã được cấp có thẩm quyền xem xét, kết luận nay tố cáo lại nhưng không có thêm tài liệu, chứng cứ mới” Như vậy, sau khi Nghị định số 62/2002/NĐ-CP được ban hành thì ý chí của
các CQNN đã có sự thay đổi rõ rệt đối với vấn đề có nên xem xét, giải quyết đối với những đơn thư tố cáo không ghi rõ họ tên, địa chỉ hay không Theo đó, kể từ thời
Trang 35Cũng trong giai đoạn này, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh chống tham nhũng vào năm 1998 và sau đó Quốc hội đã ban hành Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005 để thay thế cho Pháp lệnh chống tham nhũng Mặc dù không phải là Pháp lệnh, Luật chuyên quy định về vấn đề tố cáo nhưng tố cáo được xem là một phần quan trọng và được quy định khá chi tiết trong cả Pháp lệnh chống tham nhũng và Luật Phòng, chống tham nhũng Đặc biệt, Luật Phòng, chống tham nhũng đã dành riêng mục 3 trong chương III để quy định về vấn đề tố cáo đối với hành vi tham nhũng
Các quy định về tố cáo trong Pháp lệnh chống tham nhũng và Nghị định số 64/1998/NĐ-CP quy định chi tiết về Pháp lệnh chống tham nhũng đều không quy định về việc người tố cáo phải nên rõ họ tên, địa chỉ trong đơn tố cáo Ngoài ra
Nghị định số 64/1988/NĐ-CP có quy định: “Những đơn tố cáo về hành vi tham
nhũng không rõ họ tên, địa chỉ người tố cáo nhưng có nội dung rõ ràng, bằng chứng cụ thể, có cơ sở để thẩm tra, xác minh thì người đứng đầu cơ quan, tổ chức
có thẩm quyền quyết định việc xem xét, xử lý”17 Như vậy, đối với những đơn thư tố cáo liên quan đến vẫn đề tham nhũng mà không ghi rõ họ tên, địa chị thì vẫn có thể được xem xét, giải quyết nếu có cơ sở, bằng chứng rõ ràng Quy định này tương đối phù hợp với quy định tại Nghị định số 67/1998/NĐ-CP quy định chi tiết Luật Khiếu nại tố cáo năm 1998
17 Điều 24 Nghị định số 64/1998/NĐ-CP
Trang 3630
Sau khi Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005 được ban hành để thay thế Pháp lệnh chống tham nhũng năm 1998 thì Luật đã dành riêng một mục trong Chương III để quy định về vấn đề tố cáo Sau đó, mặc dù Luật được liên tiếp được sửa đổi, bổ sung vào các năm 2007 và 2009, nhưng các quy định về tố cáo thì hầu như được giữ nguyên mà không có sự sửa đổi hay bổ sung Điều 64 Luật Phòng,
chống tham nhũng quy định: “Người tố cáo phải tố cáo trung thực, nêu rõ họ, tên,
địa chỉ, cung cấp thông tin, tài liệu mà mình có và hợp tác với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tố cáo” Như vậy, Luật Phòng, chống tham nhũng
năm 2005 đã quy định về nghĩa vụ của người tố cáo là phải cung cấp trung thực họ tên, địa chỉ Quy định này cũng được quy định lại một lần nữa tại Nghị định số 120/2006/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Phòng, chống tham nhũng Ngoài ra, đối với việc tiếp nhận đơn thư tố cáo không ghi rõ họ, tên địa chỉ được quy định tương tự như trong Nghị định số 64/1998/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết Pháp lệnh chống tham nhũng theo hướng những đơn thư tố cáo không ghi rõ họ tên, địa chỉ những có nội dung rõ ràng, bằng chứng cụ thể có thể thẩm tra, xác minh thì vẫn có thể được xem xét giải quyết Như vậy, tại thời điểm nghị định 120/2006/NĐ-CP được ban hành thì Nghị định 