1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Sai lầm và ảnh hưởng của sai lầm đến trách nhiệm hình sự

61 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 61
Dung lượng 905,49 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vậy trong nhiều trường hợp nguyên nhân của hình ảnh phản ánh của ý thức không đúng bản chất của hành vi lại là do ảnh hưởng của quá trình nhận thức hoặc tri thức không phù hợp với thực t

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP.HCM

KHOA LUẬT HÌNH SỰ



SV THỰC HIỆN: NGUYỄN VĂN THẾ GVHD: TH.S MAI KHẮC PHÚC

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Em xin chân thành cảm ơn:

- Thầy Mai Khắc Phúc đã hướng dẫn em trong suốt thời gian làm khóa luận, giúp em hoàn thành tốt khóa luận này

- Toàn thể thầy cô Khoa luật Hình sự đã trang bị kiến thức chuyên ngành cho

em hoàn thành khóa luận

- Toàn thể thầy cô trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh đã trang bị cho em kiến thức toàn diện

- Các bạn đã giúp đở tôi hoàn thành khóa luận

Trang 3

MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU

trang CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ SAI LẦM trang 1

1.1 Khái quát chung về sai lầm trang 1

1.1.1 Nguồn gốc và bản chất của sai lầm trang 1

1.1.2 Khái niệm về sai lầm trong luật hình sự trang 3

1.1.3 Đặc tính của sai lầm trong luật hình sự trang 7

1.2 Các hình thức của sai lầm trang 8

1.2.1 Sai lầm về pháp luật trang 8

1.2.2 Sai lầm về thực tế trang 11 1.3 Phân biệt sai lầm và một số trường hợp khác trang 18 1.3.1 Phân biệt sai lầm với phòng vệ tưởng tượng trang 18 1.3.2 Phân biệt sai lầm với sai lệch hành vi trang 19

CHƯƠNG II: VẤN ĐỀ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ CỦA SAI LẦM TRONG LUẬT HÌNH SỰ, LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN trang 21

Lý luận về trách nhiệm hình sự đối với sai lầm theo luật hình sự Việt Nam trang 21

2.1.1 Lỗi, vai trò của lỗi đối với trách nhiệm hình sự trang 21 2.1.1.1 Lỗi trong luật hình sự trang 21 2.1.1.2 Trách nhiệm hình sự trang 22 2.1.1.3 Vai trò của lỗi đối với trách nhiệm hình sự trang 24 2.1.2 Các hình thức lỗi trong luật hình sự trang 25 2.1.3 Ảnh hưởng của sai lầm đối với hình thức lỗi, vấn đề trách nhiệm hình sự khi có sai lầm trang 27

Trang 4

2.1.3.1 Ảnh hưởng của sai lầm về pháp luật đến hình thức lỗi, và vấn đề trách nhiệm hình

sự khi có sai lầm về pháp luật trang 29 2.1.3.2 Ảnh hưởng của sai lầm về thực tế đến hình thức lỗi, trách nhiệm hình sự khi có sai lầm về thực tế trang 32 2.1.4 Lý luận và quy định pháp luật hiện hành về sai lầm, hướng hoàn thiện pháp luật

trang 40

Thực tiễn về sai lầm trang 43

2.2.1 Sai lầm trong thực tiễn, áp dụng lý luận về sai lầm trong thực tiễn

trang 43 2.2.2 Những vấn đề bất cập giữa lý luận và thực tiễn trang 48

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ trang 50

1 Kết luận trang 49

2 Kiến nghị trang 50 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 5

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Khi nghiên cứu mặt chủ quan của tội phạm, việc xác định các yếu tố của lỗi, hình thức lỗi đôi khi chịu sự ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp từ sai lầm của người thực hiện hành vi phạm tội Tức là khi chủ thể thực hiện hành vi phạm tội có sai lầm thì người đó có lỗi hay không có lỗi, các yếu tố của lỗi xác định như thế nào Mà việc xác định có lỗi hay không

có lỗi, các yếu tố của lỗi sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến việc xác định trách nhiệm hình sự của một người Là người thực hiện hành vi có phải chịu trách nhiệm hình sự hay không, chịu trách nhiệm hình sự về tội gì, mức độ chịu trách nhiệm hình như thế nào Như vậy tức là đôi khi sai lầm của chủ thể sẽ có ảnh hưởng trực tiếp đến trách nhiệm hình sự Mà trách nhiệm hình sự là trách nhiệm pháp lý nghiêm khắc nhất, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích của con người Tuy nhiên khoa học luật hình sự hiện nay chưa có lý luận mang tính thống nhất và hệ thống về sai lầm trong luật hình sự, còn có nhiều quan điểm khác nhau Về mặt pháp luật thì pháp luật hình sự hiện hành chưa có quy định như thế nào là sai lầm, căn cứ xác định trách nhiệm hình sự khi có sai lầm Khi vận dụng sai lầm vào giải quyết trách nhiệm hình sự của người phạm tội thì do có nhiều quan điểm (mỗi cơ sở giáo dục có quan điểm khác nhau) Dẫn đến mỗi người sẽ vận dụng quan điểm theo ý chí chủ quan Chính vì những lý do nêu trên tôi đã chọn đề tài này để nghiên cứu làm khóa luận tốt nghiệp

2 Tình hình nghiên cứu

Sai lầm là vấn đề có thể gặp khi có tội phạm xảy ra khi có tội phạm là có thể có sai lầm Nghiên cứu về sai lầm giúp xác định vấn đề trách nhiệm hình sự của người phạm tội Vì vậy vấn đề về sai lầm luôn được đề cập trong các giáo trình, sách chuyên khảo về phần chung của bộ luật hình sự tuy nhiên mức độ đề cập chỉ dừng lại ở việc nêu ra vấn đề, các khái niệm của từng trường hợp sai lấm, và trình bày cách giải quyết trách nhiệm hình sự của người phạm tội khi có sai lầm Về công trình nghiên cứu khoa học thì đến nay chưa

có công trình nghiên cứu khoa học nào về vấn đề sai lầm các sách báo tạp chí (có trong

Trang 6

thư viện trường đại học luật thành phố hồ chí minh) chưa có bài báo nào đề cập vấn đề này Vì vậy đây là đề tài hoàn toàn mới

3 Mục đích nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

Đề tài này nghiên cứu nhằm mục đích góp phần hoàn thiện vấn đề sai lầm trong khoa học luật hình sự, tạo ra cơ sở lý luận về sai lầm, cơ sở để nhận biết khi nào chủ thể có sai lầm, các dạng của sai lầm, xác định vấn đề trách nhiệm hình sự của sai lầm Từ đó vận dụng vào thực tiễn để giải quyết đúng đắn vấn đề trách nhiệm hình sự của người thưc hiện hành vi phạm tội

Đề tài nghiên cứu về vấn đề sai lầm trong luật hình sự, là những sai lầm có ý nghĩa pháp

lý hình sự, tức sai lầm có ảnh hưởng đến vấn đề xác định trách nhiệm hình sự của người phạm tội, nghiên cứu vấn đề trách nhiệm hình sự khi có sai lầm và việc áp dụng lý luận

về sai lầm trong thực tiễn

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Khi nghiên cứu đề tài tác giả dựa trên cơ sở quan điểm duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác-Lênin Các sự vật hiện tượng có mối quan hệ biện chứng với nhau tác động qua lại ảnh hưởng lẫn nhau Dựa trên quan điểm về thế giới quan và phương pháp luận triết học của chủ nghĩa Mác-Lênin

Khi nghiên cứu đề tài tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu các nguồn tài liệu,

từ đó làm cơ sở để đưa ra quan điểm tác giả cho là phù hợp Ngoài ra về phần thực tiễn

do không thể tìm được cơ quan nào có tổng kết về việc giải quyết vấn đề trách nhiệm hình sự khi có sai lầm, cũng như tiếp xúc với bản án có sai lầm Nên tác giả dựa trên các nguồn báo tạp chí nói về các bản án có sai lầm để kết luận về việc giải quyết vấn đề trách nhiệm hình sự khi có sai lầm trong thực tiễn

Trang 7

5 Bố cục của khóa luận

Bố cục của khóa luận gồm hai chương, mỗi chương chia thành các mục và tiểu mục để đi sâu phân tích vấn đề