62/2002/NĐ-CP quy định chi tiết Luật Khiếu nại tố cáo năm 1998 vẫn đang có hiệu lực thi hành Nghị định số 120/2006/NĐ-CP quy định theo hướng chấp nhận đối với các đơn thư tố cáo không ghi rõ họ tên, địa chỉ Trong khi đó, Nghị định số 62/2002/NĐ-CP lại quy định theo hướng không chấp nhận đơn thư tố cáo không ghi rõ họ tên, địa chỉ Tuy nhiên, Nghị định số 62/2002/NĐ-CP là Nghị định quy định hướng dẫn chi tiết Luật Khiếu nại tố cáo năm 1998 còn Nghị định số 120/2006/NĐ-CP là Nghị định quy định chi tiết Luật Phòng, chống tham nhũng Có thể thấy, Luật Khiếu nại tố cáo năm 1998 là Luật quy định chung đối về việc tố cáo còn các quy định về tố cáo của Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005 chỉ quy định về việc tố cáo trong lĩnh vực phòng chống tham nhũng Hơn nữa, Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005 lại được ban hành sau Luật Khiếu nại tố cáo năm 1998 nên căn cứ theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996 thì các quy định của Luật Phòng, chống tham nhũng sẽ được ưu tiên áp dụng
Trang 3731
Như vậy, cho đến trước thời điểm Luật Tố cáo năm 2011 được ban hành và
có hiệu lực thi hành đã có rất nhiều các văn bản quy định về vấn đề tố cáo nói chung và tố cáo nặc danh, mạo danh và khuyết danh nói riêng Mặc dù không quy định cụ thể về tố cáo nặc danh, mạo danh hoặc khuyết danh nhưng các văn bản này
đã có những điều khoản về việc xử lý đối với các đơn thư tố cáo nặc danh, giấu tên Trong đó, các quy định hầu như chỉ quan tâm đối với các tố cáo có ghi rõ họ tên, địa chỉ và những tố cáo không ghi rõ họ tên, địa chỉ Đồng thời, trong mỗi giai đoạn, các quy định của pháp luật cũng đã có những quy định khác nhau về việc có chấp nhận những đơn thư tố cáo không rõ họ tên, địa chỉ hay không Theo đó các quy định của pháp luật lần lượt thay đổi từ chấp nhận, chấp nhận có điều kiện cho đến không chấp nhận Sự quy định khác nhau trong mỗi giai đoạn thể hiện được ý chỉ của nhà làm luật cũng như sự đánh giá vai trò, vị trí, xem xét đến những điểm tích cực cũng như những điểm tiêu cực của nhà làm luật đối với những đơn thư tố cáo không ghi rõ họ tên, địa chỉ Dù có quy định khác nhau những không thể kết luận cách quy định nào là phù hợp, là hợp lý bởi vì cách quy định khác nhau là để phù hợp với từng giai đoạn, hoàn cảnh lịch sử, điều kiện kinh tế, xã hội trong mỗi thời
kỳ
1.2.2 Giai đoạn từ năm 2012 đến nay
Luật Tố cáo năm 2011 ra đời với nhiều sự thay đổi đáng kể Về hình thức, Luật Tố cáo năm 2011 đã được tách riêng thành một luật chứ không nằm “lẩn khuất” với các quy định về khiếu nại như trong Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998 Bên cạnh đó, các điều luật đã có tên cụ thể, từ đó giúp dễ đọc hơn Về mặt nội dung, Luật Tố cáo năm 2011 đã phân định việc tố cáo thành hai nhóm hành vi vi phạm pháp luật riêng biệt: một là hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức trong việc thực hiện nhiệm vụ công vụ, hai là nhóm hành vi vi phạm pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực Đồng thời Luật Tố cáo năm 2011 cũng đã phân định thẩm quyền giải quyết tố cáo tương ứng với hai nhóm hành vi Đặc biệt, Luật Tố cáo năm 2011 đã có riêng một chương mới
về bảo vệ người tố cáo Ngoài ra, Luật Tố cáo năm 2011 còn quy định về việc tố cáo tiếp, giải quyết vụ việc tố cáo tiếp, quy định cụ thể và đầy đủ hơn về quyền, nghĩa vụ của người tố cáo, người bị tố cáo, của luật sư và trợ giúp viên pháp lý, của
Trang 38Tại khoản 11, Điều 8 của Luật Tố cáo năm 2011 quy định về những hành vi bị
nghiêm cấm có quy định cấm “mạo danh người khác để” tố cáo Như vậy, theo quy
định của Luật Tố cáo năm 2011, tố cáo mạo danh là hành vi bị nghiêm cấm Quy định này của Luật Tố cáo năm 2011 xuất phát từ việc những tố cáo mạo danh thường tố cáo sai sự thật gây ảnh hướng đến uy tín, danh dự của cả người bị tố cáo
và người bị mạo danh nên nhà làm luật theo hướng nghiêm cấm hành vi mạo danh
để tố cáo Theo đó, có thể hiểu được các tố cáo mạo danh sẽ không được xem xét, giải quyết và người mạo danh để tố cáo còn có thể chịu những chế tài khác theo quy định của pháp luật Luật Tố cáo năm 2011 quy định như vậy nhằm ngăn chặn các tố cáo mạo danh sai sự thật Tuy nhiên, quy định trên cũng đã phần nào gây hạn chế đối với các tố cáo mạo danh nhưng nội dung tố cáo là đúng sự thật
Ngoài ra, theo quy định tại khoản 2, Điều 9 quy định về nghĩa vụ của người tố cáo và Điều 19 quy định về hình thức tố cáo, Luật Tố cáo năm 2011 yêu cầu người
tố cáo có nghĩa vụ nêu rõ họ, tên địa chỉ của mình Việc quy định này cũng tương tự như quy định trong Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998 Tuy nhiên đối với hướng xử
lý đối với các tố cáo không ghi rõ họ tên, địa chỉ thì trong Luật Tố cáo năm 2011 cũng không đưa ra hướng xử lý cụ thể và Nghị định số 76/2012/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tố cáo năm 2011 và Thông tư 06/2013/TT-TTCP quy định quy trình giải quyết tố cáo cũng đều không đề cập đến Ngày 31/10/2014 Thanh tra Chính phủ ban hành Thông tư số 07/2014/TT-TTCP quy định về quy trình xử lý đơn khiếu nại, tố cáo, đơn kiến nghị, phản ánh Trong thông tư này có quy định rõ việc tiếp nhận và xử lý đối với các đơn thư tố cáo Theo quy định tại điểm a, khoản 2, Điều 6 Thông tư số 07/2014/TT-TTCP, đơn
tố cáo đủ điều kiện xử lý là đơn tố cáo ghi rõ nội dung tố cáo; cơ quan, tổ chức, đơn
18 Nguyễn Cửu Việt (2013), Giáo trình Luật hành chính Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, tr 697 - 698
Trang 3933
vị, cá nhân bị tố cáo; hành vi vi phạm pháp luật bị tố cáo Như vậy, điều kiện để xử
lý đơn tố cáo chỉ cần các điều kiện nêu trên mà không yêu cầu về việc đơn phải ghi
rõ đầy đủ họ tên, địa chỉ của người tố cáo Tuy nhiên, yêu cầu này là trong giai đoạn tiếp nhận, nếu đáp ứng được các điều kiện nêu trên thì đơn tố cáo sẽ được tiếp nhận Theo Điều 19 Thông tư số 07/2014/TT-TTCP về việc xử lý đối với đơn tố cáo không rõ họ tên, địa chỉ người tố cáo nhưng có nội dung rõ ràng, kèm theo các thông tin, tài liệu, bằng chứng về hành vi tham nhũng, hành vi tội phạm thì người