Chương 1: những vấn đề lý luận cơ bản về sai lầm

Chuong 2: vấn đề trách nhiệm hình sự của sai lầm, lý luận và thực tiễn

Trang 8

CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ SAI LẦM

1.4 Khái quát chung về sai lầm

1.4.1 Nguồn gốc và bản chất của sai lầm

Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng “ý thức là sự phản ánh có tính chất năng động sáng tạo của bộ óc con người về thế giới khách quan, là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan Đó là hình ảnh về thế giới khách quan, hình ảnh ấy bị thế giới khách quan quy định cả về nội dung và hình thức biểu hiện, nhưng nó không còn y nguyên như thế giới khách quan mà nó đã cải biên thông qua lăng kính chủ quan (tâm tư, tình cảm, nguyện vọng, kinh nghiệm, tri thức nhu cầu,…) của con người” (giáo trình những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mac-Lênin nhà xuất bản chính trị quốc gia 2010)

Có ba yếu tố cơ bản nhất hợp thành ý thức đó là tri thức, tình cảm và ý chí trong

đó, tri thức là nhân tố quan trọng nhất, tri thức là phương thức tồn tại của ý thức và là điều kiện để ý thức phát triển Tri thức là toàn bộ những hiểu biết của con người, là kết quả của quá trình nhận thức, là sự tái tạo lại hình ảnh của đối tượng được nhận thức dưới dạng ngôn ngữ Mà ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu vật chất chứa đựng thông tin mang nội dung ý thức, vì vậy không có ngôn ngữ ý thức không thể tồn tại và thể hiện “Vai trò của tri thức đối với ý thức là yếu tố quan trọng nhất, vừa là phương thức tồn tại vừa là điều kiện để ý thức phát triển, mọi hiện tượng ý thức đều có nội dung tri thức ở mức độ nhất định” [5]

Tri thức không thể tự nó có được, như đã nói ở trên, tri thức là kết quả của quá trình nhận thức Nhận thức là quá trình phản ánh tích cực, tư giác và sáng tạo thế giới khách quan vào bộ óc con người trên cơ sở thực tiển, nhằm sáng tạo ra tri thức về thế giới khách quan Nhờ có nhận thức, con người mới có ý thức về thế giới, “ý thức về cơ bản là kết quả của quá trình nhận thức thế giới thế giới” [5]

Hình ảnh của ý thức có thể phù hợp hoặc không phù hợp với thế giới khách quan Nếu hình ảnh của ý thức phù hợp với thế giới khách quan, tức là hình ảnh đó đã phản ánh đúng bản chất của thế giới khách quan Có thể suy ra hệ quả là tri thức, các yếu tố cấu

Trang 9

thành của ý thức, quá trình nhận thức phù hợp với thế giới khách quan Ngược lại nếu hình ảnh của ý thức không phù hợp với thế giới khách quan tức hình ảnh đó đã không phản ánh đúng bản chất của thế giới khách quan Nguyên nhân hình ảnh của ý thức không phù hợp thế giới khách quan là do một trong hai nguyên nhân sau:

Thứ nhất do nguyên nhân khách quan, do ảnh hưởng của nguyên nhân bên ngoài,con người không nhận biết hay tác động đến nguyên nhân bên ngoài đó Nó làm hình ảnh mà ý thức đưa ra không đúng với bản chất của thế giới khách quan

Thứ hai là do ảnh hưởng của các bộ phận cấu thành ý thức, quan trọng nhất là ảnh hưởng của tri thức và quá trình nhận thức Khi nội dung tri thức bị sai thì hình ảnh của ý thức cũng bị không phù hợp với thế giớ khách quan Quá trình nhận thức không đúng thì hình ảnh của ý thức về thế giới khách quan sẽ không phù hợp với thế giới khách quan, vì

về cơ bản ý thức là kết quả của quá trình nhận thức

Theo từ điển tiếng việt phổ thông của viện ngôn ngữ học thì “sai lầm là trái với yêu cầu khách quan hoặc lẽ phải gây hậu quả xấu” [7], như vậy theo ý nghĩa nêu trên thì nếu ý thức, tri thức, quá trình nhận thức không phù hợp thế giới khách quan, và nguyên nhân của sự không phù hợp phải là nguyên nhân thứ hai, (không phải do yếu tố khách quan gây ra) chính là sai lầm ở góc độ là trái với yêu cầu khách quan Như đã trình bày ở trên, tri thức là yếu tố cấu thành quan trọng nhất của ý thức, ý thức về cơ bản là kết quả của quá trình nhận thức Ta có thể suy ra sai lầm trong tri thức, sai lầm trong quá trình nhận thức đều có kết quả chung là sai lầm trong ý thức

Còn ở góc độ sai lầm là trái với lẽ phải, vì nó không thuộc về các vấn đề của đạo đức, do đó tác giả không trình bày trong bài viết

Biểu hiện của sai lầm trong ý thức, quá trình nhận thức ra bên ngoài có thể được thể hiện qua nội dung của ý nghĩ, sự hiểu, tưởng tượng, dự đoán… nhưng nội dung của chúng là không phù hợp với thực tế khách quan

Trang 10

1.4.2 Khái niệm về sai lầm trong luật hình sự

Hành vi của con người thực hiện trong thế giới khách quan luôn có các dấu hiệu bên ngoài và các dấu hiệu bên trong của hành vi Trong luật hình sự Việt Nam, tội phạm bắt buộc phải được thực hiện bằng hành vi, do đó tội phạm phải có các dấu hiệu bên ngoài và các dấu hiệu bên trong Các dấu hiệu bên ngoài của tội phạm cấu thành mặt khách quan của tội phạm, các dấu hiệu bên trong được gọi là mặt chủ quan của tội phạm Mặt khách quan và mặt chủ quan là hai mặt của một vấn đề phản ánh bản chất của một hiện tượng đó là tội phạm Chúng có mối quan hệ biện chứng với nhau „Các hành vi của con người đều do ý thức chỉ đạo, trừ hành vi do vô thức điều khiển” [6] Những hành vi

do ý thức điều khiển nếu ý thức phản ánh đúng bản chất của hành vi thì giữa mặt khách quan và chủ quan của tội phạm sẽ có sự phù hợp với nhau Trong đó biểu hiện của mặt khách quan sẽ thể hiện nội dung trong ý thức của mặt chủ quan Nếu chủ thể có quá trình nhận thức, tri thức, trực giác… đúng thì ý thức sẽ phản ánh đúng bản chất của hành vi Lúc này thì biểu hiện ra bên ngoài sẽ phù hợp với nội dung của ý thức, của quá trình nhận thức bên trong Tuy nhiên nếu ý thức không phản ánh đúng bản chất của hành vi thì biểu hiện ra bên ngoài sẽ không phù hợp với nội dung ý thức bên trong Nội dung của hình ảnh phản ánh trong ý thức sẽ khác với thực tế diễn ra Nguyên nhân của ý thức không phản ánh đúng bản chất của hành vi là do ảnh hưởng của các yếu tố cấu thành ý thức, trong đó quan trọng nhất là tri thức Một nguyên nhân nữa có vai trò quan trọng nhất là

do quá trình nhận thức, bởi vì như đã trình bày ở phần trên, ý thức về cơ bản là kết quả của quá trình nhận thức, tri thức cung là kết quả của quá trình nhận thức Vậy trong nhiều trường hợp nguyên nhân của hình ảnh phản ánh của ý thức không đúng bản chất của hành

vi lại là do ảnh hưởng của quá trình nhận thức hoặc tri thức không phù hợp với thực tại khách quan, hay bị thiếu tri thức về vấn đề đó….Còn ý thức chỉ thể hiện nội dung của tri thức và quá trình nhận thức hành vi phạm tội của chủ thể Tuy nhiên có trường hợp nội dung ý thức không phù hợp với thực tế có nguyên nhân do trực giác bị sai, bị chi phối bởi tình cảm, hay kinh nghiệm sai hay kinh nghiệm đó không áp dụng được với trường hợp

cụ thể đang gặp dẫn đến hình ảnh phản ánh của ý thức cũng không phù hợp với thực tế

Trang 11

Vậy khi ý thức không phản ánh đúng bản chất của hành vi phạm tội, tức là hình ảnh phản ánh của ý thức trái với yêu cầu khách quan, có nghĩa là ý thức đã có sai lầm Như đã nói ở trên thì sai lầm đó có thể do thiếu tri thức, tri thức bị sai hay do quá trình nhận thức không phản ánh đúng bản chất của hành vi phạm tội, hay do ảnh hưởng của các yếu tố cấu thành khác của ý thức

Trong hành vi của chủ thể có rất nhiều vấn đề mà chủ thể có sự phản ánh ý thức

Có thể là tính chất pháp lý của hành vi, ý nghĩa xã hội của hành vi, đối tượng của hành vi, công cụ phương tiện để thực hiện hành vi, động cơ, mục đích của hành vi, địa điểm thực hiện hành vi….tuy nhiên khi xét sai lầm trong luật hình sự chỉ xét các vấn đề có liên quan, được luật hình sự đề cập đến, hay nói một cách khái quát là có ý nghĩa pháp lý hình

sự Cụ thể chỉ xét một số vấn đề sau:

Khi người thực hiện hành vi có ý thức về tính chất pháp lý hoặc hậu quả pháp lý hình sự của hành vi, nhưng nội dung ý thức của người phạm tội không đúng với tính chất pháp lý hoặc hậu quả pháp lý hình sự được quy định trong luật hình sự thực định Hoặc khi hành vi phạm tội được thực hiện nó sẽ xâm phạm đến khách thể đươc luật hình sự bảo vệ, xâm phạm đến đối tượng cụ thể nào đó Nếu ý thức cho rằng hành vi của mình xâm phạm một khách thể hay đối tượng nào đó nhưng trên thực tế hành vi phạm tội lại xâm phạm khách thể hay đối tượng không đúng với ý thức của người thực hiện hành vi phạm tội Người thực hiện hành vi ý thức về công cụ phương tiện để thực hiện hành vi phạm tội, hậu quả của hành vi phạm tội… nhưng nội dung của ý thức không phù hợp với thực tế khách quan Nguyên nhân làm cho nội dung ý thức không đúng phải do các yếu tố nội tại trong ý thức, phải do ảnh hưởng của các yếu tố cấu thành ý thức, hay do sai lầm của qúa trình nhận thức Không được do nhân tố khách quan gây ra vì trong trường hợp này ý thức không có sai lầm Nhưng không phải mọi sai lầm có nguyên nhân là do ảnh hưởng của các yếu tố cáu thành đều là sai lầm trong luật hình sự

Như đã trình bày hình ảnh phản ánh của ý thức không phù hợp với thự tế khách quan do các yếu tố cấu thành ý thức hay là kết quả của quá trình nhận thức Tuy nhiên khi

Trang 12

xem xét vấn đề sai lầm trong luật hình sự đòi hỏi hình ảnh phản ánh của ý thức phải là sự thể hiện nội dung của tri thức ra bên ngoài hay là kết quả của quá trình nhận thức, không thể là kết quả của trí tưởng tượng, hay bị tình cảm tri phối hay cảm giác tri phối… rồi cho ra hình ảnh phản ánh không phù hợp với thực tế, hay nói cách khác đó phải là kết quả của quá trình hoặt động nhận thức bên trong của chủ thể Bởi vì lý do sau:

Tìm hiểu về sai lầm trong luật hình sự là tìm hiểu về các quá trình diễn ra ở mặt bên trong của người thực hiện hành vi phạm tội khi có sai lầm Lỗi cùng là các quá trình diễn ra ở mặt bên trong của người thực hiện hành vi Vì vậy tìm hiểu về sai lầm là để xem xét xác định các yếu tố của lỗi khi người thực hiện hành vi phạm tội có sai lầm Từ đó xác định trách nhiệm hình sự của chủ thể Mà các yếu tố của lỗi thể hiện hai mặt, “một mặt thể hiện năng lực nhận thức thực tại khách quan, một thể hiện năng lực điều khiển hành vi trên cơ sở của sự nhận thức” [4] Các yếu tố tình cảm, trực giác, trí tưởng tượng, ước mơ… không thể hiện được năng lực nhận thức thực tai khách quan của chủ thể, mà đây là một mặt thể hiện của yếu tố lỗi Do đó khi chủ thể có sai lầm mà do ảnh hưởng của các yếu tố cảm giác, tình cảm, trí tưởng tượng… thì sẽ không ảnh hưởng đến việc xác định các yếu tố của lỗi Vì vậy sai lầm như vậy không có ý nghĩa pháp lý hình sự nên khi nói đến sai lầm trong luật hình sự ta loại những trường hợp sai lầm do ảnh hưởng của những yếu tố này gây nên

Ví dụ: A là người bị nghiện game nghiêm trọng Khi không chơi game nữa nhưng

A vẫn không thoát ra được, cứ tưởng mình đang sống trong thế giới ảo đó A thực hiện hành vi giết người Nhưng trong ý thức của A là sau khi bị giết người đó sẽ sống lại và chỉ bị mất máu như trong game Hậu quả A cho rằng sẽ xảy ra và thực tế khác nhau hoàn toàn, nhưng A không có sai lầm trong luật hình sự Vì hậu quả A thấy là kết quả của việc

A tưởng tượng mình đang chơi game, không thể hiện gì năng lực nhận thức của A

Khi hình ảnh phản ánh của ý thức là do sự biểu hiện của tri thức, hay là kết quả cùa quá trình nhận thức thì nó thể hiện năng lực nhận thức của người thực hiện hành vi phạm tội, bởi vì quá trình nhận thức là đương nhiên, còn tri thức cũng là kết quả của quá

Trang 13

trình nhận thức, đây là một mặt biểu hiện của lỗi Vì vậy khi chủ thể có sai lầm do tri thức hay quá trình nhận thức sẽ ảnh hưởng đến việc xác định các yếu tố của lỗi trong luật hình sự, tức là nó có ý nghĩa pháp lý hình sự

Tổng quan lại nếu khi thực hiện hành vi, người thực hiện hành vi có ý thức về các vấn đề của hành vi phạm tội, như là: tính chất pháp lý, hoặc hậu quả pháp lý hình sự của hành vi, khách thể , đối tượng , công cụ phương tiện, thời gian, địa điểm, mối quan hệ nhân quả…của hành vi Nhưng hình ảnh phản ánh của ý thức của người thực hiện phạm tội về các vấn đề trên lại không phù hợp với thực tế của hành vi, hành vi đã thực hiện là hành vi phạm tội sẽ cấu thành các hình thức khác nhau của sai lầm trong luật hình sự Riêng trường hợp chủ thể nhận định về tính chất pháp lý của hành vi thì có thể hành vi đã thực hiện không phải là hành vi phạm tội Hành vi phạm tội ở đây được hiểu là hành vi

đó được luật hình sự quy định là hành vi trong mặt khách quan của tội phạm, chứ người thực hiện hành vi chưa chắc là tội phạm

Giáo sư tiến sĩ Võ Khánh Vinh đưa ra định nghĩa về sai lầm trong luật hình sự như sau: “sai lầm là sự hiểu lầm của chủ thể về các tính chất pháp lý hoặc thực tế của hành vi

mà người đó thực hiện và hậu quả của hành vi đó” [2] Theo tác giả đây là khái niệm thể hiện đầy đủ nội hàm của vấn đề sai lầm Bởi vì những lý do sau: Từ điển tiếng việt phổ thông của viện ngôn ngữ học thì không có giải nghĩa của từ hiểu lầm Nhưng cũng theo

từ điển này có giải thích về hai từ hiểu và lầm như sau Hiểu là “nhận ra ý nghĩa, bản chất, lý lẽ của cái gì, bằng sự vận dụng trí tuệ Lầm là “nhận thức cái nọ ra cái kia, do sơ

ý hay không biết” [7] Từ đây ta hiểu nghĩa của từ hiểu lầm là vận dụng trí tuệ hay nhận thức để nhận ra ý nghĩa, bản chất, lý lẽ của cái gì, nhưng bị nhầm lẫn cái nọ với cái kia Nội hàm của hiểu lầm như vậy là phù hợp với nội hàm sai lầm trong luật hình sự đã phân tích ở trên Phạm vi của sai lầm được thừa nhận chung là về tính chất pháp lý hoặc thực

tế, hay hậu quả của hành vi Tác giả sẽ giải thích rõ hơn phạm vi của sai lầm ở phần sau Tuy nhiên để thể hiện rõ nội dung của đề tài là nghiên cứu sai lầm trong luật hình sự và

để phân biệt với các sai lầm trong đời sống hay sai lầm pháp lý khác, tác giả xin bổ sung

Trang 14

thêm vào định nghĩa trên thêm một ý nhỏ sau Sai lầm ở góc độ pháp lý hình sự là sự hiểu lầm của chủ thể về các tính chất pháp lý hình sự hoặc thực tế của hành vi phạm tội mà người đó thực hiện và hậu quả của hành vi đó Từ đây để ngắn gọn khi nói sai lầm ở góc

độ pháp lý hình sự ta chỉ nói là sai lầm

1.4.3 Đặc tính của sai lầm trong luật hình sự

Trong quá trình con người sống, thực hiện các hoạt động con người có thể mắc phải vô vàn các sai lầm sai lầm về cách chọn thực phẩm, sai lầm về cách đánh giá con người, sai lầm về phương pháp quản lý nhà nước….không thể kể hết được các sai lầm con người ta có thể mắc phải, từ những việc rất nhỏ tới quốc gia đại sự đều có thể mắc sai lầm Nói chung khi con người thực hiện các hoạt động nhận thức thì đều có thể mắc sai lầm Khi thực hiện hành vi người thực hiện hành vi cũng có thể mắc rất nhiều sai lầm về

nó Ở góc độ pháp lý hình sự thì không phải mọi sai lầm của người thực hiện hành vi đều

là đối tượng của sai lầm trong luật hình sự chỉ những sai lầm có ý nghĩa pháp lý hình sự mới là đối tượng của sai lầm trong luật hình sự Những đối tượng có ý nghĩa pháp lý hình

sự phải là các yếu tố cấu thành tội phạm, vì suy cho cùng thì cấu thành tội phạm chính là

cơ sở xác định trách nhiệm hình sự (ý nghĩa pháp lý hình sự chính là ý nghĩa đối với vấn

đề xác định trách nhiệm hình sự) “Theo lý luận về Luật hình sự Việt Nam các yếu tố cấu thành tội phạm bao gồm: khách thể của tội phạm, mặt khách quan của tội phạm, chủ thể của tội phạm, mặt chủ quan của tội phạm, hai yếu tố đầu là hai yếu khách quan; hai tố sau

là hai yếu tố chủ quan của tội phạm” [2] Hai yếu tố chủ quan thì không thể có sai lầm Vậy đối tượng của sai lầm ở góc độ pháp lý hình sự là khách thể và mặt khách quan của tội phạm

Như đã trình bày ở trên thì sai lầm ở góc độ pháp lý hình sự thì hình ảnh phản ánh của ý thức phải là sự thể hiện của tri thức hay là kết quả của quá trình nhận thức Còn sai lầm trong đời thường có thể do bất cứ nguyên nhân nào Sai lầm đó phải thể hiện năng lực nhận thức của người thực hiện hành vi Ví dụ: linh cảm không đúng sẽ tạo ra sai lầm trong đời thường nhưng không thể là sai lầm trong luật hình sự được Đây chính là đặc

Trang 15

1.5 Các hình thức của sai lầm

Như vừa trình bày ở trên thì đối tượng của sai lầm trong luật hình sự chỉ có thể là khách thể và mặt khách quan của tội phạm trong đó khách thể có bộ phận là đối tượng tác động Còn mặt khách quan của tội phạm bao gồm: hành vi phạm tội, hậu quả, mối quan hệ nhân quả, công cụ phương tiện, thời gian địa điểm căn cứ vào các đối tượng trên

ta sẽ có các trường hợp sai lầm sau: sai lầm về khách thể, sai lầm về đối tượng, sai lầm về hành vi khách quan, sai lầm về mối quan hệ nhân quả, sai lầm về công cụ phương tiện, sai lầm về địa điểm,sai lầm về thời gian Hành vi phạm tội là hành vi khách quan được quy định trong cấu thành tội phạm Sai lầm về hành vi khách quan là việc chủ thể đánh giá xem hành vi của mình có phải là hành vi khách quan được quy định trong luật hình sự hay không, và nó được gọi là sai lầm về pháp luật Tuy nhiên trong khoa học luật hình sự chỉ đề cập các trường hợp sai lầm sau:

1.5.1 Sai lầm về pháp luật

Chủ thể thực hiện hành vi có ý thức về tính chất pháp lý hoặc hậu quả pháp lý hình

sự của hành vi Nhưng nội dung ý thức của chủ thể không đúng với tính chất hay hậu quả pháp lý hình sự của hành vi, được pháp luật hình sự quy định trong luật thực định sẽ cấu thành loại sai lầm về pháp luật Nguyên nhân nội dung ý thức không phù hợp với luật thực định thường là do kém hiểu biết về pháp luật (thiếu tri thức về pháp luật) Vấn đề sai lầm về pháp luật được khái quát lại bằng khái niệm sau:

Sai lầm về pháp luật là sự hiểu lầm của chủ thể về tính chất pháp lý hình sự của hành vi hoặc hậu quả pháp lý hình sự của hành vi do chủ thể thực hiện người thực hiện

hành vi hiểu về tính chất pháp lý hình sự của hành vi Nhưng sự hiểu của chủ thể không đúng với tinh chất pháp lý hình sự do luật hình sự hiện hành quy định Có ba hình thức sai lầm về pháp luật sau:

Thứ nhất: chủ thể thực hiện hành vi hiểu lầm hành vi do mình thực hiện là tội phạm, nhưng trên thực tế hành vi đó không phải là hành vi phạm tội Vì vậy hành vi do chủ thể thực hiện không phải là tội phạm Được hiểu là: khi thực hiện hành vi chủ thể, nhận thức, sự hiểu…, là hành vi mình thực hiện là hành vi bị pháp luật hình sự cấm

Trang 16

không được thực hiện, là hành vi khác quan được quy định trng luật hình sự, là hành vi nếu thực hiện sẽ phạm tội Tuy nhiên trong luật thực định thì hành vi đó không phải là hành vi khách quan được quy định trong bất cứ điều luật cụ thể nào Do đó hành vi do chủ thể thực hiện không phải là tội phạm Mà hành vi đó có thể chỉ là vi phạm đạo đức hay vi phạm pháp luật hành chính hoạc la vi phạm pháp luật khác

Ví dụ: A đang buồn chán A mua ma túy về sử dụng thử cho quên mọi việc A nghĩ rằng nếu bị bắt mình sẽ phải đi tù như em trai của A trước đây (em trai A đã bị đi tù

vì tội sử dụng trái phép chật ma túy) tuy nhiên do tội sử dụng trái phép chất ma túy quy định tại điều 199 đã bị bãi bỏ theo luật sửa đổi, bổ sung một số điều của bộ luật hình sự năm 2009, nên hành vi do A thực hiện không phải là tội phạm

Thứ hai: chủ thể thực hiện hành vi hiểu lầm hành vi do mình thực hiện không phải

là tội phạm nhưng trên thực tế hành vi đó lại được luật hình sự quy định là tội phạm Trường hợp sai lầm này được hiểu là người thực hiện hành vi có, nhận định, nhận thức …

là hành vi do mình thực hiện không bị pháp luật hình sự cấm, không phải là hành vi khách quan được quy định trong luật hình sự, khi thực hiện sẽ phải chịu tội, phải đi tù Tuy nhiên pháp luật hình sự hiện hành lại quy định đó là hành vi khách quan của tội phạm nào đó Trong thực tế thì sai lầm này hay gặp ở những tội có hành vi khách quan là hành vi là hành vi không hành động (tội không tố giác tội phạm, tội không cứu giúp người trong tình trạng nguy hiểm đến tính mang…), hay thực hiện theo phong tục tập quán của dân tộc mình mà không biết việc thực hiện phong tục đó đã xâm phạm khách thể được luật hình sự bảo vệ

A đi chơi về thấy trước cổng nhà mình có một người bị thương nặng đang nằm đó Người bị thương xin A cứu giúp nhưng A đã bỏ vào nhà Sau đó người bị thương chết A cho rằng nếu người đó chết mình cũng không có tội vì mình có làm gì đâu, mình đâu phải

là người gây ra thương tích đó A nghĩ là hành vi của mình không thể là tội phạm Nhưng thực tế hành vi của A là hành vi theo điều 102 bộ luật hình sự hiện hành quy định tội phạm

Trang 17

Thứ ba: chủ thể thực hiện hành vi phạm tội hiểu rằng hành vi do mình thực hiện sẽ phạm vào một loại tội hay điều khoản của tội danh cụ thể nào đó hoặc phải chịu loại hay mức hình phạt nào đó Tuy nhiên trên thực tế hành vi đó lại phạm vào một tội danh cụ thể hay gánh chiu một loại, mức hình phạt cụ thể không giống với nội dung ý thức chủ quan của người thực hiện hành vi phạm tội được hiều là qua quá trình nhận thức hay bằng những hiểu biết của mình về pháp luật hình sự chủ thể cho rằng, nghĩ rằng hay hiểu rằng hành vi của mình sẽ phạm vào tội danh cụ thể hay chịu mức hình phạt hay loại hình phạt nào đó được quy định trong luật hình sự hiện hành Nhưng trên thực tế không giống như chủ thể hiểu hay nghĩ là vậy

Ví dụ: A (12 tuổi) rủ B (19 tuổi) đi nhà nghỉ để quan hệ tình dục B biết làm vậy sẽ phạm tội B nghĩ nếu bị bắt mình sẽ bị tội giao cấu với trẻ em, không thể là tội hiếp dâm được vì A tự nguyện mà, hiếp dâm là phải có bạo lực, hay cái gì đại loại là vậy Tuy nhiên hành vi của B theo khoản 4 điều 112 bộ luật hình sự hiện hành là tội hiếp dâm trẻ

em B đã có sai lầm về pháp luật trong trường hợp này

Vậy sai lầm về thực tế là: sự hiểu lầm của người thực hiện hành vi phạm tội về

bản chất pháp lý hình sự của các tình tiết thực tế liên quan đến khách thể và các yếu tố của mặt khách quan của hành vi phạm tội do mình thực hiện Chủ thể khi thực hiện hành

vi phạm tội, có thể có hiểu lầm về nhiều vấn đề thuộc tình tiết thực tế của hành vi (như là

Trang 18

đối tượng tác động nặng bao nhiêu kg, nạn nhân mặc áo màu gì, thuận tay nào, khách thể, công cụ phương tiện, hậu quả….) tuy nhiên chỉ những tình tiết có ý nghĩa pháp lý hình

sự, được luật hình sự đề cập đến mà có sai lầm, mới được xem là sai lầm về thực tế trong luật hình sự Căn cứ vào đối tượng của sự hiểu lầm có các hình thức sai lầm thực tế sau: sai lầm về khách thể, sai lầm về đối tượng, sai lầm về nhân thân người bị hại, sai lầm về công cụ phương tiện và sai lầm về mối quan hệ nhân quả

Sai lầm về khách thể được biểu hiện là: Người thực hiện hành vi phạm tội cho

rằng hành vi phạm tội của mình sẽ xâm phạm một khách thể nào đó, nhưng thực tế hành

vi đó lại xâm phạm một khách thể khác Để hiểu rõ bản chất của trường hợp sai lầm này

trước tiên ta tìm hiểu khách thể là gì?

Trong xã hội có nhiều loại quan hệ xã hội, mỗi loại quan hệ xã hội có tầm quan trọng khác nhau, tùy thuộc vào tầm quan trong và đặc điểm của các lọai quan hệ xã hội

mà do các bộ phận khác nhau của hệ thống pháp luật Việt Nam điều chỉnh Trong đó hệ thống các quan hệ xã hội có tầm quan trọng nhất được pháp luật hình sự bảo vệ Đó cũng chính là cái mà pháp luật hình sự hướng đến Những quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ cũng là cái mà hành vi phạm tội hướng đến xâm hại Như vậy quan hệ xã hội được luật hình bảo vệ là khách thể của tội phạm Vậy khách thể của tội phạm là hệ thống các quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ và bị tội phạm xâm hại Có các loại khách thể của tội phạm sau:

“Khách thể chung của tội phạm là hệ thống các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ và bị tội phạm xâm hai Quan hệ chung này được quy định trong điều 8 bộ luật hình sự hiện hành

Khách thể loại của tội phạm là nhóm các quan hệ xã hội có cùng tính chất được một nhóm các qui phạm pháp luật hình sự bảo vệ và bị một nhóm các tội phạm xâm hại

Trang 19

Khách thể trực tiếp của tội phạm là quan hệ xã hội cụ thể hoặc một nhóm quan hệ

xã hội cư thể được một qui phạm pháp luật hình sự bảo vệ và bị một tội phạm trực tiếp xâm hại” [1]

Ta thấy trong dạng sai lầm này người thực hiện hành vi phạm tội có thể có sai lầm về khách thể chung, khách thể loại hay khách thể trực tiếp của tội phạm Tuy nhiên nếu người thực hiện hành vi có sai lầm về khách thể chung của tội phạm thì hệ quả tất yếu là chủ thể có sai lầm về pháp luật Bởi vì khách thể của tội phạm là căn cứ để phân biệt hành vi phạm tội với hành vi không phải là ha hành vi phạm tội Trường hợp này được xem xét như trong sai lầm về pháp luật, nên khi nói về sai lầm về khách thể ta không xét trường hợp này Như vậy khi nói tới sai lầm về khách thể là chỉ có sai lầm về khách thể loại và khách thể trực tiếp

Sai lầm về khách thể đựơc hiểu là khi thực hiện hành vi phạm tội thì trong ý nghĩ,

nhận thức,… của chủ thể đã xác định vị trí pháp lý hình sự của khách thể dự định xâm phạm rồi Tuy nhiên vị trí pháp lý thực tế của khách thể xâm hại lại có một vị trí khác Thường thì việc xác định vị trí pháp lý hình sự được thực hiện qua hai quá trình sau: người thực hiện hành vi phạm tội hướng đến xâm phạm khách thể nào đó, sau đó xác định đối tượng tác động để thông qua việc tác động vào đối tượng sẽ xâm hại khách thể muốn xâm hại Nhưng đối tượng tác động được xác định không là bộ phận của khách thể muốn xâm hại, mà là bộ phận của khách thể xâm hại thực tế, dẫn đến sai lầm Hoặc là chủ thể dự định tác động vào đối tượng cụ thể và cho rằng khi tác động vào đối tượng đó

sẽ xâm phạm khách thể nào đó Nhưng thực tế lại xâm phạm khách thể khác (do đối tượng tác động là bộ phận của khách thể xâm hại thực tế, chứ không phải là bộ phận của khách thể mà chủ thể cho rằng sẽ xâm hại), dẫn đến sai lầm về khách thể của người thực hiện hành vi phạm tội

Ví dụ: A vào khu biệt thự lấy dây điện với mục đích phá hoại cơ sở vật kỹ thuật quan trọng của nhà nước Vì tưởng đây là tài sản của nhà nước Nhưng trên thực tế số dây điện trên là tài sản chung của các hộ dân trong khu biệt thự Thực tế A xâm phạm khách

Trang 20

thể là quyền sở hữu tài sản Mặc dù trong ý thức A cho rằng hành vi của mình là xâm hại

sự an toàn của các công trình về an ninh quốc gia Đây là trường hợp người thực hiện hành vi phạm tội, hướng đến xâm phạm khách thể định trước nhưng do lầm tưởng đối tượng tác động là bộ phận của khách thể muốn xâm hại

Vi dụ: do không có người quản lý kho dược nên A là hộ lý được giao quản lý kho dược vài ngày A đinh lấy một ít thuốc hướng thần trong kho dược do mình quản lý tạm mấy ngày (lấy đem bán ra ngoài, nghe nói thuốc này đắt lắm) A cho rằng hành vi của mình là ăn trộm và sẽ xâm hại quyền sở hữu tài sản của bệnh viện Tuy nhiên do đối tượng tác động là chất hướng thần, loại chất hướng thần A lấy được quy định là chất ma túy, nên khách thể thực tế xâm phạm lại là trật tự quản lý chất ma túy của nhà nước Đây

là trường hợp người thực hiện hành vi phạm tội xác định đối tượng tác động và cho rằng đối tượng đó thuộc khách thể nào đó Tuy nhiên theo pháp luật hình sự đối tượng đó lại là

bộ phận của khách thể khác Dẫn đến khách thể mà chủ thể tưởng mình sẽ xâm hại lại không xâm hại, thực tế lại xâm hại khách thể khác

Sai lầm về đối tƣợng: người thực hiện hành vi phạm tội xác định đối tượng của

hành vi phạm tội với những đặc điểm nhận biết đặc trưng, có tính cá biệt Nhưng thực tế hành vi phạm tội lại tác động vào đối tượng khác, không phải là đối tượng đã xác định sẽ xâm phạm Trường hợp này được hiểu là trong nội dung ý thức của người thực hiện hành

vi phạm tội đã xác định được đối tượng tác động cụ thể, với những đặc điểm riêng để phân biệt với các đối tượng khác Nhưng khi thực hiện hành vi lại nhầm lẫn đặc điểm của một đối tượng khác là đặc điểm của đối tượng đã xác định, và cho rằng đó chính là đối tượng đã xác định, nhưng thực tế đó là đối tượng khác Sự nhầm lẫn đặc điểm thường là

do người thực hiện hành vi phạm tội không hiểu biết đủ về đặc điểm riêng có (đặc điểm

để phân biệt nó với cái khác) của đối tượng đã dự định xâm phạm Sai lầm về đối tượng xảy ra trong thực tế thường là do đối tượng dự định tác động và đối tượng xâm hại trong thực tế có đặc điểm nhận biết tương đối giống nhau, dễ gây nhầm lẫn Khi thực hiện hành

vi, người thực hiện hành vi phạm tội lại nhận thức đối tượng tác động thực tế là đối tượng

Trang 21

mình dự định tác động Vì vậy mà người phạm tội đã tác động đối tượng tác động thực tế

mà không tác động đối tượng đã xác định

Ví dụ: A dự đinh giết B A lẻn vào rình trong sân nhà B để thực hiện việc giết

B Nhưng A đã giết nhầm C là anh trai của B, do B và C rất giống nhau nên A đã nhầm lẫn giữa B với C, hôm đó C đến trông nhà giúp em trai Người thực hiện hành vi phạm tội xác định B là đối tượng của hành vi Nhưng do không biết rõ đặc điểm để phân biệt B với

C, nên đã nhầm C là B dẫn đến đã tác động lên C mà cứ tưởng đó là B

Phân biệt sai lầm về khách thể với sai lầm về đối tượng trong sai lầm về khách thể chủ thể đã tác động đúng đối tượng mình đã xác định Tuy nhiên do đối tượng mà chủ thể đã xác định đó lại không phải là bộ phận của khách thể mà chủ thể muốn hướng đến xâm hại hay cho rằng mình sẽ xâm hại, dẫn đến sai lầm về khách thể Còn sai lầm về đối tượng thì chủ thể đã xác định đối tượng tác động rồi, nhưng khi thực hiện hành vi lại tác động vào một đối tượng khác, không phải là đối tượng đã xác định

s là trường hợp người thực hiện hành vi phạm tội xác định đối tượng của hành vi

phạm tội là cá nhân, mang đặc điểm nhân thân, và chủ thể dự định xâm hại nhân thân đó Nhưng trên thực tế người bị xâm hại không mang đặc điểm nhân thân dự định xâm hại Khác sai lầm về đối tượng ở chỗ chủ thể hướng tới xâm hại nhân thân người đó Đối tượng của hành vi phạm tội phụ thuộc việc ai đang mang nhân thân đó Nhân thân của đối tượng thường được trao những quyền hạn nhất định Người thực hiện hành vi phạm tội để đạt được mục đích hay kết quả mong muốn thì phải xâm hại nhân thân đó

Ví dụ: A định giết B là cục trưởng cục thi hành án Thành phố Hồ Chí Minh Vì tưởng ràng làm như vậy sẽ gây cản trở việc thi hành án với người thân của mình A đã giết B Trước đây B là cục trưởng cục thi hành án Nhưng đã nghỉ hưu trước đó 2 tuần Lúc bị giết B không còn là cục trưởng cục thi hành án A đã sai lầm trong việc xác định nhân thân của B ở thời điểm giết B

Trang 22

Sai lầm về công cụ phương tiện là trường hợp người thực hiện hành vi phạm tội

cho rằng công cụ phương tiện mình sử dụng, để thực hiện hành vi phạm tội mang đặc điểm, tính chất nào đó, khi sử dụng sẽ phát huy công dụng mong muốn Nhưng khi sử dụng công cụ, phương tiện đó lại không phát huy công dụng mong muốn Trong trường

hợp sai lầm này thì chủ thể thực hiện hành vi cho rằng khi sử dụng công cụ phương tiện

sẽ giúp mình đạt được kết qủa mong muốn Tuy nhiên kết quả mà người thực hiện hành

vi phạm tội mong muốn công cụ mang lại đã không xảy ra Công cụ phương tiện không phát huy công dụng mong muốn có thể do công cụ phương tiện đó không có công dụng hoặc có công dụng đó nhưng bị mất công dụng đó

Ví dụ: A thực hiện hành vi khủng bố chống nhà nước Với ý định gây tiếng vang, muốn gây ra một vụ đánh boom khủng bố có tiếng nổ lớn để gây dựng thân thế A đã dùng thuốc chứa trong ống liều của một quả đạn pháo A nhồi thuốc nổ trên vào hộp giấy giống như một gói quà, đặt trong trung tâm thương mại lớn Ý định là gây ra một vụ đánh boom khủng bố, có tiếng nổ lớn A đã thực hiện ý đinh nhưng khi kích nổ quả boom tự chế thì quả boom không nổ, mà chỉ gây gây một vụ cháy nhỏ, vì thuốc A dùng là thuốc phóng chỉ có khả năng gây cháy Không phải là thuốc nổ nên không gây được tiếng nổ như ý định của A trong trường hợp này A đã có sai lầm về công cụ mình sử dụng Tác dụng A mong muốn từ quả boom tự chế đã không xảy ra

Như đã trình bày thì sai lầm trong luật hình sự là hình ảnh phản ánh của ý thức không phù hợp với thực tế khách quan, hình ảnh đó phải là sự thể hiện của tri thức hay là kết quả của quá trình nhận thức trong trường hợp sai lầm về mối quan hệ nhân quả này thì hình ảnh của ý thức phải là kết quả cùa quá trình nhận thức không là sự thể hiện của tri thức được Bởi vì khi thực hiện hành vi phạm tội hậu quả là cái xảy ra ở tương lai Người ta không thể có tri thức về nó mà chưa qua quá trình nhận thức về hành vi thực hiện sẽ gây ra hậu quả gì Vì vậy ta thấy sai lầm về mối quan hệ nhân quả là sự nhận thức của chủ thể về mối quan hệ giữa hành vi và hậu quả Chủ thể nhận thức với hành vi mình thực hiện thì sẽ gây ra hậu quả như thế nào Nhận thức giữa hậu quả và hành vi có mối

Trang 23

khác, hay gây thêm hậu quả khác ngoài nhận thức của người thực hiện hành vi phạm tội Hậu quả xảy ra trên thực tế có mối quan hệ nhân quả với hành vi phạm tội

Vậy sai lầm về mối quan hệ nhân quả là:” sự nhận thức không đúng của người phạm tội về sự phụ thuộc nhân quả giữa hành vi của mình và hậu quả nguy hiểm cho xã hội” [2]

Dạng sai lầm được hiểu là người thực hiện hành vi hiểu rằng hành vi phạm tội sẽ gây ra một hậu quả nào đó, nhưng thực tế lại gây ra hậu quả khác (hay thêm hậu quả) với hậu quả mà mình cho là sẽ xảy ra Ở đây người thực hiện hành vi phạm tội thông qua quá trình nhận thức đã hình dung trong tư tưởng, hay kết luận về hình ảnh hậu quả của hành

vi phạm tội Hình ảnh của hậu quả là kết quả của quá trình nhận thức về sự phát triển của hành vi, sự phát triển của hành vi như vậy sẽ gây ra hậu quả gì? Hay nói cách khác người thực hiện hành vi nhận thức hình ảnh về hậu quả là kết quả của hành vi Hậu quả và hành

vi có mối quan hệ nhân quả Tuy nhiên hậu quả xảy ra trên thực tế hay hậu quả xảy ra thêm mà chủ thể không nhận thức được sẽ xảy ra mới có mối quan hệ nhân quả với hành

vi phạm tội

Ví dụ : A là nhà khoa học A đang nghiên cứu tạo ra giống cá mới thật ưu việt A

có kinh nghiệm nhiều năm về việc lai giống cá Lần này A nghiên cứu trên một giống cá mới Với kinh nghiệm lâu năm A quyết định áp dụng một số biện pháp mạnh A đánh giá với biện pháp mạnh này mình sẽ tạo được giống cá mới rất nhanh, tiết kiệm rất nhiếu thời gian, tiền bạc và công sức Tuy nhiên do áp dụng biện pháp mạnh đó mà đã tạo ra một giống cá mới có khả năng hủy hoại môi trường nghiêm trong Và nó đã phát tán ra tự nhiên gây hậu quả là hủy hoại môi trường tự nhiên nghiêm trọng Trong ví dụ này A đã phạm sai lầm về mối quan hệ nhân qủa qua quá trình nhận thức về tác dụng của các biện pháp mình sẽ dùng, A kết luận áp dung biện pháp này sẽ tạo ra giống cá ưu việt Tuy nhiên nhận thức của A về hậu quả đã có sai lầm Giống cá A cho là sẽ tạo ra đã không xuất hiện, thay vào đó là gống cá hủy hoại môi trường

Trang 24

Trên đây là những hình thức của sai lầm thường gặp Ngoài ra về mặt lý luận có thể có các hình thức sai lầm khác như là : sai lầm về địa điểm, sai lầm về thời gian, sai lầm về tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự… do các sai lầm này ít người quan tâm và cũng không có ý nghĩa trong việc xác định yếu tố của lỗi trong luật hình sự

nên tác giả không đi sâu nghiên cứu và trình bày trong bài viết

1.6 Phân biệt sai lầm và một số trường hợp khác

1.6.1 Phân biệt sai lầm với phòng vệ tưởng tượng

Phòng vệ tưởng tượng là việc gây thiệt hại cho người khác, mà người phòng vệ lầm tưởng rằng người khác ấy thực hiện sự xâm hại nguy hiểm cho xã hội đối với mình [1]

Phòng vệ tưởng tượng là việc chủ thể thực hiện hành vi phạm tội với mục đích ngăn cản thiệt hại cho xã hội do hành vi của người khác gây ra (người khác ở đây là nạn nhân của hành vi phòng vệ tưởng tượng) và người thực hiện hành vi phạm tội có thể cho rằng hành vi nguy hiểm của mình là hợp pháp (vì tưởng đó là hành vi phòng vệ chính đáng) Tuy nhiên không có hành vi gây thiệt hại nào đang diễn ra trong thưc tế Nhưng người thực hiện hành vi phạm tội lại tưởng tượng ra có hành vi gây thiệt hại đang diễn ra, đây là sự sai lầm của ý thức trong việc xác định tính hiện hữu của hành vi gây thiệt hại cho xã hội của nạn nhân Nếu người thực hiện hành vi phạm tội có cho rằng hành vi của mình là hợp pháp Nhưng việc cho rằng hành vi của mình là hợp pháp lại là kết quả của sai lầm trong việc xác định tính hiện hữu của hành vi nguy hiểm cho xã hội của nạn nhân Chứ không phải là sự hiểu lầm về tính chất pháp lý của chính hành vi Vì vậy nó không

có ý nghĩa pháp lý hình sự đối với hành vi phạm tội, tức là chủ thể không thực hiện việc đánh giá tính chất pháp lý hình sự của hành vi mà chỉ là suy ra tính chất pháp lý hình sự của hành vi Do đó trong trường hợp phòng vệ tưởng tượng không có sai lầm về pháp luật

Vậy trong phòng vệ tưởng tượng người thực hiện hành vi phạm tội cũng có sai lầm Nhưng là sự sai lầm trong việc nhận thức về sự tồn tại hành vi nguy hiểm cho xã hội

Trang 25

đối với mình Từ đó chủ thể mới phát sinh hành vi phòng vệ Còn trong sai lầm trong luật hình sự mà ta xét thì sai lầm đó phải là sai lầm về tinh chất pháp lý hay tình tiết thực tế của hành vi phạm tội Hay nói cách khác phòng vệ tưởng tượng thì sai lâm về căn cứ phát

sinh hành vi, còn sai lầm trong luật hình sự là sai lầm về tính nội tại bên trong hành vi

1.6.2 Phân biệt sai lầm với sai lệch hành vi

Theo GS TS Võ Khánh Vinh „thì sai lệch về hành vi thể hiện ở chỗ người phạm tội dự định gây thiệt hại cho một người mà sự xâm hại hướng đến, nhưng do những nguyên nhân không phụ thuộc vào ý chí của người phạm tội sự xâm hại đó đã gây thiệt hại cho người khác‟ [2] Giới hạn về sai lệch hành vi theo thầy Vinh chỉ khi đối tượng tác động của hành vi là người, và nguyên nhân gây ra sự tác động vào đối người khác là nguyên nhân không phụ thuộc vào ý chí Vì để thể hiện rõ phạm vi nghiên cứu của đề tài

là sai lầm có nguyên nhân do ảnh hưởng của các nhân tố nội tại trong ý thức và quá trình nhận thức của người thực hiện hành vi phạm tội, vì vậy trong đề tài sai lệch hành vi được hiểu như sau:

Như đã nói ở phần một nguyên nhân của sai lầm phải do các yếu tố cấu thành ý thức, hay do quá trình nhận thức gây ra Còn nếu giữa nội dung ý thức và thực tế không phù hợp với nhau do nguyên nhân bên ngoài mà chủ thể không có khả năng nhận biết sự tác động của nó đến các tình tiết thực tế của hành vi Trường hợp này không phải là sai lầm, bởi vì nó không phải do các yếu tố nội tại bên trong của ý thức hay quá trình nhận thức gây nên Ta gọi đó là sai lệch về hành vi Hình ảnh của ý thức về các tình tiết thưc

tế của hành vi trong trường hợp này vẫn phù hợp với yêu cầu khách quan

Ví dụ : A tự chế tạo ra một quả boom hẹn giờ Hoàn toàn đảm bảo phát huy công dụng là gây sát thương cho người Một buổi tối A đặt quả boom trong phòng làm việc của

B với ý định giết B vào 9h ngày hôm sau Tuy nhiên sự việc bất ngờ là sáng hôm đó xảy

ra vụ cháy trong công ty Hệ thống phun nước tự động đã làm ướt quả boom làm nó không gây nổ được Trong trường hợp này người thực hiện hành vi phạm tội không có sai lầm về công cụ phương tiện Bởi vì công cụ mà A sử dụng, về mặt thực tế có công dụng

Trang 26

đúng với hiểu biết của A Còn việc không phát huy công dụng là do tác động của yếu tố bên ngoài A không biết được

Trang 27

CHƯƠNG II: VẤN ĐỀ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ CỦA SAI LẦM TRONG LUẬT HÌNH SỰ, LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

Lý luận về trách nhiệm hình sự đối với sai lầm theo luật hình sự Việt Nam 2.1.5 Lỗi, vai trò của lỗi đối với trách nhiệm hình sự

2.1.5.1 Lỗi trong luật hình sự

Tội phạm là một thể thống nhất của hai mặt khách quan và chủ quan Nếu mặt khách quan của tội phạm là những biểu hiện bên ngoài của tội phạm, thì mặt chủ quan của tội phạm là hoạt động tâm lý bên trong của người phạm tội liên quan với việc thực hiện tội phạm Với tư cách là hai mặt của một hiện tượng thống nhất – tội phạm, mặt chủ quan của tội phạm không tồn tại một cách độc lập mà luôn gắn liền với mặt khách quan của tội phạm Hoạt động tâm lý bên trong của người phạm tội luôn luôn gắn liền với các biểu hiện bên ngoài của tội phạm Nội dung của mặt chủ quan của tội phạm được làm sáng tỏ và thể hiện thông qua các dấu hiệu pháp lý: lỗi, động cơ và mục đích… Các dấu hiệu pháp lý đó là những hình thức khác nhau của hoặt động tâm lý của người phạm tội,

có mối liên hệ chặt chẽ với nhau và phụ thuộc lẫn nhau Từng dấu hiệu của mặt chủ quan

có ý nghĩa khác nhau Dấu hiệu động cơ lý giải điều gì thúc đẩy người phạm tội thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội? dấu hiệu mục đích chỉ rõ thông qua việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội người phạm tội nhằm đạt được điều gì? Dấu hiệu lỗi cho biết thái

độ tâm lý của người phạm tội đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội và hậu quả do hành

vi đó gây ra hoặc khả năng gây ra hậu quả đó diễn ra như thế nào?

Theo luật hình sự Việt Nam lỗi là thái độ tâm lý của người phạm tội đối với hành

vi nguy hiểm cho xã hội và đối với hậu quả do hành vi đó gây ra cho xã hội hoặc khả năng gây ra hậu quả đó được thể hiện dưới hình thức cố ý hoặc vô ý

Từ khái niệm lỗi trên, có thể xem xét lỗi dưới các khía cạnh:

Về mặt xã hội: Lỗi thể hiện thái độ của người phạm tội đối với các giá trị xã hội quan trọng nhất Một người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chỉ bị coi có lỗi khi người đó thể hiện thái độ phủ định hoặc coi thường hay vô trách nhiệm đối với các giá trị

Trang 28

xã hội quan trọng nhất Hay nói cách khác người thực hiện hành vi phạm tội tuy ở trong hoàn cảnh có đầy đủ điều khách quan và chủ quan để lựa chọn hành vi phù hợp với yêu cầu của xã hội Nhưng đã lựa chọn thực hiện hành vi không phù hợp với yêu cầu của xã hội

Về mặt tâm lý: trong mọi hoặt động có ý thức của con người, cũng như trong hành

vi phạm tội Yếu tố lý trí thể hiện năng lực nhận thức thực tại khách quan và yếu tố ý chí thể hiện khả năng điều khiển hành vi trên cơ sở nhận thức

Khi xác định người thực hiện hành vi có lỗi hay không thì phải xét trên cả hai khía

cạnh Đảm bảo cả hai khía cạnh thì mới có lỗi

2.1.5.2 Trách nhiệm hình sự

Trong khoa học luật hình sự còn có nhiều quan điểm khác về trách nhiệm hình sự,

và chưa có được sự thống nhất về vấn đề này Dưới đây là một vài quan điểm của các tác giả:

Theo GS.TS Võ Khánh Vinh ‘Trách nhiệm hình sự là một loại quan hệ pháp luật

đặc biệt phát sinh khi có hành vi phạm tội xảy ra giữa một bên là nhà nước và bên kia là người phạm tội, trong đó, nhà nước thông qua các cơ quan có thẩm quyền của mình có quyền áp dụng bằng biện pháp cưỡng chế chế tài hình sự đối với người phạm tội và người phạm tội có nghĩa vụ phải chịu hậu quả bất lợi ( quy định trong chế tài hình sự )

do việc thực hiện hành vi phạm tội.[2]

Còn theo PGS.TSKH Lê Cảm thì „trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lý của

việc thực hiện tội phạm và được thể hiện bằng việc áp dụng đối với người phạm tội một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế của nhà nước do luật hình sự quy định [1]

Theo GS.TSKH Đào Trí Úc thì „trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lý của người phạm

tội thể hiện ở chỗ người đã gây ra tội phạm phải chịu trách nhiệm trước nhà nước” [3]

Trang 29

Quan điểm của GS.TS Đỗ Ngọc Quang: ‘trách nhiệm hình sự là môt dạng trách

nhiệm pháp lý, là trách nhiệm của người khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đực quy định trong pháp luật hình sự bằng một hậu quả bất lợi do tòa án áp dụng tùy thuộc vào tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi mà người đó thục hiện’.[3]

Theo quan điểm của PGS.TS Kiều Đình Thụ ‘Trách nhiệm hình sự là một dang

của trách nhiệm pháp lý bao gồm nghĩa vụ phải chịu sự tác động cảu hoạt động truy cứu trách nhiệm hình sự, chịu bị kết tội, chịu biện pháp cưỡng chế của trách nhiệm hình sự (hình phạt, biện pháp tư pháp) và mang án tích.[3]

Trong khoa học pháp lý thuật ngữ trách nhiệm pháp lý được sử dụng với nghĩa tích cực và tiêu cực Trong khoa học luật hình sự trách nhiệm hình sự cũng được hiểu theo nghĩa tích cực và tiêu cực

Nếu hiểu theo nghĩa tích cực – trách nhiệm hình sự là trách nhiệm phải xử sự hợp pháp của một người trong việc ý thức được nghĩa vụ của mình là không được thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm Theo nghĩa tiêu cực, trách nhiệm hình

sự là là hậu quả pháp lý của việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà luật hình sự quy định là tội phạm và hậu quả pháp lý ấy được thể hiện trong việc tòa án nhân danh Nhà nước kết án người đã bị coi là có lỗi trong việc thực hiện tội phạm đó, còn người bị kết án phải chịu sự tác động về mặt pháp lý theo một trình tự tố tụng riêng Cách hiểu theo nghĩa tiêu cực là cách hiểu theo qua điểm truyền thống, có tính chất phổ biến và do

đó đựơc thừa nhận rộng rãi

Trong phạm vi đề tài tác giả không đưa ra ý kiến về vấn đề trách nhiệm hình sự Tuy nhiên trong bài viết khi đề cập vấn đề trách nhiệm hình sự là hiểu theo nghĩa hậu quả pháp lý của hành vi phạm tội Đây là nội dung được thừa nhận chung

2.1.5.3 Vai trò của lỗi đối với trách nhiệm hình sự

Với tư cách là thái độ tâm lý của người phạm tội đối với hành vi do họ thự hiện, lỗi tạo thành hạt nhân trong mặt chủ quan của tội phạm, dù rằng nó không bao quát hết

Trang 30

mặt chủ quan Lỗi là dấu hiệu chủ quan bắt buộc đối với mặt chủ quan của tội phạm Mà mặt chủ quan của tội phạm có ý nghĩa pháp lý quan trọng, nó phân biệt hành vi phạm tội với hành vi không phải tội phạm Từ đó ta thấy mọi tội phạm nhất thiết là phải có lỗi, hay không có lỗi thì không có tội phạm

Điều 2 bộ luật hình sự hiện hành quy định như sau: chỉ người nào phạm một tội

đã được bộ luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự nó có nghĩa là, cơ sở duy nhất làm phát sinh trách nhiệm hình sự chỉ là tội phạm.hay nói cách khác là không có tội phạm thì không có trách nhiệm hình sự Như đã nói ở trên không có lỗi không có tội phạm Do đó ta có thể khẳng định là không có lỗi thì không có trách nhiệm hình sự

Một vai trò nữa của lỗi là trong nhiều trường hợp lỗi là cơ sở để phân biệt các cấu thành tội phạm có dấu hiệu khách quan giống nhau Ví dụ tội giết người ( điều 93 ) với tội vô ý làm chết người ( điều 98 ) chỉ khác nhau ở hình thức lỗi cố ý với vô ý Cấu thành tội phạm khác nhau thì hậu qua pháp lý của trách nhiệm hình sự cũng khác nhau Hành vi phạm tội ở điều 93 có tính chất nguy hiểm rất cao do đó vấn đề trách nhiệm hình

sự đặt ra phải rất nghiêm khắc, còn hành vi ở điều 98 tính chất nguy hiểm thấp hơn, vấn

đề trách nhiệm hình sự ít nghiêm khắc hơn Tính chất của trách nhiệm hình sự được thể hiện thông qua loại và khung hình phạt được quy định cho mỗi tội phạm riêng Trong một cấu thành tội phạm thì hình thức lỗi cũng có ảnh hưởng đến mức hình phạt mà người phạm tội phải chịu

Ví dụ: Cùng là phạm tội giết người theo điều 93 bộ luật hình sự hiện hành Nhưng nếu hình thức lỗi cố ý trực tiếp thì mức độ về tính nguy hiểm cho xã hội sẽ nghiêm trọng hơn so với lỗi cố ý gián tiếp Vì vậy vấn đề trách nhiệm hình sự đặt ra với hình thức cố ý trực tiếp sẽ nghiêm khắc hơn so với hình thức lỗi cố ý gián tiếp trong trường hợp này

Vậy vai trò của lỗi đối với trách nhiệm hình sự là : thứ nhất không có lỗi không

có trách nhiệm hình sự Thứ hai lỗi xác định loại và mức độ trách nhiệm hình sự của tội

phạm

Ngày đăng: 15/01/2022, 22:31

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. PGS.TSKH Lê Cảm, Những Vấn Đề Cơ bản trong luật hình sự Việt Nam phần chung, nhà xuất bản chính trị quốc gia năm 2010 Khác
2. GS.TS Võ Khánh Vinh, giáo trình Luật hình sự Việt Nam (phần chung) nhà xuất bản Công An Nhân Dân, năm 2006 Khác
3. Đại học luật Thành Phố Hồ Chí Minh, Giáo trình luật hình sự Việt Nam ( phần chung), nhà xuất bản Hồng Đức năm 2012 Khác
4. Đại học luật Hà Nội, giáo trình Luật hình sự Việt Nam, nhà xuất bản Công An Nhân Dân, năm 2005 Khác
5. Giáo trình triết học Mác-Lênin nhà xuất bản chính trị quốc gia, năm 2003 Khác
6. Giáo trình Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin, nhà xuất bản chính trị quốc gia, năm 2010 Khác
7. Viện ngôn ngữ học, Từ điển tiếng việt phổ thông, nhà xuất bản TP.HCM, năm 2002 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w