xử lý đơn báo cáo thủ trưởng cơ quan, tổ chức, đơn vị xử lý theo quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng, pháp luật tố tụng hình sự Như vậy, đối với các đơn tố cáo về các hành vi tham nhũng, hành vi phạm tội thì thông tư có đưa ra hướng giải quyết nhưng theo hướng viện dẫn sang một một quy định khác là theo quy định của pháp luật phòng, chống tham nhũng và pháp luật tố tụng hình sự Đáng tiếc là Thông tư số 07/2014/TT-TTCP lại không đưa ra hướng giải quyết đối với các đơn tố cáo không ghi rõ họ tên, địa chỉ mà không phải là đơn tố cáo về hành
vi tham nhũng, hành vi phạm tội
Theo quy định tại khoản 3, Điều 54 Nghị định số 59/2013/NĐ-CP quy định chi tiết Luật Phòng, chống tham nhũng, đối với các tố cáo mạo tên sẽ không được xem xét, giải quyết Khoản 4, Điều 55 Nghị định số 59/2013/NĐ-CP quy định đối với các đơn tố cáo hành vi tham nhũng không ghi họ, tên, địa chỉ thì vẫn có thể được xem xét, giải quyết nếu có nội dung tố cáo rõ ràng, bằng chứng cụ thể, có cơ
sở để thẩm tra, xác minh Như vậy, nếu đơn tố cáo không có họ tên, địa chỉ về vấn
đề tham nhũng mà không có nội dung rõ ràng, bằng chứng cụ thể thì sẽ không được xem xét giải quyết
Trong giai đoạn từ năm 2012 đến nay, khóa luận tập trung nghiên cứu các quy định về tố cáo nặc danh, mạo danh và khuyết danh trong Luật Tố cáo năm 2011 và Luật Phòng, chống tham nhũng và các văn bản hướng dẫn thi hành Dựa trên các quy định trong các văn bản có thể thấy được các quy định về tố cáo nặc danh, mạo danh và khuyết danh vẫn còn rất hạn chế Các quy định chỉ đề cập đến tố cáo không ghi rõ họ tên, địa chỉ Theo đó, pháp luật theo hướng chỉ chấp nhận các đơn thư tố cáo không ghi rõ họ tên, địa liên quan đến lĩnh vực tham nhũng những phải có nội
Trang 40kể Từ việc chấp nhận các đơn tố cáo không ghi rõ họ tên cho đến việc không chấp nhận loại tố cáo này và hiện nay là theo hướng chỉ chấp nhận đối với các tố cáo không ghi rõ họ tên địa chỉ đối với các tố cáo hành vi tham nhũng Trong các giai đoạn này, mặc dù không có quá nhiều quy định của pháp luật liên quan đến tố cáo nặc danh, mạo danh và khuyết danh nhưng với những quy đinh có được đã phần nào cho thấy được sự chú ý của Nhà nước đối với vấn đề này Cách quy định trong mỗi giai đoạn đều có những ưu điểm và hạn chế riêng Do đó, cần có cách đánh giá khách quan và chính xác để có thể tiếp thu, sửa đổi những quy định trước đây đặc biệt là trong giai đoạn Luật tố cáo năm 2011 đang được Quốc hội thảo luận sửa đổi
Tóm lại, qua nghiên cứu Chương một, tác giả đã đưa những phân tích, nhận
định về mặt lý luận liên quan đến tố cáo nặc danh, mạo danh và khuyết danh Theo
đó, tác giả đã đưa ra được các khái niệm, đặc điểm chung của tố cáo nặc danh, mạo danh và khuyết danh, cũng như đưa ra các đặc đặc điểm riêng nhằm có thể phân biệt được sự khác nhau giữa tố cáo nặc danh, mạo danh và khuyết danh Bên cạnh đó, trong chương này, tác giả cũng đã đưa ra những nguyên dân dẫn đến tình trạng của
tố cáo nặc danh, mạo danh và khuyết danh cũng như những hệ quả do các hình thức
tố cáo này mang lại Đồng thời, tác giả cũng đã nghiên cứu các quy định của pháp luật liên quan đến tố cáo nặc danh, mạo danh và khuyết danh trong giai đoạn từ năm
1945 đến nay Những nội dung mà tác giả nghiên cứu được trong Chương một sẽ tạo nên một cơ sở lý luận vững chắc để có thể đánh giá được thực trạng áp dụng pháp luật hiện nay, để từ đó có thể đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật